BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
KHOA MARKETING
------
-----
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
TIN HỌC ĐẠI CƯƠNG
CHỦ ĐỀ: TÌM HIỂU VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
Giảng viên phụ trách : Ths. Lê Thị Kim Thoa
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Nhật Duy
Mã số sinh viên: 2021003866
Mã lớp học phần: 2121101063833
TPHCM, THÁNG 5 NĂM 2022
i
Nguyễễn Nhật Duy - 2021003866
TIEU LUAN MOI download :
BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
KHOA MARKETING
------
-----
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
TIN HỌC ĐẠI CƯƠNG
CHỦ ĐỀ: TÌM HIỂU VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
Giảng viên phụ trách : Ths. Lê Thị Kim Thoa
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Nhật Duy
Mã số sinh viên: 2021003866
Mã lớp học phần: 2121101063833
TPHCM, THÁNG 5 NĂM 2022
i
Nguyễễn Nhật Duy - 2021003866
TIEU LUAN MOI download :
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
LỜI CẢM ƠN
ii
Nguyễễn Nhật Duy - 2021003866
TIEU LUAN MOI download :
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Đại học Tài chính –
Marketing đã đưa mơn học Tin học đại cương vào trương trình giảng dạy. Đặc biệt, em
xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn - Cô Lê Thị Kim Thoa đã dạy dỗ,
truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập vừa qua. Trong
thời gian tham gia lớp học Tin học đại cương của cơ, em đã có thêm cho mình nhiều
kiến thức bổ ích, tinh thần học tập hiệu quả, nghiêm túc. Đây chắc chắn sẽ là những
kiến thức quý báu, là hành trang để em có thể vững bước sau này.
Bộ môn Tin học đại cương là môn học thú vị, vơ cùng bổ ích và có tính thực tế
cao. Đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu thực tiễn của sinh viên. Tuy
nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế và khả năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡ
ngỡ. Mặc dù em đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài tiểu luận khó có thể tránh khỏi
những thiếu sót và nhiều chỗ cịn chưa chính xác, kính mong cơ xem xét và góp ý để
bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
iii
Nguyễễn Nhật Duy - 2021003866
TIEU LUAN MOI download :
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BÌNH ĐẲNG
GIỚI........................................................................................................................................
1.1.
Một số khái niệm:.................................................
1.1.1.
Quan niệm về
1.1.2. Quan niệm về bình đẳng giới:.............................................................................
1.2.
Chỉ số bất bình đẳng giới GII (Gender Inequality
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ
QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI................................................................................................
1.1.
Bình đẳng giới ở Hoa Kỳ:.....................................
1.1.1. Những vấn đề hiện tại đối với nữ giới:................................................................
1.1.2. Những vấn đề hiện tại đối với nam giới............................................................
1.2.
Bình đẳng giới ở Trung Quốc..............................
1.2.1. Phụ nữ Trung Quốc có phải đối mặt với bất bình đẳng lớn hơn phụ nữ ở
những
không?............................................................................................................
nơi
1.2.2. Triển vọng sức khỏe của phụ nữ Trung Quốc:..................................................
1.2.3. Tỉ số giới tính khi sinh......................................................................................
1.2.4. Tham gia chính trị của phụ nữ Trung Quốc:......................................................
1.2.5. Quyền tiếp cận giáo dục của phụ nữ Trung Quốc..............................................
1.3.
Bình đẳng giới ở Việt Nam..................................
1.3.1. Bức tranh sáng màu về bình đẳng giới ở Việt Nam...........................................
1.3.2. Những góc khuất về bình đẳng giới ở Việt Nam...............................................
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG
GIỚI......................................................................................................................................
1.1.
Những giải pháp của chính phủ Việt Nam:..........
1.2.
UNICEF đang là gì để để thúc đẩy bình đẳng giớ
1.3.
Mục tiêu 5 hoạt động (GOAL 5 IN ACTION).....
iv
Nguyễễn Nhật Duy - 2021003866
TIEU LUAN MOI download :
DANH MỤC ẢNH
Hình 1: Báo cáo phát triển con người năm 2020 đươc UNDP cơng bố................Error!
Bookmark not defined.
Hình 1.2: Bản đồ biểu thị mức độ bất bình đẳng giới của các quốc gia.......................... 3
Hình 2.1: Diễu hành nhân ngày 8/3 tại Mỹ............................................................................. 4
Hình 2.2: Lycoming College...................................................................................................... 5
Hình 2.3: Những nữ chính trị gia Mỹ chụp hình sau một cuộc hợp................................. 5
Hình 2.4........................................................................................................................................... 8
Hình 2.5........................................................................................................................................... 9
Hình 2.6......................................................................................................................................... 11
Hình 2.7: Sự phát triển vượt bật của Trung Quốc trong việc cải thiện mức sống và kết
quả sức khỏe........................................................................ Error! Bookmark not defined.
Hình 3.7: UNICEF/UNI235471/Willocq.............................................................................. 23
v
Nguyễễn Nhật Duy - 2021003866
TIEU LUAN MOI download :
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
BẢNG 1: Top 10 quốc gia có chỉ số GII cao nhất năm 2018..........................
BIỂU ĐỒ 2.1: Gender Inequality in Mexico, Canada, and the United States. .
BIỂU ĐỒ 2.2: Bình đẳng giới trong chính trị của ba nước Mỹ, Canada và Mexico.......
7
BẢNG 2.1: So sánh các chỉ tiêu trong bình đẳng giới giữa Mỹ và Trung Quốc. 13
BẢNG 2.3: Tuổi thọ trung bình của phụ nữ ở các quốc gia trên thế giới............
BIỂU ĐỒ 2.4: Tỉ suất giới tính khi sinh của Trung Quốc...............................
BIỂU ĐỒ 2.5: Tỉ lệ nam và nữ trong Đảng cộng sản Trung Quốc.................
BẢNG 2.2: Tỉ lệ nam và nữ tại các trường Đại học hàng đầu Trung Quốc năm 2019.....
18
vi
Nguyễễn Nhật Duy - 2021003866
TIEU LUAN MOI download :
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BÌNH ĐẲNG
GIỚI
1.1.
