BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ KINH TẾ VĨ MÔ
Đề tài: Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010 đến 2021
Giảng viên hướng dẫn: Cơ Nguyễn Minh Thủy
Nhóm thực hiện: Nhóm 17 – KTE203.8
NHÓM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
BÁO CÁO VỀ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2010 ĐẾN 2021
1
NHÓM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một câu chuyện phát triển thành công Bước vào thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10
năm 2011 - 2020, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp hơn dự báo. Khủng hoảng nợ công diễn ra trầm
trọng hơn ở nhiều quốc gia, kinh tế thế giới phục hồi chậm hơn; rủi ro trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế
gia tăng; nhiều nước tăng cường bảo hộ thương mại trong những năm gần đây. Khoa học, công nghệ phát triển
nhanh, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và kinh tế số trở thành một trong những xu hướng phát triển chủ yếu
của thời đại. Vào năm cuối kỳ Chiến lược đã xảy ra đại dịch Covid-19 trên toàn cầu ảnh hưởng rất nghiêm
trọng, chưa từng có trong nhiều thập kỷ, kinh tế thế giới rơi vào tình trạng suy thối, hậu quả kéo dài nhiều
năm. Ở trong nước, những năm đầu thời kỳ Chiến lược, nền kinh tế tiềm ẩn nhiều rủi ro, lạm phát cao, nợ công
tăng nhanh, tỉ lệ nợ xấu cao; sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Tác động, ảnh hưởng từ bên ngoài tăng,
cạnh tranh ngày càng gay gắt, trong khi độ mở của nền kinh tế cao, sức chống chịu cịn hạn chế. Biến đổi khí
hậu, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp hơn. Đặc biệt trong năm 2020, đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng rất
nghiêm trọng đến hầu hết các ngành, lĩnh vực, các hoạt động kinh tế, xã hội bị ngưng trệ, đời sống nhân dân gặp
nhiều khó khăn.Trước tình hình đó, tồn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã chung sức, đồng lòng, nỗ lực vượt bậc,
quyết liệt, kịp thời, nhất là trong năm 2020 tập trung vừa phòng, chống dịch bệnh, vừa duy trì, phục hồi, phát
triển kinh tế - xã hội, vượt qua khó khăn, thách thức, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cộng đồng
doanh nghiệp và nhân dân cả nước, thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra và
đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực. Việt Nam cũng hướng tới mục
tiêu phát triển theo hướng xanh hơn, bao trùm hơn. Dân số đang già đi nhanh chóng, thương mại tồn cầu đang
suy giảm, trong khi đó suy thối mơi trường, các vấn đề biến đổi khí hậu và tự động hóa ngày gia tăng. Tiến
trình của các xu hướng này càng bị đẩy nhanh bởi đại dịch COVID-19. Theo cập nhật Báo cáo Chẩn đoán Quốc
gia mới nhất của Ngân hàng Thế giới, để vượt qua những thách thức này và đáp ứng các mục tiêu phát triển,
Việt Nam cần cải thiện đáng kể hiệu quả thực thi chính sách, đặc biệt trong các lĩnh vực tài chính, mơi trường,
chuyển đổi kỹ thuật số, giảm nghèo/anh sinh xã hội và cơ sở hạ tầng.
Nhằm làm rõ điều đó, nhóm 17 thực hiện Báo cáo về nền kinh tế nước Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2021.
Đây là giai đoạn mà nền kinh tế Thế giới có nhiều biến động cục bộ, kéo theo đó là sự ảnh hưởng đến các nền
kinh tế của hầu hết tất cả các quốc gia, và Việt Nam không phải là một ngoại lệ. Khoảng thời gian này cũng
chính là khoảng thay đổi sâu sắc nhất trong nền kinh tế nước ta trên mọi phương diện như: mức độ tăng trưởng
GDP, CPI, mức sống dân cư, lạm phát, các cán cân thương mại, các chính sách cụ thể được áp dụng nhằm điều
hịa nền kinh tế … Thơng qua việc tìm hiểu và trình bày về nền kinh tế trong giai đoạn từ 2010 đến 2021, nhóm
17 khơng chỉ thể hiện thực trạng, thành tựu, thách thức của nước nhà mà cịn trình bày những giải pháp thiết
yếu nhằm phát triển nền kinh tế, mở ra hướng đi cho Việt Nam trên con đường hội nhập kinh tế thế giới.
Tuy nhiên, trong q trình làm việc, nhóm 17 vẫn tồn tại những thiếu sót, khiếm khuyết và chúng em hi vọng sẽ
nhận được sự góp ý từ giảng viên hướng dẫn mơn cũng như từ mọi người! Nhóm 17 chúng em xin chân thành
cảm ơn!
Nhóm tác giả
2
NHÓM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
CHƯƠNG I: NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TỪ
NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2021
I.
GDP:
Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý luận về phát triển kinh tế, là mục tiêu hàng đầu của
tất cả các nước trên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của mỗi quốc gia. Tăng
trưởng kinh tế có vai trị vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia, là mối quan tâm nhiều nhất của chính phủ
các nước bởi vì tăng trưởng kinh tế là điều kiện vật chất để tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao thu
nhập của người dân, xóa đói giảm nghèo, …Do đó, nền kinh tế của mỗi quốc gia có tăng trưởng và phát triển
hợp lý hay không thường dựa vào chỉ số GDP để nhận định. Việt Nam cũng không nằm ngồi những khẳng
định đó, và theo đó, nhóm 17 đánh giá tình hình phát triển kinh tế qua GDP dưới các giai đoạn sau đây:
1. Năm 2010:
Kinh tế thế giới năm 2010 như một bức tranh đa sắc, với nhiều mảng mầu sáng tối trong thành cơng và khó
khăn, cũng như những trái ngược trong chính sách điều hành kinh tế của mỗi khu vực và nhóm nước. Tuy
nhiên, gam mầu chủ đạo bao trùm toàn cảnh vẫn là sự chuyển sáng dần, dù với tốc độ không đồng đều. Nếu
so với mức GDP toàn cầu năm 2009 giảm 0,6%, thì năm 2010, kinh tế thế giới đã thật sự hồi phục một cách
đầy ấn tượng.
Dưới cuộc khủng hoảng kinh tế Thế giới sau năm 2008, Việt Nam tuy khơng nằm ngồi phạm vi ảnh hưởng
nhưng cho đến năm 2010 vẫn tiếp tục có sự phục hồi nhanh chóng sau những tác động từ kinh tế tồn cầu:
Hình trên cho thấy có cải thiện tốc độ tăng GDP theo các quý trong năm 2010. Tốc độ tăng GDP quý I đạt
5,83%, quý II là 6,4%, quý III tăng lên 7,14% và dự đoán quý IV sẽ đạt 7,41%. Ước tính GDP cả năm 2010 có
thể tăng 6,7%, cao hơn nhiệm vụ kế hoạch (6,5%). Trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn phục hồi chậm chạp và
trong nước gặp phải nhiều khó khăn, kinh tế Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao như trên là
một thành công. Với kết quả này tốc độ tăng trưởng GDP cả giai đoạn 2006-2010 đạt bình quân 7%/năm và thu
3
NHĨM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
nhập quốc dân bình qn đầu người năm 2010 ước tính đạt 1.160 USD. Cơ cấu kim ngạch hàng hóa xuất khẩu
năm nay có sự thay đổi ở một số nhóm hàng so với năm trước, trong đó nhóm hàng cơng nghiệp nhẹ và tiểu thủ
cơng nghiệp tăng từ 42,8% lên 46%; nhóm hàng cơng nghiệp nặng và khống sản giảm từ 29,4% xuống 27,2%;
nhóm hàng thủy sản giảm từ 7,4% xuống 6,9%; vàng và các sản phẩm vàng giảm từ 4,6% xuống 4%.
Đánh giá nhóm: Đến năm 2010, Việt Nam đã có những bước phát triển đáng mong đợi sau tình hình khủng
hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, nhưng thực tế, chất lượng tăng trưởng khơng cao, thể hiện ở tính hiệu quả và
sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào phát triển chiều rộng, tăng khối
lượng nguồn lực, nhất là tăng vốn đầu tư, chưa thực sự dựa trên cơ sở năng suất lao động và nâng cao hiệu
quả. Điều này thể hiện rất rõ nét qua biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ: Tăng trưởng kinh tế thế giới, Mỹ, khu vực sử dụng đồng EURO, Nhật Bản, các nước đang phát triển ở
châu Á, và Việt Nam (10/2010)
2. Giai đoạn năm 2011 đến năm 2015:
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu từ năm 2008 đến nay đã trôi qua 6 năm nhưng kinh tế thế giới vẫn biến
động đầy bất ổn. Tăng trưởng kinh tế khó khăn, thất nghiệp tăng cao, hoạt động thương mại suy giảm, dịng vốn
có nhiều biến động, nợ cơng có xu hướng gia tăng mạnh, … là những hệ lụy vẫn tiếp tục kéo dài sang giai đoạn
mới và khiến kinh tế toàn cầu phải đối mặt với mn vàn khó khăn. Kinh tế thế giới sau khi bắt đầu lấy lại đà
tăng trưởng1 đạt mức 5,1% trong năm 2010 đã nhanh chóng giảm sâu xuống cịn 3,9% vào năm 2011. Đà sụt
giảm này tiếp tục kéo dài sang hai năm tiếp theo với mức tăng trưởng rơi xuống còn 3,2% trong 2 năm 2012 –
2013. Và tăng trưởng chỉ bắt đầu có dấu hiệu phục hồi trở lại với mức tăng nhẹ ước đạt khoảng 3,4% vào năm
2014, và dự báo đạt khoảng 3,9% vào năm 2015. Như vậy, có thể thấy tăng trưởng kinh tế tồn cầu hiện vẫn
đang ở mức thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng trung bình đạt xấp xỉ 5% giai đoạn trước khủng hoảng tài
chính tồn cầu.
Song song, cùng nền kinh tế Thế giới, ở giai đoạn này, kinh tế nước ta đang dần phục hồi đà tăng trưởng GDP:
Trong giai đoạn 2011 đến 2015, tình hình thiên tai, dịch bệnh và những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nặng nề
hơn dự báo, sự ảnh hưởng này cũng phần nào làm chậm chạp sự phục hồi và định hướng phát triển trong thời
4
NHĨM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
gian này. Khơng chỉ vậy, tình hình căng thẳng ở biển Đơng diễn biến phức tạp, đe dọa nghiêm trọng đến hịa
bình, ổn định của nước ta và khu vực. Khủng hoảng kinh tế ở nhiều nước, đặc biệt là có những nước là đối tác
của nước ta phục hối chậm (nổi bật là khủng hoảng nợ công ở các nước Châu Âu)
Nhưng nhờ sự nỗ lực cao của các cấp, các ngành và của cả hệ thống chính trị; sự đồng thuận, nhất trí của tồn
dân nên trong khó khăn nền kinh tế nước ta vẫn lấy lại được đà tăng trưởng với tốc độ tăng dần qua các năm.
