Tải bản đầy đủ (.docx) (31 trang)

TIỂU LUẬN GIỮA kỳ KINH tế vĩ mô đề tài một số vấn đề cơ bản của nền KINH tế SINGAPORE GIAI đoạn 2008 2018

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.19 MB, 31 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
=====000=====

TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KINH TẾ VĨ MÔ
Đề tài:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA NỀN KINH TẾ SINGAPORE

GIAI ĐOẠN 2008 - 2018

Nhóm 5: Trần Thị Thanh Tú - 1912210205
Nguyễn Minh Ngọc - 1912210146
Nguyễn Quốc Khánh – 1912210093
Lê Thị Ngọc Hà – 1912210045
Lê Phương Anh - 1912210007
Lớp

: KTE 203.4 - Khối 2 QTKD, Khóa 58

Hà Nội – 4/2020

download by :


MỤC LỤC
1. LỜI NÓI ĐẦU..............................................................................................
2. NỘI DUNG....................................................................................................
2.1. Tổng quan về Singapore........................................................................
2.1.1. Thơng tin sơ lược.............................................................................
2.1.2.


Dân số.............

2.1.3. Chế độ chính trị................................................................................
2.2. Tình hình kinh tế Singapore giai đoạn 2008-2018...............................
2.2.1. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
và chỉ số giá tiêu dùng (CPI)........................................................................
2.2.2. Tăng trưởng kinh tế.........................................................................
2.2.3. Xuất nhập khẩu – Cán cân thương mại.......................................
2.2.4.

Lạm phát........

2.2.5. Tỉ lệ thất nghiệp.............................................................................
2.3. Chính sách kinh tế................................................................................
2.3.1. Mục tiêu kinh tế.............................................................................
2.3.2. Chính sách tài khóa.......................................................................
2.3.3. Chính sách tiền tệ...........................................................................
2.4. Kinh tế Singapore trước đại dịch Covid 19.......................................
2.4.1. Tổng quan tình hình Singapore trong đại dịch Covid 19...........

2.4.2. Các chính sách kinh tế của Singapore đối phó với tình hình dịch
bệnh
........................
3. LỜI KẾT.....................................................................................................

2

download by :



1. LỜI NÓI ĐẦU
Ngày 15/9/2008, Lisa Roitman, Renee Spero và Jayson Berkshire - những
"banker" hàng đầu của nước Mỹ đã chào ngày mới bằng một sự kiện khác biệt:
Công ty của họ - Lehman Brothers tuyên bố phá sản. Đây chính là một trong
những tín hiệu đầu tiên báo trước cuộc khủng hoảng kinh tế được đánh giá là
"tồi tệ nhất nhất trong lịch sử". 10.000 tỷ USD bị cuốn trôi, 30 triệu người mất
việc, 50 triệu người quay lại chuẩn dưới nghèo là cái giá phải trả cho cuộc
khủng hoảng 2008.
Cuộc khủng hoảng đẩy kinh tế thế giới vào một giai đoạn đen tối, nặng nề
nhất chắc phải kể tới Mỹ và Châu Á - Châu lục rộng lớn, đơng dân nhất hành tinh
với nền văn hố đa dạng, lịch sử phát triển lâu đời và nền kinh tế phát triển hưng
thịnh suốt nhiều năm. Những con rồng châu Á (Hồng Kông, Hàn Quốc,
Singapore, Đài Loan) chắc chắn cũng chịu tác động khơng nhỏ.
Tuy nhiên, khi nhìn vào bản đồ phát triển của kinh tế thế giới hiện nay, chúng ta
không thể phủ nhận rằng, Singapore luôn là điểm sáng. Kinh tế Singapore đã có
bước phát triển ngoạn mục trong 10 năm qua, từ một quốc gia được thành lập vào
năm 1965 sau khi tách khỏi Malaysia, chịu ảnh hưởng vơ cùng nặng nề từ khủng
hoảng tài chính thế giới 2008, Singapore đã có bước chuyển mình, trở thành một
đất nước có GDP bình qn đầu người cao nhất thế giới, môi trường kinh doanh
mở, tham nhũng thấp, minh bạch tài chính cao, người dân sống trong thành phố
đắt giá bậc nhất.
Suốt 10 năm (2008 - 2018) nền kinh tế của Singapore có những biến động
gì? Q trình phục hồi và phát triển của Singapore đã diễn ra như thế nào trong
cả một thập kỷ? Các chính sách kinh tế mà chính phủ quyết định ảnh hưởng ra
sao đến sự phát triển của đảo quốc Singapore? Đây đều là những vấn đề riêng lẻ
từng được nhắc đến trong một số tài liệu nghiên cứu kinh tế, song tuy nhiên vẫn
chưa có tài liệu nào đưa ra một cái nhìn xâu chuỗi tổng quan, bao quát cả quá
trình phục hồi, phát triển của quốc gia này.
Vì vậy, nhóm chúng em lựa chọn đề tài “Nghiên cứu nền kinh tế Singapore
giai đoạn 2008 - 2018”, hy vọng có thể mang lại góc nhìn từ tổng thể đến chi tiết

q trình phát triển kinh tế của Singapore từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm
2008 đến nay.
Trong q trình nghiên cứu và hồn thành có thể vẫn cịn rất nhiều thiếu sót
chúng em mong nhận được sự góp ý của thầy cơ để tiểu luận này được hoàn
chỉnh hơn.
3

download by :


2.

NỘI DUNG

2.1. Tổng quan về Singapore

2.1.1. Thông tin sơ lược
Singapore (Republic of Singapore) là một quốc đảo thuộc Đông Nam Á.
Singapore gồm một đảo chính hình thoi và 56 đảo nhỏ khác, nằm giữa Malaysia
và Indonesia, được nối với Malaysia bằng các con đường đắp cao. Đảo quốc này
có diện tích khoảng 712 km2, trong đó diện tích đất là 682,7 km 2 với đường bờ
biển kéo dài khoảng 150,5 km.
Cách xích đạo 137 km về phía Bắc, Singapore có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm. Tài
ngun khơng nhiều và khơng q đa dạng, chủ yếu chỉ có than, chì, nham thạch,
đất sét; khơng có nước ngọt; đất canh tác hẹp, phần lớn là để trồng cao su, dừa,
rau và cây ăn quả,…
2.1.2. Dân số
Singapore có dân số khoảng 5,638,700 người (2013) và mật độ dân số là
7,796 người/km2. Độ tuổi trung bình là 41, trong đó dân số từ 15 đến dưới 65
tuổi chiếm đa số (77%). Đất nước này có thành phần dân tộc đa dạng, song các

dân tộc châu Á chiếm ưu thế: 75% dân số là người Hoa, còn lại là người Mã Lai,
Ấn, người Âu-Á,...

