1. Hãy nêu khái niệm thương mại điện tử? Thương mại điện tử có đặc
điểm gì khác so với thương mại truyền thống?
2. Trình bày khái niệm và những đặc trưng của thương mại điện tử
Câu1+2
*Khái niệm về thương mại điện tử, hay còn gọi là e-commerce, e-comm và EC,
là sự mua bán sản phẩm hay dịch vụ trên các hệ thống điện tử như Internet và
các mạng máy tính.Thương mại điện tử dựa trên một số công nghệ như chuyển
tiền điện tử, quản lý chuỗi dây chuyền cung ứng, tiếp thị Internet, quá trình giao
dịch trực tuyến, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), các hệ thống quản lý hàng tồn kho,
và các hệ thống tự động thu thập dữ liệu. Thương mại điện tử hiện đại thường
sử dụng mạng World Wide Web là một điểm ít nhất phải có trong chu trình giao
dịch, mặc dù nó có thể bao gồm một phạm vi lớn hơn về mặt công nghệ như
email, các thiết bị di động cũng như điện thoại.
Các dạng hình thức chính của thương mại điện tử bao gồm:
Doanh nghiệp với Doanh nghiệp (B2B)
Doanh nghiệp với Khách hàng (B2C)
Doanh nghiệp với Chính phủ (B2G)
Khách hàng với Khách hàng (C2C)
Thương mại đi động (mobile commerce hay viết tắt là m-commerce).
Sự khác nhau giữa tmđt và thương mại truyền thống
Cơ sở để
so sánh
Thương mại truyền thống
thương mại điện tử
Ý nghĩa
Thương mại truyền thống là một chi nhánh
kinh doanh tập trung vào trao đổi sản phẩm
và dịch vụ, và bao gồm tất cả các hoạt
động khuyến khích trao đổi, bằng cách này
hay cách khác.
Thương mại điện tử có
nghĩa là thực hiện các giao
dịch thương mại hoặc trao
đổi thông tin, điện tử trên
internet.
Xử lý giao
dịch
Hướng dẫn sử dụng
Tự động
Khả năng
tiếp cận
Thời gian giới hạn
24 × 7 × 365
Kiểm tra
thể chất
Hàng hóa có thể được kiểm tra vật lý trước
khi mua.
Hàng hóa không thể được
kiểm tra vật lý trước khi
mua.
Tương
tác khách
hàng
Mặt đối mặt
Màn hình đối mặt
Phạm vi
kinh
doanh
Giới hạn trong khu vực cụ thể.
Đạt trên toàn thế giới
Trao đổi
thơng tin
Khơng có nền tảng thống nhất để trao đổi
thông tin.
Cung cấp một nền tảng
thống nhất để trao đổi thơng
tin.
Tập trung
nguồn lực
Quan tâm phía cung
Trọng tâm tài ngun của
thương mại là Phía cầu
Mối quan
hệ kinh
doanh
Dọc hoặc Tuyến tính
Có sự chỉ đạo trực tiếp dẫn
đến mối quan hệ kinh doanh
theo chiều ngang
Tiếp thị
Tiếp thị đại chúng/ một chiều
Tiếp thị một-một
Thanh
tốn
Tiền mặt, séc, thẻ tín dụng, v.v.
Thẻ tín dụng, chuyển tiền,
vv
Giao
hàng
Ngay lập tức
Sau thời gian
Đặc trưng của TMĐT
-Mơ hình kinh doanh online:
Hướng tới mơ hình kinh doanh online dựa trên việc cung cấp mạng lưới thơng tin và quy
trình mua bán tự động. Tức là người mua và người bán không cần phải biết nhau từ trước
để đảm bảo uy tín khi giao dịch.
Nếu như trước đây hình thức thương mại truyền thống buộc người mua và người bán phải
có một địa điểm tập kết để trao đổi thông tin và sản phẩm thì thương mại điện tử chỉ cần
những cú click chuột để chọn mua, xác nhận và thanh tốn đơn hàng là đã xong q trình
mua bán. Điều này giúp giảm công sức và nhân lực, tiết kiệm thời gian cho cả đôi bên.
-Không gian:
Do bản chất của thương mại điện tử là công cụ mua bán online nên doanh nghiệp có thể
kinh doanh ở phạm vi khơng giới hạn. Chỉ cần có mạng internet và phương tiện điện tử là
khách hàng có thể chọn mua và tiếp cận sản phẩm của doanh nghiệp một cách dễ dàng.
Và đặc trưng này cũng giúp thương mại điện tử mở rộng vùng tiếp cận và thị trường kinh
doanh cho người bán.
-Thời gian:
Thương mại truyền thống thì chỉ làm việc trong giờ hành chính được quy định. Tuy
nhiên, với thương mại điện tử thì bạn có thể tìm kiếm, tham khảo và chọn mua sản phẩm,
dịch vụ trong bất kì khoảng thời gian nào bạn rảnh bởi gian hàng online sẽ luôn mở cửa
và tự động hóa.