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước năm 2010 theo giá so sánh 2010 đạt 6,42% giảm xuống chỉ còn tăng
6,24% trong năm 2011 và 5,25% trong năm 2012, nhưng năm 2013 đã tăng lên đạt 5,42%; năm 2014 đạt 5,98%
và sơ bộ năm 2015 đạt 6,68%. Tính ra, trong 5 năm 2011-2015, bình qn mỗi năm tổng sản phẩm trong nước
tăng 5,91%, đưa quy mô nền kinh tế nước ta năm 2015 gấp 1,33 lần năm 2010.
Biểu đồ: Diễn biến GDP Việt Nam giai đoạn từ 2011 đến 2015
Hậu quả của sự tăng trưởng kinh tế nhanh của nước ta trong thời kì trước đó cùng vưới chính sách tiền tệ và tài
khóa mở rộng đã khiến nền kinh tế Việt Nam gánh chịu nhiều ảnh hưởng sâu sắc, đặc biệt là sự tác động tới các
doanh nghiệp. Theo biểu đồ dưới đây, bước vào năm 2012 với tình hình kinh tế xã hội tiếp tục bị ảnh hưởng bởi
suy giảm kinh tế toàn cầu cũng như các chính sách thắt chặt nhằm ổn định lại nền kinh tế từ nửa sau năm 2011,
đến đây GDP tiếp tục hạ xuống ở mức 5.25% - mức tăng thấp nhất kể từ năm 2000. Tốc độ tăng trưởng của khu
vực nơng nghiệp và dịch vụ có hướng suy giảm đáng kể do chi phí đầu vào tăng mà mức tiêu thụ thấp ở cả hai
thị trường trong nước và quốc tế. Doanh nghiệp tư nhân trong nước bị ảnh hưởng bởi nhiều hạn chế trong tiếp
cận nguồn tài chính (do nhà nước thực hiện chính sách thắt chặt đột ngột và các khoản nợ xấu trong ngân hàng
của các doanh nghiệp đi tới mức báo động), thêm vào đó nhu cầu tiêu dùng trong nước lại suy giảm.
5
NHĨM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
Trước tình hình đó, nhà nước đã kịp thời đưa ra các chính sách tài khóa (miễn, giảm, hoặc gia hạn nộp thuế thu
nhập cho doanh nghiệp) và chính sách tiền tệ (giảm lãi suất, gỡ bỏ trần lãi suất dài hạn …) để khắc phục khó
khăn trong sản xuất, kinh doanh và tái cấu trúc ngân hàng thương mại. Mức tăng trưởng năm 2013 đã có dấu
hiệu phục hồi so với những năm trước cùng kỳ, và được duy trì ở độ hợp lý. Mặc dù nền kinh tế chưa thực sự
tồn tại sự ổn định nhưng những biến đổi tiêu cực toàn cầu đã ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước do thị
trường và nhu cầu hàng hóa và dịch vụ bị thu hẹp. GDP năm 2013 tăng lên so với 2012 dù khơng đáng kể
nhưng nó thể hiện ít nhiều sự phục hồi dần dần của nền kinh tế. (Do tốc độ tăng trưởng kinh tế có cao hơn tốc
độ gia tăng dân số nên GDP bình quân đầu người năm 2013 là 1907 USD/ người). Trong mức tăng 5,42% của
toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,67%, xấp xỉ mức tăng năm trước, đóng góp 0,48
điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,43%, thấp hơn mức tăng 5,75% của năm trước, khu
vực dịch vụ tăng 6,56%, cao hơn mức tăng 5,9% của năm 2012, đóng góp 2,85 điểm phần trăm.Như vậy mức
tăng trưởng năm nay chủ yếu do đóng góp của khu vực dịch vụ, trong đó một số ngành chiếm tỷ trọng lớn có
mức tăng khá là: Bán bn và bán lẻ tăng 6,52%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 9,91%; hoạt động tài chính,
ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,89%. Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, tuy mức tăng của ngành công
nghiệp không cao (5,35%) nhưng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng khá ở mức 7,44% (Năm 2012 tăng
5,80%) đã tác động đến mức tăng GDP chung. Đáng chú ý, sản xuất công nghiệp năm 2013 có dấu hiệu phục
hồi, nhất là ngành công nghiệp chế biến chế tạo với tỷ trọng lớn trong tồn ngành cơng nghiệp đã có sự chuyển
biến rõ nét qua các quý.
Trong ba năm đầu tiên của kế hoạch 5 năm 2011 – 2015, nhóm 17 rút ra được các điểm tích cực trên mặt
bằng chung của nền kinh tế Việt Nam:
Tốc độ tăng GDP nhóm ngành dịch vụ là cao nhất trong cả ba nhóm ngành, nguyên nhân đạt được kết
quả tích cực này là nhờ xuất khẩu tăng khá cao (động lực của tăng trưởng kinh tế), khá xa so với mục
tiêu đề ra
Nếu tăng trưởng kinh tế bình quân thời kỳ 2006 – 2010 cần nhiều vốn đầu tư thì từ 2011 đến 2013 cần ít
vốn đầu tư hơn. Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP bình quân thời kì 2006 – 2010 là 39,2% thì năm 2011 giảm còn
33,3%, năm 2012 còn 30,5% và năm 2013 ước tính cịn 29%. Thực tế cho thấy bình qn 3 năm này
thấp hơn nhiều so với tính tốn ban đầu
Tăng trưởng kinh tế đạt được khi tăng trưởng dư nợ tín dụng bình qn năm 2011 – 2013 thấp hơn
nhiều so với thời kì 2006 – 2010
6
NHÓM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
Tuy nhiên, trong các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế thì nâng cao hiệu quả đầu tư, nâng cao năng
suất lao động là yếu tố quyết định nhất, quan trọng hơn nhiều so với việc tăng vốn đầu tư, tăng số lượng lao
động. Mặc dù vậy, không thể giảm quá nhanh tỷ lệ vốn đầu tư/GDP, không thể không thu hút lực lượng lao
động, giảm thiểu số người thất nghiệp …
Năm 2014 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm sau suy thối tồn cầu nên kinh tế trong nước
chịu sức ép không nhỏ từ những bất ổn về kinh tế, chính trị của thị trường thế giới. Thêm vào đó, một trong
những yếu tố làm ảnh hưởng tới chúng ta là giá dầu mỏ trên thị trường thế giới giảm sâu trong những tháng cuối
năm 2014. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2014 ước tính tăng 5,98% so với năm 2013.Mức tăng trưởng
năm nay cao hơn mức tăng 5,25% của năm 2012 và mức tăng 5,42% của năm 2013 cho thấy dấu hiệu tích cực
của nền kinh tế. Trong mức tăng 5,98% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,49%,
cao hơn mức 2,64% của năm 2013, đóng góp 0,61 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp
và xây dựng tăng 7,14%, cao hơn nhiều mức tăng 5,43% của năm trước, đóng góp 2,75 điểm phần trăm; khu
vực dịch vụ tăng 5,96%, đóng góp 2,62 điểm phần trăm. Cơ cấu nền kinh tế năm nay tiếp tục theo hướng tích
cực. Khu vực nơng, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 18,12%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm
38,50%; khu vực dịch vụ chiếm 43,38% (Cơ cấu tương ứng của năm 2013 là: 18,38%; 38,31%; 43,31%). Xét
về góc độ sử dụng GDP năm 2014, tiêu dùng cuối cùng tăng 6,20% so với năm 2013, đóng góp 4,72 điểm phần
trăm vào mức tăng chung (Tiêu dùng cuối cùng của dân cư tăng 6,12%, cao hơn mức tăng 5,18% của năm
trước); tích lũy tài sản tăng 8,90%, đóng góp 2,90 điểm phần trăm.
Năm 2015 chứng kiến những sự kiện lớn về kinh tế đối ngoại của Việt Nam, như ký FTA Việt Nam-Liên minh
hải quan Nga-Belarus-Kazaxtan; kết thúc chính thức đàm phán FTA Việt Nam-Hàn Quốc, FTA Việt Nam EU và
TPP; hình thành AEC. Đến nay, Việt Nam đã mở rộng quan hệ thị trường thương mại tự do với 55 quốc gia và
nền kinh tế, trong đó có 15 quốc gia trong Nhóm G-20. Việt Nam cũng đã được 59 quốc gia cơng nhận có nền
kinh tế thị trường. Thị trường được mở rộng cũng góp phần nâng cao GDP tại Việt Nam. Nhìn chung, năm
2015, Việt Nam đã ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực về tăng trưởng GDP, kiểm sốt lạm phát, cải thiện mơi
trường đầu tư - kinh doanh và phát triển kinh tế đối ngoại trong bối cảnh có nhiều biến động phức tạp tồn cầu.
Điểm nhấn tích cực nổi bật là GDP năm 2015 ước tăng hơn 6,50%, với mức tăng quý sau cao hơn quý trước và
lần đầu tiên trong 5 năm qua vượt mức kế hoạch đặt ra (năm 2014, Việt Nam đạt kế hoạch tăng GDP, còn 3 năm
liên tiếp trước đó khơng đạt kế hoạch). Trong năm 2015, cơng nghiệp luôn là động lực mạnh cho nền kinh tế và
ghi nhận sự cải thiện ở hầu hết các chỉ số: So với cùng kỳ năm trước, Chỉ số sản xuất tồn ngành cơng nghiệp
11 tháng đầu tăng 9,7% (cao hơn nhiều mức tăng 7,5% cùng kỳ năm 2014); Chỉ số tiêu thụ tiếp tục tăng. Chỉ số
tồn kho thấp hơn cùng kỳ năm trước. Năm 2015 là năm không có nhiều thuận lợi với nơng nghiệp; nhiều mặt
hàng nơng sản chủ lực của Việt Nam bị giảm cả về sản lượng, kim ngạch xuất khẩu và giá cả, so với năm trước,
như thủy sản, gạo, cao su và cà phê… Mặc dù vậy, thị trường cuối năm 2015 ghi nhận sự cải thiện về giá và
tăng nhẹ đàn trâu, bò, lợn và gia cầm, cũng như hoạt động tái đàn, nhất là đàn bò sữa. GDP năm 2015 đạt
khoảng 204 tỷ USD, bình qn đầu người 2.228 USD (tính theo sức mua ngang giá là hơn 5.600 USD). Tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP chiếm 82,5%. Tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã
hội còn 45%. Chỉ số năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) giai đoạn 2011-2015 đạt bình quân 28,94%/năm.
Năng suất lao động tăng bình qn 3,8%/năm. Quy mơ thị trường chứng khốn tăng, mức vốn hóa thị trường cổ
phiếu đạt khoảng 33% GDP và thị trường trái phiếu đạt khoảng 23% vào cuối năm 2015.
�Đánh giá nhóm: Tốc độ tăng Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 5 năm đạt trên 5,9%/năm. Quy mô
và tiềm lực của nền kinh tế tiếp tục tăng lên; GDP năm 2015 đạt 193,4 tỉ USD, bình quân đầu người khoảng
2.109 USD. Sản xuất công nghiệp từng bước phục hồi; giá trị gia tăng ngành cơng nghiệp, xây dựng tăng bình
qn 6,9%/năm; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong cơ cấu công nghiệp tăng. Khu vực nông nghiệp cơ
bản phát triển ổn định, giá trị gia tăng tăng bình quân 3,0%/năm. Giá trị gia tăng khu vực dịch vụ tăng khá, bình
quân 6,3%/năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng bình quân 14,1%/năm (loại trừ
yếu tố giá tăng khoảng 5,6%). Chất lượng tăng trưởng nhiều mặt được nâng lên, đóng góp của khoa học, cơng
nghệ tăng; năng suất lao động tăng bình quân 4,2%/năm, cao hơn giai đoạn trước; vốn đầu tư được sử dụng hiệu
7
NHĨM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
quả hơn; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng giai đoạn 2011 - 2015 khoảng
29%.
Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của nền kinh tế nước ta trong 5 năm 2011-2015 tuy thấp hơn tốc độ
tăng trưởng bình quân của mỗi năm của giai đoạn 5 năm trước và khơng đạt mục tiêu đề ra là tăng bình
qn mỗi năm 6,5 – 7 % nhưng vẫn đứng vào hàng các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao của khu
vực và Thế giới.
3. Giai đoạn 2016 – 2020:
Bước vào thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020, bối cảnh khu vực và thế giới có
những yếu tố thuận lợi và khó khăn đan xen, diễn biến phức tạp hơn so với dự báo, tác động đến phát triển
kinh tế trong nước như: Xu hướng kinh tế thế giới phục hồi và phát triển; liên kết và tự do hoá thương mại vẫn
là xu thế chủ đạo nhưng đan xen yếu tố bảo hộ; phát triển khoa học và công nghệ tác động mạnh mẽ đến các
mặt kinh tế, văn hoá, xã hội; cạnh tranh địa chính trị, địa kinh tế đi đơi với căng thẳng thương mại giữa một số
nền kinh tế lớn; chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy; xung đột chính trị trong nội bộ và giữa
các quốc gia. Đặc biệt, vào năm cuối giai đoạn kế hoạch 5 năm 2016-2020, dịch Covid-19 lần đầu tiên xảy ra
trên toàn cầu ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới, kinh tế
toàn cầu rơi vào tình trạng suy thối, hậu quả kéo dài nhiều năm
a. Kinh tế tăng trưởng khá, từng bước chuyển dịch sang chiều sâu, quy mô kinh tế ngày càng mở rộng, đặc
biệt năm 2020 nền kinh tế vẫn đạt tăng trưởng dương dù bị ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19
Mặc dù tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2016 tăng 6,21%, thấp hơn tốc độ tăng của
năm 2015 (tăng 6,68%) do ảnh hưởng của tình trạng xâm nhập mặn nghiêm trọng tại các tỉnh vùng
Đồng bằng sông Cửu Long nhưng trong ba năm tiếp theo, nền kinh tế đã có sự bứt phá, tốc độ tăng GDP
năm sau cao hơn năm trước và vượt mục tiêu Quốc hội đề ra trong Nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội
hằng năm , trong đó tốc độ tăng GDP năm 2017 đạt 6,81%; năm 2018 tăng 7,08% và là mức tăng cao
nhất kể từ năm 2008; năm 2019 tăng 7,02%. Bình quân giai đoạn 2016-2019, tốc độ tăng GDP đạt
6,78%, cao hơn 0,87 điểm phần trăm so với mức tăng bình quân 5,91%/năm của giai đoạn 2011-2015,
đồng thời đạt mục tiêu tăng trưởng 6,5%-7%/năm của Kế hoạch 5 năm 2016-2020.
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2017 của cả nước ước tính tăng 6,81% so với 2016, vượt kế
hoạch 6,7% và là mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011-2016. Qua đó, đưa quy mơ nền kinh tế của
nước ta năm 2017 theo giá hiện hành đạt 5.007,9 nghìn tỷ đồng, tương ứng hơn 220 tỷ USD... Đặc biệt,
trong năm 2017, dù đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức trong và ngồi nước, đặc biệt tình hình
bão lũ, thiên tai, song tăng trưởng kinh tế vẫn đạt 6,81%, vượt mục tiêu Quốc hội đề ra (6,7%) và là mức
tăng cao nhất của giai đoạn 2011-2016. Kết quả này khá bất ngờ trong bối cảnh trước đó, nhiều chuyên
gia cho rằng mục tiêu tăng trưởng đề ra khá cao và khó có thể đạt được. Theo Tổng cục Thống kê, động
lực khiến GDP đạt mức tăng vượt kế hoạch 6,7% năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản với
mức tăng 2,90% đã góp 0,44 điểm phần trăm; Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8%, đóng góp
2,77 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ tăng 7,44%, đóng góp vào mức tăng chung là 2,87 điểm phần
trăm.
�GDP năm 2017 tăng lên đáng kể một phần nhờ có:
+ Vốn đầu tư nước ngồi đạt gần 36 tỷ USD, cao nhất trong vòng 10 năm qua
+ Lần đầu tiên, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chạm ngưỡng 400 tỷ USD, nền kinh tế ước tính xuất
siêu 2,7 tỷ USD
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước GDP cả năm 2018 tăng 7,08%, là mức tăng cao nhất kể từ năm
2008 trở về đây, khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của các giải pháp được Chính phủ ban hành, chỉ
đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương cùng nỗ lực thực hiện. Trong mức tăng chung của toàn
nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,76%, đóng góp 8,7% vào mức tăng trưởng
chung; khu vực cơng nghiệp và xây dựng tăng 8,85%, đóng góp 48,6%; khu vực dịch vụ tăng 7,03%,
đóng góp 42,7%. Quy mơ nền kinh tế năm 2018 theo giá hiện hành đạt 5.535,3 nghìn tỷ đồng; GDP bình
8
NHĨM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
qn đầu người ước tính đạt 58,5 triệu đồng, tương đương 2.587 USD, tăng 198 USD so với năm 2017.
Về cơ cấu nền kinh tế năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,57% GDP;
khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,28%; khu vực dịch vụ chiếm 41,17%; thuế sản phẩm trừ trợ
cấp sản phẩm chiếm 9,98% (Cơ cấu tương ứng của năm 2017 là: 15,34%; 33,40%; 41,26%; 10,0%).
Trên góc độ sử dụng GDP năm 2018, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,17% so với năm 2017; tích lũy tài sản
tăng 8,22%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 14,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 12,81%.
Riêng năm 2020, tăng trưởng kinh tế đạt 2,91%, tuy là mức tăng thấp nhất của các năm trong giai đoạn
2011-2020 nhưng trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực
kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới thì đây là thành công lớn của Việt Nam với mức tăng
trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới. Điều này cho thấy tính đúng đắn trong chỉ đạo, điều hành khơi
phục kinh tế, phòng chống dịch bệnh và sự quyết tâm, đồng lịng của tồn bộ hệ thống chính trị, Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự nỗ lực, cố gắng của người dân và cộng đồng doanh nghiệp để thực hiện
có hiệu quả mục tiêu “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế - xã hội”. Bình quân giai đoạn
2016-2020, tốc độ tăng GDP đạt 5,99%/năm, không đạt mục tiêu tăng trưởng theo kế hoạch đề ra (6,57%/năm). Một trong những yếu tố cho thấy sự tồn tại tăng trưởng kinh tế năm 2020 là tổng kim ngạch
xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2020 đạt 543,9 tỉ USD, tăng 5,1% so với năm trước, trong đó xuất khẩu
đạt 281,5 tỉ USD, nhập khẩu 262,4 tỉ USD. Điều này có nghĩa là trong năm qua, Việt Nam đã xuất siêu
19,1 tỉ USD, mức cao nhất trong 5 năm liên tiếp. Trong mức tăng chung của tồn nền kinh tế, khu vực
nơng, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,68%, đóng góp 13,5% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của
toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,98%, khu vực dịch vụ tăng 2,34%. Về sử
dụng GDP năm 2020, tiêu dùng cuối cùng tăng 1,06% so với năm 2019; tích lũy tài sản tăng 4,12%;
xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 4,97%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 3,33%.
9
NHĨM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
Mặc dù tốc độ tăng bình quân năm trong giai đoạn 2016-2020 không đạt mục tiêu đã đề ra, nhưng tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam được xếp vào hàng cao nhất so với các nước trong khu vực ASEAN. Bình quân
năm trong giai đoạn 2016-2019, tốc độ tăng GDP của Việt Nam đạt 6,78%, cao hơn tốc độ tăng của Xinga-po (2,44%); Thái Lan (3,42%); Ma-lai-xi-a (4,8%); Phi-li-pin (6,6%); In-đô-nê-xi-a (5,07%); chỉ thấp
hơn Cam-pu-chia (7,09%).
Quy mô nền kinh tế ngày càng được mở rộng. Theo giá hiện hành, GDP năm 2016 đạt 4.502,7 nghìn tỷ
đồng (tương đương 205,3 tỷ USD); năm 2018 đạt 5.542,3 nghìn tỷ đồng (tương đương 245,2 tỷ USD),
ước tính năm 2020 đạt 6.293,1 nghìn tỷ đồng (tương đương 271,2 tỷ USD), gấp 1,5 lần quy mô GDP
năm 2015. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn tốc độ tăng dân số nên GDP bình quân đầu người theo giá
hiện hành tăng từ 2.097 USD/người năm 2015 lên 2.202 USD/người năm 2016 (tăng 105 USD so với
năm trước); 2.373 USD/người năm 2017 (tăng 171 USD); 2.570 USD/người năm 2018 (tăng 197 USD);
2.714 USD/người năm 2019 (tăng 144 USD); ước tính năm 2020 đạt 2.779 USD/người, gấp 1,33 lần
mức GDP bình quân đầu người năm 2015. Tính theo sức mua tương đương năm 2017, GDP bình quân
đầu người năm 2019 đạt 8.041 USD/người, gấp 1,4 lần năm 2015. Tăng trưởng kinh tế dần dịch chuyển
sang chiều sâu, thể hiện ở mức đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng của
nền kinh tế tăng lên. Trong giai đoạn 2016-2020, đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế đạt bình
quân 45,72%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 32,84% của giai đoạn 2011-2015. Cùng với đó, chỉ
số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Hệ số ICOR) giảm từ 6,42 năm 2016 xuống 6,08 năm 2019. Bình quân
giai đoạn 2016-2019, hệ số ICOR đạt 6,13, thấp hơn so với hệ số 6,25 của giai đoạn 2011-2015.
b. Cơ cấu lại nền kinh tế đã có bước chuyển biến tích cực, thực chất hơn trong các ngành, lĩnh vực.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo xu hướng giảm tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản; tăng
tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng và ngành dịch vụ. Tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
trong GDP đã giảm từ 16,32% năm 2016 xuống 15,34% năm 2017, năm 2019 cịn 13,96% và ước tính năm
2020 là 14,85%4 ; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 32,72% năm 2016 lên 33,4% năm 2017;
34,49% năm 2019 và ước tính năm 2020 là 33,72%; khu vực dịch vụ tăng từ 40,92% năm 2016 lên 41,26%
năm 2017, 41,64% năm 2019 và ước tính năm 2020 là 41,63%. Sau 5 năm, tỷ trọng khu vực nông, lâm
nghiệp và thủy sản giảm 1,47 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 1 điểm phần trăm5 ;
khu vực dịch vụ tăng 0,71 điểm phần trăm. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế những năm gần đây không chỉ diễn ra
giữa các ngành kinh tế mà cịn có xu hướng chuyển đổi tích cực trong nội bộ ngành. Trong sản xuất nông
nghiệp, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ loại cây có giá trị thấp sang loại cây có giá trị cao hoặc ni
trồng thủy sản mang lại hiệu quả rõ rệt. Cơ cấu sản xuất được điều chỉnh theo hướng phát huy lợi thế của
mỗi địa phương và cả nước, gắn với nhu cầu thị trường. Một số nơng sản có sản lượng lớn, chủ lực đã khẳng
10
NHÓM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
định được vị thế và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, bảo đảm đứng vững trong hội nhập quốc tế.
Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu các ngành, sản phẩm có lợi thế và thị trường tiêu thụ như thủy sản (nhất là
tôm nước lợ), rau, hoa quả, các loại cây công nghiệp giá trị cao, đồ gỗ, lâm sản trong tổng kim ngạch xuất
khẩu hàng hóa ngày càng tăng. Lĩnh vực cơng nghiệp chuyển dịch theo hướng phát triển các ngành cơng
nghiệp có giá trị gia tăng cao và giá trị xuất khẩu lớn; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng dần qua
các năm. Bình qn giai đoạn 2016-2020, ngành cơng nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,24%/năm, chiếm tỷ
trọng 16,7% GDP năm 2020 và tăng 2,43 điểm phần trăm so với năm 2016; ngành khai khoáng giảm
3,75%/năm, chiếm 5,55% GDP và giảm 2,57 điểm phần trăm. Điều này cho thấy q trình chuyển dịch cơ
cấu ngành cơng nghiệp đã theo hướng tăng tỷ trọng các ngành chế biến, chế tạo, nhất là các ngành công
nghiệp chế biến sâu, đồng thời giảm tỷ trọng ngành khai khoáng để phát triển bền vững gắn kết với bảo vệ
môi trường. Khu vực dịch vụ được cơ cấu lại theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ, tập trung đầu tư cơ
sở vật chất và phát triển đa dạng các sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm có năng lực cạnh tranh. Trong đó, một
số ngành dịch vụ được hiện đại hóa, hình thành các sản phẩm dịch vụ chất lượng cao như dịch vụ y tế, bảo
hiểm đặc biệt trong bối cảnh dịch Covid-19. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
trong 5 năm qua liên tục tăng cao. Tính chung 5 năm 2016- 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu
dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành đạt 21.887 nghìn tỷ đồng, bình quân mỗi năm tăng 9,4%, bao gồm:
Bán lẻ hàng hóa đạt 16.664,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,1% tổng mức và bình quân mỗi năm tăng 10,7%;
dịch vụ lưu trú ăn uống đạt 2.559,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,7% và tăng 5%; du lịch lữ hành và dịch vụ khác
đạt 2.663,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,2% và tăng 5,7%. Hoạt động xuất nhập khẩu đạt nhiều kết quả quan
trọng, năm 2020 tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam ước đạt 545,4 tỷ USD, tăng 5,3%,
tương ứng tăng 27,4 tỷ USD về số tuyệt đối so với năm 2019. Tính chung giai đoạn 2016-2020, kim ngạch
xuất khẩu hàng hóa tăng bình qn 11,8%/năm; nhập khẩu hàng hóa tăng bình quân 9,6%/năm. Cơ cấu lao
động có sự dịch chuyển theo hướng tích cực. Tỷ trọng lao động nơng, lâm nghiệp và thủy sản trong tổng số
lao động cả nước giảm mạnh, từ 41,6% năm 2016 xuống còn 33,1% năm 2020, giảm 8,5 điểm phần trăm so
với năm 2016 (đạt mục tiêu đề ra cho giai đoạn 2016-2020, tỷ trọng dưới 40%). Lao động trong khu vực
công nghiệp và xây dựng tăng nhanh, năm 2016 chiếm 25,2% lao động cả nước, đến năm 2020 chiếm
30,8%, tăng 5,6 điểm phần trăm so với năm 2016 (đạt mục tiêu giai đoạn 2016-2020 chiếm khoảng 25%30%). Khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất từ 33,3% năm 2016 lên 36,1% trong năm 2020, tăng 2,9
điểm phần trăm. Bên cạnh đó, các cân đối lớn của nền kinh tế trong giai đoạn 2016-2020 được bảo đảm, góp
phần củng cố nền tảng vĩ mơ, tạo nguồn lực cho phát triển. Ước tính tổng thu ngân sách 5 năm 2016-2020
đạt 6.915 nghìn tỷ đồng, gấp 1,6 lần giai đoạn 2011-2015. Tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước so với GDP có
xu hướng giảm trong giai đoạn 2016-2020, tình hình cân đối ngân sách Trung ương và địa phương được
đảm bảo, bội chi ngân sách nhà nước được kiểm soát trong giới hạn. Độ mở của nền kinh tế tăng nhanh,
tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ so với GDP năm 2016 đạt 184,7%; năm 2020 ước đạt
209,3%. Điều này chứng tỏ Việt Nam đã tăng cường hội nhập, khai thác được thế mạnh của kinh tế trong
nước, tham gia sâu, rộng vào thị trường thế giới.
4. Năm2021:
Tại họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý IV năm 2021, Tổng cục Thống kê cho biết GDP
năm 2021 ước tính tăng 2,58%. Trong đó, q I tăng 4,72%, quý II tăng 6,73%, quý III giảm 6,02%; quý
IV tăng 5,22% so với năm trước. Trong mức tăng chung của tồn nền kinh tế, khu vực nơng, lâm nghiệp
và thủy sản tăng 2,9%, đóng góp 13,97% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu
vực cơng nghiệp và xây dựng tăng 4,05%, đóng góp 63,80%; khu vực dịch vụ tăng 1,22%, đóng góp
11
NHĨM 17
22,23%.
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
Cụ thể, trong khu vực nơng, lâm nghiệp và thủy sản, năng suất của phần lớn cây trồng đạt khá so với năm trước,
chăn nuôi tăng trưởng ổn định, kim ngạch xuất khẩu một số nông sản năm 2021 tăng cao góp phần duy trì nhịp
tăng trưởng của cả khu vực. Ngành nông nghiệp tăng 3,18%, đóng góp 0,29 điểm phần trăm vào tốc độ tăng
tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,88%,; ngành thủy sản tăng 1,73%.Trong
khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng của
toàn nền kinh tế với tốc độ tăng 6,37%, đóng góp 1,61 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm
của toàn nền kinh tế. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,24%. Ngành khai khoáng giảm 6,21% do sản
lượng dầu mỏ thô khai thác giảm 5,7% và khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 19,4% (đặc biệt trong năm 2021,
giá xăng dầu có sức tăng khá lớn). Ngành xây dựng tăng 0,63%.
Một năm dịch bệnh nặng nề đã tác động tới mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, vẫn có nhiều điểm
sáng giúp kinh tế Việt Nam phần nào phục hồi sau thời điểm khó khăn nhất của quý III. Xuất nhập khẩu là điểm
sáng nhất khi tổng kim ngạch đạt hơn 668 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước. Trong đó, xuất khẩu tăng
19%; nhập khẩu tăng 26,5% và cán cân thương mại quý IV đã đổi chiều từ nhập siêu sang xuất siêu, qua đó
giúp cán cân thương mại hàng hóa cả nước thặng dư khoảng 4 tỷ USD. Kết quả này tiếp tục đưa Việt Nam trở
thành quốc gia xuất siêu 6 năm liên tiếp.
Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp từ cuối tháng 4/2021 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động thương mại
và dịch vụ. Tăng trưởng âm của một số ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn đã làm giảm mức tăng chung của khu
vực dịch vụ và toàn bộ nền kinh tế. Riêng ngành y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt tốc độ tăng cao nhất trong
khu vực dịch vụ với mức tăng 42,75%. Bên cạnh đó, hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,42%,
đóng góp 0,52 điểm phần trăm; ngành thông tin và truyền thông tăng 5,97%. Về sử dụng GDP năm 2021, tiêu
dùng cuối cùng tăng 2,09% so với năm 2020; tích lũy tài sản tăng 3,96%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng
14,01%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 16,16%.
Đánh giá nhóm: Mức độ tăng trưởng GDP trong năm 2021 có những biến động mạnh do ảnh hưởng sâu sắc
của đại dịch Covid 19. Tuy nhiên, dù ở nửa đầu năm có chiều hướng tăng trưởng tích cực và ở quý IV cuối năm
đã có những dấu hiệu phát triển đi lên, nhưng rất khó để đảo chiều tổng mức tăng trưởng GDP bởi sự giảm
12
NHĨM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
q sâu của q III ở mức hơn 6%. Dù vậy, nhưng nhìn chung ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam vẫn là một
trong những quốc gia có GDP tăng trưởng ở mức khá. Trong diễn biến căng thẳng của đại dịch, và sự ảnh
hưởng to lớn đến nền kinh tế thị trường Việt Nam trên mọi phương diện nhưng mức tăng trưởng cuối cùng vẫn
ở mức dương.
II.
Mức sống:
1. Năm 2010:
Giá cả nhiều hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng tăng cao trong những tháng cuối năm cùng với thiên tai liên tiếp xảy ra
đã ảnh hưởng đến đời sống dân cư. Trong năm 2010, trên địa bàn cả nước có 796,2 nghìn lượt hộ thiếu đói với
3067,8 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói. Để giúp đỡ người dân khắc phục khó khăn do thiếu đói, các cấp, các
ngành và tổ chức đoàn thể từ trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói trên 42 nghìn tấn lương thực
và gần 64 tỷ đồng. Trong dịp Tết Nguyên đán Canh Dần, lãnh đạo Đảng và Nhà nước, chính quyền địa phương,
các cơ quan, đoàn thể và cá nhân đã hỗ trợ, thăm hỏi, động viên và tặng quà các hộ nghèo, người già cô đơn,
người tàn tật, trẻ mồ côi và các đối tượng chính sách xã hội với tổng trị giá gần 890 tỷ đồng.
Cùng với hoạt động trên, các ngành, các cấp và tổ chức đoàn thể đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó
chú trọng nâng cao hiệu quả các chương trình hỗ trợ cho nơng dân và hộ nghèo để phát triển sản xuất kinh doanh,
tăng thu nhập. Chương trình 135 giai đoạn 2006–2010 (Giai đoạn II) được thực hiện trên địa bàn 50 tỉnh với 369
huyện, 1958 xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an tồn khu và 3274 thơn bản đặc biệt của 1291 xã khu vực II
với số vốn ngân sách trung ương cấp 14 nghìn tỷ đồng. Đến nay Chương trình cơ bản kết thúc và đạt được những
kết quả quan trọng, góp phần phát triển kinh tế- xã hội và ổn định đời sống nhân dân các xã, thôn, bản đặc biệt
khó khăn vùng đồng bào dân tộc và vùng miền núi. Theo báo cáo sơ bộ, tổng vốn giải ngân của Chương trình 135
giai đoạn II đạt 97,1% tổng vốn đầu tư.