Một số khái niệm:
1.1.1. Quan niệm về giới:
Giới là khái niệm mới xuất hiện trong khoa học về giới ở các nước nói tiếng Anh
vào cuối những năm 60 và ở nước ta vào những năm 80 của thế kỉ XX. Cho đến
nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về giới.
Giới là một thuật ngữ để chỉ vai trò, hành vi ứng xử xã hội và những kỳ vọng
liên quan đến nam và nữ. Nó được coi là phạm trù xã hội có vai trị quyết định
đến cơ hội cuộc sống của con người, xác định vai trò của họ trong xã hội và
trong nền kinh tế. Giới chỉ khác biệt về xã hội và quan hệ về quyền lực giữa trẻ
em trai và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới được hình thành và khác nhau
ngay trong một nền văn hóa giữa các nền văn hóa và thay đổi theo thời gian. Sự
khác biệt này được nhận thấy một cách rõ ràng trong vui chơi, trách nhiệm, nhu
cầu, khó khăn và thuận lợi của các giới tính.
Tóm lại, khi nói về giới có thể hiểu là nói về vai trị, trách nhiệm và quyền lợi
mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam và nữ. Vai trò, trách nhiệm và quyền
lợi đó thể hiện trước hết ở sự phân cơng lao động, phân chia các nguồn của cải
vật chất và tinh thần, tức là cách đáp ứng nhu cầu của nam và nữ trong xã hội.
1.1.2. Quan niệm về bình đẳng giới:
Khái niệm bình đẳng giới:
Có thể hiểu bình đẳng giới là sự đối xử ngang quyền giữa hai giới nam và nữ có
xét đến những đặc điểm giống nhau và khác nhau của mỗi giới, thậm chí sự cả
sự khác biệt trong giới nữ, và được điều chỉnh bởi các chính sách đối với từng
giới một cách hợp lí.
Nội dung của bình đẳng giới
Theo tinh thần của cơng ước CEDAW, nội dung bình đẳng giới bao gồm các lĩnh
vực:
Bình đẳng về chính trị
Bình đẳng trong kinh tế, việc làm
Bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục
Bình đẳng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe
1
Nguyễễn Nhật Duy - 2021003866
TIEU LUAN MOI download :
Bình đẳng trong vấn đề hơn nhân và gia đình
Theo Luật Bình đẳng giới (2007) của nước ta, nội dung của bình đẳng giới gồm
có:
Bình đẳng về chính trị.
Bình đẳng về kinh tế, việc làm
Bình đẳng trong lĩnh vực lao động
Bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Bình đẳng trong lĩnh vực khoa học và cơng nghệ
Bình đẳng trong lĩnh vực văn hóa, thơng tin, thể dục thể thao
Bình đẳng trong lĩnh vực y tế
Bình đẳng trong gia đình
Như vậy, bình đẳng giới trong gia đình là một trong tám lĩnh vực thực hiện
bình đẳng giới được luật hóa ở nước ta hiện nay.
1.2.
Chỉ số bất bình đẳng giới GII (Gender Inequality Index)
Bất bình đẳng giới vẫn là rào cản lớn đối với sự phát triển của con người. Trẻ em
gái và phụ nữ đã đạt được những bước tiến lớn kể từ năm 1990, nhưng họ vẫn
chưa đạt được bình đẳng giới.
Những bất lợi mà phụ nữ và
trẻ em gái phải đối mặt là
nguyên nhân chính gây ra bất
bình đẳng. Thơng thường,
phụ nữ và trẻ em gái bị phân
biệt đối xử về y tế, giáo dục,
đại diện chính trị, thị trường
lao động, v.v. - với những hậu
quả tiêu cực đối với sự phát
triển năng lực và quyền tự do lựa chọn của họ.
Hình 1: Báo cáo phát triển con người năm 2020
đươc UNDP công bố
GII là một chỉ số bất bình đẳng.
Nó đo lường sự bất bình đẳng
giới trong ba khía cạnh quan
trọng của sự phát triển con người:
sức khỏe sinh sản, được đo bằng
tỷ lệ tử vong bà mẹ và tỷ lệ sinh
ở tuổi vị thành niên; sự trao
quyền, được đo lường bằng tỷ lệ
ghế trong quốc hội do phụ nữ
chiếm giữ và tỷ lệ nam giới và
phụ nữ trưởng thành từ 25 tuổi trở
lên có trình độ trung học trở lên;
và tình trạng kinh tế, được thể
hiện bằng mức độ tham gia thị
trường lao động và được đo lường
bằng tỷ lệ tham gia lực lượng lao
động của dân số nữ và nam từ 15
tuổi trở lên. GII được xây dựng
trên cùng một khuôn khổ với
IHDI — để bộc lộ rõ hơn
2
Nguyễễn Nhật Duy - 2021003866
TIEU LUAN MOI download :
sự khác biệt trong phân bổ thành
tích giữa phụ nữ và nam giới. Nó
đo lường chi phí phát triển con
người của bất bình đẳng giới.
GII mang lại những hiểu biết sâu
sắc về khoảng cách giới trong các
lĩnh vực chính của sự phát triển
con người. Các chỉ số thành phần
nêu bật các lĩnh vực cần can thiệp
chính sách quan trọng và nó kích
thích tư duy chủ động và chính
sách cơng nhằm khắc phục những
nhược điểm có hệ thống của phụ
nữ.
3
Nguyễễn Nhật Duy - 2021003866
TIEU LUAN MOI download :
Bảng 1:
Top
quốc
gia
chỉ
GII cao
nhất
năm
10
Xếp hạng
1
2
có 3
số
4
4
6
2018
7
8
9
10
Hình 1.2: Bản đồ biểu thị mức độ bất bình đẳng giới của các quốc gia
trên thế giới năm 2019
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM VÀ MỘT
SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
1.1.
