AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 29 (3), 103 – 112
THỰC TRẠNG VÀ NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC NGẦM
Ở XÃ HÒA CHÁNH, HUYỆN U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG
Dương Bé Thạnh1, Nguyễn Thị Ngọc Trang1, Nguyễn Thị Ngọc Mai1, Lê Thị Phương Anh1
1
Trường Đại học Kiên Giang
Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 07/04/2021
Ngày nhận kết quả bình duyệt:
27/05/2021
Ngày chấp nhận đăng:
12/2021
Title:
The status quo of groundwater
quality and community’s
perception on the quality of
domestic groundwater at Hoa
Chanh commune, U Minh
Thuong district, Kien Giang
province
Keywords:
Groundwater, community’s
perception, Hoa Chanh, water
quality
Từ khóa:
Nước ngầm, nhận thức cộng
đồng, Hòa Chánh, chất lượng
nước
ABSTRACT
With the aim of helping people at Hoa Chanh commune safely using
groundwater, this study was conducted through the collection of water
samples and analysing 03 basic criteria pH, Fe 2+, Coliform and randomly
interviewing 40 households. The results showed that pH value achieved
drinking-water standards, while the concentration of Fe2+ and Coliform did
not meet the standard. However, due to households’ lacks of knowing about
these criteria, they misunderstand the groundwater quality here.
Consequently, over 39% of households still did not treat the groundwater
before using. Therefore, the study has proposed solutions such as: raising
people's awareness about groundwater treatment, using hygienic latrines to
minimize groundwater pollution, and building water supply stations in the
future.
TÓM TẮT
Với mục tiêu nhằm giúp người dân xã Hoà Chánh sử dụng nước ngầm sinh
hoạt an toàn, nghiên cứu này được thực hiện bằng cách: thu mẫu nước và
phân tích các chỉ tiêu pH, Fe2+, Coliform và phỏng vấn ngẫu nhiên 40 hộ.
Kết quả cho thấy, giá trị pH trong nước ngầm đạt tiêu chuẩn nước sinh hoạt,
trong khi hàm lượng Fe2+ và Coliform không đạt. Nhưng do người dân ít
hiểu biết về các chỉ tiêu này khiến họ ngộ nhận về chất lượng nước ngầm nơi
đây, dẫn đến vẫn cịn hơn 39% hộ khơng xử lý nước ngầm trước khi sử dụng.
Nghiên cứu đề xuất các giải pháp như: nâng cao nhận thức người dân về xử
lý nước ngầm, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh để giảm ô nhiễm nước ngầm và
xây trạm cấp nước sạch trong tương lai.
1. GIỚI THIỆU
Mặc dù sống trong vùng sông nước, nhưng vẫn
cịn tỷ lệ lớn người dân nơng thơn vùng Đồng
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chưa tiếp cận
được nguồn nước sinh hoạt an toàn và hợp vệ
sinh. Chỉ 55% hộ tiếp cận được nguồn nước sạch
đạt tiêu chuẩn quốc gia, còn lại hơn 5 triệu người
103
đang khai thác sử dụng nước giếng ở quy mơ hộ
gia đình (Chanh Đa, 2020). Việc tự khai thác sử
dụng nước ngầm từ giếng khoan vẫn còn tiềm ẩn
nhiều rủi ro, bởi chất lượng nước ngầm ở ĐBSCL
là biến động theo từng địa phương và không ổn
định (Huỳnh Vương Thu Minh và cs., 2014;
Nguyễn Văn Sánh và cs., 2010; Phạm Thị Hồng
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 29 (3), 103 – 112
Vân, 2019). Để sử dụng nước ngầm một cách an
toàn hợp vệ sinh và đảm bảo sức khoẻ còn phụ
thuộc lớn vào nhận thức của người dân về chất
lượng và xử lý nước ngầm. Đặc biệt trong bối
cảnh biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn
làm nhiều hộ dân thiếu nước sinh hoạt và lượng
người khai thác nước ngầm tự phát và không đúng
quy định ngày càng tăng. Điều này dễ làm ô
nhiễm nguồn nước ngầm hiện có.
mang tính tự phát, thiếu sự quy hoạch, quản lý,
các giải pháp bảo vệ tài nguyên nước dưới đất
chưa thích hợp nên tình trạng nguồn nước ngầm
bị nhiễm bẩn và có dấu hiệu hụt nguồn nước ở
nhiều nơi, nhất là vào mùa khô hạn. Cụ thể, các
đợt hạn hán kéo dài thường làm giảm việc bổ
sung nước ngầm và gia tăng nhu cầu khai thác sử
dụng khiến mực nước ngầm nơi đây bị suy giảm,
một số hộ có giếng ở độ sâu thấp đã không thể
khai thác trong khoảng thời gian này, (Uỷ Ban
Nhân Dân Xã Hoà Chánh, 2020).