Cũng trong năm 2010, đã có 43,6 nghìn ngôi nhà được xây mới và sửa chữa dành cho các đối tượng và gia đình
chính sách; 1,9 triệu lượt học sinh, sinh viên của hơn 1,7 triệu lượt hộ gia đình được vay vốn hỗ trợ học tập.
Chính sách tín dụng ưu đãi cho sinh viên tăng từ 800 nghìn đồng/sinh viên/tháng lên 860 nghìn đồng/sinh
viên/tháng; mức lương tối thiểu tăng từ 650 nghìn đồng/tháng lên 730 nghìn đồng/tháng đã góp phần cải thiện
đời sống nhân dân. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 ước tính 10,6%, giảm so với mức 12,3% năm 2009.
2. Giai đoạn 2011 – 2015:
Nhận xét: Ở giai đoạn này, an sinh xã hội và mức sống dân cư được đảm bảo, nhiều lĩnh vực cuộc sống
được cải thiện một cách rõ rệt.
Theo kết quả Khảo sát mức sống hộ gia đình do Tổng cục Thống kê tiến hành hai năm một lần, thu nhập bình
quân 1 người 1 tháng theo giá hiện hành đã tăng từ 1387 nghìn đồng năm 2010 lên 2000 nghìn đồng năm 2012
và 2637 nghìn đồng năm 2014. Ước tính năm 2015 đạt 2850 nghìn đồng/người/tháng, gấp 2,06 lần so với năm
2010, đạt mục tiêu kế hoạch đề ra là gấp 2-2,5 lần. Chi tiêu bình quân 1 người 1 tháng vào các năm tương ứng
cũng tăng từ 1211 nghìn đồng lên 1603 nghìn đồng và 1888 nghìn đồng. Ngồi chi tiêu cho đời sống hằng ngày,
nhiều hộ gia đình cịn có tích lũy xây dựng nhà ở, mua sắm đồ dùng lâu bền và các tiện nghi sinh hoạt khác.
Diện tích nhà ở bình qn đầu người tăng từ 17,9 m2/người năm 2010 lên 19,4 m2/người năm 2012; 21,4
m2/người năm 2014 và ước tính năm 2015 hồn thành mục tiêu kế hoạch đề ra là diện tích nhà ở bình quân đầu
người chung cả nước đạt 22 m2, trong đó khu vực đô thị đạt 26 m2/người. Tỷ lệ hộ có đồ dùng lâu bền tăng từ
98,4% năm 2010 lên 99,4% năm 2012 và 99,7% năm 2014. Tương tự, tỷ lệ hộ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh
tăng từ 90,5% lên 91,0% và 93,0%; tỷ lệ hộ dùng điện cho sinh hoạt tăng từ 97,2% lên 97,6% và 98,3%; tỷ lệ
hộ có hố xí hợp vệ sinh tăng từ 75,7% lên 77,4% và 83,6%.
Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 12,6% năm 2011xuống11,1% năm 2012; 9,8% năm 2013; 8,4% năm 2014 và 7,0%
năm 2015, bình quân mỗi năm trong 5 năm 2011-2015tỷ lệ hộ nghèo giảm 1,44 điểm phần trăm.
Bảng: Tỷ lệ hộ nghèo 2011 – 2015 phân theo vùng
13
NHĨM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
Đơn vị tính: %
KTE203.8
2011 2012 2013 2014 2015
12.6 11.1 9.8
8.4
7.0
7.1
6.0
4.6
4.0
3.2
CẢ NƯỚC
ĐB sông Hồng
Trung du và miền núi Bắc Bộ
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung
Tây Ngun
Đơng Nam Bộ
ĐB sơng Cửu Long
26.7
18.5
20.3
1.7
11.6
23.8
16.1
17.8
1.3
10.1
21.9
14.0
16.2
1.1
9.2
18.4
11.8
13.8
1.0
7.9
16.0
9.8
11.3
0.7
6.5
Hệ thống chính sách trợ giúp xã hội tiếp tục được bổ sung hoàn thiện, đã và đang phát huy tác dụng tích cực
trong việc thực hiện mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ người nghèo. Theo Báo
cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, trong 5 năm 2011-2015, ngân sách Nhà nước đã chi 60 nghìn tỷ
đồng hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách; 35 nghìn tỷ đồng hỗ trợ điều kiện học tập cho
trên 10 triệu lượt học sinh nghèo, học sinh là người dân tộc thiểu số; 5 nghìn tỷ đồng hỗ trợ 350 nghìn lao động
nghèo học nghề miễn phí; hỗ trợ tiền điện cho 11 triệu lượt hộ nghèo với số tiền trên 3500 tỷ đồng
Người có cơng với cách mạng được mở rộng đối tượng thụ hưởng và nâng mức hỗ trợ. Trong 5 năm 2011-2015,
Quỹ đền ơn đáp nghĩa đã huy động được 1433 tỷ đồng, góp phần xây mới 63,5 nghìn ngơi nhà tình nghĩa và
nâng cấp 44,6 nghìn ngơi nhà tình nghĩa khác. Mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có cơng năm 2015 đã tăng
71,2% so với năm 2010. Đến cuối năm 2015 có 98,5% hộ gia đình chính sách, người cócơng có mức sống bằng
hoặc cao hơn mức sống trung bình của hộ dân cư trên địa bàn cư trú; 98% số xã, phường được công nhận làm
tốt công tác thương binh, liệt sĩ và người có cơng.Các đối tượng là người khuyết tật, tâm thần, người cô đơn, trẻ
em bị bỏ rơi và các đối tượng khác được các cấp, các ngành và toàn xã hội quan tâm chăm sóc. Tại thời điểm
30/6/2015 cả nước có 402 cơ sở trợ giúp xã hội, trong đó 213 cơ sở cơng lập và 189 cơ sở ngồi công lập. Các
cơ sở này thường xuyên nuôi dưỡng khoảng 42 nghìn đốitượng. Tính chung, đến 31/12/2015 cả nước có 2,7
triệu người hưởng trợ cấp xã hội, gấp trên 2 lần so với 31/12/2010.
3. Giai đoạn 2016 – 2020:
Trong giai đoạn 2016-2019, cơ cấu thu nhập theo nguồn thu tiếp tục theo hướng tăng dần tỷ trọng thu nhập từ
tiền lương, tiền công (từ 46,7% lên 54,7%), giảm dần tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động nông, lâm nghiệp và
thủy sản (từ 16,6% xuống 11,8%). Tốc độ tăng thu nhập từ tiền lương, tiền cơng bình qn giai đoạn này đạt
17,5%/năm, cao hơn tốc độ tăng thu nhập từ hoạt động phi nông, lâm nghiệp và thủy sản (10,3%/năm); các hoạt
động nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 0,3%/năm. Chênh lệch về thu nhập giữa nhóm 20% số hộ có thu nhập
bình qn đầu người cao nhất so với nhóm 20% số hộ có thu nhập bình qn đầu người thấp nhất có xu hướng
tăng lên trong những năm qua nhưng thay đổi không nhiều, từ 9,7 lần năm 2014 lên 9,8 lần năm 2016, 10 lần
năm 2018 và 10,2 lần năm 2019.
Bảng: Chênh lệch thu nhập bình quân đầu người 1 tháng giữa các nhóm hộ dân cư những năm 2016 – 2019
Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng (nghìn
đồng)
Nhóm thu nhập thấp Nhóm thu nhập cao
nhất
nhất
2016 771
7547
2018 932
9320
2019 988
10103
14
Nhóm thu nhập cao nhất so với nhóm thu nhập
nhất (lần)
9.8
10.0
10.2
NHĨM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
Thu nhập bình qn đầu người tăng nhưng khơng đồng đều, sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập vẫn còn
tồn tại rõ ràng và dễ nhận thấy. Năm 2016 thu nhập bình quân đầu người ở khu vực thành thị là 4,6 triệu
đồng/người/tháng trong khi khu vực nông thôn là 2,4 triệu đồng/người/tháng.
Về chi tiêu, tính chung cả nước, chi tiêu theo giá hiện hành bình quân đầu người 1 tháng năm 2018 đạt 2.546
nghìn đồng, tăng 18% so với năm 2016, bình quân mỗi năm tăng 8,6%, trong đó chi tiêu bình qn đầu người 1
tháng ở khu vực nông thôn đạt 2.069 nghìn đồng, tăng 19,3%; khu vực thành thị đạt 3.496 nghìn đồng, tăng
14,3%. Tốc độ tăng chi tiêu thực tế bình quân đầu người (chi tiêu sau khi loại trừ yếu tố tăng giá) thời kỳ 20162018 tăng 5,2%/năm, cao hơn so với tốc độ tăng 4,3%/năm của thời kỳ 2014-2016. Cơ cấu chi tiêu theo chi đời
sống và chi khác khơng có sự thay đổi đáng kể. Tỷ trọng chi tiêu cho đời sống trong chi tiêu bình quân đầu
người một tháng năm 2018 chiếm 93%, chi tiêu khác chiếm 7% (Hai tỷ trọng tương ứng của năm 2014 là 93,4%
và 6,6%, 2016 là 93,5% và 6,5%). Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh năm 2019 là 96,3%, trong
đó thành thị 99,4%, nơng thơn 94,7%, vùng có tỷ lệ hộ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh thấp nhất là Trung du
và miền núi phía Bắc 87,8%, hai vùng 155 có tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh cao nhất là
vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ có cùng tỷ lệ 99,8%. Năm 2018, tỷ lệ hộ dùng điện sinh hoạt (chỉ
tính số hộ sử dụng điện lưới) đạt 99%, trong đó thành thị đạt 99,9%; nơng thơn 98,6%; tỷ lệ hộ có đồ dùng lâu
bền đạt 99,8%, trong đó thành thị đạt 99,9%; nơng thơn đạt 99,8%. Diện tích nhà ở bình qn đầu người của cả
nước năm 2018 đạt 23,8m2 /người, tăng 1,6m2 so với năm 2016, trong đó khu vực thành thị là 26,2m2 /người;
nơng thơn là 22,6m2 /người.
Thu nhập bình qn của người nghèo tăng 1,6 lần trong giai đoạn 2016- 2020. Người nghèo có khả năng lao
động được hỗ trợ sinh kế, phát triển sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt phù hợp với nhu cầu, đời sống vật chất và
tinh thần được cải thiện, nâng lên rõ rệt.
4. Năm 2021:
Kinh tế vĩ mơ ổn định, lạm phát được kiểm sốt, các cân đối lớn của nền kinh tế tiếp tục được đảm bảo; hoạt
động sản xuất, kinh doanh vẫn được duy trì trong bối cảnh chịu tác động mạnh từ dịch bệnh. Sản xuất nông
nghiệp cơ bản ổn định. Chuyển đổi số, ứng dụng cơng nghệ thơng tin, nhất là trong phịng, chống kiểm soát
dịch bệnh được đẩy mạnh. Cải cách thể chế tiếp tục được quan tâm, quyết liệt tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, xử
lý quy định pháp luật cịn chồng chéo, không phù hợp với thực tiễn. Đẩy mạnh cải cách tư pháp; cải cách thủ
tục hành chính, sắp xếp lại bộ máy cơ quan, đơn vị hành chính, sự nghiệp và cung ứng dịch vụ công. Các lĩnh
vực văn hóa, xã hội tiếp tục được quan tâm, tăng cường.
Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn tồn tại một số khó khăn, hạn chế do diễn biến dịch bệnh kéo dài của
dịch bệnh ảnh hưởng không nhỏ đến mọi mặt của nền kinh tế, khiến sản xuất, lưu thơng hàng hóa, xuất khẩu bị
đình trệ, đứt gãy, sức mua trong nước giảm sút. Đời sống của người dân, người lao động cịn nhiều khó khăn,
nhất là tại khu vực thành thị bị tác động nặng nề như hoạt động sản xuất, kinh doanh bị đình trệ, suy giảm; kinh
tế vĩ mô đối mặt với một số rủi ro, thách thức; tình hình doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn; việc làm, sinh kế,
đời sống Nhân dân, nhất là người lao động tại khu vực thành thị bị ảnh hưởng.
Thu nhập bình quân tháng của lao động quý III năm 2021 là 5,2 triệu đồng, giảm 877 nghìn đồng so với quý
trước và giảm 603 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước. Thu nhập bình quân tháng của lao động nam cao hơn
lao động nữ 1,40 lần (6,0 triệu đồng so với 4,3 triệu đồng); thu nhập bình quân của lao động ở khu vực thành thị
cao hơn lao động ở khu vực nông thôn 1,35 lần (6,2 triệu đồng so với 4,6 triệu đồng). Diễn biến phức tạp của
dịch Covid-19 đã tác động nghiêm trọng đến đời sống của người lao động. Thu nhập bình quân của người lao
động Quý III năm 2021 thấp hơn đáng kể so với Quý II năm 2020 (5,2 triệu đồng so với 5,5 triệu đồng), trong
khi Quý II năm 2020 đã ghi nhận thu nhập bình quân của người lao động là mức thấp nhất trong vòng 10 năm
trở lại đây.
Quý III năm 2021, hầu hết các ngành kinh tế đều ghi nhận mức sụt giảm thu nhập bình quân của người lao động
so với quý trước. Người lao động làm việc trong khu vực dịch vụ bị ảnh hưởng thu nhập nặng nề nhất với mức
15
NHĨM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
thu nhập bình qn tháng là 6,2 triệu đồng, giảm 1,0 triệu đồng, tương ứng giảm 14,3% so với quý trước; lao
động khu vực công nghiệp và xây dựng có mức thu nhập bình qn là 5,8 triệu đồng, giảm 906 nghìn đồng,
tương ứng giảm 13,5% so với quý trước. Những diễn biến khó lường của dịch Covid-19 lần thứ tư đã tác động
tới khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. Đây là khu vực có nhiều yếu tố khởi sắc và ghi nhận tốc độ tăng
trưởng ổn định về thu nhập bình quân người lao động tương trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, đến quý III
năm 2021 thu nhập bình quân của người lao động chỉ là 3,4 triệu đồng, giảm 340 nghìn đồng, tương ứng giảm
9,2% so với quý trước. Thu nhập bình quân của người lao động trong một số ngành kinh tế vốn đã chịu tác động
từ các đợt dịch Covid-19 lần trước, quý III năm 2021 tiếp tục gặp nhiều khó khăn hơn với mức thu nhập bình
qn giảm sâu so với quý trước. Trong đó, lao động ngành vận tải, kho bãi có thu nhập bình qn giảm 20,3%,
tương ứng giảm 1,6 triệu đồng; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống có thu nhập bình qn giảm 21,2%, tương ứng
giảm 1,2 triệu đồng so với quý trước. Thu nhập bình qn của lao động làm cơng ăn lương quý III năm 2021 là
6,0 triệu đồng, giảm 795 nghìn đồng so với quý trước và giảm 525 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước. Thu
nhập bình quân của lao động nam làm công hưởng lương cao hơn lao động nữ 1,16 lần (tương ứng 6,4 triệu
đồng so với 5,5 triệu đồng); thu nhập bình quân của lao động ở khu vực thành thị cao hơn 1,20 lần so với thu
nhập của lao động ở nông thôn (tương ứng 6,6 triệu đồng so với 5,5 triệu đồng).
III.
CPI, lạm phát:
Năm 2010:
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2010 tăng 1,98% so với tháng trước, mức tăng cao nhất các tháng trong năm
nay. Trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có chỉ số giá tiếp tục tăng và
tăng cao nhất với mức 3,31% so với tháng trước (Lương thực tăng 4,67%; thực phẩm tăng 3,28%); tiếp đến
là nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,53%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,81%; đồ uống và thuốc
lá tăng 1,3%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng thấp hơn, ở mức dưới 1% gồm: Thiết bị và
đồ dùng gia đình tăng 0,86%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,51%; giao thơng tăng 0,45%; thuốc và dịch
vụ y tế tăng 0,41%; giáo dục tăng 0,07%. Riêng nhóm bưu chính viễn thơng có chỉ số giá giảm 0,02%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2010 so với tháng 12/2009 tăng 11,75%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm
2010 tăng 9,19% so với bình quân năm 2009.
Biểu đồ CPI qua các tháng trong năm 2010 so với năm 2009
Các yếu tố tác động đến lạm phát xuất phát từ 3 nguyên nhân chính: cung tiền tăng quá mức, giá hàng
hóa thế giới tăng cao đột ngột, và sức cầu về hàng hóa trong nước tăng trong khi sản xuất chưa đáp ứng
kịp trong đó cung tiền được xem là nguyên nhân chính gây ra lạm phát ở Việt Nam
16
NHÓM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
Ngân hàng trung ương đã dùng những chính sách tiền tệ thắt chặt nhưng dường như chưa có nhiều hiệu
quả trong việc kìm giữ giá tiêu dùng. Thực tế chúng ta dễ nhận thấy là lạm phát ở Việt Nam(11,75%)
cao hơn rất nhiều so với các quốc gia khác trong cùng thời kỳ, cụ thể như với các nước trong khu vực
ASEAN( tăng từ quý III/2009 đến quý IV/2010, từ 0,4% lên 5,3% ), mặc dù cùng chịu chung cú sốc tăng
giá của hàng hóa thế giới.
Giai đoạn 2011-2015:
Cuối năm 2008, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu ảnh hưởng tới Việt Nam và kéo lạm
phát về mức 7% trong năm 2009. Tuy nhiên, đợt lạm phát hai con số thứ 2 lại bắt đầu từ tháng 9
năm 2010, 42 trước cả khi tác động của khủng hoảng giảm xuống. Đợt lạm phát cao này kéo dài 13
tháng đến tháng 10 năm 2011 khiến cho lạm phát lên đến 11,75% trong năm 2010 và 18,13% trong
năm 2011. Trước tình hình lạm phát như trên, ngày 24 tháng 02 năm 2011 Chính phủ đã ban hành
Nghị quyết số 11/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế
vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội với nhiều giải pháp quan trọng.
Triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ các Nghị quyết và giải pháp kiềm chế và kiểm soát lạm
phát, kinh tế nước ta đã từng bước được cải thiện và tương đối ổn định, tỷ lệ lạm phát liên tục giảm.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 so với cùng kỳ năm trước đã giảm từ 2 con số năm 2011 (18,13%)
xuống mức 1 con số (6,81% năm 2012; 6,04% năm 2013; 1,84% năm 2014 và 0,60% năm 2015).
Lạm phát cơ bản giảm từ 13,62% năm 2011 xuống 8,19% năm 2012; 4,77% năm 2013; 3,31% năm
2014 và 2,05% năm 2015.
17
NHÓM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
Giai đoạn 2016-2020:
KTE203.8
Giai đoạn 5 năm 2016-2020, tình hình giá cả Việt Nam có nhiều biến động và chịu ảnh hưởng
tiêu cực của các nhân tố như: căng thẳng thương mại Mỹ - Trung gia tăng, dịch Covid-19 diễn biến
phức tạp tại nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các mặt hàng quan trọng, thiết yếu như dịch vụ y tế, dịch vụ giáo
dục, xăng dầu, điện… được thực hiện điều chỉnh tiệm cận dần theo giá thị trường, phù hợp trong
từng giai đoạn, nhờ đó cơng tác quản lý điều hành giá, kiểm soát lạm phát của Chính phủ đã đạt
được những thành cơng đáng kể, chỉ tiêu CPI thực hiện đều thấp hơn kế hoạch. Bình quân năm giai
đoạn 2016-2020 CPI tăng 3,15%, thấp hơn mức tăng 7,65%/năm của giai đoạn 2011-2015.
Năm 2016, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 tăng 4,74% so với tháng 12/2015, đạt mục tiêu
dưới 5% Quốc hội đề ra. CPI bình quân năm 2016 tăng 2,66% so với bình quân năm 2015, bình
quân mỗi tháng CPI tăng 0,39%. Năm 2017, CPI bình quân tăng 3,53% so với năm 2016 và tăng
2,6% so với tháng 12 năm 2016, thấp hơn mục tiêu 4% Quốc hội đề ra. Trong 2 năm 2016 và 2017
lạm phát tăng chủ yếu do Chính phủ điều hành giá dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục và tăng mức lương
tối thiểu vùng áp dụng cho người lao động ở các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc tăng giá điện sinh
hoạt và những ảnh hưởng của thiên tai cũng tác động không nhỏ đến tỷ lệ lạm phát Việt Nam năm
2016-2017. Lạm phát cơ bản giảm từ 1,83% năm 2016 xuống 1,41% năm 2017.
Năm 2018 tiếp tục là năm thành cơng trong việc kiểm sốt lạm phát, CPI bình quân năm 2018
tăng 3,54% so với năm 2017, đạt chỉ tiêu Quốc hội đề ra; CPI tháng 12/2018 tăng 2,98% so với
tháng 12 năm 2017, bình quân mỗi tháng tăng 0,25%. Mục tiêu kiểm soát lạm phát, giữ CPI bình
quân năm 2018 dưới 4% đạt được nhờ sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, sự phối hợp
chặt chẽ giữa các Bộ, ngành trong việc xây dựng và đề xuất các kịch bản điều hành giá. CPI bình
quân năm 2019 tăng 2,79% so với năm 2018, là mức tăng bình quân năm thấp nhất trong 3 năm liên
tiếp; CPI tháng 12/2019 tăng 5,23% so với tháng 12/2018. CPI năm 2019 tăng chủ yếu do giá điện
sinh hoạt điều chỉnh tăng, nhu cầu tiêu dùng điện cao vào dịp Tết và thời tiết nắng nóng trong quý II
và quý III/2019; các địa phương điều chỉnh tăng giá dịch vụ giáo dục theo lộ trình và giá dịch vụ y
tế, dịch vụ khám chữa bệnh. Lạm phát cơ bản bình quân tăng từ 1,48% năm 2018 lên 2,01% năm
2019.
