Tải bản đầy đủ (.pdf) (9 trang)

Quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (834.1 KB, 9 trang )

Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

Doi: 10.15625/vap.2021.0110

QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƢỚC THÍCH ỨNG VỚI
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Nguyễn Bá Tú
Cục Biến đổi khí hậu - Bộ Tài nguyên và Mơi trường
Tóm tắt

Biến đổi khí hậu đang tác động đến mọi khu vực, gây ảnh hưởng bất lợi
cho sức khỏe con người, hệ sinh thái và môi trường. Tại Việt Nam, biến đổi
khí hậu và nước biển dâng đã gây ra xâm nhập mặn và các hiện tượng cực
đoan tác động đến tài nguyên nước của nước ta. Ngày 20 tháng 7 năm
2020, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 1055/QĐ-TTg về
việc ban hành kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn
2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó đã chỉ ra các nhiệm vụ, cơ
quan chủ trì và thời gian thực hiện để đạt mục tiêu giảm thiểu tác động của
biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước. Bài viết này phân tích các tác động
của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước đồng thời đề cập các nhiệm vụ
cần thực hiện để quản lý tài nguyên nước thích ứng với biến đổi khí hậu.
Từ khóa: Biến đổi khí hậu.
1. Mở đầu
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất về
môi trường và phát triển mà các hệ sinh thái tự nhiên và hệ thống kinh tế xã hội phải đối mặt. BĐKH đã và đang diễn ra nghiêm trọng, dẫn đến các
hiện tượng cực đoan như lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn diễn ra ngày càng
thường xun và khó dự đốn, làm ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn tài
nguyên nước mặt và nước ngầm [5]. Theo các công bố, nếu thế giới hạn chế
sự nóng lên tồn cầu ở mức 1,5°C so với mức 2,0°C ở giai đoạn tiền cơng
nghiệp, thì tác động tới tài nguyên nước sẽ giảm đi đáng kể [4]. Tại Việt


Nam, BĐKH đang tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước, gây ra nhiều hệ
lụy như hạn hán, xâm nhập mặn, thiếu nước. Trước tình hình trên, nhiều giải
pháp đã được các Bộ, ngành, địa phương áp dụng như tích trữ nước, chuyển
đổi cơ cấu nơng nghiệp… tuy nhiên, đây chỉ là những giải pháp tạm thời.
Để quản lý tài nguyên nước thích ứng với BĐKH, cần thực hiện các nhiệm
vụ trọng tâm đã được đề cập tại Quyết định số 1055/QĐ-TTg ngày 20 tháng

VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC

17


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

7 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành kế hoạch quốc gia
thích ứng với BĐKH giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
2. Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nƣớc trên thế giới
Theo Chương trình Mơi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), khi nhiệt độ
Trái đất nóng lên sẽ đẩy nhanh chu trình thủy văn, các trận mưa lớn diễn ra
thường xuyên hơn, cường độ mạnh hơn và sẽ gây ra lũ lụt tại nhiều vùng.
Cùng với lũ lụt, mưa lớn sẽ làm gia tăng xói mịn, trượt lở đất, lũ bùn đá.
Lượng dòng chảy lũ tăng lên sẽ làm giảm lượng nước có thể khai thác cho
tưới tiêu. Biến đổi về lượng mưa, phân bố mưa theo không gian và thời gian
dưới tác động của BĐKH đã có những ảnh hưởng nhất định tới việc cấp
nước cho các ngành dùng nước. Mưa lớn và tuyết rơi xảy ra thường xuyên
hơn tại các vùng vĩ độ cao và trung bình tại Bắc bán cầu trong khi lượng
mưa giảm xuống tại vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Thay đổi về phân bố mưa
trong năm sẽ ảnh hưởng đến lượng nước có thể khai thác được. Kết quả của
các mơ hình dự báo BĐKH cho thấy, tại nhiều khu vực lượng mưa sẽ tập

