Tải bản đầy đủ (.pdf) (3 trang)

Đánh giá vai trò của Stapler trong cắt bao quy đầu tại Bệnh viện Nhân Dân 115

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (665.04 KB, 3 trang )

JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE

2021

ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA STAPLER TRONG CẮT BAO
QUY ĐẦU TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN 115
Trần Lê Duy Anh1, Trương Hồng Minh1, Trần Thanh Phong1,
Ngơ Quang Trung1, Trần Hải Phong1, Trương Sĩ Vinh1


TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Hẹp bao quy đầu là tình trạng thường
gặp ở thanh thiếu niên. Phẫu thuật cắt bao quy đầu trước
đây thường được thực hiện thủ công với thời gian cắt lâu,
chảy máu trong và sau phẫu thuật,…Với sự hỗ trợ của
Stapler, phẫu thuật cắt bao quy đầu diễn ra nhanh hơn và
mang tính thẩm mỹ cao. Qua nghiên cứu này chúng tơi
muốn đánh giá thời gian phẫu thuật, tỉ lệ tai biến – biến
chứng của việc sử dụng Stapler trong phẫu thuật cắt bao
quy đầu tại khoa Ngoại niệu - Ghép thận – Nam khoa
bệnh viện Nhân Dân 115.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên
cứu tiến cứu mô tả loạt trường hợp phẫu thuật cắt bao
quy đầu bằng Stapler tại khoa Ngoại niệu - Ghép thận
-Nam khoa bệnh viện Nhân Dân 115.

Kết quả: Trong khoảng thời gian từ tháng 1/2020
đến tháng 4/2021, chúng tơi có 77 bệnh nhân được cắt
bao quy đầu bằng Stapler, tuổi trung bình 26±9 tuổi, thời


gian phẫu thuật trung bình 6,8±1,9 phút. Tỉ lệ tai biến –
biến chứng chung là 6,5% bao gồm 1 trường hợp chảy
máu trong mổ do phẫu thuật viên còn thiếu kinh nghiệm,
4 trường hợp ghim chưa bung hết sau 4 tuần cần hỗ trợ
lấy ghim.

Kết luận: Với sự hỗ trợ của Stapler, phẫu thuật cắt
bao quy đầu được thực hiện trong thời gian trung bình
là 6,8 phút. Chỉ 1 trường hợp chảy máu sau khi tháo
máy cần khâu tăng cường. Bệnh nhân hồn tồn khơng
cảm giác đau trong q trình phẫu thuật, thời gian phục
hồi sau mổ nhanh, sẹo mổ mang tính thẩm mỹ cao. Tuy
nhiên, vì đây là một phương pháp mới nên cần được thực
hiện trên một cỡ mẫu lớn hơn nhằm đưa ra những nhận
xét khách quan và toàn diện hơn.

Từ khoá: cắt bao quy đầu bằng stapler, hẹp bao quy
đầu

SUMMARY

THE ROLE OF STAPLER FOR CIRCUMCISION
AT PEOPLE’S HOSPITAL 115

Background and purpose: Phimosis is a common
problem in teenagers. Conventional circumcision was
often done manually with long operation time, intraoperative and postoperative bleeding,…With the using Sta-

pler, the process of circumcision took place much faster
and more cosmetic results. Our purpose is to report the

initial results of using Stapler for circumcision at the Department of Urology and Kidney Transplant of People’s
Hospital 115.

Object and methods: a prospective cases study of
using Stapler for circumcision at the Department of Urology and Kidney Transplant of People’s Hospital 115.

Results: From January to April 2021, a total 77
men with a mean ±SD age of 26±9 years were enrolled
to undergo circumcision using the circular cutter with
stapled anastomosis. Average procedural time needed to
use the device was 6,8±1,9 minutes. The overall complication rate was 6,5%, including 1 case of intraoperative
bleeding due to operator inexperience and 4 cases of a
delay in staples falling out.

Conclusions: The circular cutter with stapled
anastomosis for circumcision is a 1-step device that can
achieve excellent postoperative results with minimal
procedural time. Patients absolutely do not feel pain during surgery, fast postoperative recovery time, and high
postoperative penile cosmesis. However, we need to
carry out this technique on a larger number of patients in
order to have more objective and more accurate conclusions.

Key words: circumcision stapler, phimosis


I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Phẫu thuật cắt bao quy đầu (BQĐ) là một trong
những phẫu thuật được thực hiện sớm nhất ở lồi người.
Phẫu thuật này có khuynh hướng làm giảm nguy cơ của

các bệnh lây truyền qua đường tình dục như Human papillomavirus, loét sinh dục, HIV [1-3]. Ngoài ra, phẫu
thuật này cịn giúp cải thiện tình trạng vệ sinh vùng quy
đầu, giảm nguy cơ mắc bệnh lý viêm xơ quy đầu (balanitis) và ung thư dương vật [4,5].