4

download by :


2.1.3. Chế độ chính trị
Là một nước cộng hồ nghị viện, Singapore có chính phủ nghị viện nhất
viện theo hệ thống Westminster đại diện cho các khu vực bầu cử. Hiến pháp đươc
thiết lập dựa trên hệ thống chính trị dân chủ đại diện. Quyền hành pháp thuộc về
Nội các Singapore, do Thủ tướng lãnh đạo. Đây cũng là đất nước đúng hàng đầu
châu Á về chất lượng của hệ thống tư pháp.
2.2. Tình hình kinh tế Singapore giai đoạn 2008-2018
2.2.1. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và
chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Năm

2018

2017

2016

2015

2014


2013

2012

5

download by :


2011

2010

2009

2008

BẢNG GIÁ TRỊ GDP VÀ GNP SINGAPORE QUA CÁC NĂM
(Đơn vị: Tỷ Đơ La)
Singapore có nền kinh tế thị trường tự do phát triển cao và rất thành công.
Singapore được hưởng một môi trường kinh tế mở cửa và không có tham nhũng,
giá cả ổn định, và thu nhập bình quân trên đầu người cao hơn so với hầu hết các
nước phát triển khác. Nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu, đặc biệt là
các thiết bị điện tử tiêu dùng, sản phẩm công nghệ thông tin, dược phẩm, và lĩnh
vực dịch vụ tài chính.

BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN GIÁ TRỊ GNP VÀ GDP CỦA CÁC NĂM
Đơn vị: Tỷ Đô La
(Nguồn: macrotrends.net)
6


download by :


Singapore là nước có GDP nằm trong top các nước có GDP cao nhất thế
giới (G20). Nhìn chung, GDP và GNP đều tăng khá ổn định qua các năm(GNP
luôn luôn thấp hơn GDP), chỉ có năm 2015 GDP và GNP giảm nhẹ nhưng lại
tăng trở lại vào các năm sau. Kinh tế sụt giảm trong năm 2009 do hệ quả của
cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu, nhưng lại hồi phục nhanh trong năm 2010
và trong năm 2011, với sức mạnh của xuất khẩu. Điều đặc biệt là tỉ trọng GDP
của Singapore với gần 74% là dịch vụ và gần 15% là công nghiệp, nông nghiệp
chỉ chiếm xấp xỉ 1% tỉ trọng GDP. GDP bình quân đầu người tăng, tuy nhiên có
nhiều biến động, do GDP chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nền kinh tế. Năm 2018 GDP
bình quân đầu người của Singapore đứng thứ 8 trên thế giới, ngay sau là Hoa Kỳ.

Năm

2018

2017

2016

2015

2014

2013

2012


7

download by :


2011

2010

2009

2008

GDP BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI CỦA SINGAPORE GIAI ĐOẠN 2008 – 2018

(Nguồn: macrotrends.net)

BIỂU ĐỒ CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG CỦA SINGAPORE
GIAI ĐOẠN 2008-2018

Chỉ số giá tiêu dùng của Singapore tăng mạnh trong khoảng thời gian từ
2008 đến 2013 chứng tỏ giá cả trung bình trong giai đoạn này tăng khá nhiều hay
nói cách khác lạm phát tăng khá mạnh. Cịn từ 2013 đến 2014 thì CPI biến động
khá ổn định và có xu hướng giảm chứng tỏ lạm phát trong giai đoạn này đã được
kiểm soát khá hiệu quả.
8

download by :



2.2.2. Tăng trưởng kinh tế
Mức tăng trưởng GDP của Singapore vào năm 2008 chỉ đạt 1,1% và âm
1,3% vào năm 2009. Ðây cũng là sự phản ánh triển vọng không mấy sáng sủa
của các nền kinh tế châu Á trong năm 2009, đặc biệt đối với các quốc gia trong
thời gian qua đã lệ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu để tăng trưởng. Nguyên nhân
của thực trạng này là tình hình khủng hoảng kinh tế trên tồn cầu ngày càng
nghiêm trọng, đặc biệt từ tháng 11-2008 đến nay, làm cho mức cầu, mức giao
dịch thương mại, mức đầu tư trên thế giới sụt giảm đáng kể. Ngay từ tháng 102008, Singapore đã trở thành nước châu Á đầu tiên bước vào suy thối. Tình hình
ngày càng nặng nề thêm sau khi các nền kinh tế lớn trên thế giới lâm vào khủng
hoảng, trong đó có các thị trường xuất khẩu chủ chốt của Singapore là Liên hiệp
châu Âu (EU), Mỹ và Nhật Bản.
Kinh tế Singapore tăng trưởng 14,7% vào năm 2010, hồi phục mạnh so với
tăng trưởng âm 1,3% từ năm 2009. Đây là mức tăng trưởng vượt kỷ lục 13,8%
vào năm 1970
Trong giai đoạn từ 2012-2015, kinh tế Singapore khơng ngừng phát triển
với mức tăng trưởng bình qn đạt 3,65%/năm, lạm phát thấp (bình quân
1,9%/năm), tỷ lệ thất nghiệp thấp (bình quân khoảng 2%/năm). GDP bình quân
đầu người đạt 52.900 USD, xếp thứ 11/188 nước về chỉ số phát triển con người
của UNDP
Bộ Thương mại và Công nghiệp Singapore công bố hôm 3/1/2017, tổng
sản phẩm quốc nội GDP tăng trưởng 9,1% trong ba tháng (đến tháng Mười Hai),
so với q trước đó, vượt xa ước tính trung bình 4% của 9 nhà kinh tế trong cuộc
khảo sát của Bloomberg. Trong khi đó, tăng trưởng so với quý 4 năm 2016 là
1,8%. Tuy nhiên, tính chung cả năm 2016, GDP của Singapore chỉ tăng trưởng
1,6% và là mức tăng thấp nhất kể từ năm 2009.
Bộ Thương mại và Công nghiệp Singapore (MTI) cho biết, kinh tế nước
này đã đạt mức tăng trưởng 3,5% trong năm 2017(cao nhất trong 3 năm qua), bất
chấp khu vực sản xuất điều chỉnh giảm nhẹ trong 3 tháng cuối năm. Theo nhận
định của MTI, nền kinh tế phụ thuộc vào thương mại của Singapore đã có bước