trung hơn vào mùa mưa và giảm vào mùa khô. Mưa lớn tập trung sẽ làm
tăng lượng dòng chảy mặt, giảm lượng nước ngấm xuống các tầng chứa
nước dưới đất, làm gia tăng lũ lụt vào mùa mưa và thiếu nước vào mùa khơ,
trữ lượng nước ngầm sẽ suy giảm [8].
Ngồi ra, khả năng sinh thủy của lưu vực còn bị ảnh hưởng gián tiếp
của BĐKH do thảm phủ thực vật bị thay đổi do điều kiện khí hậu thay đổi.
Chế độ thủy văn tại các vùng khí hậu khơ hanh sẽ nhạy cảm hơn so với các
vùng ẩm ướt, một sự thay đổi nhỏ của nhiệt độ và lượng mưa sẽ gây ra biến
động lớn về chế độ dòng chảy sơng suối. Những vùng có cao độ mặt đất lớn
sẽ có lượng dịng chảy mặt tăng lên do lượng mưa tăng. Ảnh hưởng của
BĐKH tới tài nguyên nước của khu vực nhiệt đới rất khó dự báo. Sự thay
đổi chế độ dịng chảy của sơng suối sẽ làm thay đổi nồng độ các chất dinh
dưỡng, lượng oxy hòa tan và các thành phần hóa học khác, do đó, làm thay
đổi chất lượng nước mặt. Các hồ chứa, đập dâng, trạm bơm và giếng khai
thác nước ngầm cũng bị ảnh hưởng. Mưa lớn kéo theo gia tăng trượt lở đất
và xói mịn sẽ làm tăng lượng phù sa trong sơng và lắng đọng trong lịng hồ,
làm giảm dung tích hữu ích của các hồ chứa. Chế độ dòng chảy thay đổi
cũng làm cho vấn đề điều tiết của hồ trở lên khó khăn hơn, khả năng cung
cấp nước giảm đi. Do trữ lượng nước ngầm thay đổi, khả năng khai thác của
nhiều giếng ngầm cũng bị giảm sút. Chế độ dòng chảy thay đổi cũng làm
18

VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

cho nhiều cơng trình khơng hoạt động đúng điều kiện thiết kế, năng lực
cơng trình có thể bị suy giảm [7].

Ban liên Chính phủ về BĐKH đã tóm tắt những tác động của BĐKH
đến tài nguyên nước như sau [6]:
Khối lượng nước được lưu trữ trong các sông băng và vùng tuyết bao
phủ có khả năng bị suy giảm.
Nước mặt và nguồn nước có sẵn có khả năng sẽ tăng lên ở các vĩ độ cao
hơn và trong một số vùng nhiệt đới ẩm ướt, bao gồm cả các khu vực đông
dân cư ở Đông Á, Đông Nam Á và sẽ giảm ở các vĩ độ trung bình và vùng
nhiệt đới khơ hạn.
Các khu vực bị ảnh hưởng bởi hạn hán có thể sẽ mở rộng và các trận
mưa cực đoan tăng lên về tần số và cường độ, sẽ làm tăng nguy cơ lũ lụt.
Khoảng 20 % dân số thế giới sống ở các lưu vực sơng có khả năng bị
ảnh hưởng bởi hiểm họa lũ lụt tăng vào năm 2080 do q trình nóng lên
tồn cầu.
Nhiều vùng bán khơ hạn (ví dụ như khu vực Địa Trung Hải, miền Tây
Hoa Kỳ, miền Nam châu Phi và phía Đơng Bắc Brazil) sẽ giảm tài nguyên
nước do BĐKH.
Số lượng người dân sống trong lưu vực sông bị ảnh hưởng nghiêm trọng
dự kiến sẽ tăng đáng kể tới 4,3 - 6,9 tỷ người vào năm 2050.
Lượng nước ngọt sẵn có cho con người và hệ sinh thái các vùng ven
biển sẽ giảm.
Việc bổ cấp nước ngầm sẽ giảm đi đáng kể ở một số vùng căng thẳng về
nước, tình trạng sẽ trầm trọng hơn ở những vùng dễ bị tổn thương.
Nhiệt độ nước cao hơn, cường độ mưa tăng lên và thời gian dịng kiệt
dài hơn có thể sẽ làm trầm trọng thêm các hình thức ơ nhiễm nguồn
nước, tác động lên hệ sinh thái, sức khỏe con người, hệ thống nước và
chi phí vận hành.
BĐKH ảnh hưởng đến chức năng và hoạt động của cơ sở hạ tầng nước
hiện có cũng như thực tiễn quản lý nước.
Những tác động tiêu cực của BĐKH đối với hệ thống nước ngọt lớn hơn
lợi ích của chúng đem lại.