-Chủ thể:
Thương mại điện tử sẽ có 3 chủ thể tham gia, thậm chí là 4 trong trường hợp cần sự hỗ
trợ của đơn vị vận chuyển hàng hóa. Ngồi người mua và người bán thì thương mại điện
tử cần đến chủ thể thứ 3 là đơn vị cung cấp mạng và cơ quan chứng thực. Và chủ thể
quan trọng nhất là đơn vị cung cấp mạng internet bởi nếu khơng có họ thì người mua và
người bán sẽ không thể kết nối với nhau và giao dịch.
-Mạng lưới thông tin:
Mạng lưới thông tin của thương mại điện tử chính là kho báu quý giá và là thị trường
chính trong kinh doanh. Mạng lưới thơng tin trong thương mại truyền thống chỉ là cở sở
dữ liệu để phục vụ cho hoạt động kinh doanh còn với thương mại điện tử thì mạng lưới
thơng tin vừa là cơ sở, vừa là không gian ảo để giao dịch hàng hóa, dịch vụ. Thơng qua
mạng lưới thơng tin mà người mua và người bán có thể thực hiện mua hàng một cách
gián tiếp, nhanh chóng.
3. Trình bày vai trị của Internet trong TMĐT
Thương mại điện tử (Electronic commerce) là một khái niệm được dùng để mơ tả q
trình mua và bán hoặc trao đổi sản phẩm, dịch vụ và thơng tin thơng qua mạng máy
tính, kể cả internet.
Cơ sở hạ tầng của thương mại điện tử là mạng máy tính khi mà nó đạt đến trình độ tiêu
chuẩn của hoạt động kinh doanh, đời sống gia đình và hoạt động của chính phủ. Mạng
máy tính liên kết các máy tính và các thiết bị điện tử khác thơng qua mạng viễn thơng,
do đó người sử dụng có thể tiếp cận các thông tin được lưu trữ và giao tiếp giữa các máy
tính với nhau. Mặc dù một số người vẫn đang sử dụng máy tính độc lập nhưng đại đa số
đã nối kết máy tính của mình với mạng máy tính tồn cầu, đó là internet.
Thương mại điện tử phụ thuộc cơng nghệ và trình độ cơng nghệ thơng tin của người sử
dụng. Để phát triển thương mại điện tử cần phải xây dựng và khơng ngừng nâng cao
trình độ công nghệ thông qua phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của thương mại điện tử
như mạng máy tính tồn và khả năng tiếp nối của mạng với cả sở dữ liệu thơng tin tồn
cầu (internet). Thương mại điện tử phụ thuộc vào mức độ số hoá của nền kinh tế và khả
năng hội nhập số hoá với nề kinh tế toàn cầu mà thương mại điện tử có thể đạt được
cấp độ từ thấp đến cao. Cấp độ thấp nhất là sử dụng thư điện tử, đến Internet để tím
kiếm thơng tin, đến đặt hàng trực tuyến và dịch vụ trực tuyến, đến xây dựng website
cho hoạt động kinh doanh và cuối cùng là áp dụng các giải pháp toàn diện về thương
mại điện tử.
Chính vì thế, có thể thấy rằng Internet có vai trị vơ cùng quan trọng trong thương mại
điện tử. Hơn nữa, Internet trong thương mại đã và đang và sẽ phát triển rất nhanh và
mạnh với rất nhiều loại hình và nhiều biến tướng.
4. Hãy cho biết các động lực thúc đẩy tmđt phát triẻn
Mạng lưới Internet phủ sóng khắp mọi nơi
Mạng internet gần như phủ sóng khắp mọi nơi trong tồn quốc, đi kèm với hệ thống
viễn thơng, đặc biệt trong năm 2016 triển khai phủ sóng thành cơng hệ thống 4G mang
lại chất lượng internet rất tốt cho người dân, Wifi Free có mặt ở khắp nơi, từ qn xá,
đến cơng ty, ra ngồi cơng viên, trong các hộ gia đình… Chính điều này thúc đẩy sự phát
triển của người dùng internet dẫn đến thương mại điện tử có cơ hội dễ dàng phát triển.