Kiên Giang là một trong những tỉnh có tỷ lệ hộ bị
thiếu nước sinh hoạt rất cao do ảnh hưởng của hạn
hán và xâm nhập mặn. Hiện tại, chưa đến 65%
người dân nông thôn nơi đây sử dụng nước sạch
theo tiêu chuẩn quốc gia. Do địa bàn nông thôn
rộng, người dân sinh sống rải rác trong các tuyến
kênh rạch nên việc đầu tư hệ thống cấp nước sạch
ở khu vực này rất khó (Quốc Tuấn, 2018). Chính
vì vậy vẫn cịn tỷ lệ lớn người dân nơi đây sử
dụng nước giếng khoan.
Chính vì vậy, nghiên cứu này rất cần được thực
hiện để đánh giá chất lượng nước ngầm ở xã Hoà
Chánh, cũng như tìm hiểu nhận thức của người
dân về việc khai thác và xử lý nước ngầm trong
sinh hoạt hiện tại, để từ đó có những giải pháp kịp
thời giúp người dân sử dụng nước ngầm một cách
an toàn và hiệu quả về lâu dài.
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong đó, Hịa Chánh là một trong những xã có số
hộ (82,9%) sử dụng nước giếng khoan cao nhất ở
huyện U Minh Thượng nói riêng, tỉnh Kiên Giang
nói chung, do Xã chỉ có một trạm cấp nước tập
trung ở khu vực chợ. Hiện, nơi đây có khoảng hơn
hai ngàn giếng nước được người dân khai thác ở
độ sâu trong khoảng 60 - 150 m (tầng
Pleistocene). Tuy nhiên, việc khai thác và sử dụng
nước ngầm của người dân trong vùng này còn
2.1 Cơ sở lý thuyết về nhận thức của cộng đồng
Để đánh giá nhận thức của người dân về chất
lượng nước ngầm, nghiên cứu này tiếp cận dựa
trên lý thuyết của Simpson Hugh và Eric Hodgins
(2002). Thông qua kết hợp với các mục tiêu của
nghiên cứu này, khung nghiên cứu được xây dựng
như sau:
104
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 29 (3), 103 – 112
Hình 1. Tiến trình và cách tiếp cận trong nghiên cứu
2.2 Phương pháp thu thập và phân tích mẫu
nước
tại các giếng khoan được hiển thị trên Hình 2.
Trong đó:
Vị trí lấy mẫu: 03 vị trí thu mẫu được chọn một
cách ngẫu nhiên trong số các giếng khoan hiện có
trên địa bàn xã Hịa Chánh, và tiến hành khảo sát
thực địa để ghi nhận tọa độ cụ thể của các giếng
khoan bằng smartphone, các vị trí lấy mẫu nước
-
Mẫu 1 ở Ấp Vĩnh Tân (tọa độ: X: 9.717656,
Y: 105.211468);
Mẫu 2 ở Ấp Vĩnh Chánh (tọa độ: X: 9.725931,
Y: 105.198898);
Mẫu 3 ở Ấp Vĩnh Trung (tọa độ: X: 9.699134,
Y: 105.200122).
Hình 2. Vị trí thu mẫu
105
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 29 (3), 103 – 112
Phương pháp thu và bảo quản mẫu: Dựa trên
phương pháp của Cao Trường Sơn (2012) và
Nguyễn Tri Quang Hưng và cs. (2018), mẫu nước
được thu ngẫu nhiên ở 03 giếng khác nhau với 3
đợt và 3 lần lặp lại. Mẫu nước ngầm được thu
bằng cách bơm nước để cho nước chảy liên tục
khoảng 15 - 20 phút, sau đó tiến hành thu mẫu.
Mẫu được chứa trong can nhựa 1 lít (tránh để mẫu
thu tiếp xúc với khơng khí), mẫu nước được bọc
lại bằng giấy đen để tránh ánh sáng. Mẫu sau khi
thu được bảo quản trong các điều kiện tương ứng
với các chỉ tiêu phân tích. Thời gian thu mẫu vào
buổi sáng từ khoảng 8 giờ, trong 3 ngày liên tục
từ 14 - 16/12/2020.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO
LUẬN
3.1 Thực trạng khai thác và sử dụng nước
ngầm của người dân
Trung bình mỗi hộ dân sử dụng khoảng 11,5 m3
nước/tháng cho mục đích ăn uống và sinh hoạt
(tắm, giặt, rửa). Với số nhân khẩu trung bình là
4,17, lượng nước này nằm ở mức vừa đủ dùng
cho mỗi hộ. Ngồi ra, người dân cịn dùng nước
ngầm cho các mục đích khác như: hoa màu
(chiếm 15%) và chăn ni (chiếm 12%).
