Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”
Doi: 10.15625/vap.2021.0114
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƢỚC TRONG BỐI CẢNH
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Trần Văn Trà, Nguyễn Tú Anh, Nguyễn Bảo Hoàng, Đỗ Thị Ngọc Bích,
Hồng Văn Duy, Võ Hà Dương, Lê Văn Linh, Nguyễn Hoàng Bách
Viện Khoa học tài nguyên nước - Bộ Tài ngun và Mơi trường
Tóm tắt
Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành chỉ tiêu quản lý tổng hợp tài
nguyên nước 6.5.1 bao gồm môi trường cho phép, thể chế và sự tham gia,
công cụ quản lý và tài chính. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá
mức độ quản lý tổng hợp tài nguyên nước tại Đồng bằng sơng Cửu Long,
trong đó chọn lọc các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu 6.5.1.
được sử dụng ở quy mô quốc gia để áp dụng cho quy mô lưu vực sông.
Phương pháp Delphi kết hợp với quy luật KAMET được sử dụng trong
nghiên cứu. Kết quả cho thấy mức độ quản lý tổng hợp tài nguyên nước tại
Đồng bằng sơng Cửu Long ở mức trung bình cao. Trong đó, chỉ tiêu về mơi
trường cho phép được đánh giá cao nhất, kế tiếp là chỉ tiêu về công cụ quản
lý, thể chế và sự tham gia và cuối cùng là tài chính. Các kết quả mang tính
hữu ích cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách để nhìn nhận và xem
xét lại các khía cạnh quản lý tổng hợp tài nguyên nước còn hạn chế và đưa
ra được các giải pháp cải thiện và khắc phục.
Từ khóa: Quản lý tổng hợp tài nguyên nước.
1. Mở đầu
Nước là tài nguyên cần thiết trong các hoạt động của con người từ sinh
hoạt hằng ngày đến các hoạt động kinh tế như sản xuất, dịch vụ, yêu cầu về
quản lý bền vững nguồn nước để đảm bảo kinh tế - xã hội phát triển bền vững,
môi trường sống đảm bảo đang ngày càng thu hút được sự quan tâm của cộng
đồng thế giới. Nhu cầu sử dụng nước toàn cầu đã tăng gấp 6 lần trong 100 năm
qua và dự kiến sẽ tiếp tục tăng khoảng 1 % mỗi năm do tăng dân số, phát triển
kinh tế và thay đổi mơ hình tiêu dùng [1]. Do vậy, quản lý tổng hợp tài nguyên
nước (QLTHTNN) được xác định là hướng đi đúng đắn trong quản lý tài
nguyên nước thay cho các cách tiếp cận manh nhúm và nhỏ lẻ trước đây. Quản
lý tổng hợp tài nguyên nước đòi hỏi phải có sự xem xét một cách đầy đủ các
khía cạnh về kinh tế, chất lượng nước, môi trường và chính sách trong quản lý
tài nguyên nước. Một thay đổi trong các yếu tố trên sẽ dẫn đến những thay đổi
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC
71
Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”
trong các yếu tố khác và ảnh hưởng đến tài nguyên nước quốc gia. Vì vậy, cần
quản lý tổng hợp để có thể phát triển bền vững.
Với tầm quan trọng và các thách thức đang ngày càng gia tăng, các quốc
gia trên thế giới đang hướng đến sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên nước
bền vững và hiệu quả. Đặc biệt, tổ chức Liên Hợp Quốc đã đề ra mục tiêu
SDG 6 về nước sạch và vệ sinh để phục vụ mục đích này. SDG 6 hướng con
người đến việc đảm bảo sự sẵn có, khả năng quản lý bền vững nước và vệ
sinh một cách công bằng đến tất cả mọi người. QLTHTNN là một phương
tiện để đạt được quản lý bền vững tài ngun nước, thơng qua các khía cạnh
như hợp tác quốc tế nâng cao năng lực và sự tham gia của các bên liên quan
(SDG 6.a và 6.b) [2]. Trong nỗ lực thu thập số liệu và xây dựng đường cơ sở
tồn cầu về QLTHTNN, Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP)
kêu gọi các nước thành viên báo cáo về mức độ QLTHTNN của mình (SDG
6.5.1). Đến nay, một số quốc gia đã tiến hành rà sốt và báo cáo tình hình
thực hiện QLTHTNN của mình 02 lần vào năm 2018 và 2020, trong đó có
Việt Nam [3].