Việc áp dụng các chương trình như chính phủ điện tử để lại những định hướng lớn và
làm xúc tác cho thương mại điện tử phát triển
Hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực
Vấn đề hội nhập sâu rộng với quốc tế là động lực lớn cho thương mại điện tử phát triển,
thông tin được chia sẻ toàn cầu, những hệ thống nền tảng Plasform như Google,
Facebook, Uber, Linked, Wikipedia, Ebay, Amazon…. gần như sang bằng cả thế giới nó
giúp thế giới trở nên phẳng hơn, hội nhập giúp Việt Nam xích lại gần với thế giới hơn về
công nghệ nhờ vào những nền tảng này, Người Việt Nam nhưng có thể bán hàng của
mình đi khắp thế giới thống qua các sàn thương mại điện tử như Amazon, Ebay,
Alibaba…, hoạt động quảng cáo trực tuyến cũng không ngoại lệ, tỷ lệ chi tiền cho các
quảng cáo của Facebook ADS, hay Google Adword, GDN… rất cao. Ngày nay vấn đề lừa
đảo qua mạng vẫn cịn diễn ra, những chính các doanh nghiệp uy tín lớn tham gia bán
hàng trực tuyến như Nguyễn Kim, Thế giới di động, Lazada, Sendo… tham gia và hệ
thống này đã củng cố niềm tin của người tiêu dùng và góp phần hóa giải tâm lý lo sợ
mua hàng qua mạng góp phần thúc đẩy thương mại điện tử như hiện nay.
Nhu cầu nội lực trong nước
Động lực quan trọng thứ 3 phải kể đến đó là nhu cầu nội lực trong nước, với tỷ lệ 52%
dân số sử dụng internet, thuộc top cao trên thế giới và đặc biệt là hầu như người Việt
Nam ai cũng có Smartphone trong tay thì việc sử dụng các dịch vụ mua bán online trở
nên rất dễ dàng và thuận tiện, chính điều này làm cho những mặt hàng giá trị tháp được
giao dịch Online rất nhiều, và kéo theo là một loạt các hoạt động bán hàng qua
Facebook, qua Website, qua các sàn thương mại điện tử và qua hệ thống Mobile App trở
nên phát triển hơn bao giờ hết. Sự tiện lợi, dễ dàng, nhanh chóng đó chính tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp sử dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp của mình ở
nhiều cấp độ, đơn giản nhất là Email làm công cụ trao đổi thông tin, hệ thống giao tiếp
qua Zalo, Skype, Viber… Cao hơn 1 chút nữa là các doanh nghiệp sử dụng các phần mềm
kế toán, phần mềm bán hàng, đánh giá KPI…. Các doanh nghiệp Việt Nam ngày này
khơng khó khăn cho việt tìm kiếm khách hàng, đa phần đều có Website, có thể tìm
khách hàng thơng qua việc bán hàng trực tuyến hoặc tìm các đối tác, Nhà cung cấp
thơng qua các nền tảng thương mại B2B từ nước ngoài…
Hệ thống Logistic và Thanh toán ngày càng phát triển và tiện lợi cho khách hàng.
Nói đến thương mại điện tử người ta nghĩ ngay đến 2 vấn đề đi kèm, 1 là Logistic và 2 là
vấn đề về thanh toán, vào những năm trước đây hệ thống thương mại điện tử trong
nước gần như bị mắc kẹt khơng thể phát triển được thì ngày nay, hàng loạt các dịch vụ
chuyển phát nhanh được ra đời, như Viettel Post, Giao hàng nhanh, giao hàng tiết kiệm,
đội gnur giao hàng của các công ty bán hàng online cũng phát triển, góp phần lớn thúc
đẩy thương mại điện tử phát triển. Cịn hệ thống thanh tốn trong nước cũng phát triển
rực rỡ, Momo 1 Startup được đầu từ lên đến 28 triệu USD và dự án này chun về ví
điện tử thanh tốn thực hiện online, Thị trường thanh toán điện tử cũng phát triển rực
rỡ theo ngành thương mại điện tử. Với hàng loạt các dịch vụ đã có mặt ở Việt Nam như
Ngân Lượng, Paypal, các hệ thống thanh tốn online qua ngân hàng….
5. Trình bày vai trò của tmđt đối với các dn việt nam
Từ khi internet ra đời thế giới không thể phủ nhận tầm quan trọng của nó đối với mọi lĩnh
vực đời sống xã hội. Có thể nói rằng ngày nay trên thế giới thương mại điện tử đang
phát triển mạnh mẽ, nó là một phần khơng thể thiếu trong hoạt động của doanh nghiệp.
Đối với Việt Nam song song với sự phát triển vững chắc của nền kinh tế với tốc độ tăng
trưởng GDP trên 7%, năm 2018 tiếp tục chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ của thương
mại điện tử. Dựa trên thông tin từ cuộc khảo sát, VECOM ước tính tốc độ tăng trưởng
của thương mại điện tử năm 2018 so với năm 2017 đạt trên 30%.
Lợi ích mà thương mại điện tử mang lại cho doanh nghiệp có thể kể đến là:
- Quảng bá thơng tin và tiếp thị cho thị trường tồn cầu với chi phí thấp: với khả năng
kết nối internet hiện nay, bạn có thể dễ dàng đưa thông tin quảng cáo đến hàng triệu
người từ khắp mọi nơi trên thế giới. Tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng tài chính chi trả
cho việc quảng bá mà doanh nghiệp cần có kế hoạch quảng cáo cho phù hợp.