Bình đẳng giới ở Hoa Kỳ:
Bất bình đẳng giới ở Hoa Kỳ đã giảm dần trong suốt lịch
Nguyễễn Nhật Duy - 2021003866
sử của nó và những tiến bộ quan trọng đối với4bình đẳng
đã được thực hiện hầu hết bắt đầu từ đầu những năm
1900. Tuy nhiên, bất chấp tiến bộ này, bất bình đẳng giới
ở Hoa Kỳ vẫn tiếp tục tồn tại dưới nhiều hình thức, bao
TIEU LUAN MOI download :
Hình 2.1: Diễu hành nhân ngày 8/3
tại Mỹ
Ngồi sự bất bình đẳng mà phụ nữ chuyển giới
phải đối mặt, tình trạng bất bình đẳng, định kiến
và bạo lực đối với người chuyển giới nam và nữ,
cũng như các cá nhân không phù hợp về giới và
các cá nhân không phải là người song sinh, cũng
rất phổ biến ở Hoa Kỳ. Các cá nhân chuyển giới
phải chịu những định kiến về lực
lượng lao động và việc làm, mức độ bạo lực gia đình cao hơn, tỷ lệ tội phạm căm thù
cao hơn, đặc biệt là giết người và mức độ tàn bạo của cảnh sát cao hơn so với dân số
chuyển giới.
1.1.1. Những vấn đề hiện tại đối với nữ giới:
a) Thái độ xã hội:
Nghiên cứu gần đây hơn vào năm 2012 đã phát hiện ra rằng thái độ đối với mỗi giới và
vai trò xã hội đã thay đổi rất ít kể từ giữa những năm 1990, với thái độ dao động ở mức
khoảng sáu mươi đến bảy mươi phần trăm (theo chủ nghĩa bình quân). Nghiên cứu này
đưa ra giả thuyết rằng khung giới "theo chủ nghĩa bình đẳng truyền thống" đã xuất hiện
trong nền văn hóa đại chúng trong thời kỳ này, hỗ trợ mỗi giới đảm nhận vai trị truyền
thống của họ mà khơng xuất hiện phân biệt giới tính hoặc phân biệt đối xử, và là
nguyên nhân gây ra phản ứng dữ dội này.
Phân biệt giới tính nhân từ , đơi khi được gọi là tinh thần thượng tôn, coi phụ nữ như
một thứ cần được bảo vệ, cũng có những tác động tâm lý. Phụ nữ có quan điểm này
thường có mục tiêu nghề nghiệp ít tham vọng hơn và đàn ông theo quan điểm này có
cái nhìn phân cực và định kiến về phụ nữ, được tạo thành từ cả những đặc điểm rất
thuận lợi và không thuận lợi. Trong những trường hợp như vậy, quan điểm định kiến về
phụ nữ là "thuận lợi về nội dung nhưng lại gây bất lợi về hậu quả , và cố gắng đưa ra lời
biện minh cho các hành vi phân biệt đối xử.
Nghiên cứu được thực hiện tại Đại học Lycoming đã
phát hiện ra sự thích thú của việc đùa cợt về phân biệt
giới tính có mối tương quan chặt chẽ với sự hung
hăng tình dục đối với phụ nữ trong nam sinh viên đại
học. Ngoài ra, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc tiếp
xúc với sự đùa cợt về phân biệt giới tính, đặc biệt là
đùa cợt liên quan đến tấn cơng tình dục, có thể làm
tăng sự hung hăng của nam giới và xu hướng phân
biệt đối xử với phụ nữ. Một nghiên cứu cũng khẳng
định rằng thái độ đằng sau sự đùa giỡn như vậy tạo ra
một môi trường mà hành vi phân biệt đối xử và có thể
là bạo lực tinh thần. Nam giới có xu hướng tự báo cáo
khả năng họ sẽ thực hiện các hành vi bạo lực tình dục
cũng tăng lên sau khi tiếp xúc với đàu giỡn về phân
biệt giới tính (theo báo cáo của các nhà nghiên cứu từ
Đ i h K t)
5
Hình 2.2: Lycoming College
TIEU LUAN MOI download :
c) Tham gia chính trị:
Một thế kỷ trơi qua kể từ khi phụ nữ
giành được quyền bầu cử ở Mỹ, đất
nước Mỹ đã có những bước phát triển
vượt bậc trên nhiều mặt. Nhưng cần
nhiều hơn thế nữa — và trên hết là trong
lĩnh vực chính trị. Hoa Kỳ bị so sánh
kém với hầu hết các quốc gia khác trên
thế giới về bình đẳng giới trong chính trị
— kể cả với các nước láng giềng gần
nhất là Canada và Mexico.
Hình 2.3 : Những nữ chính trị gia Mỹ chụp hình sau một cuộc
Đo lường bình đẳng giới
Năm 2020, Gender Gap Báo cáo từ Diễn đàn Kinh tế Thế giới xếp tiến bộ về bình đẳng
giới trong 153 quốc gia trên tồn thế giới. Mỹ đứng ở vị trí thứ 53 đáng thất vọng, so
với vị trí thứ 25 của Mexico và vị trí thứ 19 của Canada. WEF tính tốn bình đẳng giới
ở mỗi quốc gia dựa trên bốn lĩnh vực có trọng số như nhau: trình độ học vấn, sức khỏe
và sự sống còn, tham gia kinh tế và cơ hội, và nâng cao vị thế chính trị. WEF tính tốn
mức độ bình đẳng giới trong từng lĩnh vực, dựa trên một phạm vi trên các chỉ số cho
từng lĩnh vực, trong đó mỗi chỉ số dao động từ 0 đến 1, với 1 chỉ số tương đương.
Dưới đây là cách Hoa Kỳ so sánh tổng thể và trên từng khía cạnh này với Canada và
Mexico:
Biểu đồ 2.1: Gender Inequality in Mexico, Canada, and the United States
Biểu đồ 2.1: Gender Inequality in Mexico, Canada, and the United States
Biểu đồ 2.1: Gender Inequality in Mexico, Canada, and the United States
Biểu đồ 2.1: Gender Inequality in Mexico, Canada, and the United States
6
Nguyễễn Nhật Duy - 2021003866
TIEU LUAN MOI download :
Mexico
Overall Score
Educational Attainment
Canada
Economic Participation &
Opportunity
Political Empowerment
United States
0
0.2
0.4
0.6
0.8
1
1.2
Cả ba quốc gia đều đạt được bình đẳng giới, hoặc rất gần bình đẳng, trong giáo dục và y
tế. (Trên thực tế, bất bình đẳng giới, đặc biệt là trong giáo dục hiện nay đã đi theo
hướng khác, điều này không ảnh hưởng đến hệ thống tính điểm của WEF). Mỹ và
Canada có điểm số tương đương, và cao hơn nhiều so với Mexico, về bình đẳng kinh tế.