đột phá đáng kể trong năm 2017 do nhu cầu toàn cầu về các sản phẩm điện tử gia
tăng
2.2.3. Xuất nhập khẩu – Cán cân thương mại
Xuất nhập khẩu là hoạt đơ ˆng trao đổi hàng hóa dịch vụ giữa nước này với
nước khác thông qua hoạt đô ˆng mua và bán ở phạm vi quốc tế. Nó là hoạt đô ˆng
9

download by :


tất yếu khách quan trong q trình hơ ˆi nhập kinh tế quốc tế và phát triển đất
nước.
2.2.3.1.Giai đoạn 2008 – 2016
Tình hình
xuất nhập
khẩu ($US
millions)
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Xuất khẩu
thực
Nhập khẩu
thực

TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA SINGAPORE
GIAI ĐOẠN 2008-2016

Nhận xét: Vào năm 2008, tỉ lệ giữa xuất khẩu với nhập khẩu là 1,09 nhưng tới
năm 2016, tỉ lệ này là 1,18 đã tăng 0,09 lần so với 2008.
Ðây là sự phản ánh không mấy triển vọng của Singapore trong năm 2009,

đặc biệt đối với quốc gia trong thời gian qua đã lệ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu
để tăng trưởng. Nguyên nhân của thực trạng này là tình hình khủng hoảng kinh tế
trên toàn cầu ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt từ tháng 11-2008 , làm cho mức
cầu, mức giao dịch thương mại, mức đầu tư trên thế giới sụt giảm đáng kể. Ngay
từ tháng 10-2008, Singapore đã trở thành nước châu Á đầu tiên bước vào suy
thối. Tình hình ngày càng nặng nề thêm sau khi các nền kinh tế lớn trên thế giới
lâm vào khủng hoảng, trong đó có các thị trường xuất khẩu chủ chốt của
Singapore là Liên hiệp châu Âu (EU), Mỹ và Nhật Bản. Thể hiện rõ nhất là mảng
xuất khẩu của Singapore giảm 17% trong tháng 3/2009.
- Tuy nhiên, về ngoại thương của Singapore trong Quý 1 năm 2014, tổng
kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 246,052 tỷ Singapore dollar (SGD), tăng 7,2% so
với cùng kỳ năm 2013, trong đó xuất khẩu đạt 128,250 tỷ SGD, tăng 7,6%% ,
nhập khẩu đạt 117,801 tỷ SGD, tăng 6,8%.
+ Năm 2014, Singapore là nước xuất khẩu lớn thứ 9 trên thế giới và đứng
thứ 10 về nhập khẩu.

10


download by :


+ Về thương mại dịch vụ, Singapore xếp thứ 6 trên thế giới cả về xuất

khẩu và nhập khẩu.
+ Xuất khẩu của Singapore khơng ngừng tăng trưởng, trong đó hàng tái
xuất chiếm khoảng 47% trong tổng xuất khẩu của Singapore năm 2014.
Singapore phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu hàng chế tạo, chiếm đến 70,9% tổng số
hàng hóa xuất khẩu năm 2014, gồm: máy móc và thiết bị giao thơng, hóa chất.
Nhiên liệu chiếm 17% trong tổng số kim ngạch xuất khẩu, nông nghiệp chỉ

chiếm khoảng 2,9%. Tương tự, nhập khẩu sản phẩm chế tạo cũng chiếm đến
61,3% tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2014. Tiếp theo, kim ngạch nhập khẩu
nhiên liệu chiếm 31% và nông sản chiếm 4%.
Năm

Xuấ

2011 Tổng kim ngạch: 409,5 tỷ USD
2014 Tổng kim ngạch: 409,8 tỷ USD
MẶT HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU CHỦ YẾU CỦA SINGAPORE
GIAI ĐOẠN 2011 - 2014
+ Năm 2014, xuất khẩu sang Châu Á và Châu đại dương chiếm 76,9%

tổng kim ngạch xuất khẩu của Singapore, xuất khẩu sang ASEAN chiếm 31,2%,
xuất khẩu sang EU và Mỹ lần lượt chiếm 8,1% và 5,9%. Trung Quốc và EU là 2
nước mà Singapore nhập khẩu nhiều nhất năm 2014, lần lượt chiếm 12,1% và
12% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Singapore với thế giới
- Năm 2015, xuất khẩu dịch vụ vận tải của Singapore chiếm 33,8% tổng
kim ngạch xuất khẩu dịch vụ, những dịch vụ kinh doanh khác như dịch vụ
chuyên gia, kỹ thuật và dịch vụ kinh doanh khác chiếm 24,2%, dịch vụ tài chính
14,5%. Nhập khẩu dịch vụ chủ yếu là dịch vụ vận tải, chiếm 30,7% và dịch vụ
khác chiếm 28,8%.
Xuất khẩu nội địa phi dầu mỏ (NODX) của Quốc đảo Sư tử trong tháng
12/2015 đã sụt giảm mạnh ở mức 7,2% so với cùng kỳ năm 2014, do xuất khẩu
các mặt hàng phi điện tử giảm tới 10,3%. Xuất khẩu các mặt hàng điện tử cũng
giảm 0,3% trong tháng 12 sau khi tăng 0,6% vào tháng trước đó, chủ yếu là do
xuất khẩu IC (vi mạch) giảm 11,3%, các bộ phận máy tính cá nhân giảm 13% và
ổ đĩa giảm 22%. Đáng chú ý, 10 thị trường xuất khẩu hàng đầu của Singapore ngoại trừ Mỹ, Nhật Bản và Hong Kong - đều giảm trong tháng 12/2015, trong đó
giảm mạnh nhất là Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan


11

download by :