Để đánh giá được chỉ số SDG 6.5.1, việc tham vấn ý kiến cộng đồng và
các chuyên gia trong lĩnh vực đóng vai trị quan trọng. Tuy nhiên, việc tham
vấn trực tiếp dưới dạng các hội thảo, cuộc họp trong bối cảnh Covid - 19
đang diễn ra hiện tại ít khả thi và gây tốn kém [3]. Do vậy phương pháp thay
thế được lựa chọn là phương pháp Delphi và nguyên tắc KAMET
(Knowledge Acquisition for Multiple Experts with Time scales). Phương
pháp Delphi là một phương pháp nghiên cứu phục vụ mục đích tham vấn
cộng đồng theo hướng định tính dựa trên ý kiến chủ quan của các cá nhân
về vấn đề được quan tâm [4]. Nguyên tắc KAMET đưa ra mức độ đánh giá
quan trọng của mỗi chỉ số (qi) ở từng giai đoạn khác nhau trên cơ sở đánh
giá tổ hợp các giá trị thống kê bao gồm trung vị (Mdqi); độ lệch tứ phân vị
(Qqi); giá trị trung bình (Mqi) và phương sai (Vqi) [5].
Bài báo này đưa ra một số kết quả chính trong nghiên cứu áp dụng thí
điểm kỹ thuật Delphi và nguyên tắc KAMET trong đánh giá mức độ quản lý
tổng hợp tài nguyên nước tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) theo các
hướng dẫn của UNEP về đánh giá chỉ số SDG 6.5.1.
2. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.1. Phương pháp Delphi
Phương pháp khảo sát Delphi là một quá trình tham vấn được lặp lại
nhiều lần để thu thập, hiệu chỉnh các đánh giá của những chuyên gia tham
72
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC
Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”
gia bằng cách sử dụng một chuỗi các câu hỏi. Phương pháp này cho phép
việc các chuyên gia tham gia khảo sát có thể đóng góp ý kiến theo hình thức
ẩn danh và điều chỉnh ý kiến của họ sau mỗi vòng khảo sát. Quá trình này sẽ
được dừng lại khi đa số các chuyên gia đã đạt được một sự đồng thuận về
câu trả lời [6]. Quy trình thực hiện Delphi có thể quy về các bước như sau
(Hình 1):
- Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu;
- Bước 2: Xác định danh sách các chuyên gia tham gia khảo sát;
- Bước 3: Xây dựng hệ thống các câu hỏi trong bảng câu hỏi phục vụ
khảo sát;
- Bước 4: Tiến hành lấy ý kiến các chuyên gia theo từng vòng và kết
thúc khi đã đạt được sự đồng thuận của các chuyên gia tham gia khảo sát.
Xác định
vấn đề NC
Xác định danh
sách chuyên gia
tiềm năng
Lựa chọn
chuyên gia theo
các tiêu chí
Xác thực thơng
tin về các
chun gia
Lặp lại vịng khảo sát
Xây dựng bảng
hỏi theo yêu cầu
Xây dựng bảng
hỏi kèm kết quả
phân tích
Đưa bảng hỏi
cho các chun
gia
Thu thập và
phân tích kết từ
vịng khảo sát
Đánh
giá độ
tương
đồng
Khơng tương đồng
Tương đồng
Báo cáo kết quả
Hình 1. Quy trình thực hiện Delphi [3]
Việc lựa chọn các chuyên gia với một phạm vị rộng rãi trong cả lĩnh
vực học thuật, các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý nhà nước và các bên
có liên quan khác đóng vai trị quan trọng đối với tính chính xác của
nghiên cứu. Các chuyên gia trong lĩnh vực học thuật có thể có nhiều kiến
thức và kinh nghiệm trong các vấn đề mang tính học thuật nhưng lại
thiếu trong các vấn đề mang tính thực tế. Điều ngược lại xảy ra đối với
nhóm các chuyên gia còn lại. Do vậy, việc lựa chọn cả các chuyên gia
trong các viện nghiên cứu, các đơn vị hành chính chính quyền và các đơn
vị thực hiện như các doanh nghiệp, cá nhân có liên quan trong cộng đồng
là cần thiết để có thể đưa ra được kết quả chính xác nhất trong một
nghiên cứu mang tính chủ quan nhiều như mức độ thực hiện quản lý tổng
hợp tài nguyên nước tại Việt Nam [3].