Kỹ thuật cắt BQĐ truyền thống theo khuyến cáo
của Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) gồm 03 kỹ thuật sau:
cắt dọc mặt lưng dương vật (the dorsal slit), phương pháp
dùng kẹp (the forceps – guide method), và bóc tách kiểu
lộn tay áo (sleeve resection) [6]. Tuy nhiên, ở bệnh nhân

1. Bệnh viện Nhân Dân 115 – People’s Hospital 115
Tác giả liên lạc: Trần Lê Duy Anh Đt: 0908630656 Email:

194

Số chuyên đề 2021
Website: tapchiyhcd.vn


vẫn tồn tại nhiều tai biến, biến chứng như chảy máu, phù,
và khơng hài lịng về mặt thẩm mỹ sau phẫu thuật [7,8].
Ngoài ra, phẫu thuật cắt BQĐ theo truyền thống cịn tốn
nhiều thời gian, trung bình khoảng từ 40 – 60 phút [9],
đau sau phẫu thuật, sẹo xấu, nguy cơ tổn thương mơ quy
đầu.

Chính vì những vấn đề trên mà các công cụ hỗ trợ
cho việc cắt BQĐ không ngừng được nghiên cứu và cải
thiện nhằm tăng tính hiệu quả cũng như độ an toàn của
phẫu thuật. Sự ra đời của dụng cụ Stapler vòng trong cắt

BQĐ gần như đáp ứng được các yêu cầu trên. Dụng cụ
này gồm có 2 phần hình chng: phần hình chng bên
trong nhằm bảo vệ quy đầu, phần hình chng bên ngồi
mang lưỡi dao dạng vịng nhằm cắt BQĐ và có những
ghim titan giúp khép mép da quy đầu nhằm cầm máu
đồng thời sau khi cắt.

Với những ưu điểm vượt trội của công cụ trên,
chúng tôi muốn thực hiện đề tài này nhằm đánh giá thời
gian phẫu thuật, tỉ lệ tai biến – biến chứng của phương
pháp cắt BQĐ bằng Stapler tại khoa Ngoại niệu - Ghép
thận – Nam khoa bệnh viện Nhân Dân 115.


II. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU

Nghiên cứu tiến cứu mô tả loạt trường hợp phẫu
thuật cắt bao quy đầu bằng Stapler tại khoa Ngoại niệu
- Ghép thận – Nam khoa bệnh viện Nhân Dân 115 từ
tháng 1/2020 đến tháng 4/2021. Tiêu chuẩn nhận bệnh
bao gồm các trường hợp bao quy đầu dài, hẹp bao quy
đầu bẩm sinh hay mắc phải, từ 16 tuổi trở lên. Tiêu chuẩn
loại trừ là những bệnh nhân bị rối loạn đông máu; bệnh
nhân có phản ứng phản vệ; đái tháo đường chưa được
kiểm sốt; có những bất thường sinh dục bẩm sinh như
dương vật nhỏ, lỗ tiểu đóng thấp, bệnh Peyronie hay các
trường hợp cong dương vật có ý nghĩa.

giây, (7) Tháo Stapler, (8) Kiểm tra mép cắt da quy

đầu, (9) Băng ép vị trí mổ.



Cách thức tiến hành: tất cả bệnh nhân đều được làm
hồ sơ bệnh án, xét nghiệm tiền phẫu, cam kết phẫu thuật
như thường qui. Bệnh nhân nằm ngửa, sát khuẩn và trải
săng vô khuẩn vùng sinh dục. Gây tê gốc dương vật bằng
lidocain 1%. Các trường hợp viêm dính vùng quy đầu
đều được bóc tách nhẹ nhàng bằng kềm mosquito hoặc
dùng dao xẻ rộng mặt lưng dương vật, sau đó sử dụng
Stapler để hồn thành việc cắt BQĐ.


III. KẾT QUẢ

Trong thời gian 15 tháng (từ 01/2020 đến 4/2021),
chúng tơi có 77 bệnh nhân được thực hiện cắt bao quy
đầu bằng Stapler với kết quả như sau:
Đặc điểm mẫu nghiên cứu

77 bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu của chúng tơi
có độ tuổi trung bình là 26±9 tuổi (từ 16 tuổi đến 45
tuổi). Có 57 bệnh nhân (chiếm tỉ lệ 74%) sử dụng máy cỡ
30; 17 bệnh nhân (chiếm tỉ lệ 22,1%) sử dụng máy cỡ 28;
và 3 bệnh nhân (chiếm tỉ lệ 3,9%) sử dụng máy cỡ 22.
Về thời gian phẫu thuật