- Năm 2016, xuất khẩu đã giảm 1,8% trong tháng 7. Cụ thể, xuất khẩu các

mặt hàng điện tử giảm 12,9%, do sự suy giảm mạnh trong hầu hết các mặt hàng
chủ lực như vi mạch (giảm 46,3%), máy tính cá nhân (giảm 30,6%) và bóng bán
dẫn (giảm 19,5%).
Trong khi đó, xuất khẩu các mặt hàng phi điện tử cũng giảm 9,5% trong
tháng Bảy, do sự sụt giảm của các thiết bị phụ tùng cơng trình dân dụng (giảm
58,3%), các sản phẩm hóa dầu (giảm 35%) và máy móc thiết bị chuyên ngành
(giảm 16,7%).
Đáng chú ý, xuất khẩu của Singapore sang tất cả 10 thị trường trọng điểm,
ngoại trừ Liên minh châu Âu (EU), đều giảm trong tháng Bảy; trong đó sụt giảm
nhiều nhất là Indonesia (-22,6%), Mỹ (-19,1%) và Trung Quốc (-16,6%).
Số liệu thống kê cho thấy trong tháng Bảy, tổng kim ngạch thương mại hai
chiều của Singapore với thế giới chỉ đạt 68,9 tỷ đôla Singapore (khoảng 53 tỷ
USD) và giảm 11,1%, tiếp theo sự suy giảm 5,1% của tháng Sáu. Riêng giá trị
kim ngạch xuất khẩu là 37,3 tỷ đôla Singapore (gần 28,7 tỷ USD), giảm 10,3%
và kim ngạch nhập khẩu là 31,6 tỷ đôla Singapore (trên 24,3 tỷ USD), giảm
12,1%.
2.2.3.2.Giai đoạn 2017 - 2018
- Năm 2017
+ Năm 2017, Singapore đã xuất khẩu 320 đô la, trở thành 15 nước xuất
khẩu lớn nhất thế giới. Trong năm năm qua, hàng xuất khẩu của Singapore có tỷ
lệ hàng năm là 6,3% từ $233 tỷ vào năm 2012 đến $320 tỷ vào năm 2017. Việc
xuất khẩu gần đây nhất được dẫn đầu bởi Mạch tích hợp mà đại diện cho 36%
tổng kim ngạch xuất khẩu Singapore, tiếp theo là Tinh Dầu khí, chiếm 13,4%.

+ Vào năm 2017, Singapore đã nhập khẩu $293 tỷ, trở thành 16 nước nhập
khẩu lớn nhất trên thế giới. Trong năm năm qua, hàng nhập khẩu Singapore có
mức lãi suất hàng năm là -1,5%, từ $ 314 và năm 2012 đến $ 293 trong năm
2017. Kim ngạch nhập khẩu gần đây được dẫn đầu bởi Mạch tích hợp, đại diện
cho 19,7% tổng xuất khẩu Singapore, tiếp theo là Tinh Dầu khí, đại diện cho
15,2%.
- Năm 2018

12

download by :


Nhập khẩu nguyên liệu của Singapore trị giá 35.133 triệu USD, thị phần
sản phẩm 9,48%. Xuất khẩu hàng hóa trung gian của Singapore trị giá 76.349
triệu USD, thị phần sản phẩm là 18,54%. Nhập khẩu hàng hóa trung gian
Singapore trị giá 57.432 triệu USD, thị phần sản phẩm là 15,50%.

(Source: />Singapore là một trong những quốc gia châu Á phụ thuộc nhất vào xuất
khẩu nên cần tìm kiếm những động lực tăng trưởng mới nhằm gia tăng tổng thu
nhập trong điều kiện dân số già hóa và thương mại khơng ổn định.
13

download by :


Qua số liệu ta có thể thấy rõ Singapore là 1 nước xuất khẩu, xuất khẩu có
tỷ lệ trung bình là 1,15 lần so với nhập khẩu. Singapore có diện tích nhỏ nên nền
nơng nghiệp khơng phát triển, vì vậy các mặt hàng nhập khẩu phần lớn là lương
thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu trong nước. Tuy nhiên, Singapore có một số

ngành cơng nghiệp phát triển hàng đầu châu Á nên số giá trị xuất khẩu từ các mặt
hàng công nghiệp lớn hơn so với giá trị nhập khẩu.
2.2.4. Lạm phát
2.2.4.1.Tổng quan tình hình lạm phát trong giai đoạn 2008 - 2018 Singapore
đã có sự phục hồi đáng kể từ cuộc khủng hoảng tài chính tồn
cầu năm 2008. Năm 2010, đất nước Singapore chứng kiến tốc độ tăng trưởng
15,2%. Kể từ ngày 8 tháng 6 năm 2013, tỷ lệ thất nghiệp của Singapore là
khoảng 1,9% và nền kinh tế của đất nước có tốc độ tăng trưởng thấp hơn với tỷ lệ
là 1,8% hàng quý so với 14,8% của năm 2010.
Năm 2015 và 2016 chứng kiến cuộc suy thoái của nền kinh tế khi tăng
trưởng GDP giảm xuống chỉ còn 2%. Mặc dù tăng trưởng kinh tế đã chậm lại,
quốc gia này vẫn chưa từng công bố là gặp phải mức tăng trưởng âm vẫn là một
dấu hiệu tích cực. Trong thời kỳ mà tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại này, thất
nghiệp và lạm phát vẫn giảm. Tính đến năm 2017, GDP của Singapore đạt mức
323,87 tỷ US$. Singapore dự kiến sẽ trải qua thêm một cuộc suy giảm kinh tế
vào năm 2019, với mức tăng trưởng GDP giảm từ 3,1% trong năm 2018 xuống
chỉ còn 1,9% do chiến tranh thương mại Mỹ - Trung.

2.2.4.2.Lạm phát của Singapore giai đoạn 2008 - 2016
- Năm 2008:
14

download by :


+ Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giảm xuống 5,4% trong quý 4/2008 và 2,9%

trong tháng 1/2009. CPI nằm trong xu hướng giảm xuống kể từ tháng 7/2008,
giảm dần từ mức cao nhất là 7,5% trong quý 2 so với cùng kỳ năm trước, xuống
6,6% trong quý 3 và 5,4% trong quý 4, phần lớn là do giá dầu trên thế giới giảm

mạnh. Lạm phát trong cả năm 2008 của Singapore là 6,5% và trong tháng 1/2009
giảm sâu hơn xuống cịn 2,9%.
+ Tính theo cùng q năm trước, CPI tiếp tục tăng lên trong quý 4/2008,
mặc dù ở mức độ tăng khá chậm là 0,7%. Trong 5 quý trước đó, mức tăng bình
quân theo quý là 1,7%. Mức tăng trong quý 4/2008 đứng đầu là do nhà ở mà
phần lớn phát sinh từ việc tăng giá điện lên 21%.
- Giai đoạn 2013 - 2015:
+ Lạm phát lõi (không bao gồm những thay đổi về giá của vận tải đường
bộ và nhà ở tư nhân) đã giảm 1,5%. Tính chung cả năm 2014, lạm phát lõi của
Singapore nhích lên mức 1,9% so với mức 1,7% của năm 2013
+ Theo số liệu, chi phí vận tải đường bộ cá nhân giảm 1,1% của tháng
12/2015, do giá xe giảm mạnh hơn đã bù đắp tốc độ giá xăng tăng. Trong khi đó,
giá hàng hóa cũng giảm 3,1% do giá thuê bất động sản giảm
+ Lạm phát ngành dịch vụ nói chung ở mức 0,5%, giảm so với mức 0,9% của
tháng 12/2015, do mức tăng chậm của phí dịch vụ liên quan đến giáo dục và phí
đi lại trong dịp nghỉ lễ
+ Phí dịch vụ y tế tăng do những tác động giảm lạm phát bằng trợ cấp y tế
hồi tháng 1/2015 đã hết tác dụng. Lạm phát trong lĩnh vực thực phẩm tăng 1,7%
so với mức 1,5% của tháng 12/2015 do giá thực phẩm khơng qua chế biến tăng
+ Tính chung trong cả năm 2015, lạm phát CPI nhìn chung giảm 0,5%, từ