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC
73
Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”
Các yếu tố cần thiết để đánh giá mức độ QLTHTNN đã được UNEP
đưa ra trong công cụ hỗ trợ khảo sát tham vấn ý kiến chuyên gia cùng với
các nội dung cụ thể (Bảng 2). Do vậy, bảng hỏi cần được thiết kế và xây
dựng dựa trên các nội dung cần thu thập theo chỉ tiêu SDG 6.5.1 về mức độ
QLTHTNN và nội dung bảng hỏi được điều chỉnh sau mỗi vòng Delphi [3].
Sau khi đã điều chỉnh cho phù hợp, các vịng Delphi được tiến hành như sau
(Hình 2.):
- Người trả lời được yêu cầu trả lời một số câu hỏi bằng văn bản:
o Câu trả lời là ước tính số, xếp hạng trên thang điểm hoặc có/khơng;
o Viết nhận xét và lý do chọn thang điểm tương ứng về các vấn đề
được đưa ra trong bảng câu hỏi;
- Các câu hỏi ở vòng 1 Delphi được sử dụng với mục đích khởi động,
giới thiệu nghiên cứu, xác định tính phù hợp của các câu hỏi và thu thập các
thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu;
- Từ vòng 2, nhóm nghiên cứu tiến hành thống kê các câu trả lời và
nhận xét liên quan từ vòng trước được gửi đến các chuyên gia đã trả lời,
nhưng thông tin này là ẩn danh và không người trả lời nào có thể xác định ai
đã trả lời cái gì;
- Mỗi người trả lời được phép sửa đổi câu trả lời của riêng mình và có
thể thêm nhiều nhận xét;
- Tiếp tục tiến hành Delphi cho đến khi các câu trả lời cho thấy sự ổn
định: thường được thực hiện ba vịng;
- Câu trả lời cuối cùng của nhóm được xác định là giá trị trung bình
của các câu trả lời cá nhân.
Vịng 1:
Khởi động
• Giới thiệu nghiên
cứu;
• Xác định tính phù
hợp của các câu
hỏi nghiên cứu, nội
dung có dễ hiểu
khơng;
• Thu thập thơng tin
liên quan đến câu
hỏi từ các chun
gia
Vịng 2:
Thu thập kết quả
lần 1
• Điều chỉnh câu hỏi
và cung cấp thêm
thơng tin đã thu
thập được ở vịng
đầu;
• u cầu chuyên
gia xem lại điểm
đã cho và điều
chỉnh nếu cần;
• Các chun gia có
thể thêm các góp ý
khác
Vịng n:
Thu thập kết quả
lần thứ n
• Kết quả sau từng
vịng được phân
tích và xác định độ
đồng nhất;
• Nếu chưa đồng
nhất tiến hành tiếp
các vịng lặp lại
tương tự
Hình 2. Nội dung tiến hành ở từng vòng khảo sát Delphi [3]
74
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC
Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”
2.2. Nguyên tắc KAMET
Nguyên tắc KAMET (Knowledge Acquisition for Multiple Experts with
Time scales) [5] được áp dụng để đưa ra mức độ đánh giá quan trọng của
mỗi chỉ số ở từng giai đoạn khác nhau trên cơ sở đánh giá tổ hợp các giá trị
thống kê gồm: trung vị, độ lệch tứ phân vị, giá trị trung bình và phương sai
(Bảng 1). Điều cần chú ý ở đây là phương sai ở đây cần phải hiểu là tỷ lệ số
chuyên gia điều chỉnh lại các đánh giá của mình, được đo bằng đơn vị %.