Hiện chỉ có 57,5% hộ dân được khảo sát sử dụng
nước giếng trực tiếp cho mục đích ăn uống. Tỷ lệ
người dân sử dụng nước thêm nguồn nước phụ để
phục vụ ăn uống vẫn còn rất lớn, cụ thể là 65% sử
dụng nước bình đóng chai (Bình 20 lít) và 30% sử
dụng nước mưa. Bởi nước uống đóng chai và
nước mưa vẫn được người dân tin tưởng vào độ
an toàn cao hơn so với nước ngầm, (Lê Thanh Lễ,
2017). Tuy vậy, Báo cáo của Uỷ Ban Nhân Dân
Xã Hoà Chánh (2020) cho thấy vẫn còn số lượng
hộ hộ sử dụng nước giếng chưa đúng quy định
(chiếm 47,5 %). Do đó việc phân tích thực tế chất
lượng nước ngầm nơi đây vơ cùng quan trọng để
có những biện pháp đề xuất kịp thời giúp người
dân sử dụng nước an toàn.
Phương pháp phân tích và đánh giá mẫu: Nhiệt
độ và pH được đo tại hiện trường. Phân tích và
đánh giá so sánh các chỉ tiêu đánh giá chất lượng
nước như nhiệt độ, pH, Fe2+, Coliform theo tiêu
chuẩn nước sạch hộ gia đình của QCVN 09
MT:2015/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi
trường (2015) và QCVN 01-1:2018/BYT của Bộ
Y Tế (2018).
2.3 Phương pháp điều tra khảo sát
Thu thập số liệu: Nghiên cứu sử dụng phiếu điều
tra bán cấu trúc để phỏng vấn ngẫu nhiên 40 hộ
dân đã và đang sử dụng nước giếng ở ba ấp Vĩnh
Tân, Vĩnh Chánh và Vĩnh Trung, đây là ba địa
bàn người dân sống phụ thuộc lớn vào nguồn
nước ngầm ở xã Hoà Chánh. Ngoài ra, các cuộc
phỏng vấn sâu với lãnh đạo địa phương và người
am hiểu về nước ngầm cũng được thực hiện để
thu thập số liệu định tính nhằm giải thích rõ hơn
cho các số liệu định lượng.
3.2 Kết quả phân tích chất lượng nước ngầm ở
xã Hồ Chánh
Thơng số pH: Giá trị pH của các điểm thu mẫu từ
7,8 đến 8,4 và không có sự khác biệt lớn giữa các
giếng khoan được khảo sát. Kết quả cho thấy
nồng độ pH trong nước ngầm đạt tiêu chuẩn nước
ngầm sinh hoạt của Bộ Tài nguyên và Môi trường
(2015) (pH, 5 - 8,5) và của Bộ Y tế (2018) (pH từ
6,0 – 8,5). Kết quả này khá tương đồng với các
nghiên cứu khác từng thực hiện ở Trà Vinh (pH =
7,3 - 8,3) và Sóc Trăng (pH = 7 – 8,5), (Huỳnh
Vương Thu Minh và cs., 2014; Nguyễn Văn Sánh
và cs., 2010). Nhìn chung có thể thấy pH nước
ngầm tại khu vực nghiên cứu ở mức trung bình và
tương đối ổn định cũng như ít biến động.
Phân tích số liệu: Phương pháp thống kê mô tả
được sử dụng để phân tích các số liệu sơ cấp từ
kết quả điều tra phỏng vấn. Ngoài ra, kiểm định
Chi-square cũng được thực hiện để xem xét các
mối quan hệ giữa các biến số liệu. Dựa trên các
kết quả từ số liệu thứ cấp, số liệu sơ cấp và các
thông tin từ phỏng vấn sâu, đề tài sẽ thực hiện
đánh giá và phân tích để đưa ra các giải pháp để
nâng cao nhận thức của hộ dân về sử dụng nguồn
nước ngầm hợp lý.
Nhiệt độ: Nhiệt độ liên quan đến các phản ứng
sinh hóa ở thủy vực và nước giếng khoan sẽ có
106
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 29 (3), 103 – 112
nhiệt độ ổn định do nằm sâu trong lòng đất (Phạm
Thị Hồng Vân, 2019). Nhiệt độ của các giếng
khoan được khảo sát dao động từ 25°C đến 26°C
và không có sự khác biệt đáng kể về nhiệt độ giữa
các giếng.