- Dịch vụ tốt hơn cho khách hàng: Với thương mại điện tử, bạn có thể cung cấp
catalogue, thông tin, bảng báo giá chi tiết cho khách hàng một cách nhanh chóng và thuận
tiện, và việc mua hàng trên mạng đã trở nên dễ dàng phổ biến rất nhiều… Trong thời đại
ngày nay, cuộc sống số hóa đã đẩy nhịp sống tăng cao, khách hàng ngày càng địi hỏi mọi
thứ phải nhanh hơn từ thơng tin sản phẩm, việc mua hàng, thanh tốn và các chính sách
hậu bán hàng,...
- Tăng doanh thu: Với thương mại điện tử, đối tượng khách hàng của bạn giờ đã khơng
cịn giới hạn về khoảng cách địa lý hay thời gian làm việc. Do đó, mỗi doanh nghiệp tiếp
cận được số lượng khách hàng lớn, đẩy cao doanh thu lợi nhuận của mình.
- Giảm chi phí: Với thương mại điện tử sẽ không tốn kém quá nhiều cho việc thuê cửa
hàng, mặt bằng, nhân viên phục vụ,… Đặc biệt với những doanh nghiệp xuất khẩu, các
chi phí phát sinh do khoảng cách có thể giảm thiểu đi đáng kể.
- Lợi thế cạnh tranh: Trong bối cảnh đa số mọi doanh nghiệp hiện nay đều tham gia thương
mại điện tử thì doanh nghiệp nào có những ý tưởng sáng tạo, chiến lược tiếp thị tốt sẽ là lợi
thế để cạnh tranh. Bởi thương mại điện tử là một sân chơi cho sự sáng tạo, sự đột phá cho tất
cả mọi doanh nghiệp.
Tóm lại, thị trường thương mại điện tử thực sự là một cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam.
6. Phân tích các lợi ích của thương mại điện tử. sự ra đời của TMĐT có tác
động như thế nào tới việc thúc đẩy hoạt động Marketing và quảng cáo
sản phẩm
Lợi ích của thương mại điện tử: Trong lịch sử nhân loại chỉ có một vài đổi mới mang lại
những lợi ích tiềm năng như thương mại điện tử. Đó là tạo ra bản chất tồn cầu của
cơng nghệ, cắt giảm chi phí, tạo cơ hội để tiếp cận hàng triệu người trong một khoảng
thời gian ngắn, tạo ra sự tương lác lẫn nhau và kích thích tính năng động, tạo ra khả
năng và khai thác tối đa các nguồn lực, tạo ra sự tăng trưởng nhanh của cơ sở hạ tầng
trợ giúp làm tăng lợi ích tiềm năng của tổ chức và cá nhân và toàn xa hội. Những lợi ích
này chỉ nới được thực hiện hố và sẽ được tăng lên đáng kể khi thương mại điện tử
được áp dụng rộng rãi hơn.
- Lợi ích đối với các tổ chức:
o Mở rộng phạm vi giao dịch trên thị trường toán cầu. Với một lượng vốn tối
thiểu, các doanh nghiệp dễ dàng và nhanh chóng tiếp cận đượ với nhiều
khách hàng, lựa chọn được nhà cung ứng tốt nhất và xác định được đối tác
kinh doanh phù hợp
o Làm giảm chi phí thu nhập, xử lý, phân phối, lưu trữ và sử dụng thơng tin. Ví
dụ áp dụng đấu thầu mua sắm điện tử, doanh nghiệp có thể cắt giảm chi phí
quản trị mua sắm đến 85%.
o Tạo ra khả năng chun mơn hố cao trong kinh doanh, đặc biết là đối với các
doanh nghiệp thương mại.
o Góp phần giảm lượng tồn kho và đòi hỏi về cơ sở vật chất kỹ thuật thông qua
việc áp dụng phương pháp quản lý dây chuyển cung ứng “kéo”
o Làm giảm thời gian từ khi thanh toán tiền đến khi nhận hàng hố hoặc dịch
vụ
o Kích thích sự sáng tạo và tạo điều kiện để khởi độnng những dự án kinh
doanh mới, tăng khả năng thành công của các phương án kinh doanh nhờ
thay đổi quy trình hợp lý, tăng năng suất.
o Giảm chi phí viễn thơng trong q trình giao tiếp, đàm phán và ký kết các hợp
đồng mua bán hàng hố/ dịch vụ.
o Góp phần cải thiện hình ảnh doanh nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ
khách hàng,…
- Đối với người tiêu dùng:
o Cho phép khách hàng mua sắm và thực hiện các giao dịch 24/24 giờ trong
ngày, tất cả các ngày trong năm và không bị giới hạn bởi phạm vi địa lý
o Cung cấp cho khách hàng nhiều sự lựa chọn hơn
o Làm giảm chi tiêu cho khách hàng về sản phẩm hàng hoá/dịch vụ họ nhận
được thông qua việc chấp nhận mua bán không phụ thuộc vào ví trí địa lý của
người cung ứng và có thể so sánh để lựa chọn người cung ứng nhanh nhất,
giá cả phù hợp nhất
o TMĐT có khả năng giao hàng rất nhanh cho khách hàng đồng thời tạo khả
năng khách hàng tham gia các cuộc đấu giá trên mạng
o Tạo điều kiện để các khách hàng tác động, hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng
kinh doanh thương mại điện tử
o Thúc đẩy cạnh tranh từ đó dẫn đến sự giảm giá bền vững.