Bảng 1. Quy tắc KAMET trong phân tích đánh giá các vịng Delphi [3]
Vịng Giá trị trung bình (qi) ≥ 3,5
Giá trị trung bình (qi) < 3,5
t+1
Nếu (qi) ≥ 3,5, Q ≤ 0,5 và
phương sai < 15 %, thì qi
được chấp nhận và khơng cần
phải tham vấn về qi nữa
t+2
Nếu (qi) ≥ 3,5, Q ≤ 0,5 và phương sai ≤ 15 % thì qi được chấp thuận
và khơng cần phải tham vấn về qi nữa
Nếu (qi) <3,5 và Q ≤ 0,5 và
phương sai ≤ 15% thì qi bị loại, và
không cần phải tham vấn về qi nữa
Ghi chú:
- Giá trị trung bình (qi): là giá trị trung bình của các chỉ tiêu hay câu
hỏi tham vấn (qi);
- Q: là độ lệch tứ phân vị;
- Phương sai: là phương sai thể hiện tỷ lệ chuyên gia thay đổi ý kiến
đánh giá.
3. Kết quả thực hiện
Việc đánh giá chỉ số SDG 6.5.1 - mức độ thực hiện quản lý tổng hợp tài
nguyên nước tại Đồng bằng sông Cửu Long được thực hiện với việc xin ý
kiến của 21 chuyên gia trong các lĩnh vực và ngành nghề khác nhau bao
gồm: Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, Trung tâm
Hải văn, Viện Khoa học tài nguyên nước, Trung tâm Nghiên cứu Thủy văn
và Hải văn, Phân viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu,
Vụ Khoa học, Cơng nghệ, và Hợp tác Quốc tế - Tổng cục KTTV, Tạp chí
KTTV, Trung tâm Đào tạo và Hợp tác Quốc tế - Viện Khoa học Thủy lợi.
Cơng tác khảo sát được thực hiện 03 vịng cho đến khi các chuyên gia
có sự đồng thuận về kết quả đánh giá chỉ số SDG 6.5.1. Bảng chấm điểm
từng vịng được nhóm thực hiện chuẩn hóa để tính tốn phân tích dữ liệu
theo phương pháp phân tích được xây dựng. Mức độ thực hiện quản lý tổng
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC
75
Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”
hợp tài nguyên nước được thể hiện ở Bảng 2 Sau đó, kết quả được tổng hợp
lại và tính trung bình để ra được kết quả cuối cùng (Bảng 3).
Trong đó, mức độ QLTHTNN (SDG 6.5.1) được đánh giá dựa trên bảng
khảo sát cùng các chỉ tiêu cụ thể được phân loại thành 04 phần chính bao
gồm [3]:
- Mơi trường cho phép: Đánh giá các điều kiện hỗ trợ triển khai
QLTHTNN bao gồm các cơng cụ lập kế hoạch, chính sách và pháp lý điển
hình nhất về QLTHTNN;
- Thể chế và sự tham gia: Đánh giá phạm vi và vai trò của các tổ chức
chính trị, xã hội, kinh tế và hành chính hỗ trợ cho việc thực hiện
QLTHTNN. Nó bao gồm năng lực và hiệu quả của tổ chức, phối hợp liên
ngành, sự tham gia của các bên liên quan và bình đẳng giới;
- Cơng cụ quản lý: Đánh giá các công cụ cho phép người ra quyết
định và người sử dụng đưa ra các lựa chọn hợp lý và gợi ý những hành động
thay thế. Nó bao gồm các chương trình quản lý, giám sát tài nguyên nước và
áp lực lên tài nguyên nước, chia sẻ kiến thức và phát triển năng lực;
- Tài chính: Đánh giá mức tài chính sẵn sàng cho phát triển và quản lý tài
nguyên nước từ nhiều nguồn khác nhau. Tài chính cho đầu tư và chi phí thường
xun có thể từ nhiều nguồn, phổ biến nhất là phân bổ ngân sách của Chính
phủ Trung ương cho các bộ liên quan và các cơ quan chức năng khác.