2018; Kỷ Quang Vinh và cs., 2009). Bởi, các địa
điểm lấy mẫu rất gần khu vực sông Cái Lớn và
thời gian thu mẫu Lần 1 là 14/12/2020, rơi đúng
vào ngày thuỷ triều dâng cao nhất ngày 01/11 âm
lịch (chu kỳ new moon). Chính vì vậy, ở các lần
thu mẫu sau, khi thuỷ triều giảm cũng khiến mực
nước ngầm cũng giảm theo.
Sắt tổng (Fe2+): Kết quả phân tích tại các vị trí
thu mẫu trong 03 đợt cho thấy nồng độ Fe2+ dao
động từ 0,26 – 0,91 mg/l. Cụ thể, hàm lượng Fe2+
trong nước ngầm ở đợt 01 dao động từ 0,26 – 0,28
(mg/l), đợt 02 từ 0,66 – 0,68 (mg/l), và đợt 03 từ
0,87 – 0,91 (mg/l), (Hình 3). Hàm lượng Fe2+ tăng
dần qua các đợt thu mẫu, có thể là do sự suy giảm
mực nước ngầm qua từng đợt lấy mẫu. Mà trong
đó, thuỷ triều là một trong những nguyên nhân
gây ra sự biến động của mực nước ngầm ở các địa
điểm ven sông và ven biển (Singaraja và cs.,
Tuy kết quả cho thấy hàm lượng Fe2+ trong nước
ngầm ở Hoà Chánh dao động khá lớn, nhưng kết
quả này không quá bất ngờ. Bởi các nghiên cứu
khác ở ĐBSCL cũng cho biết hàm lượng sắt trong
nước ngầm biến động khá cao: 0,16-0,795 mg/l ở
Trà Vinh và 1,58 – 2,50 mg/l ở Đồng Tháp
(Nguyễn Văn Sánh và cs., 2010; Phạm Thị Hồng
Vân, 2019).
Hình 3. Hàm lượng sắt tổng tại các vị trí thu mẫu
Đối chiếu với tiêu chuẩn QCVN 09MT:2015/BTNMT (Fe2+ = 5 mg/l) thì hàm lượng
Fe2+ ở địa bàn nghiên cứu thấp hơn so và đạt mức
cho phép. Tuy nhiên, khi đối chiếu với tiêu chuẩn
QCVN 01-1:2018/BYT (Fe2+ = 0,3 mg/l) của Bộ
Y Tế thì hàm lượng Fe2+ ở các đợt thu lần 2 và 3
vượt mức cho phép. Điều này cho thấy chất lượng
nước về chỉ tiêu Fe2+ chưa đạt bởi nó có thể ảnh
hưởng xấu đến sức khỏe người dân địa phương
(Nguyễn Ngọc Dung, 2005). Chính vì vậy, người
dân cần nhận thức được vấn đề này để có biện
pháp xử lý Fe2+ nhằm đảm bảo chất lượng nước mới
có thể sử dụng nước cho sinh hoạt và ăn uống về
lâu dài.
Coliform: Nồng độ Coliform tại các điểm nghiên
cứu trong cả 3 đợt thu mẫu tương đối cao và dao
động rất lớn trong khoảng 116 - 860 MPN/100ml,
(Hình 4). Điều này cho thấy, mật độ Coliform
trong nghiên cứu vượt mức giới hạn cho phép khi
so sánh với cả hai tiêu chuẩn QCVN 09MT:2015/BTNMT (300 MPN/100ml), QCVN 011:2018/BYT (nhỏ hơn 3 MPN/100ml). Nguyên
nhân, mật độ Coliform trong nước ngầm ở xã Hồ
Chánh cao, có thể do nước giếng bị nhiễm nước
thải sinh hoạt và chất thải của người dân. Bởi trên
địa bàn này vẫn còn nhiều nhà vệ sinh trên sơng
ngịi, ao hồ, đầm,… đặc biệt là ở kênh Vĩnh
Trung. Lý do này rất có khả năng, bởi các nghiên
107
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 29 (3), 103 – 112
cứu khác cũng cho biết, nước ngầm bị nhiễm vi
sinh thường do gần các nguồn thải. Nguồn nước
mặt ô nhiễm sẽ thấm vào mạch nước ngầm làm
nước giếng ở các khu vực nhiễm Coliform (Lê
Xuân Sinh và cs., 2020; Phan Quỳnh Trâm và Bùi
Thị Bích Ngọc, 2018).