mức 1% của năm 2014. Theo Cục thống kê Singapore, đây là mức giảm đầu tiên
kể từ năm 2002
+ Do giá dầu thế giới tiếp tục ở mức thấp trong những tháng đầu năm
2016, dự kiến lạm phát CPI các mặt hàng trong năm 2016 của Singapore sẽ tiếp
tục giảm khoảng -1 đến 0% so với mức -0,5 đến 0,5% do ảnh hưởng của giá xe
và giá thuê nhà ở
Năm
Chỉ số
giá tiêu

dùng

download by :


Tỷ lệ

lạm phát 6,62%

0,62%

2,77%

5,20%

4,66%

2,36%

0,98%

-0,53%

-0,53%

Tình hình lạm phát của Singapore giai đoạn 2008 – 2016
+ Theo bảng số liệu ở trên thì nền kinh tế Singapore có nhiều biến động,

dù vậy nó vẫn ở dưới mức 7% cho thấy Chính phủ Singapore đã ứng phó nhanh
chóng và xử lý kịp thời nhiều thời điểm khó khăn:

+ Chỉ số lạm phát cao nhất là 6,6% vào năm 2008, nguyên nhân là khủng
hoảng giá dầu thế giới làm do giá cả tăng chóng mặt. Nhưng chỉ sau 1 năm thì tỉ
lệ lạm phát giảm sâu, chỉ cịn 0,62% chứng tỏ mặc dù tình trạng nền kinh tế bị
ảnh hưởng vẫn cịn, Chính phủ Singapore đã có chính sách vận hành nền kinh tế
tốt, khả quan như mở kho dự trữ chứa đầy ắp gạo để người dân không hoang
mang khi giá gạo tăng cao
+ Lạm phát tại Singapore năm 2011 tăng mạnh, nguyên nhân chính bởi giá
nhà và chi phí vận tải tăng cao. Chính sách lúc bấy giờ đang cho phép đồng đô la
Singapore tăng giá và giúp hãm bớt áp lực lạm phát. Cũng từ năm 2011 trở đi chỉ
số lạm phát giảm dần đến mức giảm phát vào năm 2015 và 2016. Nền kinh tế
biến động tích cực một cách từ từ và dần đi vào quỹ đạo ổn định. Nhìn chung,
Chính phủ Singapore có thể kiểm sốt giá một cách đủ nhanh để chỉ số lạm phát
không làm người dân hoang mang và bất ổn
2.2.4.3.Lạm phát của Singapore năm 2017 và 2018
Lạm phát của Singapore tăng với tốc độ nhanh nhất trong hai năm vào
tháng 1/2017, nhờ vào lĩnh vực dịch vụ và và các mặt hàng liên quan đến dầu,
gần như là đóng lại triển vọng nới lỏng chính sách tiền tệ hơn nữa trong cuộc họp
của Ngân hàng trung ương vào tháng 4/2017.
Tất cả các hạng mục giá tiêu dùng (CPI ) vào tháng 1/2017 tăng 0,6% so
với cùng kỳ năm 2016, đây là mức tăng nhanh nhất kể từ tháng 9/2014. Giá tiêu
dùng được thúc đẩy cùng với tăng trưởng kinh tế mạnh hơn so với dự báo vào
cuối năm 2016.
Theo số liệu được công bố chính thức ngày 23.11.2007, tỷ lệ lạm phát
tháng 10 của Singapore đã chạm mức 3,6% - mức cao nhất trong lịch sử 16 năm
qua do giá thực phẩm và năng lượng tăng quá cao. Điều này đã tạo áp lực đối với
ngân hàng trung ương nước này trong việc kiểm sốt lạm phát. Con số cao khơng
mong đợi này đã được thơng báo chỉ vài ngày sau khi chính phủ nâng mức dự
báo về tỷ lệ lạm phát cho năm tới lên 3,5% - 4,5%, mức cao kỷ lục khoảng 5%
vào đầu năm 2008.
16


download by :


Trong một thông điệp gửi đến các khách hàng với tựa đề “Shock, nỗi kinh
hoàng”, chuyên gia kinh tế của HSBC Robert Prior – Wandesfordes nói giá cả đã
bị đẩy lên quá cao bởi hầu hết các mặt hàng thiết yếu là hàng tiêu dùng, thực
phẩm, năng lượng đều đồng loạt lên giá. Chỉ số giá cả tháng 10 (CPI) đã tăng
1,3% so với tháng 9. Đây là mức tăng cao nhất kể từ tháng 7. Trong bản báo cáo
của mình, Tổng cục Thống kê cho biết tỷ lệ lạm phát trung bình 10 tháng đầu
năm 2007 là 1,6%. Tháng 10/2017 Ngân hàng trung ương Singapore đã thực hiện
chính sách thắt chặt tiền tệ và hiện nay đang phải đối mặt với trách nhiệm cân
bằng giữa mức lạm phát đang tăng mạnh với những tác động xấu tiềm ẩn từ cuộc
khủng hoảng trên thị trường bất động sản của Mỹ trong năm tới. Chỉ số giá thực
phẩm, chiếm 23% trong tổng chỉ số đánh giá mức lạm phát và được coi là chỉ số
chủ yếu, trong tháng 10/2017 đã tăng 4,3% so với cùng kỳ năm ngối. Trong khi
đó, giá cả các phương tiện vận chuyển và liên lạc - yếu tố lớn thứ 2 để đánh giá
chỉ số CPI – cũng tăng 4,3%.
Theo số liệu thống kê của Cơ quan Quản lý Tiền tệ (MAS) và Bộ Công
Thương Singapore (MTI) cho biết trong tháng 8/2018, lạm phát của Singapore
tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2017, cao hơn so với 0,6% của tháng 7/2018 và
trùng với nhận định của các nhà kinh tế, chủ yếu do giá lương thực và bán lẻ
tăng. Tỷ lệ lạm phát cơ bản (không bao gồm chi phí về nhà ở và giao thơng cá
nhân) tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2017, mức cao nhất trong vòng 4 năm qua.
Dự báo trong năm 2018, tỷ lệ lạm phát của Singapore tăng nhẹ do tác động của
giá dầu mỏ và giá thực phẩm toàn cầu. Theo các chuyên gia, chỉ số lạm phát tăng
sẽ làm cho Cơ quan Quản lý tiền tệ Singapore (MAS) tiếp tục duy trì việc thắt
chặt chính sách tiền tệ trong cuộc họp vào đầu tháng 10/2018.
2.2.5. Tỉ lệ thất nghiệp
2.2.5.1.Tỷ lệ thất nghiệp của Singapore giai đoạn 2008 – 2016