Bảng 2. Kết quả đánh giá các nhóm [7]
Vịng Vịng Vịng
1
2
3
Các nhóm
Mơi trƣờng cho phép
a. Chính sách tài nguyên nước địa phương hoặc tương tự
65,7
65,2
65,2
b. Các kế hoạch quản lý lưu vực/tầng chứa nước hoặc
35,7
tương tự, dựa trên QLTHTNN
59,5
59
c. Hiệp định, thỏa thuận quản lý nước xuyên biên giới
72,9
76,2
76,2
d. Các quy định về tài nguyên nước của các địa phương
64,8
(luật, nghị định, pháp lệnh hoặc tương tự)
67,6
67,6
a. Các tổ chức cấp lưu vực tầng chứa nước thực hiện
64,3
QLTHTNN
65,7
65,7
b. Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên
46,2
nước, chính sách, quy hoạch và quản lý ở cấp địa phương
48,1
48,1
Thể chế và sự tham gia
76
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC
Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”
c. Sự tham gia của các nhóm dễ bị tổn thương trong quy
25,7
hoạch và quản lý tài nguyên nước
26,7
26,7
d. Vấn đề giới tính trong luật/kế hoạch hoặc tương tự trong
38,6
quản lý tài nguyên nước.
39
39
e. Khung quản lý nước xuyên biên giới của các tổ chức
80
79
60,5
60,5
78,1
f. Chính quyền địa phương đối với việc tổ chức thực hiện
59,5
QLTHTNN
Công cụ quản lý
a. Công cụ quản lý lưu vực
63,3
66,7
66,7
b. Công cụ quản lý tầng chứa nước
59
60
60,5
c. Chia sẻ thông tin và dữ liệu giữa cả các cấp
44,3
48,1
47,1
d. Chia sẻ thông tin và dữ liệu của lưu vực xuyên biên giới
59,5
giữa các nước
62,9
63,8
a. Ngân sách địa phương hoặc lưu vực cho cơ sở hạ tầng
52,9
tài nguyên nước (chi phí đầu tư và chi phí thường xuyên)
57,1
57,6
b. Gây quỹ cho các hoạt động của QLTHTNN
47,6
46,2
46,2
c. Tài trợ cho hợp tác xuyên biên giới
53,3
54,3
54,3
d. Ngân sách địa phương hoặc lưu vực cho QLTHTNN
51,9
(cho đầu tư và chi phí thường xuyên)
53,8
53,8
Tài chính
Bảng 3. Tổng hợp kết quả đánh giá chỉ số 6.5.1
Phần
Vịng 1
Vịng 2
Vịng 3
1. Mơi trường cho phép
59,8
67,1
67
2. Thể chế và sự tham gia
52,1
53,3
53,2
3. Công cụ quản lý
56,5
59,4
59,5
4. Tài chính
51,4
52,9
53
58,2
58,2
= Thang độ thực hiện của
55
IWRM (0-100)
Đánh giá mức độ hồn thành
Trung bình
cao
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUN NƯỚC
Trung bình
cao
Trung bình
cao
77
Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”
4. Thảo luận kết quả
Thực tế đã chứng minh việc quản lý tài nguyên nước cần đi theo hướng
tổng hợp đa phương diện thay vì chỉ tiếp cận theo từng khía cạnh riêng lẻ.
Việc quản lý cần phải hài hòa về cả mặt kinh tế, môi trường và xã hội. Các
yếu tố này cần được đánh giá đầy đủ vì mối quan hệ giữa chúng với nhau.
Chính vì vậy, quản lý tổng hợp tài nguyên nước là hướng tiếp cận đúng đắn.
Phương pháp Delphi kết hợp với quy tắc KAMET đã chứng minh được
khả năng ứng dụng phù hợp nhất trong trường hợp vấn đề nghiên cứu mang
tính chất chủ quan, định tính. Dựa vào bảng câu hỏi do Liên Hợp Quốc đề
xuất (đã có chỉnh sửa cho phù hợp với nghiên cứu), kết quả đánh giá mức độ
quản lý tổng hợp tài nguyên nước tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
cho thấy mức độ quản lý tổng hợp tài nguyên nước tại khu vực này ở mức
trung bình cao (58,2 điểm). Trong đó, chỉ tiêu về mơi trường cho phép được
đánh giá cao nhất (67,0), kế tiếp là chỉ tiêu về công cụ quản lý (59,5), thể
chế và sự tham gia (53,2) và cuối cùng là tài chính (53,0).