Hình 4. Hàm lượng Coliform tại các vị trí thu mẫu
3.3 Nhận thức của người dân về chất lượng
nước ngầm
Hiểu biết của người dân về chất lượng nước
ngầm
-
Nhìn chung, người dân chỉ có thể đánh giá chất
lượng nước ngầm bằng các chỉ tiêu cảm quan
như: màu sắc, mùi và vị của nước. Họ khơng biết
cách để đo lường các tiêu chí cơ bản về chất
lượng nước (pH, Fe2+ và Coliform) và cũng không
nắm rõ các tiêu chuẩn của Bộ Tài nguyên và Mơi
Trường hay Bộ Y tế để có thể đối chiếu so sánh.
Cụ thể:
-
-
Về chỉ tiêu pH: Phần lớn người dân (95%) biết
thông tin cơ bản về độ pH trong nước ngầm
qua tên gọi là độ phèn. Nhưng, họ không có
các dụng cụ đo chuyên nghiệp, mà dựa vào vị
108
và màu sắc của nước. Theo kiến thức của
người dân, nếu nước khi bơm lên có màu vàng
nhạt và có vị chua, thì độ pH trong nước thấp
và khơng phù hợp để sử dụng ngay.
Hàm lượng sắt tổng: 100% hộ dân không biết
gì về Fe2+ và những tác hại khi sử dụng nước
ngầm có chứa hàm lượng vượt qua giới hạn
cho phép. Người dân chỉ đánh giá hàm lượng
tạp chất trong nước ngầm qua màu sắc và độ
đục/trong của nước.
Coliform: Khi được hỏi về vi khuẩn nói chung
thì người dân đều nhận thức được rằng nước
ngầm có thể chứa vi khuẩn và có thể ảnh
hưởng đến sức khoẻ của họ. Nhưng khi nhắc
đến cụ thể đến vi khuẩn Coliform và những tác
hại của nó thì hầu hết hộ dân (97,5%) khơng
biết những thông tin này.
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 29 (3), 103 – 112
Tốt
42,5%
Tương đối
tốt
57,5%
Hình 5. Đánh giá của người dân về chất lượng nước ngầm đang sử dụng
Bên cạnh đó, khảo sát cũng cho biết nước của
82% giếng khoan đều khơng có màu bất thường,
chỉ 18% giếng có màu hơi đục và chỉ 12,5% giếng
có mùi hơi, và mùi này sẽ giảm đi sau khi người
dân để thống khí trong một thời gian. Chính các
đánh giá cảm quan này đã khiến 57,5% hộ dân
cho rằng chất lượng nước ngầm mà họ đang sử
dụng là tương đối tốt, và 42,5% còn lại cho rằng
chất lượng nước giếng hiện tại là tốt (Hình 5).
Tuy nhiên, nếu khơng có phân tích cụ thể thì sẽ
khó biết được chất lượng của nước ngầm ra sao,
bởi người dân chỉ nhận ra sự ô nhiễm của nước
khi màu, mùi và vị có sự khác biệt hồn tồn so
với bình thường (Lê Thanh Lễ, 2017). Có thể
thấy, việc chưa nắm rõ các chỉ tiêu về chất lượng
nước ngầm, làm cho người dân Hoà Chánh đang
ngộ nhận về chất lượng nước ngầm mà họ đang sử
dụng.
phương pháp của họ có thể giảm hàm lượng pH
và Fe2+ trong nước ngầm. Phỏng vấn sâu cho biết,
người dân biết đến các biện pháp Lắng, Lọc và
Đun sôi, chủ yếu qua các nguồn thơng tin như:
các chương trình tivi, chia sẻ của người thân và
hàng xóm, các áp phích, thơng báo của địa
phương ở các nơi công cộng, …
Có thể nhận ra, các phương tiện thông tin đại
chúng góp phần rất lớn trong việc mang đến kiến
thức về xử lý nước ngầm cho người dân, nhưng
các phương pháp cơ bản này chưa thể hoàn toàn
cải thiện chất lượng nguồn nước ngầm 100%, nếu
áp dụng riêng lẻ. Trong khi, những kiến thức về
xử lý Coliform, pH và Fe2+ có vẻ phức tạp hơn
với người dân nơi đây, bởi học vấn của họ khá
thấp (chỉ 10% số hộ được khảo sát có trình độ
trung học phổ thông) và việc chưa được hướng
dẫn hay tập huấn cụ thể khiến người dân khó lòng
nắm bắt được các biện pháp xử lý nước.