- Đối với xã hội:
o Cho phép nhiều người có thể làm việc tại nhà, giảm thiểu việc đi mua sắm ->
giảm phương tiện giao thông lưu thông trên đường, giảm thiểu tai nạn và ơ
nhiễm mơi trường sóng
o Dẫn đến việc bán hàng với giá thấp hơn nên nhiều người có thể mua được
khối lượng hàng hố lớn hơn, tăng mức sống của dân cư
o Tạo điều kiện để dân cư ở các nước đang phát triển và khu vực nông thôn thụ
hưởng các sản phẩm và dịch vụ trong hồn cảnh khác họ khơng có khả năng
cũng như cơ hội để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và nhận được bằng cấp
cao hơn
o Thúc đẩy việc cung cấp các dịch vụ cơng cộng như chăm sóc sức khoẻ, giáo
dục và phân phối các dịch vụ xã hội của chính phủ ở mức chi phí thấp hoặc
cải thiện chất lượng của các dịch vụ đó.
Tác động của TMĐT đối với việc thức đẩy hoạt động Marketing và quảng cáo sản phẩm:
Marketing trực tiếp truyền thôgn được thực hiện qua các thư đặt hàng hoặc các cuộc
giao dịch bằng điện thoại. Hiện nay, marketing trực tiếp thơng qua mạng máy tính tăng
lên nhanh chóng, khoảng 2 tỷ USD ở Mỹ năm 1998. Điều này cho thấy tác động của
thương mại điện tử đến marketing trực tuyến cũng như qunảg cáo sản phẩm trên các
mặt sau đây:
- Xúc tiến sản phẩm: Thông qua việc cung cấp thông tin đầy đủ, trực tiếp cho khách
hàng và tiếp xúc trực tiếp với khác hàng
- Các kênh phân phối mới: Tạo ra nhiều kênh phân phối cho sản phẩm hiện tại thông
qua giao tiếp trực tiếp với khách hàng hoặc các phương tiện giao tiếp khác
- Tiết kiệm chi phí: Giảm đáng kể chi phí cho khách hàng nếu só với thương mại truyền
thống, đặc biệt là trong việc chuyển giao các sản phẩm số hoá
- Rút ngắn chu kỳ kinh doanh: Việc chuyển đưa các sản phẩm hàng hố/dịch vụ số hố
có thể chỉ cịn tính bằng giây, cơng việc quản lý liên quan đến chuyển giao các sản
phẩm hữu hình trên phạm vi thị trường thế giới cũng giảm đáng kể.
-
7. phân tích các tác động của thương mại điện tử đối với việc tổ chức và
cải thiện hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
8. Nêu các điều kiện để phát triển thương mại điện tử
9. Phân tích các mơ hình thương mại điện tử khác nhau
10.phân tích vai trị của việc xây dựng một khn khổ pháp lý đối với sự
phát triển của TMĐT
11.phân tích các vấn đề liên quan đến luật thương mại cần phải chú ý khi
xây dựng khuôn khổ pháp lý cho tmđt
Yêu cầu về văn hàn (written document)'. Luật pháp của hầu hết các nước và các
công ước quốc tế đều yêu cầu một số giao dịch pháp lý phải được ký kết hoặc
chứng thực bằng văn bản. Khi luật yêu cầu hợp đồng phải được ký kết bằng văn
bản thì tất cả các hợp đồng không được ký kết bằng văn bản sẽ trở thành vô hiệu.
Trong trường hợp, luật chỉ yêu cầu sử dụng văn bản để làm bằng chứng về việc ký
kết hợp đồng thì giá trị hiệu lực của hợp đồng không phụ thuộc vào việc hợp đồng
có được ký kết bằng văn bản hay khơng. Nhưng khi phát sinh tranh chấp, nếu các
bên khơng có văn bản chứng thực hợp đồng thì tịa án sẽ khơng có cơ sở để cưỡng
chế thực hiện hợp đồng.
Tuy nhiên, không phải tất cả các giao dịch pháp lý truyền thống đều u cầu phải
có văn bản chứng thực. Cơng ước Liên hiệp quốc về Hợp đồng Mua bán Hàng hóa
Quốc tế (United Nations Convention on Contracts for International Sale of Goods,
Công ước Viên 1980) quy định hợp đồng không nhất thiết phải được ký kết bằng
văn bàn, các bên có thể chứng minh hợp đồng bằng bất kỳ cách nào kể cả sử dụng
nhân chứng (Điều 24), Như vậy Cơng ước Viên có thể hồn tồn áp dụng cho các
giao dịch thương mại điện tử.