Bước sang năm 2020, CPI bình quân tăng 3,23% so với năm trước, chủ yếu do giá các mặt hàng thực
phẩm tăng 12,28% so với năm trước (làm CPI chung tăng 2,61 điểm phần trăm), trong đó riêng giá thịt lợn tăng
57,23% (làm CPI chung tăng 1,94 điểm phần trăm); bên cạnh đó, ảnh hưởng của dịch Covid-19 cũng khiến giá
một số mặt hàng y tế tăng cao và tại một số thời điểm, một bộ phận người dân tập trung đi mua hàng dự trữ nhu
yếu phẩm nên có những tác động nhất định đến tâm lý chung tồn xã hội. Nhìn chung, mặt bằng giá năm 2020
tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước, ngay từ tháng Một đã tăng 6,43%, ảnh hưởng đến công tác quản lý,
điều hành giá của năm 2020, dẫn đến việc kiểm 60 soát lạm phát theo mục tiêu dưới 4% Quốc hội đặt ra gặp
nhiều khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo, điều hành sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
sự phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương, mức tăng của CPI được kiểm sốt dần qua từng tháng, đến cuối
năm 2020, CPI bình quân đạt mức tăng 3,23%, đạt mục tiêu Quốc hội. Lạm phát cơ bản bình quân năm 2020
tăng 2,31% so với bình quân năm 2019
18
NHÓM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
Năm 2021 (6 tháng đầu năm):
Giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào tăng theo giá thế giới; giá điện, nước sinh hoạt tăng theo nhu
cầu tiêu dùng là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2021 tăng 0,19%
so với tháng trước, tăng 1,62% so với tháng 12/2020 và tăng 2,41% so với tháng 6/2020. Bình quân
6 tháng đầu năm 2021, CPI tăng 1,47% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất kể từ năm
2016; lạm phát cơ bản 6 tháng tăng 0,87%.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2021 tăng 0,19% so với tháng trước, tăng 1,62% so với tháng
12/2020 và tăng 2,41% so với cùng kỳ năm 2020. CPI bình quân quý II tăng 0,45% so với quý trước
và tăng 2,67% so với cùng kỳ năm 2020. CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2021 tăng 1,47% so với
bình quân cùng kỳ năm 2020.
Lạm phát cơ bản tháng 6/2021 tăng 0,07% so với tháng trước và tăng 1,14% so với cùng kỳ năm
trước. Lạm phát cơ bản bình quân 6 tháng đầu năm 2021 tăng 0,87% so với bình quân cùng kỳ năm
2020.
Bình quân 6 tháng đầu năm 2021, CPI tăng 1,47% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất
kể từ năm 2016. CPI bình quân quý II tăng 0,45% so với quý trước và tăng 2,67% so với cùng kỳ
năm 2020. Lạm phát cơ bản tháng 6/2021 tăng 0,07% so với tháng trước và tăng 1,14% so với
19
NHÓM 17
IV.
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 6 tháng đầu năm 2021 tăng 0,87% so với bình
quân cùng kỳ năm 2020.
Thất nghiệp:
Năm 2006-2010:
Cơ cấu lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các khu vực kinh tế có sự chuyển dịch đáng kể và theo
hướng tích cực từ năm 2006 đến 2010, trong đó cơ cấu lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ
55,4% năm 2006 xuống 48,2% năm 2010; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 19,3% lên 22,4%; khu vực
dịch vụ tăng từ 25,3% lên 29,4%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi khu vực thành thị giảm từ 4,82%
năm 2006 xuống 4,43% năm 2010.
Bên cạnh tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi, tỷ lệ thiếu việc làm năm 2010 của lao động trong độ tuổi
là 4,5%; trong đó khu vực thành thị là 2,04%, khu vực nông thôn là 5,47%.
Theo Tổng cục Thống kê, năm 2010, lực lượng lao động trong độ tuổi từ 15 trở lên là hơn 50,5 triệu người, tăng
2,68% so với năm 2009, trong đó lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là hơn 46,2 triệu người, tăng
2,12%.
Năm 2010, tỷ lệ dân số cả nước 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động tăng từ 76,5% năm 2009 lên 77,3%.
Tỷ lệ lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 51,9% năm 2009 xuống 48,2% năm 2010; khu
vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 21,6% lên 22,4%; khu vực dịch vụ tăng từ 26,5% lên 29,4%.
Năm 2011-2015
Thất nghiệp là một trong bốn yếu tố quan trọng nhất của một quốc gia (tăng trưởng cao, lạm phát thấp, thất
nghiệp ít và cán cân thanh tốn có số dư). Giảm thiểu thất nghiệp, duy trì ổn định và phát triển kinh tế đó cũng
là một trong những mục tiêu kinh tế mà chính phủ nước ta đề ra. Trong năm năm gần đây, tốc độ tăng trưởng
kinh tế của Việt Nam luôn giữ ở mức khá cao và ổn định : Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm
2015 ước tính tăng 6,28% (so với cùng kỳ năm 2014 là 5,22% và năm 2013 là 4,90%). Từ điều đó đã củng cố
địa vị của Việt Nam là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực Châu Á – Thái Bình
Dương. Tuy nhiên, bên cạnh sự phục hồi và phát triển kinh tế thì Việt Nam cũng gặp khơng ít khó khăn, đặc biệt
là vấn đề thất nghiệp và giải quyết việc làm. Theo Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận : “Mặc dù
trong giai đoạn 2010-2014, số lao động có trình độ ĐH, CĐ có việc làm tăng nhưng người thất nghiệp cũng
tăng cao hơn so với số tốt nghiệp và số có việc làm. Trong khi người có việc làm chỉ tăng 38% thì người thất
nghiệp tăng gấp đơi trong nhóm lao động này”. Thật vậy, mặc dù tỷ lệ thất nghiệp của nước ta qua các năm có
nhiều biến động, tuy nhiên có giảm thì cũng chỉ giảm ít và hiện nay lại đang có xu hướng tăng trở lại (Tỷ lệ thất
nghiệp năm 2012 là 1,8%, giảm 0,5% so với năm 2011. Năm 2013, 2014, 2015 có tỷ lệ thất nghiệp lần lượt là
2,77%, 2,08%, 2,31% - đều tăng lên rất nhiều so với năm 2012). Qua phân tích từ nhiều khía cạnh đã cho thấy
nguyên nhân khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng cao chủ yếu do nguồn lao động chưa đảm bảo về chất lượng và tình
trạng mất cân đối cung – cầu lao động cục bộ vẫn thường xuyên xảy ra làm cho tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, gây
sức ép cho vấn đề giải quyết việc làm.
Năm
2011 2012 201
3
2014 2015
Tỉ lệ thất nghiệp (%)
2,27
1,8
2,77
2,08
2,31
Tỉ lệ thiếu viêc làm
(%)
3,96
2,74
2,75
2,35
1,82
Bảng thống kê tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm từ năm 2011 đến năm 2015
Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam năm 2011
Tỷ lệ thất nghiệp năm 2011 đã giảm xuống 2,27%, từ mức 2,88% năm 2010, thấp nhất trong 4 năm gần đây.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2011 là 51,39 triệu người, tăng 1,97% so với năm 2010. Lực lượng
20
NHÓM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
lao động trong độ tuổi lao động là 46,48 triệu người, tăng 0,12%. Tỷ trọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp
và thủy sản giảm từ 48,7% năm 2010 xuống 48% năm 2011. Tỷ trọng lao động khu vực công nghiệp và xây
dựng tăng từ 21,7% lên 22,4%, khu vực dịch vụ duy trì ở mức 29,6%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ
tuổi năm 2011 là 2,27%. Trong đó khu vực thành thị là 3,6%, khu vực nông thôn là 1,71% (năm 2010 các tỷ lệ
tương ứng là: 2,88%, 4,29%, 2,30%). Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi năm 2011 là 2,96%, trong
đó khu vực thành thị là 1,82%, khu vực nông thôn là 3,96% (Năm 2010 các tỷ lệ tương ứng là: 3,57%; 1,82%;
4,26%). Nhìn chung tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam trong năm 2011 có xu hướng giảm nhưng giảm không
nhiều.
Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam năm 2012
Theo số liệu Tổng cục thống kê vừa công bố ngày 24/12: Năm 2012, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ
tuổi là 1,99%, giảm so với mức 2,27% năm 2011. Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi tại khu
vực thành thị là 13 3,25%, khu vực nông thôn là 1,42% (Năm 2011 các tỷ lệ tương ứng là: 2,22%; 3,60%;
1,60%). Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi năm 2012 là 2,8%, trong đó khu vực thành thị là 1,58%,
khu vực nông thôn là 3,35% (Năm 2011 các tỷ lệ tương ứng là: 2,96%; 1,58%; 3,56%).Tổng cục Thống kê cho
hay, mặc dù tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm năm 2012 giảm nhẹ so với các tỷ lệ tương ứng của năm
2011 nhưng tỷ lệ lao động phi chính thức năm 2012 tăng so với một số năm trước, từ 34,6% năm 2010 tăng lên
35,8% năm 2011 và 36,6% năm 2012. Tỷ lệ thất nghiệp ở nữ là 2,36% cao hơn so với tỷ lệ 1,71% ở nam. Đứng
đầu cả nước về tỷ lệ thất nghiệp năm 2012 là Thành phố Hồ Chí Minh với 3,92% và thấp nhất là vùng trung du
và miền núi phía Bắc với 0,77%. Qua đó ta thấy mức sống của người dân còn thấp, hệ thống an sinh xã hội chưa
phát triển mạnh nên người lao động không chịu cảnh thất nghiệp kéo dài mà chấp nhận làm những công việc
không ổn định với mức thu nhập thấp và bấp bênh.
Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam năm 2013
Theo số liệu thống kê mới nhất, tính đến năm 2013, tại Việt Nam có 1,3 triệu người thất nghiệp. Số người thất
nghiệp tăng thêm 70.000 so với cùng kì năm 2012. Tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị cao hơn ở nông thôn (3.67% so
với 1.56%). Thống kê từ các trung tâm giới thiệu việc làm tính đến ngày 20/9/2013, bình qn mỗi tháng có hơn
114.000 người đăng ký thất nghiệp. Riêng năm 2013, số người đăng ký thất nghiệp đã tương đương hơn 93%
của cả năm 2010, bằng 68.4% của cả năm 2011 và gần bằng 53% năm 2012. Trước đó, năm 2012 tỷ lệ thất
nghiệp chỉ ở 1,99%, giảm so với mức 2,8% và 2,2% của năm 2010 và 2011. Trong đó, lực lượng lao động từ 15
tuổi trở lên của cả nước tại thời điểm 1/7/2013 ước tính 53,3 triệu người, tăng 715,6 nghìn người so với tại thời
điểm 1/7/2012 và tăng 308 nghìn người so với tại thời điểm 1/4/2013. Trong đó :
- Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 47,2 triệu người, tăng 2,49,2 nghìn người so với tại thời điểm
11/7/2012 và tăng 98,5 nghìn người so với thời điểm1/4/2013.
- Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc 6 tháng đầu năm ước tính 52,2 triệu người, tăng 0,97% so với năm
2012. - Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 47,4% tổng
số, không biến động so với năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 20,7% giảm 0,5%; khu vực
dịch vụ chiếm 31,9%, tăng 0,5%.
- Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi 6 tháng đầu năm 2013 ước tính là 2,28%, trong đó khu vực thành
thị là 3,85%, khu vực nông thôn là 1,57% (số liệu của cả năm 2012 tương ứng là: 1,96%; 3,21%; 1,39%).
- Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước tính là 2,95%, trong đó khu vực thành thị là 1,76%, khu
vực nông thôn là 3,47% (số liệu của cả năm 2012 tương ứng là: 2,74%; 1,56%; 3,27%).
- Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên ước tính 6,07% (15- 24 tuổi), trong đó khu vực thành thị là 11,45%, khu vực
nơng thơn là 4,41%.
- Tỷ lệ thất nghiệp của người lớn là 1,34 (từ 25 tuổi trở lên), trong đó khu vực thành thị là 2,55%, khu vực nông
thôn là 0,8%.
- Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị của thanh niên gấp 4,5 lần tỷ lệ thất nghiệp của người lớn.
Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam năm 2014
Theo số liệu của PGS-TS Trần Đình Thiên và các cộng sự (Viện Kinh Tế Việt Nam) trong năm 2014 nền kinh tế
có những dấu hiệu tích cực hơn so với 2 năm 2012 và 2013 nên đã giải quyết việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao
động, tăng 3,6% so với thực hiện năm 2013 trong đó tạo việc làm trong nước khoảng 1,494 triệu lao động, đạt
21
NHÓM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
98,6% kế hoạch tăng 2,7% so với năm 2013. Tuy nhiên đó chỉ là dấu hiệu tích cực về mặt số lượng, chất lượng
việc làm mới vẫn thấp và thiếu bền vững. Cụ thể hơn về tình trạng này TS Bùi Sỹ Lợi, Phó chủ nhiệm Ủy ban
về các vấn đề xã hội của Quốc hội cho biết đến thời điểm 31-12-2014 dân số cả nước là 90,7 triệu người trong
đó có 54,4 triệu người thuộc lực lượng lao động. Cả nước đã có khoảng 1,2 triệu lao động thiếu việc làm tỉ lệ
2,45% và gần 1 triệu lao động thất nghiệp chiếm 2,08%.
Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam năm 2015
Thống kê của Viện Khoa học Lao động và Xã hội (Bộ LĐTB&XH) vừa công bố ngày 2014, cho thấy tỷ lệ lao
động chất lượng cao thất nghiệp đang ngày càng tăng. Cụ thể, trong quý I/2015, cả nước có hơn 1,1 triệu người
thất nghiệp. So với cùng kỳ năm trước con số này tăng 114.000 người. Số lao động trình độ đại học, sau đại học
thất nghiệp tăng từ hơn 162.000 lên gần 178.000 người; lao động tốt nghiệp cao đẳng thất nghiệp tăng từ 79.000
người lên hơn 100.000; lao động khơng có bằng cấp từ gần 630.000 lên 726.000. Tỷ lệ trình độ chun mơn thất
nghiệp cao nhất nằm ở nhóm có trình độ cao đẳng chuyên nghiệp và cao đẳng nghề, tương ứng là 7,2% và gần
6,9%. Tỷ lệ thấp nhất nằm ở nhóm khơng có bằng cấp, chứng chỉ là 1,97%. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao
động của cả nước là 2,43%, tăng 0,22% so với cùng kỳ năm trước.
Điều tra của Viện Khoa học Lao động và Xã hội cũng cho thấy, số người làm việc dưới 35 giờ mỗi tuần và có
mong muốn làm thêm giờ là 1,13 triệu người, tăng so với cuối năm 2014, số lao động thiếu việc làm ở nông
thôn cao gần gấp đôi so với khu vực thành thị.
Bên cạnh những con số đáng báo động về lao động thất nghiệp thì bức tranh thị trường lao động trong 3 tháng
đầu năm cũng có những điểm sáng. Số lao động ở khu vực nhà nước giảm, lao động làm công ăn lương gia
tăng. Trong đó đáng chú ý, thu nhập bình quân của lao động làm công ăn lương tăng 12,3%, từ 4,4 triệu đồng
cuối năm 2014 lên 4,9 triệu đồng trong đầu năm nay. Theo Tổng cục Thống kê, nền kinh tế khởi sắc với sự phát
triển mạnh của khu vực công nghiệp và dịch vụ là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm giảm tỷ lệ thất
nghiệp ở khu vực thành thị. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi giảm dần theo quý (quý 1 là 2.43%;
quý 2 là 2.42%; quý 3 là 2.35%; quý 4 là 2.12%) và giảm chủ yếu ở khu vực thành thị (quý 1 là 3.43%; quý 2 là
3.53%; quý 3 là 3.38%, quý 4 là 2.91%).
Tính theo giá so sánh năm 2010, năng suất lao động toàn nền kinh tế năm 2015 ước tính tăng 6.4% so với năm
2014. Năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua đã có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các
năm, bình quân giai đoạn 2006-2015 tăng 3.9%/năm, trong đó giai đoạn 2006-2010 tăng 3.4%/năm; giai đoạn
2011-2015 tăng 4.2%/năm. Năng suất lao động năm 2015 tăng 23.6% so với năm 2010, tuy thấp hơn so với mục
tiêu đề ra là tăng 29%-32%, nhưng tốc độ tăng năng suất lao động thời kỳ này cao hơn thời kỳ 2006-2010 góp
phần thu hẹp dần khoảng cách tương đối so với năng suất lao động của các nước ASEAN. Tuy nhiên, năng suất
lao động của nước ta hiện nay vẫn còn ở mức thấp so với các nước trong khu vực và không đồng đều giữa các
ngành và lĩnh vực.
Tỉ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quí II các năm giai đoạn 2011-2020 (Đvt: %)
22
NHÓM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2016 là 2,30%, trong đó khu vực thành thị là
3,18%; khu vực nông thôn là 1,86%. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (Từ 15-24 tuổi) năm 2016 là
7,34%, trong đó khu vực thành thị là 11,30%; khu vực nông thôn là 5,74%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao
động trong độ tuổi lao động năm 2016 là 1,64%, thấp hơn mức 1,89% của năm 2015 và 2,40% của năm
2014, trong đó khu vực thành thị là 0,73%; khu vực nông thôn là 2,10%. Tỷ lệ lao động có việc làm phi
chính thức ngồi hộ nơng, lâm nghiệp, thủy sản năm 2016 ước tính là 55,9%, trong đó khu vực thành
thị là 47,0%; khu vực nông thôn là 64,1%.
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2017 là 2,24%, trong đó khu vực thành thị là
3,18%; khu vực nông thôn là 1,78%. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (Từ 15-24 tuổi) năm 2017 là
7,51%, trong đó khu vực thành thị là 11,75%; khu vực nông thôn là 5,87%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao
động trong độ tuổi lao động năm 2017 là 1,63%, trong đó khu vực thành thị là 0,85%; khu vực nông
thôn là 2,07%. Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức phi nơng nghiệp năm 2017 ước tính là 57%,
trong đó khu vực thành thị là 48,5%; khu vực nơng thơn là 64,4%.
Tính chung cả năm 2018, tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước là 2,0%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực
thành thị là 2,95%; khu vực nông thôn là 1,55%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2018
là 2,19%, trong đó khu vực thành thị là 3,10%; khu vực nông thôn là 1,74%. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh
niên năm 2018 ước tính là 7,06%, trong đó khu vực thành thị là 10,56%; khu vực nơng thôn là 5,73%.
Năm 2018, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi là 1,46%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành
thị là 0,69%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 1,85% (tỷ lệ thiếu việc làm của năm 2017 tương ứng là
1,66%; 0,84%; 2,07%). Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngồi hộ nơng, lâm nghiệp, thủy sản ước tính
là 56,3%, trong đó khu vực thành thị là 48%; khu vực nông thôn là 63% (năm 2017 tương ứng là 57,2%; 48,8%;
64,5%).
Tỉ lệ thất nghiệp năm 2019, cả nước có hơn 1,1 triệu người thất nghiệp; trong đó khu vực thành thị
chiếm 47,3% và số nam chiếm 52,2% tổng số người thất nghiệp.
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động (nam từ 15-59 tuổi và nữ từ 15-54 tuổi) của Việt Nam năm 2019 là
2,17%, trong đó ở khu vực thành thị là 3,11%, khu vực nông thôn là 1,69%.
Số thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi chiếm 42,1% tổng số người thất nghiệp. Năm 2019, tỷ lệ thất nghiệp
của thanh niên cao gần 6 lần so với tỷ lệ thất nghiệp của những người từ 25 tuổi trở lên. Ở cấp toàn quốc, tỷ lệ
thất nghiệp của nữ thanh niên và nam thanh niên là tương đương nhau (khoảng 6,5%).
Trong năm 2020, tỷ lệ thất nghiệp ước khoảng 2,26%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là
3,61%; khu vực nông thôn là 1,59%; Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,48%; tỷ lệ thất nghiệp
khu vực thành thị là 3,88%; khu vực nông thôn là 1,75%.
23
[7]
NHÓM 17
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
KTE203.8
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) năm 2020 ước tính là 7,1%, trong đó khu vực thành thị là
10,63%; khu vực nơng thôn là 5,45%.
Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước tính là 2,51%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành
thị là 1,68%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 2,93%.
Tổng cục Thống kê đánh giá, tình hình lao động, việc làm quý IV/2020 có nhiều dấu hiệu khởi sắc so với quý
trước nhưng do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm tính chung cả năm 2020 cao
hơn năm 2019 trong khi số người có việc làm, thu nhập của người làm công ăn lương thấp hơn năm trước.
Cũng theo đơn vị này, tính chung năm 2020, cả nước có 16,5 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 75,9% so với năm
trước, tương ứng với 66,5 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 76,1%.
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III năm 2021 là hơn 1,7 triệu người, tăng 532,2
nghìn người so với quý trước và tăng 449,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp
trong độ tuổi lao động quý III năm 2021 là 3,98%, tăng 1,36 điểm phần trăm so với quý trước và tăng
1,25 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 lần thứ tư và thời
gian giãn cách xã hội kéo dài ở nhiều địa phương đã đẩy tỷ lệ thất nghiệp quý III năm 2021 vượt xa con
số 2% như thường thấy. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi của khu vực thành thị là 5,54%, tăng 2,18 điểm
phần trăm so với quý trước và tăng 1,60 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi quý III năm 2021 là 8,89%, tăng 1,42 điểm phần trăm so với quý
trước và tăng 0,75 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị
là 12,71%, cao hơn 5,56 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn.
V.
Cán cân thương mại về kim ngạch xuất khẩu:
2006-2010
Cấu trúc kinh tế đã có những thay đổi tích cực, hứa hẹn sáng sủa hơn trong tầm nhìn dài hạn. Giao lưu kinh tế
quốc tế phát triển. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thời kỳ 2006-2010 đạt 56 tỉ USD/năm, bằng 2,5 lần thời kỳ
2001-2005 và tăng 17,2%/năm. Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng ngày càng tăng, từ 4% mặt hàng ngày càng
tăng, từ 4 mặt hàng có kim ngạch trên 3 tỉ USD năm 2006 đã tăng lên 8 mặt hàng năm 2010.
2011-2015
Cán cân thương mại được cải thiện. Bình quân cả giai đoạn, tăng trưởng xuất
khẩu đạt khoảng 18%/năm và trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế
những năm vừa qua.
24