Khu vực có dịng chảy bề mặt giảm sút sẽ đối mặt với sự giảm giá trị
dịch vụ do tài nguyên nước đem lại. Những tác động có lợi của dịng chảy
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUN NƯỚC

19


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

hàng năm tăng ở các khu vực khác sẽ được kiềm chế bởi những tác động
tiêu cực của biến đổi lượng mưa gia tăng và thay đổi dòng chảy theo mùa về
cấp nước, chất lượng nước và rủi ro lũ lụt.
3. Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nƣớc tại Việt Nam
Việt Nam là quốc gia có khí hậu nhiệt đới, gió mùa với nhiệt độ trung
bình khoảng 28°C; lượng mưa trung bình các vùng phổ biến từ 1.400 2.400 mm, nên thường xuyên đối mặt với các hiện tượng cực đoan như bão,
áp thấp nhiệt đới, lũ, lụt, hạn hán… Trong những năm qua, BĐKH ở Việt
Nam tiếp tục diễn biến theo xu thế bất lợi, các hiện tượng cực đoan tiếp tục
được ghi nhận với cường độ mạnh hơn và tần suất cao hơn. Theo kịch bản
BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam, nhiệt độ trung bình năm và lượng
mưa năm có xu thế tăng trên phạm vi tồn quốc, mực nước biển dâng trung
bình ven biển Việt Nam có khả năng cao hơn mực nước biển trung bình
tồn cầu [2]. Các hiện tượng này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên
nước, điển hình là hiện tượng hán hán, thiếu nước trên các lưu vực sông. Cụ
thể như đợt hạn hán lịch sử vào mùa khô năm 2016, xảy ra ở phần lớn các
khu vực nước ta như vùng Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ,
vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)... do một đợt El Niño mạnh và
kéo dài kỷ lục (từ 2014 đến giữa năm 2016 mới chấm dứt). Hệ quả của nó là
dịng chảy trên hầu hết các sơng, suối từ khu vực miền Trung, Tây Nguyên
đến ĐBSCL đều suy giảm nghiêm trọng, nhiều nơi đạt mức thấp kỷ lục dẫn

đến tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn, thiếu nước, kể cả nước sinh hoạt....
Trong những năm gần đây, tại vùng ĐBSCL diễn ra đợt hạn, mặn kỷ lục với
quy mô và mức độ ngày càng khốc liệt. Đặc biệt, vấn đề trước đây của vùng
ĐBSCL là sống chung với lũ, nhưng gần đây đã xuất hiện những năm hầu
như không có lũ hoặc lũ rất nhỏ.
Sự suy giảm nguồn nước tại nước ta cũng chịu ảnh hưởng của xu thế
suy thối do tác động của BĐKH tồn cầu. Nhiệt độ khơng khí có xu thế
tăng, kéo theo lượng hơi nước bốc lên tăng khoảng 7,7 % - 8,4 %, nhu cầu
tưới tăng lên, lượng nước mặt sẽ giảm đi tương ứng khi lượng mưa khơng
đổi và thậm chí giảm [1]. Lượng mưa trung bình năm có xu hướng giảm ở
các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam. Tính trung
bình trong cả nước, lượng mưa năm trong 50 năm qua đã giảm khoảng 2 %
[1]. Tuy nhiên, biến đổi lượng mưa có xu hướng cực đoan: tăng trong mùa
mưa và giảm trong mùa khô. Thêm vào đó, lượng mưa phân bố rất khơng
20

VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

đều theo thời gian: mùa khơ thì hạn hán, mùa mưa thì ngập úng và theo
khơng gian: trong một thời điểm có vùng bị lũ lụt lại có vùng thiếu nước
trầm trọng, thậm chí khơ hạn.
Theo các nghiên cứu về thủy văn, những năm gần đây, dịng chảy các
hệ thống sơng, suối ở Việt Nam đều thiếu hụt nhiều so với trung bình nhiều
năm, có nơi tới 60 % - 90 %; mực nước nhiều nơi đạt mức thấp nhất lịch sử
như Sơng Hồng - Thái Bình, Sơng Mã, Sơng Cả, Sơng La, sông Trà Khúc,
Sông Ba… đã gây thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp, mặn xâm nhập sâu