Hiểu biết của người dân về các biện pháp xử lý
nước ngầm
Thực hành các biện pháp xử lý nước ngầm
Có rất nhiều biện pháp xử lý để nâng cao chất
lượng nước từ giếng khoan như hoá học, sinh học
và cơ học (Trung tâm quy hoạch và điều tra tài
nguyên nước, 2012). Nhưng phỏng vấn cho biết,
người dân chỉ biết 03 cách làm cơ bản là Lắng,
Lọc và Đun sôi. Cụ thể, số hộ biết đến phương
pháp Lắng chiếm 97,5%, Lọc là 87,5% và 100%
hộ biết biện pháp Đun sôi. Tuy nhiên, khi hỏi cụ
thể về các biện pháp khác để xử lý pH và Fe2+ thì
người dân hồn tồn khơng biết, hay khơng chắc
Kết quả khảo sát cho thấy, khơng có hộ nào xử lý
nước bằng phương pháp Lọc, vì đối với họ cách
này dù khơng đắt nhưng vẫn cịn cầu kỳ, phức tạp.
Hai phương pháp người dân sử dụng phổ biến để
xử lý nước ngầm là Lắng và Đun sôi. Khi sử dụng
nước cho mục đích sinh hoạt như tắm, rửa, gội,
giặt,… đa số người dân (chiếm 90%) chỉ để lắng
qua đêm hoặc để 1 đến 2 tiếng rồi sử dụng, vì
cách này giúp cho nước trong và không bị mùi.
109
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 29 (3), 103 – 112
Khơng xử lý
4.3%
Lắng
34.8%
Lắng và đun
sơi
56.5%
Đun sơi
4.4%
Hình 6. Tỷ lệ hộ dân xử lý nước ngầm khi sử dụng cho ăn uống
Khi sử dụng cho ăn uống, người dân cũng để lắng
qua đêm hoặc vài giờ, sau đó mới lấy nước này đi
đun sôi. Nhưng số hộ không sử dụng biện pháp
đun sôi, và không áp dụng kết hợp cả hai biện
pháp Lắng và Đun sơi này vẫn cịn khá cao (hơn
39%) (Hình 6). Bên cạnh đó, kiểm định Chi
square cho thấy có khác biệt thống kê ở mức ý
nghĩa 10% (p-value = 0,071) giữa trình độ học
vấn với việc xử lý nước ngầm. Cụ thể, hộ có học
vấn cao có xu hướng xử lý nước ngầm nhiều hơn
hộ có học vấn thấp. Điều này cho thấy, học vấn
cũng là một yếu tố tác động tới nhận thức và hành
vi xử lý nước của người dân.
Đối với Coliform, khoảng 38% hộ được khảo sát
không sử dụng biện pháp Đun sôi vẫn không gặp
vấn đề về lớn về sức khoẻ. Bởi hầu hết các chủng
vi khuẩn trong nhóm Coliform không có khả năng
gây bệnh. Nhưng sự hiện diện của chúng với hàm
lượng cao, cho thấy rằng nguồn nước ở Hoà
Chánh cũng có thể dễ bị ô nhiễm bởi nhiều vi sinh
vật và các mầm bệnh khác, chẳng hạn như vi
khuẩn, vi rút và ký sinh trùng (Pal Partha, 2014).
Vì vậy, người dân cần nhận thức được tình trạng
nước ngầm hiện tại, từ đó nâng cao kiến thức và
thực hành các biện pháp xử lý ngầm, mới có thể
đảm bảo sức khoẻ của chính họ về lâu dài.
Mặc dù kết quả phân tích chất lượng nước ngầm
cho thấy nồng độ Fe2+ và Coliform vượt tiêu
chuẩn nước sinh hoạt của Bộ Y tế. Nhưng chỉ
2,5% người dân được khảo sát cảm thấy sức khoẻ
của họ không ổn định khi sử dụng nguồn nước
này, 82,5 % thấy bình thường và 15% thấy sức
khoẻ vẫn tốt. Bởi hàm lượng Fe2+ nơi đây vẫn nhỏ
hơn 1 mg/l và nhờ việc áp dụng biện pháp Lắng
giúp giảm phần nào lượng sắt trong nước, (Lâm
Thị Hoàng Oanh, 2019). Nhờ đó việc sử dụng
nguồn nước này chỉ gây một số ảnh hưởng nhỏ
đến sức khoẻ như giảm tiêu hóa, hấp thu thực
phẩm và khó tiêu (Nguyễn Thái Hồng, 2020). Vì
thế mà người dân khơng nhận ra các ảnh hưởng từ
Fe2+ trong nguồn nước.
4. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Nhìn chung, người dân xã Hoà Chánh vẫn đang
phụ thuộc lớn vào nguồn nước ngầm. Tuy nhiên,
chỉ 57,5% hộ dân sử dụng nước ngầm cho mục
đích ăn uống, số cịn lại thường sử dụng thêm
nước đóng chai và nước mưa, vì cho rằng hai
nguồn nước này an toàn hơn so với nước ngầm.
Hiện tại người dân khơng có nhiều kiến thức về
các chỉ tiêu cơ bản của chất lượng nước ngầm
(pH, Fe2+ và Coliform), cũng như không biết cách
nào để đo đạt các chỉ tiêu này một cách chính xác
mà chỉ dựa vào các đánh giá cảm quan. Chính vì
các đánh giá cảm quan nên người dân cho rằng
chất lượng nước ngầm nơi đây từ tương đối tốt
đến tốt. Trong khi kết quả phân tích cho thấy,
nguồn nước này chưa đảm bảo để có thể sử dụng
110
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 29 (3), 103 – 112
cho sinh hoạt và ăn uống theo tiêu chuẩn của Bộ
Y Tế. Cụ thể là hàm lượng Fe2+ vượt mức cho
phép gấp 2 - 3 lần, và hàm lượng Coliform khá
cao do bị ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt của
người dân. Việc ngộ nhận chất lượng nước ngầm,
cộng thêm ít kiến thức về các biện pháp xử lý
nước, khiến tỷ lệ lớn người dân được phỏng vấn
không thực hành đầy đủ các biện pháp xử lý nước
trước khi sử dụng.
BTNMT. Hà Nội: Bộ Tài nguyên và Môi
trường.
Bộ Y Tế. (2018). Thông tư số 41/2018/TT-BYT về
Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia và quy
định kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch
sử dụng cho mục đích sinh hoạt. Hà Nội: Bộ Y
Tế.
Cao Trường Sơn. (2012). Đánh giá tình hình xử lý
chất thải tại các trang trại lợn trên đại bàn
huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. (Luận văn
thạc sĩ). Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên,
Hồ Chí Minh, Việt Nam.
Chính vì vậy, để người dân xã Hồ Chánh sử
dụng nguồn nước ngầm một cách an toàn và hợp
vệ sinh, nghiên cứu này đề xuất:
-
-
-
-
Tuyên truyền và thúc đẩy người dân được thực
hiện kết hợp cả 03 phương pháp lắng, lọc và
đun sôi trước khi sử dụng nước cho mục đích
ăn uống. Các cơ quan địa phương cần tập huấn
và chia sẻ các thông tin, phương pháp hay kỹ
thuật xử lý nước ngầm đơn giản cho người dân
để họ dễ áp dụng hơn.
Bên cạnh đó, thơng qua chương trình nông
thôn mới địa phương cần kết hợp tuyên truyền,
vận động và hỗ trợ người dân xây dựng và sử
dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, để giảm thiểu ô
nhiễm nguồn nước ngầm từ các nhà tiêu hiện
tại không hợp vệ sinh.
Về lâu dài, chính quyền địa phương cần tính
đến phương án xây dựng trạm xử lý và cấp
nước sạch cho toàn xã để không chỉ giúp cung
cấp nguồn nước sạch an tồn đến người dân,
mà cịn hạn chế người dân khai thác nước
ngầm bừa bãi và không giấy phép cho các mục
đích khác.
Ngồi ra, do nghiên cứu này bị giới hạn rất lớn
về mặt thời gian và kinh phí nên số mẫu và chỉ
tiêu chất lượng nước ngầm được phân tích là
tương đối ít, nên để thấy được chất lượng nước
ngầm ở Hồ Chánh một cách tồn diện, cần có
những cơng trình nghiên cứu với nhiều chỉ tiêu
hơn và nhiều địa điểm lấy mẫu hơn.
Chanh Đa. (Ngày 27 tháng 5, 2020). Giải pháp
cấp nước nông thôn cho vùng Đồng bằng sông
Cửu Long. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt
Nam.
Truy
cập
từ
/>Hugh, S. & Hodgins, E. (2002). Raising
groundwater awareness–a rural Ontario case
study. Proceedings of the Water Environment
Federation, 2, 1787-1802.
Huỳnh Vương Thu Minh., Trần Văn Tý., Lâm
Văn Thịnh., Trịnh Trung Chí Đăng., Nguyễn
Thị Thanh Duyên., & Lê Thị Yến Nhi. (2014).
Hiện trạng khai thác, sử dụng nước dưới đất ở
Vĩnh Châu, Sóc Trăng. Tạp chí Đại học Cần
Thơ, 30 (A), 48–58.