Một vấn đề khác liên quan tới "văn bán" là luật pháp các nước và công ước quốc
tế đề cập tới từ "văn bản" nhưng thường không định nghĩa khái niệm thế nào là
văn bản do trước khi xuất hiện các phương tiện liên lạc điện tử, văn bản viết tay
hoặc đánh máy là loại văn bản duy nhất. Sự xuất hiện của các phương tiện truyền
thông điện tử đã mở rộng khái niệm văn bản. Một số công ước như Quy tắc Hăm buốc (Hamburg Rules) và Công ước về Vận tải Đa phương tiện (Multimodal
Transport Convention) cho phép sử dụng văn bản bao gồm cả điện tín, điện báo
hay bất kỳ dạng văn bản nào khác (Điều 1). Tuy nhiên, không thể coi một thông
điệp điện tử tương đương với một văn bản truyền thống bởi lẽ nó khơng có các
tính chất của văn bản truyền thống và không phải khi nào cũng có thể thực hiện
đầy đủ các chức năng của một văn bản truyền thống. Trong trường hợp khơng có
quy định cụ thể thì việc sử dụng các phương pháp trao đổi dữ liệu điện tử
(Electronic Data Interchange - EDI) không thể thay thế cho văn bản truyền thống
và đòi hỏi phải có các quy định luật pháp cụ thể để hợp pháp hóa giá trị văn bản
của dữ liệu điện tử.
Yêu cầu về chữ ký: Trong các giao dịch pháp lý truyền thống, chữ ký hoặc bất kỳ
dạng chứng thực nào khác như điếm chỉ, đóng dấu... thường là yêu cầu bắt buộc
để xác định chủ thể tham gia vào hợp đồng và ý định giao kết hợp đồng của chủ
thể đó. Theo một số nghiên cứu gần đây của UNCITRAL và UNCTAD thì yêu cầu
đối với chữ ký trên các chứng từ sử dụng trong thương mại quốc tế là một rào cản
lớn đối với sự phát triển của thương mại điện tử. Dạng chữ ký truyền thống phổ
thông nhất là chữ ký bằng tay. Bên cạnh chữ ký bằng tay, luật pháp các nước và
công ước quốc tế trong những năm gần đây đã bắt đầu công nhận các dạng chứng
thực khác như đóng dấu, đục lỗ, fax, hoặc các phương tiện điện tử khác. Ví dụ,
quy tắc Hăm- buốc cho phép chữ ký trên vận đơn có thể là bằng tay, in trên fax,
đục lỗ, đóng dấu, biểu tượng, hoặc thực hiện bằng các phương pháp cơ khí hoặc
điện tử khác. Tuy nhiên, việc sử dụng chữ ký điện tử dưới dạng thông tin điện tử
được gắn kèm một cách phù hợp với dữ liệu điện tử nhằm xác lập mối liên hệ giữa
người gửi và nội dung của dữ liệu điện tử đó thì chưa được quy định cụ thể trong
hệ thống luật hiện hành. Vì vậy, ngay từ những năm Cuối 1970, cộng đồng quốc tế
đã bắt đầu nỗ lực khuyến khích các nước từ bỏ yêu cầu bắt buộc đối với chữ ký
viết tay trong các văn bản pháp luật quốc gia và quốc tế.
YÊU cầu về văn bản gốc (original): Trong các giao dịch pháp lý truyền thống, yêu
cầu về văn bản gốc liên hệ chặt chẽ với yêu cầu về vãn bàn và chữ ký. Văn bản
gốc là bằng chứng tin cậy xác thực nội dung thông tin ghi nhận trong văn bản do
đàm bảo dược ba yêu cầu là nguyên vẹn (integrity), xác thực (authenticity), và
không thể thay đổi được (unalterability). Trong một số trường hợp, các chứng từ
vận tải hoặc thanh tốn có thể trao đổi dược (negotiable) như vận đơn và cổ phiếu
hoặc trái phiếu, quyền sở hữu đối với tài sản ghi trên chứng từ thuộc về người cầm
chứng từ, luật pháp phải yêu cầu chứng từ gốc để đàm bảo chỉ có người nắm giữ
chứng từ gốc mới có quyền đối với tài sản ghi trên chứng từ. Sự phát triển của
công nghệ tin học và truyền thông hiện nay đã cho phép sử dụng các giải pháp kỹ
thuật như chữ ký điện tử để chứng thực tính nguyên vẹn và xác thực của dữ liệu
điện tử. Đối với các chứng từ có thể trao đổi được, ngồi việc đảm bảo thơng tin
ngun vẹn, xác thực và không thể thay đổi, một yêu cầu đặt ra là chỉ có một
người có quyền sở hữu hợp pháp với chứng từ gốc đó, vấn đề này có thể được giải
quyết thông qua việc xây dựng một hệ thống đăng ký theo đó, một bộ chứng từ
gốc chỉ thuộc sở hữu của một người duy nhất. Việc chuyển quyền sở hữu chứng từ
gốc chỉ kết thúc khi việc đăng ký quyền sở hữu mới được hoàn thành. Hiện nay,
các giải pháp kỹ thuật điện tử cho chứng từ có thể chuyển nhượng được vẫn đang
được nghiên cứu phát triển. Tuy nhiên, để xóa bỏ những hàng rào cản trở sự phát
triển của thương mại điện tử, cần phải có các quy định pháp lý xác lập tính hợp
pháp của văn bản điện tử có thể sử dụng thay thế cho văn bản gốc.