Thời gian phẫu thuật trung bình là 6,8±1,9 phút
(nhanh nhất là 4 phút, lâu nhất là 20 phút). Trung bình

khoảng ngày thứ 3 sau mổ khi vết thương đã lành, tất cả
bệnh nhân đều có thể quay trở về công việc hằng ngày
mà không cảm thấy đau hay bất thường gì ở dương vật.
Về tai biến – biến chứng

Trong q trình phẫu thuật, có 1 trường hợp (chiếm
tỉ lệ 1,3 %) chảy máu chân ghim. Vị trí chảy máu ở mặt
lưng dương vật.
Thời điểm 7-10 ngày sau mổ, các ghim bấm trên
mép da bao quy đầu bắt đầu rơi ra với thời gian trung
bình để kim rơi ra hết là 10,9±1,7 ngày. Có 4 trường hợp
(chiếm tỉ lệ 5,2%) kim không bung hết sau 20 ngày. Cả
4 trường hợp này đều được gỡ ghim rất nhẹ nhàng tại
phòng tiểu phẫu khoa Ngoại niệu bằng kềm mosquito với
vô cảm bằng Xylocain gel bôi tại chỗ.


IV. BÀN LUẬN

Bàn luận về thời gian phẫu thuật:

Trong nghiên cứu của chúng tơi, thời gian phẫu
thuật trung bình là 6,8±1,9 phút (nhanh nhất là 4 phút,
lâu nhất là 20 phút), kết quả này cũng tương tự với báo
cáo của Yiming Yuan và cộng sự với thời gian mổ trung
bình là 7,7 ± 2,6 phút. Chúng tôi cho rằng việc sử dụng
máy cắt BQĐ đã có bước tiến đáng kể trong việc rút ngắn
thời gian phẫu thuật còn khoảng 7 phút so với phương
pháp cắt BQĐ truyền thống theo khuyến cáo của Tổ
Chức Y Tế Thế Giới tốn thời gian gấp 3 – 6 lần (khoảng

Hình: Các bước cắt BQĐ bằng Stapler: (1) Đo chu
vi dương vật để chọn kích thước máy, (2) Gây tê gốc 20-40 phút) [9]. Rõ ràng là thời gian phẫu thuật ngắn
khiến bệnh nhân hài lòng hơn rất nhiều. Nhiều trường
dương vật, (3) Đặt trụ chuông bảo vệ quy đầu, (4)
Tháo vịng an tồn khỏi dụng cụ cắt, (5) Lắp đặt hồn hợp bệnh nhân hồn tồn khơng hay biết mình đã được
phẫu thuật xong.
chỉnh Stapler, (6) Bóp và giữ chặt Stapler trong 45

Số chuyên đề 2021
Website: tapchiyhcd.vn

195


JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE


Bàn luận về tai biến – biến chứng

Qua nghiên cứu của này, chúng tôi chỉ ghi nhận
01 trường hợp (chiếm tỉ lệ 1,3 %) chảy máu chân ghim.
Nguyên nhân là trong trường hợp này, tĩnh mạch lưng
dương vật khá lớn, cả 2 chân của ghim không ôm trọn hết
tĩnh mạch, một phần cũng do chúng tôi chọn cỡ máy hơi
nhỏ hơn so với kích thước dương vật. Bệnh nhân được
xử trí đơn giản bằng cách khâu tăng cường với chỉ Catgut
3/0. Trong mẫu nghiên cứu của mình, Yiming Yuan cũng
gặp 01 trường hợp chảy máu trong mổ ở vùng dây thắng.
Tác giả cho rằng nguyên nhân có thể do việc chậm băng
ép vết thương ngay sau phẫu thuật [9].

Như chúng ta thường thấy trong phương pháp
cắt BQĐ truyền thống, da vùng quy đầu còn lại sau khi
cắt thường hay phù nề, ảnh hưởng đến tính thẩm mỹ sau
phẫu thuật. Tuy nhiên, khi thực hiện cắt BQĐ bằng Stapler, chúng tôi chưa ghi nhận trường hợp nào phù nề da
quy đầu sau mổ, cũng như chưa ghi nhận biến chứng
nhiễm trùng vết cắt hay dư da quy đầu. Mặt khác, trong
q trình phẫu thuật bệnh nhân hồn tồn khơng có cảm
giác đau. Tình trạng đau sau phẫu thuật đa số được đánh
giá ở mức 2-3 điểm trên thang điểm đau gồm 10 mức với
mức 0-không đau đến mức 10-đau nhiều nhất. Và do đó
thường bệnh nhân chỉ sử dụng giảm đau thơng thường
như acetaminophen trong vịng 24 – 48 giờ sau mổ.
Thời điểm 7-10 ngày sau mổ, các ghim bấm trên
mép da bao quy đầu bắt đầu rơi ra với thời gian trung
bình để kim rơi ra hết là 10,9±1,7 ngày, gần tương đương
với nghiên cứu của Yiming Yuan và cộng sự là 10,4 ± 1,6