vào vùng cửa sông. Dưới tác động của BĐKH, trên hầu hết hệ thống sơng
trong lãnh thổ Việt Nam đều có xu hướng giảm từ 3 % đến 10 % với các
mức giảm khác nhau khá lớn giữa các sơng, thậm chí giữa thượng, trung và
hạ lưu trên cùng một con sông. Dự tính vào thời kỳ 2040 - 2059, mức độ
giảm của dịng chảy trung bình mùa cạn dao động trong phạm vi từ dưới
1,5 % ở các sông: Đà, Gâm, Hiếu, đến trên 10 % tại Sơng Ba; cịn các sơng
khác thường giảm 3 % - 10 %, các Sông La, Ba, Thu Bồn, Đồng Nai dòng
chảy giảm từ 1 % - 10 %. Trên các Sơng Hồng - Thái Bình, Cả, dịng chảy
năm có xu hướng tăng nhỏ hơn 5 %. Dựa vào những số liệu này cùng với
kịch bản BĐKH cho thấy tình hình hạn hán do thiếu hụt nguồn nước trong
tương lai sẽ gia tăng ở các lưu vực sông ở Việt Nam [7].
4. Giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu trong quản lý tài
nguyên nƣớc
Nhận thức rõ tính nghiêm trọng của BĐKH, nhằm sử dụng hiệu quả
nguồn lực, tăng cường khả năng quản lý, điều phối về tài chính và kỹ thuật
trong việc thực hiện các mục tiêu thích ứng với BĐKH, ngày 20 tháng 7
năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 1055/QĐ-TTg
ban hành kế hoạch Quốc gia thích ứng với BĐKH giai đoạn 2021 - 2030,
tầm nhìn đến năm 2050 (gọi tắt là kế hoạch). Mục tiêu chung của kế hoạch
nhằm giảm thiểu tính dễ bị tổn thương và rủi ro trước những tác động của
BĐKH, thông qua việc tăng cường khả năng chống chịu, năng lực thích ứng
của cộng đồng, các thành phần kinh tế và hệ sinh thái; thúc đẩy việc lồng
ghép thích ứng với BĐKH vào hệ thống chiến lược, quy hoạch.
Để giảm thiểu tác động của BĐKH đến tài nguyên nước, kế hoạch đã
đưa ra danh mục các nhiệm vụ cần thực hiện đối với tài nguyên nước gắn
với các mục tiêu cụ thể như sau:

VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC

21



Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

Đối với mục tiêu “Nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài nguyên nước
trong điều kiện BĐKH”, danh mục đã đưa ra 04 nhiệm vụ:
Xây dựng quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến
năm 2050: Do Bộ Tài ngun và Mơi trường chủ trì thực hiện, dự kiến trình
phê duyệt quy hoạch năm 2021;
Xây dựng Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2030, tầm
nhìn 2050: Do Bộ Tài ngun và Mơi trường chủ trì thực hiện, dự kiến trình
phê duyệt Chiến lược năm 2022;
Xây dựng các quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh, nguồn nước
liên tỉnh: Do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì thực hiện, dự kiến hồn
thành việc trình phê duyệt các quy hoạch năm 2023;
Rà soát, điều chỉnh các quy trình vận hành liên hồ chứa trên các lưu vực
sông: Do Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, Bộ Công Thương thực hiện, dự kiến đến năm 2025: 100 % quy trình
vận hành liên hồ/đơn hồ được ban hành.
Đối với mục tiêu “Tăng cường công tác giám sát và bảo vệ tài nguyên
nước”, danh mục đã đưa ra 03 nhiệm vụ:
Hoàn thiện hệ thống quan trắc và giám sát tài nguyên nước quốc gia: Do
Bộ Tài ngun và Mơi trường chủ trì thực hiện, dự kiến Đề án được phê
duyệt năm 2022;
Xác định vùng hạn chế khai thác nước dưới đất cho các khu vực, đặc
biệt đối với ĐBSCL: Do Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thực hiện, dự
kiến hoàn thành năm 2025;
Khơi phục, phát triển rừng phịng hộ và rừng ngập mặn nhằm bảo vệ
nguồn nước, chống xói lở bờ sông, bờ biển: Do Bộ Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thực hiện, Đề án
được phê duyệt năm 2021.
Đối với mục tiêu “Tăng cường khả năng trữ nước và nâng cao hiệu quả
sử dụng nước”, danh mục đã đưa ra 05 nhiệm vụ:
Điều tra, đánh giá và xây dựng các giải pháp tổng thể về trữ nước dựa
vào xu thế tự nhiên của từng khu vực: Do Bộ Tài nguyên và Mơi trường chủ
trì thực hiện, Đề án được phê duyệt năm 2021;
Phân loại mức độ khan hiếm nước, đề xuất áp dụng các biện pháp tích
trữ nước, tiết kiệm nước, hạn chế khai thác, sử dụng nước theo từng cấp độ
khan hiếm nước: Do Bộ Tài nguyên và Môi trường và ủy ban nhân dân các
tỉnh, thành phố thực hiện, Đề án được phê duyệt năm 2021;