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, ở giai đoạn tiếp theo, việc quản lý tài
nguyên nước ở ĐBSCL cần tập trung nhiều hơn vào ba thành phần là công
cụ quản lý, thể chế-sự tham gia và tài chính. Thứ nhất, cần có sự phân định
rõ hơn về quyền tài phán giữa các cơ quan quản lý nước khác nhau ở cấp
quốc gia. 05 Bộ quản lý nước theo các chương trình nghị sự khác nhau có
thể gây bất lợi cho quy trình QLTHTNN ở ĐBSCL. Thứ hai, luật và quy
định cần cụ thể hơn và yêu cầu sự tham gia rõ ràng của cộng đồng, đặc biệt
là các cộng đồng dễ bị tổn thương tại ĐBSCL cũng như các bên liên quan
dễ bị tổn thương (bao gồm cả phụ nữ). Thứ ba, cơ chế tài chính trong
DBSCL cần được đa dạng hóa để bao gồm thêm nguồn vốn từ khu vực tư
nhân thay vì chỉ dựa vào chính phủ quốc gia [7].
Tài liệu tham khảo
1. UNESCO/UN-Water. “United Nations World Water Development
Report 2020: Water and Climate Change”. UNESCO, Paris, 2020.
2. UN Water. “Intergraded monitoring guide for Sustainable
Development Goal 6 on water and sanitation: Targets and global
indicators”. UN Water, 2017.
3. Nguyễn Tú Anh, Trần Văn Trà, Đỗ Thị Ngọc Bích, Lê Văn Linh, Võ
Hà Dương. “Nghiên cứu áp dụng phương pháp khảo sát delphi trong đánh
78
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC
Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”
giá mức độ quản lý tổng hợp tài nguyên nước”. Tạp chí Khoa học Biến đổi
khí hậu, [in press].
4. N. Dalkey, O. Helmer. “An experimental apllication of Deplhi
method to use of experts”. Management Science, vol. 9, 1963, pp. 458 - 467.
5. H. C. Chu, G. J. Hwang. “A Delphi-based approach to developing
expert systems with the cooperation of multiple experts”. Expert Syst. Appl.,
vol. 34, no. 4, 2008, pp. 2826 - 2840.
6. G. J. Skulmoski, F. T. Hartman, J. Krahn. “The Delphi Method for
Graduate Research”. J. Inf. Technol. Educ., vol. 6, 2007.
7. Tran Van Tra, Nguyen Tu Anh, Le Van Linh, Nguyen Hoang Bach,
Duong Hong Son. “The degree of integrated water resources management
implementation in the Mekong River Delta in Viet Nam”. [Manuscript
submitted for publication].
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC
79
Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”
WATER RESOURCES MANAGEMENT IN THE
CONTEXT OF SUSTAINABLE DEVELOPMENT
Tra Van Tran, Tu Anh Nguyen, Hoang Bao Nguyen, Bich Ngoc Thi Do,
Duy Van Hoang Duong Ha Vo, Linh Van Le, Bach Hoang Nguyen
Water Resources Institute
Abtracts
Indicators to assess the level of integrated water resources management
includes enabling environment, institution and participation, management
tools, and finance. This study focusses on the assessment of the level of
integrated water resources management in the Mekong River Basin in Viet
Nam (hereafter referred to as Dong bang Song Cuu Long unless otherwise
stated). This study selectively adopted indicators used in the national SDG
6.5.1 measure for the river basin level. The Delphi questionnaire approach
was used with a set of Knowledge Acquisition for Multiple Experts with
Time Scales (KAMET). The results show that the level of integrated water
resources management in Mekong Delta is at a medium high level. Of
which, enabling environment scores the highest, followed by management
tools, institution and participation, and finance respectively. The results
provide to be useful for decision makers to reassess the level of integrated
water resources management to determine the shortcomings and to propose
improvement measures.
Keywords: Integrated water resources management.
80
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC