ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Ứng dụng mơ hình Cơng tác xã hội nhóm hỗ trợ nâng cao
hiệu quả vay vốn ưu đãi cho người nghèo tại xã Hồ Thầu,
huyện Hồng Su Phì, tỉnh Hà Giang
Giảng viên hướng dẫn: TS. Đặng Kim Khánh Ly
Sinh viên thực hiện:
1.Lý Seo Vinh - Mã số sinh viên: 18030539
2.Phan Nguyễn Lam Giang- Mã số sinh viên: 18030453
3.Hoàng Hương Liên- Mã số sinh viên: 18030484
Lớp: K63 CTXH
Ngành: Công tác xã hội
Khóa: QH-2018-X
Hà Nội, ngày 13 tháng 3 năm 2022
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học: “Ứng dụng mơ hình Cơng
tác xã hội nhóm hỗ trợ nâng cao hiệu quả vay vốn ưu đãi cho người nghèo tại xã
Hồ Thầu, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang”, cùng với sự nỗ lực của cả nhóm,
chúng em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ và động viên của thầy cô,
gia đình, bạn bè cùng tồn thể đảng ủy chính quyền và người dân xã Hồ Thầu,
huyện Hồng Su Phì, tỉnh Hà Giang
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, trước tiên nhóm chúng em xin gửi lời cảm ơn
đến Nhà trường cùng các thầy cô giáo Khoa Xã hội học-Trường Đại học Khoa học
xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã quan tâm chỉ đạo và tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tơi trong tồn bộ quá trình học tập cũng như trong thời gian
làm đề tài nghiên cứu này.
Chúng em xin chuyển lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS. Đặng Kim Khánh Ly cùng
các thầy cô cố vấn khác trong Khoa Xã hội học đã tận tình hướng dẫn, ủng hộ,
động viên nhóm nghiên cứu trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu đề tài và
hồn thành đề tài nghiên cứu của nhóm.
Xin gửi lời cảm ơn đến các cô, chú, anh chị là cán bộ làm việc tại Ủy ban nhân dân
xã, các thơn; bản cùng tồn thể người dân xã Hồ Thầu đã cung cấp những thông
tin, số liệu và tạo điều kiện giúp đỡ nhóm nghiên cứu trong q trình khảo sát, thu
thập thông tin cho đề tài.
Mặc dù đã rất cố gắng, tuy nhiên do khả năng còn hạn chế, còn thiếu kinh nghiệm
thực tiễn nên đề tài nghiên cứu của nhóm khơng tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và những cá nhân quan
tâm đến đề tài.
Xin chân thành cảm ơn!
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài.
Cơng nghiệp hóa – Hiện đại hóa đã thúc đẩy đất nước phát triển đa chiều về kinh
tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và đặc biệt là thành tựu khoa học công nghệ đã giúp
đất nước ta hội nhập với các nước phát triển trong khu vực nói riêng và tồn cầu
nói chung. Sự phát triển và hội nhập đã kết nối các quốc gia với nhau, các vùng
miền với nhau, giúp thu hẹp khoảng cách phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội mà
đặc biệt là khoảng cách giàu nghèo. Bên cạnh đó những vấn đề cấp thiết như thiên
tai, dịch bệnh, thảm họa, nghèo đói và ơ nhiễm mơi trường khơng chỉ mỗi Việt
Nam mà còn cả quốc tế quan tâm.
Giảm nghèo là vấn đề tồn cầu, địi hỏi cấp bách của toàn nhân loại. Trên thực tế,
mặc dù kinh tế của chúng ta đang ngày càng phát triển, nhưng các vấn đề xã hội
phát sinh đã hạn chế rất nhiều đến hiệu quả trợ giúp của các chương trình và dự án.
Nhóm chịu ảnh hưởng nặng nề nhất chính là người nghèo. Đặc biệt là người nghèo
dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn đang
cần sự hỗ trợ của nhà nước để vươn lên thoát nghèo.
Theo kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2021 trên phạm vi toàn quốc,
tổng số hộ nghèo cả nước là 609.049 hộ; tỷ lệ hộ nghèo là 2,23%. Tổng số hộ cận
nghèo là 850.202 hộ và tỷ lệ hộ cận nghèo là 3,11%.(1) Để giải quyết được vấn đề
giảm nghèo ở Việt Nam cần có sự chung tay của tồn xã hội, bên cạnh hệ thống
các chính sách, vấn đề xây dựng nguồn lực, trong đó có nguồn nhân lực từ Trung
ương đến địa phương, từ các nhà hoạch định chính sách đến những người tổ chức
thực hiện các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở là một việc làm hết sức quan trọng.
Công tác xã hội là một bộ phận không thể thiếu trong các chương trình, dự án xóa
đói giảm nghèo ở nước ta. Tuy nhiên, hiện nay công tác xã hội nhóm đối với hộ
đình nghèo chưa có chính sách cụ thể mà chủ yếu vẫn lồng ghép vào các hoạt động
của ngành lao động thương binh và xã hội; mặt trận và các đoàn thể; các dịch vụ
cung cấp cho hộ gia đình nghèo nói chung, hỗ trợ cho hộ gia đình nghèo sử dụng
vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình nói riêng cịn bỏ ngỏ dẫn đến các chính
sách được thực hiện song hiệu quả mang lại chưa cao. Do đó vấn đề đặt ra là cần
có những chính sách cụ thể nhằm phát triển nghề cơng tác xã hội nhóm, trong đó
có chính sách nhằm phát triển cơng tác xã hội nhóm đối với hộ gia đình nghèo, hỗ
trợ cho hộ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình nói
riêng, nhằm giúp họ tăng năng lực, chủ động tự tin thụ hưởng các chính sách của
Nhà nước.
Xã Hồ Thầu, huyện Hồng Su Phì, tỉnh Hà Giang nằm sát biên giới với Trung
Quốc, có địa hình núi cao hiểm trở, người dân ở đây là dân tộc thiểu số gặp khó
khăn trong tiếp nhận thơng tin, khó khăn trong phát triển kinh tế - văn hóa và có tỷ
lệ hộ nghèo cịn cao (hơn 18/9%). Các chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo, hỗ
trợ vay vốn ở địa phương xã Hồ Thầu đã được triển khai, tuy nhiên xét về mức độ
hiệu quả thì cịn thấp.
Do đó, để đưa ra giải pháp hỗ trợ người dân tiếp cận với các chính sách giảm
nghèo, hỗ trợ vay vốn tại địa phương, nhóm chúng tơi thực hiện đề tài "Ứng dụng
mơ hình Cơng tác xã hội nhóm hỗ trợ nâng cao hiệu quả vay vốn ưu đãi cho các hộ
nghèo tại xã Hồ Thầu, huyện Hồng Su Phì, tỉnh Hà Giang” làm đề tài nghiên cứu
khoa học.
2.Tổng quan vấn đề nghiên cứu.
3.Ý nghĩa của nghiên cứu.
3.1 Ý nghĩa về mặt lý luận
Đề tài Nghiên cứu góp phần bổ sung và phân tích sâu một số vấn đề lý luận về
cơng tác xã hội, nhất là cơng tác xã hội nhóm, một số lý thuyết xã hội học nhằm hỗ
trợ gia đình nghèo nói chung, hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay phát triển
kinh tế nói riêng, từ đó bổ sung làm phong phú thêm cách nhìn nhận, đánh giá
trong việc gia đình nghèo được hỗ trợ, tiếp cận vốn vay trong phát triển kinh tế của
các hộ gia đình miền núi vùng dân tộc thiểu số.
3.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Nghiên cứu cung cấp khá đầy đủ và chính xác thực trạng hộ gia đình nghèo, thực
trạng hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình trên
địa bàn xã Hồ Thầu, huyện Hồng Su Phì, tỉnh Hà Giang; trên cơ sở ứng dụng
cơng tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát
triển kinh tế gia đình sẽ có những giải pháp rất cụ thể, khả thi để nâng cao hiệu quả
hoạt động hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình
trên địa bàn xã. Tài liệu góp phần cung cấp những giải pháp có giá trị cho cấp ủy,
chính quyền xã Hồ Thầu trong việc thực hiện chủ trương giảm nghèo, phát triển
kinh tế xã hội trên địa bàn xã.
4.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
4.1 Mục đích
Nghiên cứu làm rõ vấn đề lý luận và thực trạng hỗ trợ cho hộ gia đình nghèo sử
dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình; ứng dụng cơng tác xã hội nhóm
trong việc hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay phát triển kinh tế; từ đó đưa ra
những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội nhóm hỗ trợ cho hộ gia đình
nghèo sử dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình trên địa bàn xã Hồ Thầu,
huyện Hồng Su Phì, tỉnh Hà Giang.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài: như một số khái niệm làm công
cụ triển khai đề tài, hộ nghèo, cơng tác xã hội nhóm đối với hộ nghèo…; thực tiễn
vay và vốn vay của hộ nghèo trên địa bàn xã…
-Làm rõ thực trạng hộ gia đình nghèo; thực trạng cơng tác xã hội nhóm hỗ trợ gia
đình nghèo sử dụng vốn vay phát triển kinh tế gia đình; đánh giá hiệu quả của hoạt
động này trên địa bàn xã Hồ Thầu, huyện Hồng Su Phì, tỉnh Hà Giang.
-Phân tích nguyên nhân dẫn đến kết quả đạt được và kiến tập
-Ứng dụng mơ hình cơng tác xã hội nhóm (nhóm giáo dục) trong việc hỗ trợ gia
đình nghèo sử dụng vốn vay phát triển kinh tế trên địa bàn xã.
5.Đối tượng và khách thể nghiên cứu.
5.1 Đối tượng
Công tác xã hội nhóm hỗ trợ gia đình nghèo sử dụng vốn vay ưu đãi NHCSXH
trong phát triển kinh tế gia đình trên địa bàn xã Hồ Thầu, huyện Hồng Su Phì, tỉnh
Hà Giang.
5.2 Khách thể nghiên cứu
-Các hộ nghèo, cận nghèo tham gia vay vốn ưu đãi NHCS tại xã Hồ Thầu.
-Cán bộ xã, thông, bản: Chủ tịch xã; lãnh đạo chi bộ các hội, đoàn; tổ trưởng tổ
vay vốn, trưởng thơn, Bí thư đồn; cán bộ làm cơng tác tín dụng; cán bộ thú y.
6.Phạm vi nghiên cứu.
-Về khơng gian: Xã Hồ Thầu, huyện Hồng Su Phì, tỉnh Hà Giang.
-Về thời gian: Số liệu và những thông tin được thu thập để phân tích trong đề tài có
giá trị từ quý I năm 2020 đến quý IV năm 2021. Các số liệu điều tra thực hiện từ
tháng 9 đến tháng 12 năm 2021.
-Về nội dung nghiên cứu: Đề tài đi sâu nghiên cứu vai trị của cơng tác xã hội qua
việc hỗ trợ người nghèo dụng vốn vay ngân hàng chính sách xã hội. Tuy nhiên nội
dung nghiên cứu đầy đủ bao gồm:
+ Nghiên cứu thực trạng công tác xã hội nhóm hỗ trợ cho hộ gia đình nghèo sử
dụng vốn vay trong phát triển kinh tế gia đình trên địa bàn xã Hồ Thầu, huyện
Hồng Su Phì, tỉnh Hà Giang.
+ Phân tích, làm rõ nguyên nhân đạt được những kết quả và hạn chế cần khắc
phục.
+ Nghiên cứu ứng dụng cơng tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ gia đình nghèo tiếp
cận và sử dụng vốn vay phát triển kinh tế trên địa bàn xã.
7.Câu hỏi nghiên cứu.
Nhằm đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài " Ứng dụng mơ hình Cơng tác xã
hội nhóm hỗ trợ nâng cao hiệu quả vay vốn ưu đãi cho người nghèo tại xã Hồ
Thầu, huyện Hồng Su Phì, tỉnh Hà Giang" cần tập trung trả lời các câu hỏi nghiên
cứu sau:
-Thực trạng công tác triển khai vốn vay và sử dụng vốn ngân hàng chính sách xã
hội của các hộ nghèo, cận nghèo tại xã Hồ Thầu tính đến tháng 5 năm 2021 như
thế nào?
-Đâu là yếu tố làm cho công tác vay vốn đạt được những kết quả trên cũng như
nguyên nhân gây ra sự hạn chế cần khắc phục?
- Ứng dụng mơ hình Cơng tác xã hội nhóm như thế nào để giúp hỗ trợ nâng cao
hiệu quả vay vốn ưu đãi cho người nghèo tại xã Hồ Thầu, huyện Hồng Su Phì,
tỉnh Hà Giang?
8.Giả thuyết nghiên cứu.
-Vốn vay ưu đãi ngân hàng chính sách xã hội trong những năm qua đã đạt được
những kết quả nhất định, đem lại hiệu quả đáng để cho các hộ nghèo, cận nghèo về
kinh tế, góp phần giúp họ cải thiện đời sống gia đình.
- Để đạt được những kết quả thành cơng và cịn tồn tại những vấn đề cần khắc
phục thì bao gồm các những yếu tố nguyên nhân chủ quan và khách quan tác động,
trong đó những nguyên nhân chính bắt nguồn từ chính sách của chính phủ, hoạt
động cơng tác tín dụng của chính quyền địa phương, mà đặc biệt quan trọng là thái
độ, kiến thức và kỹ năng của bản thân những người nghèo tham gia vay vốn.
-Dựa trên việc khảo thực trạng và phân tích ngun nhân của vấn đề, nhóm NCKH
đề xuất Xây dựng mơ hình cơng tác xã hội nhóm theo hướng giáo dục nhằm trang
bị những thông tin, kiến thức và kỹ năng cần thiết để giúp các hộ nghèo, cận nghèo
gia tăng cơ hội tiếp cận và sử dụng nguồn vốn vay để phát triển kinh tế một cách
hiệu quả nhất.
9.Phương pháp nghiên cứu.
Để thu được những dữ liệu tốt nhất, nhóm nghiên cứu sử dụng tổng hợp các
phương pháp nghiên cứu khoa học như thu thập, nghiên cứu tài liệu, phương pháp
xử lý thơng tin định tính kết hợp định lượng. Cụ thể:
9.1 Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm, đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước về việc hỗ trợ hộ nghèo vay vốn ưu đãi, đặc biệt đối với các
hộ nghèo vùng dân tộc thiêu số vùng cao, vùng sâu, vùng xa từ góc độ cơng tác xã
hội.
9.2 Phương pháp phân tích tài liệu
Sưu tầm, tổng hợp, phân tích những tài liệu liên quan đến đề tài.
Tài liệu thứ cấp: Thu thập số liệu qua các báo cáo tình hình hoạt động của Hội
Nơng dân, Hội chữ thập đỏ, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Hội đoàn thanh niên
qua các năm 2019 - 2021, các báo cáo về tình hình vay vốn của các tổ thuộc
UBND xã Hồ Thầu . Các thông tin, số liệu thu tập từ các ban ngành và các phòng
ban. Các cơng trình nghiên cứu, sách và tạp chí có liên quan đến vấn đề nghiên
cứu.
Khi nghiên cứu các chỉ tiêu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình cho
vay nói chung, chúng tơi dựa vào các số liệu đã được công bố như: các tài liệu, báo
cáo phát triển kinh tế - xã hội, báo cáo xóa đói giảm nghèo và việc làm xã, báo cáo
kết quả hoạt động của NHCSXH từ 2016-2021 tại xã Hồ Thầu, Ngoài ra các báo
cáo khoa học và kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả công bố trên các sách báo,
iternet, tạp chí chuyên ngành NHCSXH được sử dụng làm tài liệu tham khảo.
Tổng hợp tài liệu: Tổng hợp tài liệu được tiến hành dựa trên phương pháp thống kê
các tiêu thức khác nhau như: phân loại hộ, vùng, dân tộc, trình độ học văn hố,
trình độ học vấn… Số liệu được sử lý trên máy tính nhờ các chương trình phần
mềm thích hợp. Trong đó, việc xem xét đánh giá cho được hoạt động của
NHCSXH và ảnh hưởng của nguồn vốn tín dụng ưu đãi đến giảm tỷ lệ nghèo của
các hộ được ưu tiên tổng hợp.
Tài liệu sơ cấp: Dựa trên các điều tra đã thực hiện, các phỏng vấn sâu, quan sát
tình hình thực tế.
Dựa trên các số liệu đã thu thập được, nhóm nghiên cứu tiến hành thống kê mơ tả
để mô tả sự biến động cũng như xu hướng phát triển của một hiện tượng kinh tế xã hội. Mô tả quá trình cho vay của hệ thống NHCSXH và q trình giải ngân vốn
ưu đãi thơng qua các dự án. Mơ tả q trình sử dụng vốn ưu đãi của các hộ vay.
Ngồi ra cịn tiến hành so sánh nhằm rút ra được các kết luận về ảnh hưởng của tín
dụng đối với giảm tỷ lệ nghèo trong từng giai đoạn; trước khi vay vốn và sau khi
sử dụng nguồn vốn cho vay, của các hộ vay vốn tín dụng ưu đãi NHCSX và hộ
được hưởng vốn ưu đãi thông qua các dự án.
9.3 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu
-Thu thập số liệu đã công bố
Bao gồm các thơng tin về tình hình phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, các
chính sách về vốn vay ưu đái đối với xóa đói giảm nghèo của xã Hồ Thầu, kết quả
cho vay vốn đối với các hộ nghèo trên địa bàn, kết quả giải ngân vốn ưu đãi các dự
án. Những số liệu này chủ yếu được thu thập ở các Hội, Đoàn tại UBND xã Hồ
Thầu
-Phát bảng hỏi khảo sát:
Nhóm Nghiên cứu tiến hành xuống địa bàn nghiên cứu để trực tiếp quan sát, khảo
sát các vấn đề liên quan, tiến hành thu thập thông tin qua các bảng khảo sát, bảng
hỏi kết hợp đóng- mở.
Khảo sát: 150 hộ dân
Sử dụng hệ thống các phương pháp thống kê kinh tế để tiến hành các hoạt động
điều tra thu thập số liệu, tổng hợp và phân tích số liệu có trình tự đảm bảo tính
khoa học để nhận biết, nắm bắt tình hình, đánh giá phân tích các mỗi quan hệ
tương quan, rút ra các kết luận ban đầu giúp cho việc nghiên cứu vấn đề được sâu
sắc hơn. Cụ thể, nhóm nghiên cứu tiến hành thực hiện các hoạt động sau:
+ Chọn mẫu điều tra
Nhóm nghiên cứu tiến hành điều tra tại 08 thơn, bản của xã Hồ Thầu có các hộ
nghèo vay vốn ưu đãi từ NHCSXH.
+Phiếu điều tra
Phiếu được xây dựng cho các hộ điều tra, nội dung chủ yếu của phiếu bao gồm các
thông tin như: Thông tin về chủ hộ điều tra, trình độ, lao động, tài sản, tình hình
vay vốn và sử dụng dụng vốn của các hộ, kết quả sử dụng vốn, những thông tin và
nhận thức của hộ đối với nhu cầu về vốn ưu đãi…
+Phương pháp điều tra
Điều tra bằng phương pháp trực tiếp phát bảng hỏi cho hộ nghèo bằng phiếu điều
tra đã chuẩn bị sẵn.
-Phương pháp phỏng vấn sâu
Trực tiếp gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi với cán bộ và người dân tại xã Hồ Thầu. Có sự
tham gia của người dân và các đối tác có liên quan trong q trình thu thập thơng
tin, phân tích đánh giá hiện trạng, phát hiện các tiềm năng, cơ hội cũng như khó
khăn, thách thức và đề xuất giải pháp xố đói giảm nghèo.
Tiến hành thực hiện phỏng vấn sâu: Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, Chủ tịch Hội phụ
nữ xã, 01 cán bộ Trưởng thơn, 01 cán bộ đồn viên thanh niên và 05 hộ gia đình
vay vốn ngân hàng chính sách xã hội.
Đối tượng
Số phỏng vấn sâu
Chính quyền
03
Cán bộ đồn, thơn, cán bộ khuyến nơng
01
Hộ gia đình vay vốn ưu đãi ngân hàng chính
05
sách xã xã hội
9.4 Phương pháp xử lý thông tin định tính kết hợp với định lượng
Sử dụng phương pháp định lượng xử lý số liệu SPSS để làm sạch số liệu, mơ tả
thực trạng, phân tích các yếu tố, nguyên nhân chính của vấn đề và dự báo xu
hướng, hiệu quả can thiệp. Đồng thời kết hợp với việc tổng hợp, mã hóa thơng tin
theo nhóm vấn đề đưa ra nhằm nhận định bổ sung, minh chứng cho các nội dung
nghiên cứu.
Đồng thời kết hợp với phương pháp định tính nhằm làm rõ hiểu biết sâu sắc về
hành vi của các hộ nghèo tại xã Hồ Thầu và tổng quan những lý do tác động đến sự
ảnh hưởng này. Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính để điều tra trả
lời cho câu hỏi tại sao và làm thế nào để nâng cao hiệu quả triển khai chính sách
vay vốn ưu đãi cho các hộ nghèo tại xã Hồ Thầu một cách toàn diện nhất.