Nhưng xét về trao quyền chính trị, Mexico dẫn đầu ba nước, tiếp theo là Canada, với
Mỹ theo sau đó.
Bình đẳng trong chính trị: Mỹ tụt hậu.
Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị được WEF tính tốn bằng ba chỉ số: tỷ lệ phụ nữ
so với nam giới tính theo số năm nắm giữ chức vụ hành pháp (thủ tướng hoặc tổng
thống) trong 50 năm qua; tỷ lệ hiện tại của phụ nữ so với nam giới trong các vị trí trong
quốc hội; và tỷ lệ hiện tại của phụ nữ so với nam giới trong các vị trí bộ trưởng. Cả ba
quốc gia Bắc Mỹ đều đạt điểm kém ở chỉ số đầu tiên. Cả Mexico và Mỹ đều khơng có
nữ lãnh đạo chính trị, và Canada do một phụ nữ lãnh đạo chỉ trong sáu tháng (Avril
Campbell năm 1993). Tại Mỹ, 2016 là năm đầu tiên cử tri có cơ hội bỏ phiếu cho một
nữ ứng cử viên tổng thống từ một trong những đảng lớn.
Biểu đồ 2.2: Bình đẳng giới trong chính trị của ba nước Mỹ, Canada và Mexico.
Biểu đồ 2.2: Bình đẳng giới trong chính trị của ba nước Mỹ, Canada và Mexico.
Biểu đồ 2.2: Bình đẳng giới trong chính trị của ba nước Mỹ, Canada và Mexico.
Biểu đồ 2.2: Bình đẳng giới trong chính trị của ba nước Mỹ, Canada và Mexico.
Biểu đồ 2.2: Bình đẳng giới trong chính trị của ba nước Mỹ, Canada và Mexico.
7
Nguyễễn Nhật Duy - 2021003866
TIEU LUAN MOI download :
1.2
1
0.8
Overall Score for Political
Empowerment
Ratio of Women in Parliament
0.6
Ratio of Women in Ministerial
Positions
Ratio of Year with
Female/Male Head of State (in
the last 50 years)
0.4
0.2
0
Mexico
Canada
United States
Như biểu đồ cho thấy,
quyền đại diện của quốc
hội ở Mexico hiện nay
về cơ bản là bình đẳng,
và tỷ lệ đại diện cấp bộ
trưởng thấp hơn, với
42% là nữ. Cả Canada và
Mỹ đều làm kém hơn
nhiều so với Mexico về
biện pháp của quốc hội,
với phụ nữ chỉ chiếm 1/4
số nhà lập pháp. Nhưng
Canada hiện vượt trội về
đại diện bộ trưởng, với
việc Justin Trudeau thực
hiện tốt lời hứa bầu cử
của mình là chọn một
nội các bình đẳng giới .
Ghi điểm kém ở cả ba
chỉ số, Mỹ rơi vào nửa
cuối của bảng xếp hạng
tồn cầu về bình đẳng
giới trong lĩnh vực chính
trị, xếp sau Philippines,
Hàn Quốc và Các Tiểu
vương quốc Ả Rập
Thống nhất.
Theo tính tốn của các
chun gia, nếu Hoa Kỳ
giống với với điểm số
trao quyền chính trị của
Mexico, nó sẽ nhảy từ vị
trí thứ 53 lên vị trí thứ 6
trên thế giới về bình
đẳng giới (với điểm bình
đẳng tổng thể là 0,80),
đánh bại New Zealand,
Đan Mạch và Canada. Đối với Hoa Kỳ, chính trị
là thách thức lớn nhất - nhưng cũng có khả năng
là cơ hội lớn nhất.
d) Bất bình đẳng và phân biệt giới tính tại nơi
làm việc:
Hoa Kỳ đang tụt hậu so với các nước phương Tây
khác về tỷ lệ phụ nữ tham gia vào lực lượng lao
động. Vào năm 2020, tỷ lệ phụ nữ Mỹ đang làm
việc giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 1988.
Các nhà nghiên cứu từ Viện Nghiên cứu Chính
sách Phụ nữ tại Đại học California Hastings
College of Law cho rằng khoảng cách ngày càng
tăng này là do thiếu hỗ trợ của chính phủ, doanh
nghiệp và xã hội đối với phụ nữ đang đi làm.
Họ xếp Hoa Kỳ đứng cuối trong số 20 quốc gia
công nghiệp phát triển trong một chỉ số đo lường
các chương trình như nghỉ phép gia đình , sắp
xếp cơng việc thay thế, việc làm bán thời gian, và
các phương tiện khác để làm cho nơi làm việc
linh hoạt hơn và thân thiện với gia đình. Hoa Kỳ
cũng là quốc gia cơng nghiệp phát triển duy nhất
khơng có chính sách nghỉ việc hưởng lương theo
quy định của pháp luật và là một trong bốn quốc
gia trên tồn thế giới khơng áp dụng chính sách
này.
8
Nguyễễn Nhật Duy - 2021003866
TIEU LUAN MOI download :
Ngoài ra, khoảng 16% người sử dụng lao động ở Hoa Kỳ chỉ đưa ra chế độ nghỉ thai
sản được trả lương đầy đủ.
Hình 2.4
Jane Wilke từ Đại học Connecticut nhận thấy rằng sự ủng hộ của nam giới đối với ý
tưởng rằng nam giới nên là nguồn thu nhập duy nhất trong một cặp vợ chồng đã giảm
từ 32 xuống 21% từ năm 1972 đến năm 1989; trên thực tế, chỉ có 15% hộ gia đình được
hỗ trợ bởi thu nhập của riêng vợ hoặc chồng tại thời điểm nghiên cứu.