Năm
Tỷ lệ thất
nghiệp
GDP
thực/người
(2010, USD)

3,96%

42,650

4,38%

3,17%

2,96%

2,88%

2,79%

41,133

46,569

48,505

49,262


50,948

2,8%

52,244

1,69%

52,785

1,8%

53,353

17

download by :


Tốc độ gia
tăng GDP
đầu người

-3,48%

-3,55%

13,21%

4,09%


1,56%

3,42%

2,54%

1,03%

1,07%

Nhìn chung, Chính phủ Singapore đã kiểm sốt được tình trạng thất nghiệp
có hiệu quả. Tỷ lệ thất nghiệp thấp, chỉ trừ năm 2009 (cao nhất trong các giai
đoạn là 4,38%) do khủng hoảng giá dầu làm gia tăng lạm phát gây ảnh hưởng
đến công ăn việc làm của người dân. Tuy vậy chỉ số có việc làm tăng lên không
đáng kể chỉ khoảng 2%/năm. Nguyên nhân là do nhu cầu làm việc vẫn cao hơn
so với nhu cầu tuyển dụng
Bên cạnh đó, tăng trưởng lao động chậm lại cũng đồng nghĩa với việc các
công ty sẽ phải hoạt động với ít nhân viên hơn và phải thiết kế lại công việc để
tăng năng suất lao động, đầu tư vào các kỹ năng, công nghệ đồng thời tìm ra mơ
hình nhân lực để phát triển hơn
Năm 2011, trong bối cảnh nhiều nền kinh tế còn gian nan đối mặt với tỷ lệ
thất nghiệp cao thì Singapore lại ghi nhận mức thất nghiệp thấp nhất trong vòng
14 năm qua với mức 2% trong quý IV/2011 - Số liệu được Bộ Nhân lực
Singapore đưa ra ngày 15/3/2012. Số liệu trên cũng cho thấy, ở khu vực thành
thị, tỷ lệ thất nghiệp ở mức 3% trong suốt năm 2011. Trong năm 2011, có 60.600
người dân (trong đó có 52.900 công dân thành thị) Singapore bị mất việc làm.
Con số này năm 2010 là 64.800 người (trong đó có 57.700 công dân thành thị).
- Giai đoạn 2013 – 2015:


18

download by :


+ Nhìn chung, Chính phủ Singapore đã kiểm sốt được tình trạng thất

nghiệp có hiệu quả. Tỷ lệ thất nghiệp thấp, tuy nhiên chỉ số việc làm tăng lên
không đáng kể chỉ khoảng 2%/năm. Nguyên nhân là do nhu cầu việc làm vẫn cao
hơn nhu cầu tuyển dụng
+ Đây là dấu hiệu ban đầu cho sự phát triển chậm lại của lực lượng lao

động địa phương khi mà một thế hệ bắt đầu bước vào độ tuổi nghỉ hưu và một
phần lực lượng lao động trẻ bắt đầu tham gia thị trường.
+ Bên cạnh đó, tăng trưởng lao động nước ngồi chậm lại cũng đồng

nghĩa với việc các cơng ty sẽ phải hoạt động với ít nhân viên hơn và phải thiết kế
lại công việc để tăng hiệu suất lao động, đầu tư vào kỹ năng, cơng nghệ và tìm ra
mơ hình nhân lực mới để phát triển bền vững.
- Năm 2016:
+ Theo Báo cáo về thị trường lao động của Bộ Nhân lực Singapore, tỷ lệ

thất nghiệp năm 2016 của nước này nhích lên 3%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp của
nhóm những người trong độ tuổi từ 30 đến 39 và trên 50 tuổi cao nhất. Đáng chú
ý tỷ lệ những người đã tốt nghiệp đại học không tìm được việc làm cũng lên tới
1%, mức cao nhất kể từ năm 2004 đến nay.
+ Năm 2016, hơn 19.000 công nhân Singapore bị mất việc, tăng 23% so

với năm 2015. Mặc dù tỷ lệ này chưa cao bằng năm 2009, khi kinh tế Singapore
rơi vào suy thoái khiến hơn 23.000 cơng nhân khơng có việc làm, nhưng cũng là


19

download by :


mức tăng cao nhất trong những năm gần đây. Trước đó, tỷ lệ thất nghiệp tại
Singapore giữ ổn định ở mức 2,8% trong bốn năm liền.
2.2.5.2.Tỉ lệ thất nghiệp của Singapore năm 2017 và 2018

Ngày 26/1/2018, Chính phủ Singapore cho biết tỷ lệ thất nghiệp trung bình
của nước này đạt 2,2% vào năm 2017, so với 2,1% năm 2016. Trong khi đó tỉ lệ
thất nghiệp của người dân tăng từ 3% đến 3,1% theo Báo cáo Thị trường Lao
động năm 2017 từ Bộ.
Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp tính đến tháng 12/2017 của nước này là 2,1 %,
thấp hơn 0,1% so với cùng kỳ năm trước đó. Dữ liệu từ bản báo cáo cho thấy
tổng số việc làm của Singapore ước tính đã giảm 0,3%, mức giảm đầu tiên kể từ
năm 2003. Điều này diễn ra là do sự thu hẹp của việc làm nước ngoài, mặc dù
việc làm trong nước tiếp tục tăng khoảng 0,9%, gần gấp đôi mức tăng trưởng
năm 2016.
Ngồi ra, nó cũng cho thấy thu nhập trung bình danh nghĩa hàng tháng từ
cơng việc của người dân Singapore đã tăng 5,9% vào tháng 6 năm ngoái, tức tăng
5,3% theo giá trị thực, cao hơn mức tăng 0,7% đối với thu nhập danh nghĩa và
1,3% đối với thu nhập thực tế vào tháng 6/2016.
Sang năm 2018, tỷ lệ thất nghiệp của Singapore giảm xuống còn 2%. Số
lượng công nhân ở Singapore không bao gồm Lao động nước ngoài (FDW) tăng
38.300 trong năm 2018, một sự đảo ngược từ sự suy giảm trong năm 2017, dữ
liệu từ Bộ Nhân lực Singapore (MOM) tiết lộ. Tăng trưởng việc làm địa phương
năm 2018 (+27.400) cũng cao hơn so với một năm trước (+21.300). Tăng trưởng
xảy ra chủ yếu trong Cộng đồng, Dịch vụ xã hội & Cá nhân, Vận tải &