2021

ngày [9]. Có 4 trường hợp (chiếm tỉ lệ 5,2%) kim không
bung hết sau 20 ngày, những bệnh nhân này chủ yếu do
quá trình thay băng tại nhà sau mổ khá “nhẹ tay” nên
những cục máu đông giữ kim vào mép vết cắt trên BQĐ.
Cả 4 trường hợp này đều được gỡ ghim rất nhẹ nhàng tại
phòng tiểu phẫu khoa Ngoại niệu bằng kềm mosquito với
vô cảm bằng Xylocain gel bôi tại chỗ. Trong nghiên cứu
của mình, Yiming Yuan và cộng sự cũng đã ghi nhận 2
trường hợp chậm bung ghim (hơn 14 ngày), và đều được
dùng kềm mosquito để gỡ ghim.
Tất cả bệnh nhân đều hài lòng về mặt thẩm mỹ

của dương vật sau phẫu thuật và đều đồng ý sẽ giới thiệu
với bạn bè, người thân về phương pháp này.

V. KẾT LUẬN

Với sự hỗ trợ của Stapler trong phẫu thuật cắt BQĐ,
chúng tôi đã rút ngắn thời gian phẫu thuật còn khoảng
6,8 phút, tỉ lệ tai biến – biến chứng khoảng 6,5% nhưng
chỉ là những biến chứng nhẹ. Cắt BQĐ bằng Stapler là
một phương pháp đơn giản, dễ thực hiện, thời gian phẫu
thuật nhanh, phục hồi sau mổ nhanh, giảm thiểu tối đa
tình trạng phù da quy đầu sau mổ, đạt được tính thẩm
mỹ và sự hài lịng cao của người bệnh. Chưa ghi nhận
tai biến – biến chứng đáng kể nào trong mẫu nghiên cứu
của chúng tôi. Tuy nhiên, chúng tôi cần thực hiện nghiên
cứu trên với cỡ mẫu lớn hơn nhằm đưa ra những nhận
xét khách quan hơn những ưu – khuyết điểm của phương
pháp này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Albero G, Castellsague X, Giuliano AR, Bosch FX. Male circumcision and genital human papillomavirus: a
systema- tic review and meta-analysis. Sex Transm Dis 2012; 39: 104-113, doi: 10.1097/OLQ.0b013e3182387abd.
2. Mehta SD, Moses S, Parker CB, Agot K, Maclean I, Bailey RC. Circumcision status and incident herpes
simplex virus type 2 infection, genital ulcer disease, and HIV infection. AIDS 2012; 26: 1141-1149, doi: 10.1097/
QAD.0b013e328352d116.
3. Bailey RC, Moses S, Parker CB, Agot K, Maclean I, Krieger JN, et al. Male circumcision for HIV prevention
in young men in Kisumu, Kenya: a randomised controlled trial. Lancet 2007; 369: 643-656, doi: 10.1016/S01406736(07)60312-2.
4. Hayashi Y, Kohri K. Circumcision related to urinary tract infections, sexually transmitted infections, human
immuno- deficiency virus infections, and penile and cervical cancer. Int J Urol 2013; 20: 769-775, doi: 10.1111/
iju.12154.

5. Larke NL, Thomas SL, dos Santos Silva I, Weiss HA. Male circumcision and penile cancer: a systematic review and meta-analysis. Cancer Causes Control 2011; 22: 1097-1110, doi: 10.1007/s10552-011-9785-9.
6. Hargreave T. Male circumcision: towards a World Health Organisation normative practice in resource limited
settings. Asian J Androl 2010; 12: 628-638, doi: 10.1038/aja.2010.59.
7. Ceylan K, Burhan K, Yilmaz Y, Can S, Kus A, Mustafa G. Severe complications of circumcision: an analysis
of 48 cases. J Pediatr Urol 2007; 3: 32-35, doi: 10.1016/j.jpurol.2006.02.009.
8. Wilcken A, Keil T, Dick B. Traditional male circumcision in eastern and southern Africa: a systematic review
of prevalence and complications. Bull World Health Organ 2010; 88: 907-914, doi: 10.2471/BLT.09.072975.
9. Yuan Y, Zhang Z, Cui W, et al. Clinical investigation of a novel surgical device for circumcision.  J Urol.
2014;191(5):1411-1415. 

196

Số chuyên đề 2021
Website: tapchiyhcd.vn



×