Ngày nay, phụ nữ liên tục bị ngược đãi và phân biệt đối xử tình dục tại nơi làm việc.
Đây là một vấn đề đang diễn ra và rất có thể sẽ tiếp tục cho đến khi có điều gì đó thay
đổi trong lĩnh vực nghề nghiệp. Theo một nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà
nghiên cứu tại Đại học Bang California, Northridge , khi một cá nhân có bằng Tiến sĩ
nộp đơn cho một vị trí tại một trường đại học, cá nhân đó có nhiều khả năng được đề
nghị bổ nhiệm ở cấp độ cao hơn, nhận được đề nghị về một vị trí học tập. dẫn đến
nhiệm kỳ, và được cung cấp một chức vụ giáo sư đầy đủ nếu họ là một người đàn ơng
khi so sánh với một người phụ nữ có trình độ tương đương.
Tuy nhiên, những phát hiện này đã bị tranh cãi, với nhiều nghiên cứu cho thấy các
trường đại học đã thúc đẩy thuê nhiều phụ nữ hơn, dẫn đến việc nữ giới có lợi thế 2: 1
so với nam giới trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật cơng nghệ và tốn học. Một
nghiên cứu khác cho thấy phụ nữ ít có khả năng nhận được lời mời làm việc hoặc
phỏng vấn cho vị trí bồi bàn được trả lương cao hơn so với nam giới có trình độ tương
đương; Nghiên cứu này cũng phát hiện ra rằng sự phân biệt đối xử trong việc tuyển
9
Nguyễễn Nhật Duy - 2021003866
TIEU LUAN MOI download :
dụng như vậy một phần có thể do sự phân biệt đối xử của khách hàng đối với nhân viên
phục vụ nam, nhưng điều đó khơng thể kết luận được, vì khoảng cách nam / nữ có thể
được giải thích do thực tế là nữ phục vụ nhiều hơn nam, sao cho việc tuyển dụng những
người phục vụ nam được ưu tiên thực sự có thể giúp bình đẳng.
Tương tự, nghiên cứu được thực hiện tại Đại học California, tập trung vào da liễu học
thuật cho thấy một xu hướng giảm đáng kể về số lượng phụ nữ nhận được tài trợ từ
Viện Y tế Quốc gia, mà các tác giả kết luận là do thiếu sự hỗ trợ cho các nhà khoa học
nữ tại các cơ sở tại nhà của họ.
Nghiên cứu từ Đại học Lawrence đã phát hiện ra rằng nam giới có nhiều khả năng được
thuê trong các cơng việc truyền thống nam tính, chẳng hạn như quản lý bán hàng, và
phụ nữ có nhiều khả năng được th trong các cơng việc truyền thống nữ tính, chẳng
hạn như lễ tân hoặc thư ký. Tuy nhiên, các cá nhân thuộc một trong hai giới có các đặc
điểm tính cách nam tính sẽ có lợi hơn khi nộp đơn cho các cơng việc nam tính hoặc nữ
tính, cho thấy có khả năng đánh giá các đặc điểm khn mẫu của nam giới hơn các đặc
điểm khuôn mẫu của nữ giới.
e) Bình
T
đẳng giới trong giáo dục:
ỷ lệ biết chữ
và tỷ lệ ghi
danh vào giáo
dục tiểu học
và trung học ngang
bằng nhau ở Hoa Kỳ, và
phụ nữ chiếm tỷ lệ cao
trong giáo dục đại học.
Tuy nhiên, có sự phân
biệt giới tính đáng chú ý
trong việc lựa chọn
bằng cấp, tương quan
với thu nhập thấp hơn
của sinh viên tốt nghiệp
có bằng cấp "nữ tính", chẳng hạn
như giáo dục hoặc điều dưỡng,
và thu nhập cao hơn đối với những người có bằng cấp "nam tính", chẳng hạn
như kỹ thuật. Nữ bắt đầu đơng hơn nam ở bậc giáo dục đại học vào năm 1992.
Bất bình đẳng giới ở các trường tiểu học và trung học cơ sở:
Để nghiên cứu sự bất bình đẳng giới ở các trường tiểu học và trung học cơ sở, các nhà
nghiên cứu từ NYU và Đại học Indiana đã sử dụng dữ liệu từ “Nghiên cứu theo chiều
dọc thời thơ ấu” đại diện trên toàn quốc, cụ thể là các nhóm 1998-1999 và 2010-2011.
Khi so sánh điểm kiểm tra tốn trung bình của nam và nữ ở trường mẫu giáo, họ khơng
phát hiện ra khoảng cách giới tính trung bình. Tuy nhiên, khi xem xét dữ liệu từ học
sinh lớp hai hoặc lớp ba, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng các em nam có thành tích
tốt hơn trong các bài kiểm tra toán (với độ lệch chuẩn là 0,25 khoảng cách giới tính
trung bình). Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng khi các giáo viên được yêu cầu
so sánh một cậu bé và một cô gái có cùng địa vị kinh tế xã hội và chủng tộc,
10
Nguyễễn Nhật Duy - 2021003866
TIEU LUAN MOI download :
những người nhận được cùng điểm trong các bài kiểm tra tốn và có hồ sơ hành vi
tương tự ở trường, các giáo viên hoàn toàn tuyên bố rằng cậu bé có năng lực tốn học
vượt trội. một phát hiện được nhân rộng trong một nghiên cứu hơn một thập kỷ sau đó.
Do đó, có thể khoảng cách giới tính về khả năng toán học giữa các học sinh mẫu giáo
có thể ít rõ ràng hơn ở Hoa Kỳ ngày nay nếu các giáo viên thể hiện ít thành kiến về giới
hơn trong việc đánh giá năng lực của học sinh, bằng chứng là những nghiên cứu nhân
rộng này chứng minh đánh giá thấp hơn một cách có hệ thống đối với tốn học của trẻ
em gái. Điều này có thể đã góp phần gây ra nhận thức sai lầm về khả năng của các cô
gái là thấp hơn điểm kiểm tra. Vì vậy, thường trong xã hội của chúng ta, các bé gái nhận
được tín hiệu ngay từ khi cịn nhỏ rằng chúng khơng giỏi tốn, hoặc đơn giản là các bé
trai giỏi hơn. Điều này có thể xảy ra ở nhà, khi các bà vợ nhờ chồng giúp đỡ khi làm
toán.