9.5 Phương pháp thực nghiệm
Sử dụng phương pháp thực nghiệm để chứng minh tính ưu việt của mơ hình CTXH
trong việc giúp nâng cao hiệu quả triển khai chính sách vay vốn ưu đãi cho các hộ
nghèo tại xã Hồ Thầu
Điều này giúp cho việc rút ngắn khoảng thời gian quan sát và rất có thể lặp đi lặp
để đạt được những hiệu quả chính xác khơng hạn chế về thời gian và khơng gian.
9.6 Phương pháp phân tích và tổng hợp hợp thuyết
Nhóm nghiên cứu phân tích các tài liệu, lý luận khác nhau về chính sách, các lý
thuyết xã hội học, các lý thuyết về hành vi tâm lý con người bằng cách phân tích
chúng thành từng bộ phận để quan tâm sâu sắc về đối tượng- cụ thể là các hộ
nghèo tại xã Hồ Thầu.
Sau đó tiến hành tổng hợp những thơng tin đã được phân tích tạo ra một hệ thống
lý thuyết mới từ đầu đến cuối và sâu sắc về đối tượng nghiên cứu.
9.7 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ưu đãi
Chất lượng tín dụng và hiệu qủa tín dụng là hai chỉ tiêu quan trọng trong hoạt động
cho vay của Ngân hàng. Hai chỉ tiêu này có điểm giống nhau đều là chỉ tiêu phản
ánh lợi ích do vốn tín dụng mang lại cho khách hàng và Ngân hàng về mặt kinh tế.
Nhưng hiệu quả tín dụng mang tính cụ thể và tính tốn được giữa lợi ích thu được
với chi phí bỏ ra trong q trình đầu tư tín dụng thơng qua các chỉ tiêu:
(1).Luỹ kế số lượt hộ nghèo được vay vốn tín dụng NHCSXH và lượt hộ được
hưởng vốn ưu đãi các dự án.
Chỉ tiêu này cho biết số hộ nghèo đã được sử dụng vốn tín dụng ưu đãi trên tổng số
hộ hộ nghèo của toàn xã, đây là chỉ tiêu đánh giá vế số lượng. Chỉ tiêu này được
tính luỹ kế từ hộ vay đầu tiên đến hết kỳ cần báo cáo kết quả.
Công thức:
Tổng số hộ
= Lũy kế số lượt hộ được vay vốn, hỗ trợ vốn đến cuối kỳ
nghèo được vay trước + Lũy kế số lượt hộ vay, hộ được hưởng ưu đãi
vốn, hỗ trợ vốn
trong kỳ báo cáo
(2).Tỷ lệ hộ nghèo được vay, được hưởng tín dụng ưu đãi: Đây là chỉ tiêu đánh giá
về mặt lượng đối với cơng tác tín dụng; bằng tổng số hộ nghèo được vay, được
hưởng tín dụng ưu đãi trên tổng số hộ nghèo đói theo chuẩn mực được cơng bố.
Cơng thức:
Tỷ lệ hộ nghèo được = (Số hộ nghèo được vay vốn/ Tổng danh sách hộ nghèo)
vay vốn
x 100%
(3).Số vốn tín dụng ưu đãi bình quân 1 hộ: Chỉ tiêu này đánh giá mức đầu tư cho
một hộ ngày càng tăng lên hay giảm xuống, trước và sau khi vay vốn, sử dụng vốn
ưu đãi qua các dự án. Điều đó chứng tỏ việc cho vay có đáp ứng được nhu cầu thực
tế của các hộ nghèo hay không.