20

download by :


Lưu trữ, Dịch vụ tài chính, Thơng tin & Truyền thơng và Dịch vụ chun nghiệp.
Cùng với đó việc làm nước ngồi (khơng bao gồm FDW) đã tăng 10.900
trong năm 2018, đảo ngược sự suy giảm trong năm 2017 (-32.000). MOM đã
trích dẫn sự tăng trưởng mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực Dịch vụ (+16.600 trong
năm 2018 so với +10.700 trong năm 2017) và sự suy giảm kiểm duyệt trong lĩnh
vực Xây dựng (-5.400 trong năm 2018 so với -32.800 trong năm 2017).
Tỷ lệ thất nghiệp trung bình hàng năm của người dân Singapore đã giảm
xuống 2,9% trong năm 2018, thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp năm 2017 (3,1%).
2.3. Chính sách kinh tế
2.3.1. Mục tiêu kinh tế
Trong ngắn hạn, Singapore hướng đến tận dụng mọi nguồn lực để đạt mức
sản lượng cao tương ứng với mức sản lượng tiềm năng, đạt tốc độ tăng trưởng
cao và vững chắc. Chính phủ chú trọng mục tiêu lao động, bồi dưỡng nguồn lực
lao động chất lượng cao, tạo ra nhiều việc làm nhằm hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp và
duy trì tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Bên cạnh đó, Singapore cũng đề ra mục tiêu ổn
định giá cả, hạ thấp và kiểm soát lạm phát; ổn định tỷ giá hối đoái, cân bằng cán
cân thanh tốn,...
Chính phủ Singapore theo đuổi các chính sách lạm phát thấp, tỷ giá hối
đoái thực cạnh tranh, lãi suất thực ở mức dương, chính sách tài khóa ổn định và
cán cân thương mại luôn ở mức an tồn nhằm duy trì được cả trạng thái tăng
trưởng cao và khuyến khích đầu tư trong dài hạn.
2.3.2. Chính sách tài khóa
2.3.2.1. Singapore trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008
Nền kinh tế phụ của Singapore là nền kinh tế đầu tiên ở châu Á rơi vào suy
thoái (trong quý 3 năm 2008) sau khi ngân hàng đầu tư Mỹ Lehman Brothers sụp

đổ, gây ra một cuộc khủng hoảng dẫn đến sự khủng hoảng trong tiêu dùng toàn
cầu. Cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu 2008-2009 đã gây thiệt hại cho nền
kinh tế phụ thuộc xuất khẩu của Singapore, làm giảm mức tăng trưởng kinh tế
hàng năm xuống chỉ còn 1,1% trong năm 2008, giảm mạnh so với khoảng 8,2%
trong giai đoạn 2004-2007 và tạo ra tỷ lệ thất nghiệp cao nhất trong 5 năm.
GDP của Singapore đã giảm đi đáng kể trong quý 4/2008 và sự sụt giảm
đó đã xảy ra trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế nước này. Cụ thể là GDP
21

download by :


trong quý 4 đã giảm đi 16,4%, sau khi quý trước đó đã giảm đi 2,1%. Tính chung
cả năm, Singapore chỉ đạt mức tăng trưởng GDP là 1,1% mà thôi.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giảm xuống 5,4% trong quý 4/2008 và 2,9%
trong tháng 1/2009. CPI nằm trong xu hướng giảm xuống kể từ tháng 7/2008,
giảm dần từ mức cao nhất là 7,5% trong quý 2 so với cùng kỳ năm trước, xuống
6,6% trong quý 3 và 5,4% trong quý 4, phần lớn là do giá dầu trên thế giới giảm
mạnh. Lạm phát trong cả năm 2008 là 6,5% và trong tháng 1/2009 giảm sâu hơn
xuống còn 2,9%.
CPI trong nước dự báo nằm ở mức giữa -1% đến 0% trong năm 2009. Giá
cả dự kiến tăng đôi chút trong những tháng tới. CIP q 1/2009 tính ở mức trung
bình hàng quý có thể giảm từ mức đỉnh 0,8% tháng 1/2008 xuống -0,3% tháng
1/2009. Tình hình này phản ánh tình trạng giảm giá trên toàn cầu trong 6 tháng
cuối năm 2008.
Trong khi nền kinh tế suy giảm đi, tỷ lệ thất nghiệp nhìn chung tăng lên.
Tỷ lệ thất nghiệp đã được điều chỉnh theo mùa nằm ở mức 2,6% vào tháng
12/2008 từ mức 2,2% vào tháng 9/2008. Đối với người dân địa phương, tỷ lệ thất
nghiệp đã tăng trong 4 quý liên tiếp, và tăng từ mức 3,3% trong tháng 9/2008 lên
3,7% trong tháng 12/2008. Tính cả năm 2008, tỷ lệ thất nghiệp trong cả nước và