22

VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

Điều tra đánh giá, xác định giải pháp bổ sung nhân tạo nước dưới đất
cho các khu vực ĐBSCL, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng bền vững tài nguyên nước dưới đất trong điều kiện
BĐKH: Do Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn thực hiện, dự kiến đề án được phê duyệt năm 2022;
Xây dựng, triển khai và nhân rộng các mơ hình sử dụng nước tiết kiệm,
hiệu quả: Do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Xây dựng và ủy ban
nhân dân các tỉnh, thành phố thực hiện, Đề án được phê duyệt năm 2021;
Xây dựng bổ sung các cơng trình trữ nước, khai thác, sử dụng nguồn
nước trong điều kiện hạn hán gia tăng do BĐKH: Do Bộ Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thực hiện, Đề
án được phê duyệt năm 2021.
5. Kết luận
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những nguyên nhân gây ra các
tác động trực tiếp và gián tiếp đến tài nguyên nước.
Để quản lý tài nguyên nước thích ứng với BĐKH, các Bộ, ngành và Ủy
ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần phối hợp tổ
chức thực hiện các nhiệm vụ được giao tại kế hoạch quốc gia thích ứng với
BĐKH giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 nhằm đạt được các
mục tiêu: i) Nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài nguyên nước trong điều
kiện BĐKH, trong đó thực hiện xây dựng và ban hành các chiến lược, quy
hoạch về tài nguyên nước và các quy trình vận hành liên hồ chứa trên các
lưu vực sông; ii) Tăng cường công tác giám sát và bảo vệ tài nguyên nước;
iii) Tăng cường khả năng trữ nước và nâng cao hiệu quả sử dụng nước.

Tài liệu tham khảo
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường. “Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia
năm 2012, chuyên đề: Môi trường nước mặt”. 2012.
2. Bộ Tài nguyên và Mơi trường. “Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển
dâng cho Việt Nam”. 2016.
3. Cục Biến đổi khí hậu. “Báo cáo phân tích tác động, tính dễ bị tổn
thương, rủi ro, tổn thất và thiệt hại do BĐKH”. 2021.
4. />5. IPCC. “AR6 Climate change 2021: The physical science basis.
contribution of working group I to the sixth assessment report of the
intergovernmental panel on climate change”. Cambridge University
Press, 2021.

VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC

23



Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

6. IPCC. “AR4 Climate change 2007: Mitigation of climate change.
contribution of working group III to the fourth assessment report of the
intergovernmental panel on climate change”. Cambridge University Press,
2007.
7. Nguyễn Lê Tuấn. Báo cáo tổng hợp “Đánh giá tác động của biến đổi khí
hậu đến điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường khu
vực cửa sông ven biển vùng Đồng bằng Sông Hồng và đề xuất giải pháp
khai thác sử dụng hợp lý”. 2020.
8. UNEP. “Vulnerability and impact assessment for adaptation to climate
change”. IEA Training Manual, Vol 2., 2009, 58 pages.
9. Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Sách chuyên khảo: Ứng
phó với BĐKH ở Việt Nam. 2017.

24

VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

WATER RESOURCES MANAGEMENT
IN CLIMATE CHANGE ADAPTATION
Nguyen Ba Tu
Department of Climate Change - Ministry of Natural Resources and Environment


Abtracts
Climate change is affecting all regions, which is harmful to human
health, ecosystems, and the environment. In Vietnam, climate change and
sea level rise have resulted in saltwater intrusion and extreme weather
phenomena that adversely impact our country's water resources. On July
20, 2020, the Prime Minister issued Decision No.1055/QD-TTg on the
National Plan to Adapt to Climate Change for the period 2021-2030, with a
vision to 2050, which described specific tasks, timelines and implementing
agencies for achieving the goal of mitigating the impact of climate change
on water resources. This article presents the impacts of climate change on
water resources, the tasks to be performed for water resources management
and adaptation to climate change.
Keywords: Climate change.

VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC

25



×