Năm 2013, phụ nữ nhận được 57% tổng số bằng cử nhân, tuy nhiên họ chỉ nhận được
43% bằng toán, 19% bằng kỹ thuật và 18% bằng khoa học máy tính. Ở trường và ở nhà,
nhiều cơ gái trẻ nhận được thơng báo rằng họ "có gen tốn học hoặc khơng." Khi một
người mẹ nói với con gái rằng cơ ấy khơng giỏi tốn ở trường, thơng thường, thành tích
tốn học của con gái sẽ giảm xuống. Thơng thường, phụ nữ không nhận ra rằng họ đang
gửi những thông điệp này cho con gái của họ.
Sự khác biệt về giới trong lựa chọn bằng cấp:
Đặc biệt đối với các trường đại học và cao đẳng, có thể thấy sự bất bình đẳng giới khi
xem xét nhân khẩu học của các chuyên ngành cụ thể. Đầu vào ban đầu của một lĩnh vực
nghiên cứu cụ thể được hình thành bởi mong muốn của một cá nhân để tham gia một số
lớp học nhất định, dẫn đến các cơ hội nghề nghiệp cụ thể và sau đó là tiền lương.
Khi khám phá chiều sâu của các chuyên ngành đại học, mỗi giới có xu hướng gom vào
các chuyên ngành nhất định. Những mức độ khn mẫu "nam tính" và "nữ tính" này là
những chỉ số chính cho sự bất bình đẳng mà phụ nữ phải đối mặt trong một số lĩnh vực
nhất định, đặc biệt là trong khoa học và toán học.
Dựa trên bộ sưu tập dữ liệu từ các trường đại học vào năm 2015 của Bộ Giáo dục Mỹ,
"phần lớn phụ nữ có bằng cấp trong các ngành y tế, tâm lý học, giáo dục, tiếng Anh và
giao tiếp. Những tỷ lệ phần trăm chính xác này có thể được nhìn thấy trong bảng do Bộ
Giáo dục phân phối, minh chứng cho phần lớn nam giới có trong lĩnh vực STEM.
Mặc dù không được chỉ định cho giới tính cụ thể, các chuyên ngành và trẻ vị thành niên
tại các trường đại học và cao đẳng mang những kỳ thị khác nhau về những người nên /
không nên tham gia chương trình. Kết quả nghiên cứu năm 1995 của Sylvia Beyer khảo
sát 154 sinh viên nữ và 111 sinh viên nam từ Đại học Wisconsin-Parkside, để kiểm tra
độ chính xác của các định kiến giới, kết luận rằng sinh viên tin rằng nam giới và phụ nữ
tập trung trong các lĩnh vực khác nhau và các chuyên ngành cụ thể được coi là "nam
tính "và" nữ tính. " Những người tham gia đã phân loại các chuyên ngành nam tính với
khoa học máy tính, hóa học, kinh doanh, lịch sử và toán học, trong khi họ đặt các
chuyên ngành nữ tính là tâm lý học, truyền thơng, âm nhạc và nghệ thuật. Những nhận
thức này có thể khơng mơ tả chính xác tỷ lệ phần trăm giới tính trong từng lĩnh vực,
nhưng chứng minh rằng nam giới có nhiều khả năng được nhìn thấy ở nồng độ STEM
hơn phụ nữ.
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu của Yale đã công bố các nghiên cứu chứng minh rằng các
nhà khoa học nam trẻ tuổi có nhiều khả năng được ưu ái hơn các nhà khoa học nữ có
cùng ứng cử. Tính đến năm 2013, chỉ 1 / 5 Vật lý tiến sĩ được trao cho phụ nữ và chỉ có
14% của vật lý giáo sư là nữ.
11
Nguyễễn Nhật Duy - 2021003866
TIEU LUAN MOI download :
Một yếu tố lớn dẫn đến sự bất bình đẳng lớn và nhỏ ở cấp đại học là do sự khuyến khích
của các đồng nghiệp và các nhà giáo dục để tiến bộ trong một số môn học nhất định.
Cuối cùng, phụ nữ không nhận được sự hỗ trợ và ủng hộ như các đồng nghiệp nam của
họ, và do đó, khơng theo đuổi các lĩnh vực STEM. Do một khoản tiền lớn nằm trong
những công việc này nên phụ nữ khơng được chia sẻ bình đẳng, làm gia tăng thêm bất
bình đẳng về lương theo giới.
f) Chăm sóc sức khỏe
Bất bình đẳng giới vẫn cịn được quan tâm trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe , trong
trường hợp phụ nữ tìm đến phịng cấp cứu vì các bệnh nghiêm trọng như đột quỵ và đau
tim, họ có nguy cơ bị chẩn đoán sai cao hơn 33% so với nam giới . Ngồi việc điều trị
sai cách, khi tìm cách điều trị các rối loạn tự miễn dịch ảnh hưởng đến phụ nữ nhiều
hơn nam giới. Trung bình phải tìm kiếm sự chăm sóc từ năm bác sĩ khác nhau và
khoảng thời gian 4 năm để nhận được chẩn đoán. Sức khỏe của phụ nữ đã trải qua một
chặng đường dài và với sự giúp đỡ của FDA và NIH trong việc đưa ra các chính sách
mới nhằm bao gồm nhiều nghiên cứu hơn về giới cụ thể cho phụ nữ, khoảng cách đang
dần được thu hẹp.