trong số người dân địa phương bình quân là 2,3% và 3,2% tương ứng, tăng từ
mức tương ứng của năm 2007 từ 21,% và 3%.Theo ước tính, 7.000 cơng nhân đã
bị mất việc trong q 4/2008, tăng lên đáng kể từ mức 2.300 trong quý 3/2008 và
2.000 trong quý 4/2007. Tính cả năm 2008, 13.400 công nhân đã bị mất việc, cao
hơn nhiều so với con số 7.700 trong năm 2007.
2.3.2.2.Chính sách tài khóa đối phó với suy thối kinh tế
Trong lĩnh vực tài khố, chính phủ đã ứng phó với những biến đổi đầy
thách thức đặt ra cho nền kinh tế Singapore. Trong bối cảnh môi trường lạm phát
cao trong ngân sách cuối năm ngối, chính phủ đã hỗ trợ trực tiếp nhằm giảm bớt
gánh nặng cho những người dân Singapore có thu nhập thấp có gặp khó khăn đối
phó với giá sinh hoạt tăng cao. Vào cuối năm, chính phủ đã chi bổ sung thêm
ngân sách hỗ trợ cho việc chăm nuôi bố mẹ già và cho các đôi nam nữ mới lập
gia đình cùng với việc phân bổ rộng rãi nguồn lợi có được từ tăng trưởng kinh tế
và truy lĩnh chi phí điện nước. Kết quả là trong bối cảnh đang diễn ra cuộc khủng
hoảng tài chính tồn cầu và thắt chặt tín dụng trong nước, chính phủ đã cơng bố
kế hoạch trọn gói trị giá 3,2 tỷ đơ la Mỹ đến cuối năm 2008 để nới rộng thêm
hoạt động tín dụng và giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước tiếp cận các khoản
vay dễ dàng hơn.
22

download by :


Trong bối cảnh môi trường kinh tế giảm đi nhanh chóng, việc cơng bố
ngân sách năm tài khố 2009 đã được thực hiện sớm hơn 1 tháng vào ngày 22/1
để đảm bảo thực hiện kịp thời các biện pháp tài khố thích hợp. “Kế hoạch trọn
gói linh hoạt” trị giá 20,5 tỷ đô la Mỹ, chiếm 8,2% GDP, đã được thực hiện để
tạo công ăn việc làm, giúp cho các doanh nghiệp có khả năng tồn tại chèo chống
với khó khăn và tăng cường năng lực dài hạn của cả nền kinh tế. Một trong
những cấu phần chính của kế hoạch này là “Chương trình tín dụng tạo cơng ăn

việc làm”, trong đó có việc cấp tiền cho khơng các chủ doanh nghiệp để giúp họ
bù đắp phần thiếu hụt trong quỹ lương. Chương trình “Sáng kiến chia sẻ rủi ro
đặc biệt” cũng đã được phát động nhằm khuyến khích các ngân hàng thúc đẩy
việc cho vay và để đảm bảo rằng số đơng các doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn
tín dụng để duy trì hoạt động kinh doanh. Hai chương trình này có giá trị 4,9 tỷ
đơ la Mỹ được lấy ra từ nguồn dự trước đây, và đây là lần đầu tiên nguồn dự trữ
đó được sử dụng. Chính phủ cũng trực tiếp trợ giúp cho các hộ gia đình thơng
qua các biện pháp như là tăng tín dụng mua nhà trả góp và tăng trợ cấp cho người
già và hoàn trả thuế thu nhập cá nhân và thuế bất động sản trong năm 2009.
Ngoài việc đáp ứng các nhu cầu ngắn hạn của nền kinh tế trong bối cảnh
suy giảm hiện nay, ngân sách nhà nước cũng bao gồm các biện pháp quan trọng
nhằm khắc phục những thách thức về cơ cấu và củng cố đất nước Singapore về
lâu về dài. Chẳng hạn như, mức thuế thu nhập doanh nghiệp được giảm từ 18%
xuống 17% kể từ năm tài khoá 2010 để tăng cường khả năng cạnh tranh và thu
hút đầu tư nhằm tạo thêm công ăn việc làm.
(Theo Ngân hàng nhà nước Việt Nam)

23

download by :


Nhờ chính sách tài khóa hiệu quả, Singapore đã thành cơng thốt khỏi cơn
khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 và phát triển nhanh chóng. Năm 2011,
GDP của nước này tăng 80 tỷ đô la so với năm 2009.
2.3.3. Chính sách tiền tệ
Khơng tránh khỏi tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu năm
2008, nhưng Singapore đã đạt được những thành tựu đáng kể nhờ vào nỗ lực
thực hiện những biện pháp trong chính sách tiền tệ của mình:
- Trước tiên, MAS tập trung vào việc duy trì sự lành mạnh và an tồn của

các định chế tài chính ở Singapore bằng việc tăng cường hoạt động thanh tra
giám sát các định chế tài chính một cách thường xuyên. Mục đích thứ nhất là để
MAS xác định xem các ngân hàng và các công ty bảo hiểm nhân thọ đứng vững
đến mức nào trong các tình huống khó khăn nghiêm trọng. Mục đích thứ hai là
nhằm tập trung đánh giá xem sự quan tâm của các định chế tài chính trong việc
quản lý rủi ro và duy trì sự vững mạnh của thanh khoản, thu nhập và nguồn vốn
để trở nên lành mạnh về tài chính trong quá trình suy giảm kinh tế.
- Thứ hai là thực hiện các biện pháp nhằm đảm bảo cho thị trường hoạt
động một cách nhịp nhàng. MAS đã đảm bảo với các định chế tài chính rằng các
định chế này có thể tiếp cận nguồn thanh khoản đô la Singapore và đô la Mỹ
bằng 3 kênh khác nhau. MAS đã duy trì được thanh khoản ở mức độ cao hơn
trong hệ thống ngân hàng. MAS đã lập ra “Thể thức thường trực” để cho phép tất
cả các ngân hàng được tiếp cận Hệ thống thanh toán điện tử của MAS, tạo điều
kiện cho các ngân hàng dùng các quỹ đô la Singapore để mua lại đồng đô la
Singapore từ MAS. Cuối cùng, MAS cũng đã ký thỏa thuận hoán đổi trị giá 30 tỷ
đô la Mỹ với Cục dự trữ liên bang Hoa kỳ, và thỏa thuận này được kéo dài đến
tận 1/2/2010.
- Thứ ba là triển khai các biện pháp để duy trì lịng tin của các nhà đầu
tư, trên cương vị Singapore là một trung tâm tài chính quốc tế. Ngày
16/10/2008 , Chính phủ Singapore đã cho cơng bố kế hoạch bảo đảm cho các
khoản tiền gửi của cá nhân và các khách hàng phi ngân hàng được cấp phép hoạt
động tại Singapore . Kế hoạch này nhằm mục đích đảm bảo duy trì một sân chơi
quốc tế bình đẳng cho mọi ngân hàng ở Singapore và thể hiện niềm tin của Chính
phủ vào tính lành mạnh và an tồn của hệ thống tài chính, đồng thời tạo ra tác
dụng duy trì lịng tin của các nhà đầu tư và những người gửi tiền vào hệ thống
ngân hàng của quốc gia này.

24

download by :



×