12. Phân tích các vấn đề liên quan tới bí mật cá nhân và bảo vệ thông tin cá
nhân cần phải chú ý khi xây dựng khuôn khổ pháp lý cho tmdt
Thương mại điện tử và internet nói chung đã đặt ra nhiều vấn đề tranh cãi liên quan
tới bí mật cá nhân và bảo vệ thơng tin cá nhân. Thơng tin cá nhân về thói quen và sở
thích tiêu dùng có giá trị rất lớn đối với hầu hết tất cả các doanh nghiệp và đặc biệt là
các doanh nghiệp kinh doanh trên mạng. Công nghệ mạng cho phép các doanh nghiệp
đặc biệt !à các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ internet thu thập thông tin về khách
hàng và thói quen lướt mạng của khách hàng.
Rất nhiều nghiên cứu trong những năm gần đây chỉ ra rằng người sử dụng internet rất
lo lắng trong việc thu thập và sử dụng những thông tin cá nhân của mình, ngay cả
trong trường hợp sử dụng những thơng tin đó cho mục đích thương mại. Người sử
dụng internet cũng đặc biệt quan tâm tới các vấn đề liên quan tới quyền của ông chủ
được giám sát các bức thư điện tử của nhân viên. Bên cạnh đó, việc sử dụng thông tin
cá nhân như số thẻ thanh toán, địa chỉ cá nhân, tài khoản ngân hàng để phục vụ cho
các hoạt động gian lận cũng là những vấn đề nhức nhối. Khách hàng sử dụng internet
đặc biệt khó chịu khi các thông tin cá nhân như điện thoại và đặc biệt là địa chỉ email
được thu thập và phục vụ cho các hoạt động marketing từ xa qua điện thoại hay gửi
email. Các nước đều ghi nhận tầm quan trọng của việc bảo vệ thơng tín cá nhân đối
với sự phát triển của thương mại điện tử. Nhiều nghiên cứu của OECD chỉ ra rằng
những lo ngại của người sử dụng internet đôi với việc sử dụng các thông tin cá nhân
là hàng rào ngăn trở lớn tới việc thu hút người sử dụng internet tham gia vào các giao
dịch điện từ và là trở ngại lớn đối với sự phát triển của thương mại điện tử và thương
mại quốc tế.
Việc giải quyết các trở ngại pháp lý liên quan tới bảo vệ thơng tin cá nhân gặp rất
nhiều khó khăn do có sự khác biệt về luật pháp các nước. Ví dụ, có một sự khác
biệt quan điểm lớn giữa Mỹ và châu Âu trong vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân.
Bệnh án và thơng tin tài chính cá nhân ở Mỹ có thể được một bên thứ ba sử dụng.
Những người bán hàng trên internet có thể thu thập và bán các thơng tin cá nhân
như thói quen mua hàng, thói quen lướt mạng mà khơng cần phải thơng báo cho
các cá nhân liên quan. Ví dụ những người mua hàng của hãng Dell qua internet sử
dụng địa chỉ email của Yahoo! thông tin của họ sẽ lập tức được cập nhật trong tài
khoản Yahoo! Ngược lại với các quy định thơng thống trong luật của Mỹ, bảo vệ
bí mật cá nhân là ưu tiên số một ở châu Âu và các yêu cầu pháp lý về bảo vệ thông
tin cá nhân khắt khe hơn hẳn ở Mỹ.
13.phân tích các vấn đề liên quan tơi quyền sở hữu trí tuệ cần phải chú ý
khi xây dựng khn khổ pháp lý cho tmđt
Thương mại điện tử nói riêng và sự xuất hiện của internet nói chung đặt ra hàng loạt
vấn đề mới liên quan tới các quy định pháp ]ý về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ như
thương hiệu, bản quyền tác giả tác phẩm, bằng phát minh sáng chế. Bên cạnh việc vi
phạm bản quyền tác giả, tác phẩm khi sử dụng trái phép các tài liệu, phim ảnh được
tải về một cách dễ dàng từ không gian mạng, một trong những vấn đề được đặc biệt
chú ý là các vi phạm về quyền sở hữu trí tuệ trong việc đăng ký tên miền. Chiếm dụng
tên miền bất hợp pháp (cybersquatting) là từ dùng đe chỉ sự ỉạm dụng việc đăng ký
tên miền internet nhằm với những dụng ý xấu. Dụng ý xấu ở đây có thể được thực
hiện thông qua việc đăng ký, buôn bán hoặc sử dụng tên miền giống hệt hoặc dễ nhầm
lẫn với một thương hiệu nổi tiếng hoặc tên riêng của một người nhằm mục đích sinh
lợi bất hợp pháp hoặc cạnh tranh không lành mạnh.