1.1.2. Những vấn đề hiện tại đối với nam giới
a) Dịch vụ chọn lọc (hiểu đơn giảng như việc đi nghĩa vụ ở Việt Nam)
Tại Hoa Kỳ, hầu hết nam công dân và cư dân Hoa Kỳ phải
đăng ký với Hệ thống Dịch vụ Tuyển chọn trong vòng 30
ngày kể từ ngày sinh nhật thứ 18 của họ. Những người
khơng đăng ký có thể bị phạt đến 5 năm tù và phạt tiền lên
đến 250.000 đơ la, mặc dù khơng có người khơng đăng ký
nào bị truy tố kể từ tháng 1 năm 1986. Họ cũng có thể
khơng đủ tư cách cơng dân (đối với người nhập cư), hỗ trợ
tài chính cho sinh viên liên bang, đào tạo việc làm liên bang
và việc làm liên bang, và đối với một số tiểu bang, việc làm
của tiểu bang và thậm chí bằng lái xe.
Hình 2.6
b) Tự tử
Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ tử vong do tự tử giữa nam và nữ ở độ tuổi thanh thiếu
niên được ước tính là 3: 1. Thơng thường, nam giới có nguy cơ tự tử cao hơn nữ
giới từ 3-5 lần. Sự khác biệt được báo cáo về tỷ lệ tự tử ở nam và nữ là một phần
kết quả của các phương pháp được sử dụng bởi từng giới. Mặc dù phụ nữ cố
gắng tự tử với tỷ lệ cao hơn, Họ có nhiều khả năng sử dụng các phương pháp ít
gây chết ngay lập tức hơn. Nam giới thường hồn thành việc tự sát thơng qua các
hành động gây tử vong cao như treo cổ, đầu độc carbon-monoxide và cầm súng.
Điều này trái ngược với phụ nữ, những người có xu hướng sử dụng ma túy quá
liều. Theo tất cả các nghiên cứu hiện có về vấn đề này, tỷ lệ nam giới tự tử cao
hơn cũng liên quan đến các chuẩn mực nam tính truyền thống như q độc lập,
miễn cưỡng tìm kiếm sự giúp đỡ, khơng bộc lộ
12
Nguyễễn Nhật Duy - 2021003866
TIEU LUAN MOI download :
cảm xúc và loại trừ xã hội. Một bài báo nghiên cứu do Đại học Portland thực
hiện đã cung cấp bằng chứng cho thấy nguy cơ nam giới tự tử có thể là do các
yếu tố mơi trường xã hội (thất nghiệp, phân biệt đối xử, nghèo đói), xa lánh đồng
tính và cơng việc căng thẳng. Các vai nam truyền thống kết hợp với căng thẳng
tâm lý xã hội là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến nạn dịch nam tự tử.
Nam giới đã ly hơn có nguy cơ tự tử cao gấp 2 lần so với nam giới đã kết hơn,
trong khi đối với phụ nữ, khơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nguy cơ
tự tử theo các loại tình trạng hơn nhân. Tự tử của nam giới trở nên đặc biệt rõ
ràng trong đại dịch COVID-19 , khiến nam giới tự tử gia tăng theo cấp số nhân
do tỷ lệ thất nghiệp, thất nghiệp, căng thẳng trong mối quan hệ và thất bại trong
cơng việc ngày càng gia tăng.
c) Vơ gia cư
Ít nhất 70% đến 85% tổng số người vô gia cư là nam giới. Tuy nhiên, người ta ước tính
rằng có số lượng phụ nữ vô gia cư lớn hơn số lượng được thống kê, do thực tế là nhiều
phụ nữ được coi là vơ gia cư khơng tự nhận mình là vơ gia cư và khơng được nhìn thấy
cùng với các nhóm người vơ gia cư hoặc trong các trại tạm trú dành cho người vơ gia
cư. Bởi vì họ sợ rằng họ sẽ phải đối mặt với khả năng bị tấn cơng tình dục cao hơn.
d) Phân biệt nghề nghiệp thành công việc nguy hiểm
Nam giới được tham gia quá nhiều vào các cơng việc nguy hiểm. Các ngành có tỷ lệ tử
vong cao nhất là khai khống, nơng nghiệp, lâm nghiệp, đánh bắt cá và xây dựng, tất cả
đều sử dụng nhiều nam giới hơn nữ giới. Trong một nghiên cứu tại Hoa Kỳ, 93% số ca
tử vong trong công việc liên quan đến nam giới, với tỷ lệ tử vong cao hơn phụ nữ xấp
xỉ 11 lần.
e) Tỉ lệ nạn nhân không tương xứng từ sự tàn bạo của cảnh sát
Nam giới chiếm đa số trong các vụ xả súng của cảnh sát. Theo một nghiên cứu được
thực hiện bởi Frank Edwards, Hedwig Lee và Michael Esposito, nguy cơ cả đời bị cảnh
sát giết khi là đàn ông ở Hoa Kỳ là khoảng 52 /100.000 (đối với đàn ông da đen là gần
1/1000); trong khi đối với phụ nữ, con số này chỉ là 3/ 100.000. Sau khi kiểm sốt các
đặc điểm hợp pháp và ngồi pháp luật, một nghiên cứu được thực hiện bởi tạp chí
Justice Quarterly cho thấy nam giới trẻ tuổi, da đen và gốc Tây Ban Nha có nhiều nguy
cơ bị cảnh sát trích dẫn, khám xét, bắt giữ và sử dụng vũ lực.
f) Những thành kiến trong hệ thống tư pháp hình sự
Theo một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2014, nam giới (trung bình) nhận mức án
dài hơn 63% cho cùng một tội so với phụ nữ. Một phân tích tổng hợp được thực hiện
trên nghiên cứu thực nghiệm về các bồi thẩm giả cho thấy rằng các bị cáo (khi kết án)
có lợi thế là hấp dẫn về thể chất, là nữ, da trắng và có địa vị kinh tế xã hội cao. Sau khi
kiểm soát các biến số kinh tế xã hội, nhân khẩu học và kinh tế xã hội sâu rộng, một bài
báo do Đại học Georgia thực hiện đã phát hiện ra rằng người da đen, nam giới và người
phạm tội có trình độ học vấn thấp và thu nhập thấp sẽ nhận được mức án dài hơn đáng
kể. Sau khi phân tích dữ liệu từ 9.966 vụ trộm cắp trọng tội và 18.176 vụ tấn công trọng
tội ở California, người ta nhận thấy có sự chênh lệch lớn về giới tính khi nữ giới có xu
hướng giống nam giới (và thiểu số) hơn để được giảm án và quản chế. Một phân tích đa
biến do Ủy ban kết án Hoa Kỳ thực hiện cho thấy phụ nữ thuộc mọi chủng tộc bị kết án
nhẹ hơn nhiều so với nam phạm nhân da trắng. Các bài báo khác
13
Nguyễễn Nhật Duy - 2021003866
TIEU LUAN MOI download :
đã xác nhận giả thuyết rằng phụ nữ nhận được bản án khoan hồng hơn đáng kể so với
nam giới trong hệ thống tư pháp hình sự.