Kỷ Quang Vinh., Lương Hồng Tân., & Thomas
Nuber. (Ngày 7 tháng 6, 2009). Một số vấn đề
trong sử dụng nước ngầm tại thành phố Cần
Thơ. Trung học Nông Lâm Súc Cần Thơ. Truy
cập từ />Lâm Thị Hồng Oanh. (2019). Bài giảng Máy
móc thiết bị mơi trường. Trường Đại học Kiên
Giang, Việt Nam.
Lê Thanh Lễ. (2017). Nghiên cứu hiện trạng khai
thác nước ngầm từ các giếng khoan cấp nước
sinh hoạt tập trung cho dân cư trên địa bàn
huyện Tân Hưng, tỉnh Long An và đề xuất các
giải pháp quản lý. (Luận văn thạc sĩ). Trường
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Tài nguyên và Môi trường. (2015). Quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước dưới đất
ban hành theo Thông tư số 66/2015/TT111
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 29 (3), 103 – 112
Đại học Cơng nghiệp TP. HCM.
Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Tạp chí Khoa
học Đại học Mở Tp Hồ Chí Minh, 14 (1), 152161
Lê Xuân Sinh., Nguyễn Thị Phương Dung., & Lê
Duy Khương. (2020). Đánh giá chất lượng
nguồn sử dụng và chất lượng nước ngọt phục
vụ nhu cầu của người dân tại ba xã đảo (Việt
Hải, Nhơn Châu, Nam Du). Tạp chí Mơi
trường, số Chun đề Tiếng việt 1/2020, 4046.
Phan Quỳnh Trâm. & Bùi Thị Bích Ngọc. (2018).
Phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng
sử dụng cho sinh hoạt ở huyện Phú Hịa, tỉnh
Phú n. Tạp chí Khoa học Đại học Phú Yên,
19, 7-18.
Nguyễn Ngọc Dung. (2005). Giáo trình Xử lý
nước cấp. Hà Nội: Nhà xuất bản Xây Dựng.
Quốc Tuấn. (Ngày 22 tháng 11, 2018). Nhiều giải
pháp nâng tỷ lệ sử dụng nước sạch ở nơng
thơn. Tạp chí Điện tử Môi trường & Cuộc
sống.
Truy
cập
từ
/>
Nguyễn Thái Hồng. (Ngày 02 tháng 7, 2020). 100
Câu hỏi - Trả lời về nước sạch. Trung tâm
kiểm soát bệnh tật tỉnh Bắc Cạn. Truy cập từ
/>624/75869/SKMT-YTTH/100-CAU-HOITRA-LOI-VE-NUOC-SACH.aspx
Singaraja, C., Chidambaram, S. & Jacob, N.
(2018). A study on the influence of tides on
the water table conditions of the shallow
coastal aquifers. Appl Water Sci 8, 11, .
/>
Nguyễn Tri Quang Hưng., Đinh Hùng Danh.,
Thái Phương Vũ., Nguyễn Minh Kỳ., &
Huỳnh Ngọc Anh Tuấn. (2018). Nghiên cứu
đánh giá hiện trạng sử dụng và chất lượng
nước cấp sinh hoạt tại huyện Trảng Bàng, tỉnh
Tây Ninh. Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia
Hà Nội, 4 (34), 10-21.
Trung tâm Quy hoạch và điều tra tài nguyên nước.
(Ngày 18 tháng 11, 2012). Xử lý nước ngầm.
Trung tâm quy hoạch và điều tra tài nguyên
nước.
Truy
cập
từ
/>ontent&view=article&id=1586%3Axu-lynuoc-ngam&catid=4%3Athong-tinkhcn&Itemid=136&lang=vi
Nguyễn Văn Sánh., Nguyễn Ngọc Sơn., Võ Văn
Tuấn., & Lê Đăng Khôi. (2010). Nghiên cứu
tài nguyên nước Trà Vinh: Hiện trạng khai
thác, sử dụng và các giải pháp quản lý sử dụng
bền vững. Tạp chí Khoa học, 15b,167-177.
Pal Partha. (2014). Detection of Coliforms in
Drinking Water and its Effect on Human
Health - A Review. International Letters of
Natural Sciences, 17, 122–131.
Uỷ ban Nhân dân xã Hồ Chánh. (2020). Báo cáo
tổng kết tình hình kinh tế xã hội năm 2019 và
phương hướng nhiệm vụ năm 2020. Hoà
Chánh: Uỷ ban Nhân dân xã Hoà Chánh.
Phạm Thị Hồng Vân. (2019). Đánh giá chất lượng
nước giếng khoan ở xã Tân Thạnh huyện
112