Bên cạnh việc chiếm dụng tên miền, các vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên mạng
internet cịn có thể được thực hiện với các thủ đoạn tinh vi khác. Ví dụ siêu nhãn
(meta tag) là một đoạn văn bản ẩn trong trang mạng HTML để các chương trình tìm
kiếm lưu trữ, phân loại và truy tìm trang mạng khi có một lệnh tìm kiếm với các từ
khóa phù hợp với đoạn văn bản ân ghi trên siêu nhãn. Ncu một công ty sử dụng siêu
nhãn ghi thương hiệu của đối thủ cạnh tranh của mình thì tịa án có thể chứng minh
cơng ty đó vi phạm bản quyền của đối thủ cạnh tranh và buộc tội cạnh tranh không
lành mạnh. Bằng việc làm chệch hướng giao thông mạng thông qua việc sử dụng siêu
nhãn, bên vi phạm sẽ bị buộc tội gây nhầm lẫn và có ý định lừa dối nguồn gốc hàng
hóa hoặc dịch vụ do bên vi phạm cung cấp. Nếu nhãn hiệu hàng hóa bị vi phạm là một
nhãn hiệu nổi tiếng, bên vi phạm cịn có thể bị kết tội làm giảm bớt tính chất đặc
trưng của nhãn hiệu bị vi phạm.
14.Phân tích một số quy định chung về một khn khổ pháp lý thương mại
điện tử toàn cầu
Xây dựng khung pháp lý cho TMĐT là công việc rất cấp thiết. Để hỗ trợ các hoạt động
TMĐT, nhiều nước trên thế giới đều đã xây dựng khung pháp lý riêng, dựa trên những khái
niệm và những nguyên tắc cơ bản của bộ luật mẫu về Thương mại điện tử của Ủy ban Pháp
luật thương mại quốc tế – Liên hợp quốc (UN Commision on International Trade Law –
UNCITRAL) soạn thảo năm 1996. Bộ luật mẫu này cung cấp các nguyên tắc có tính quốc tế,
giải quyết một số trở ngại, nhằm tạo ra mơi trường an tồn về pháp lý cho các hoạt động
thương mại điện tử.
Luật mẫu được soạn thảo dựa trên sáu nguyên tắc cơ bản, gồm:
- Tương đương thuộc tính: tài liệu điện tử có thể được coi có giá trị pháp lý như tài liệu ở
dạng văn bản nếu thỏa mãn các yêu cầu kỹ thuật nhất định;
- Tự do thỏa thuận hợp đồng;
- Tôn trọng việc sử dụng tự nguyện phương thức truyền thông điện tử;
- Giá trị pháp lý của hợp đồng và tính ưu việt của những quy định pháp lý về hình thức hợp
đồng: những địi hỏi đối với hợp đồng để có giá trị pháp lý và khả năng được thi hành phải
được tơn trọng;
- Áp dụng về mặt hình thức hơn là quan tâm tới nội dung: luật chỉ áp dụng đối với hình thức
hợp đồng, mà khơng đề cập nội dung, trên cơ sở phải thỏa mãn những đòi hỏi pháp lý nhất
định;
- Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng phải đi trước. Nhiều quốc gia đã thể hiện các nguyên
tắc và nội dung của Luật mẫu UNCITRAL vào hệ thống pháp luật quốc gia của mình.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu trên thế giới đã khái quát năm vấn đề pháp lý về thương mại
điện tử cần được quy định trong pháp luật quốc gia gồm:
- Thừa nhận các thông điệp dữ liệu: đưa ra các quy định pháp lý đối với các nội dung giao
dịch thương mại qua các phương tiện điện tử;
- Quy định kỹ thuật về chữ ký điện tử nhằm bảo đảm tính xác thực, tồn vẹn, bảo mật của
thơng tin được trao đổi trong thương mại điện tử;
- Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử;
- Bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử;
- Tội phạm và vi phạm trong thương mại điện tử.
1.1. Thừa nhận pháp lý đối với thông điệp dữ liệu
Thông điệp dữ liệu là hình thức thơng tin được trao đổi qua phương tiện điện tử trong các
giao dịch thương mại điện tử. Thừa nhận giá trị pháp lý của các thông điệp dữ liệu là cơ sở