1.2. Bình đẳng giới ở Trung Quốc
1.2.1. Phụ nữ Trung Quốc có phải đối mặt với bất bình đẳng lớn hơn phụ nữ ở
những nơi khác khơng?
Hiện đại hóa nhanh chóng đã cho phép Trung Quốc cung cấp cho cơng dân của mình
mức sống được cải thiện và tăng cơ hội kinh tế. Tuy nhiên, q trình này đã mang lại
lợi ích khơng đồng đều giữa nam và nữ. Khoảng cách tiền lương rõ rệt và đại diện
chính trị mất cân bằng chỉ là hai trong số nhiều vấn đề cản trở bình đẳng giới ở Trung
Quốc. Làm việc để giải quyết những bất cập này là điều cần thiết đối với Trung Quốc
khi nước này tiếp tục phát triển kinh tế xã hội.
Bảng dưới đây sử dụng dữ liệu từ chỉ số bình đẳng giới tính của Diễn đàn kinh tế Thế
giới (WEF) và năm 2018. Đo lường bình đẳng giới dựa trên bốn tiêu chí: thành tựu kinh
tế, giáo dục, y tế và nâng cao vị thế chính trị. Dưới đây là bảng so sánh của 2 nền kinh
tế lớn nhất thế giới-Trung Quốc và Mỹ.
Bảng 2.1: So sánh các chỉ tiêu trong bình đẳng giới giữa Mỹ và Trung Quốc
Tiêu chí
Overall
Economic
Participation &
Opportunity
Educational
Attainment
Health & Surviral
Political
Empowerment
Hiến pháp của Trung Quốc đảm bảo cho phụ nữ “quyền bình đẳng với nam giới trong
mọi lĩnh vực của cuộc sống” và trong vài thập kỷ qua, phụ nữ ở Trung Quốc đã được
hưởng một số lợi ích đáng chú ý. Ví dụ, tuổi thọ và tỷ lệ biết chữ đã tăng lên khi nền
kinh tế Trung Quốc phát triển. Tuy nhiên, tiến bộ này quá chậm so với phần còn lại của
thế giới. Xếp hạng của Trung Quốc trong chỉ số này đã giảm mạnh từ thứ 63 trong số
115 quốc gia vào năm 2006 xuống thứ 103 trong số 149 quốc gia vào năm 2018.
1.2.2. Triển vọng sức khỏe của phụ nữ Trung Quốc:
Tiếp cận chăm sóc sức khỏe và các kết quả sức khỏe tích cực là các biện pháp chính của
bình đẳng giới. Tương tự như các nước đang phát triển khác, khi Trung Quốc ngày
Nguyễễn Nhật Duy - 2021003866
TIEU LUAN MOI download :
14
càng giàu có, cơng dân của họ có tuổi thọ cao hơn. Phụ nữ Trung Quốc sinh năm 2016
có thể sống 77,8 tuổi, tăng 4,2 tuổi so với năm 2000 và 9,5 tuổi so với năm 1980. Trong
khi tuổi thọ của phụ nữ Trung Quốc đã vượt qua mức trung bình tồn cầu kể từ năm
1970, thì tuổi thọ này vẫn kém các nước láng giềng có thu nhập cao như Nhật Bản.
(87,1 tuổi) và Hàn Quốc (85,2 tuổi).
Biểu đồ 2.3 : Tuổi thọ trung bình của phụ nữ ở các quốc gia trên thế giới
100
90
80
70
60
50
40
30
20
10
0
1960
1965
Những cải thiện về kết quả y tế chủ yếu được thúc đẩy bởi các sáng kiến của chính phủ.
Ngay sau khi lên nắm quyền vào năm 1949, Đảng Cộng sản đã tạo ra một dịch vụ y tế
do nhà nước quản lý, cung cấp rẻ hoặc miễn phí cho cơng dân của mình. Những dịch vụ
này đã được chuyển đổi thành một hệ thống chăm sóc sức khỏe dựa trên thị trường vào
những năm 1980 . Năm 2009, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã khởi xướng cải cách chăm sóc
sức khỏe tồn diện để cho phép “tất cả mọi người đều được hưởng các dịch vụ chăm
sóc sức khỏe cơ bản”. Nỗ lực này phần lớn đã thành công, điều này càng ấn tượng hơn
với dân số khổng lồ của Trung Quốc. Tính đến năm 2012, 95% công dân Trung Quốc
nhận được mức độ bao phủ chăm sóc sức khỏe ở mức độ khiêm tốn.
Bắc Kinh cũng đã thiết lập các chương trình được thiết kế đặc biệt cho phụ nữ. Chúng
bao gồm Chương trình Quốc gia về Phát triển Phụ nữ 2001-2010 và Chương trình Quốc
gia về Phát triển Phụ nữ 2011-2020. Cả hai chương trình này đều tăng cường khả năng
tiếp cận với sàng lọc dự phịng, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tiêu chuẩn, giáo
dục sức khỏe và dinh dưỡng. Các biện pháp như vậy đã mang lại lợi ích
hữu hình. Một cuộc khảo sát do Cục Thống
kê Quốc gia thực hiện cho thấy trong năm
2013, số phụ nữ khám sàng lọc các bệnh nói
chung đã tăng lên 68,7%, tăng 7,5% so với
năm 2010.
15