Công thức:
Số tiền cho vay =Dư nợ đến thời điểm báo cáo/ Tổng số hộ cịn dư nợ đến
bình qn hộ
thời điểm báo cáo
(4).Tỷ lệ sinh lời từ vốn vay: Riêng đối với chỉ tiêu này thì sử dụng phương pháp
so sánh giữa kết quả sản xuất kinh doanh cuối kỳ và đầu kỳ từ vốn vay để xác định
được 1đ lợi nhuận được tạo ra từ bao nhiêu đồng vốn vay. Công thức:
Tỷ lệ sinh lời từ = Số lãi hình thành từ vốn vay bình quân/ Tổng số tiền
vốn vay
vay bình quân hộ
10. Cấu trúc đề tài nghiên cứu khoa học.
Ngoài lời cảm ơn, phần mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì nội dung
luận văn gồm 03 phần chính:
I.Phần mở đầu
II.Nội dung chính
Chương 1. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng triển khai chính sách vay vốn ưu đãi dành cho hộ nghèo và
một số hoạt động hỗ trợ Công tác xã hội của địa phương tại xã Hồ Thầu- huyện
Hồng Su Phì- tỉnh Hà Giang
Chương 3: Phân tích nguyên nhân dẫn đến những kết quả đạt được (thành công và
hạn chế) trong việc triển khai Chính sách vay vốn ưu đãi tại xã Hồ Thầu- huyện
Hồng Su Phì- tỉnh Hà Giang
Chương 4: Ứng dụng Mơ hình cơng tác xã hội nhóm hỗ trợ nâng cao hiệu quả
chính sách vay vốn ưu đãi cho người nghèo tại xã xã Hồ Thầu- huyện Hồng Su
Phì- tỉnh Hà Giang
III.Kết luận và kiến nghị
II. NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN
CỨU
1.1.
Một số khái niệm công cụ
1.1.1.Khái niệm công tác xã hội
Theo Hiệp hội Quốc gia Nhân viên CTXH của Mỹ (NASW): “CTXH là hoạt động
nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi
phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều
kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ.”
Cũng với cách tiếp cận trên, Bùi Thị Xuân Mai (2010) đưa ra khái niệm “CTXH là
một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và
cộng đồng nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội,
đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm
giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phịng ngừa các vấn đề xã hội
góp phần đảm bảo an sinh xã hội.”
1.1.2 Khái niệm cơng tác xã hội nhóm
Từ thập niên 30 của thế kỷ 20, việc sử dụng nhóm trong cơng tác xã hội như một
phương pháp giúp đỡ, được thừa nhận là một phần của nghề công tác xã hội. Khi
đó, phương pháp này như một phương tiện trị liệu trong bệnh viện, phòng khám...
bằt đầu trong thế chiến thứ 2
Theo như Toseland, Rivas (1998) định nghĩa: “CTXH nhóm là hoạt động có mục
đích với các nhóm nhiệm vụ và trị liệu nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu tình cảm xã hội
và hồn thành nhiệm vụ. Hoạt động này hướng trực tiếp tới cá nhân các thành viên
trong nhóm và tới tồn thể nhóm trong một hệ thống cung cấp dịch vụ”.
Theo Từ điển CTXH của Barker (1995), CTXH nhóm được định nghĩa là: “Sự
định hướng, một phương pháp can thiệp của CTXH, trong đó các thành viên chia
sẻ những mối quan tâm, giải quyết những vấn đề chung thơng qua các cuộc họp
nhóm, các hoạt động của nhóm, nhằm đạt được mục tiêu cụ thể. CTXH nhóm
khơng chỉ là biện pháp can thiệp những vấn đề liên quan về tâm lý tình cảm cho
các cá nhân, mà cịn tạo nên mơi trường để họ trao đổi thơng tin, phát triển kỹ năng
xã hội, thay đổi định hướng giá trị, làm chuyển biến những hành vi khơng mong
muốn”.
Tóm lại, cơng tác xã hội nhóm là phương pháp nhằm trợ giúp các thành viên trong
nhóm được tạo cơ hội, môi trường hoạt động tương tác, chia sẽ những mối quan
tâm hay những vấn đề chung khi tham gia vào các hoạt động nhóm để đạt tới mục
tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mục đích cá nhân từng thành
viên.
* Cơng tác xã hội nhóm trong hỗ trợ hộ gia đình nghèo sử dụng vốn vay trong phát
triển kinh tế là tiến trình tổ chức, hoạt động của nhân viên CTXH với nhóm hộ
nghèo bằng việc thúc đẩy nhận thức, nâng cao năng lực, khả năng tự vươn lên của
người nghèo trong việc tìm ra nguyên nhân của sự nghèo đói, xác định ý thức,
trách nhiệm, khả năng và tự lựa chọn giải pháp của bản thân và khai thác các yếu
tố sẵn sàng giúp đỡ của các nguồn lực để thoát nghèo. Mặt khác, nhân viên CTXH
phải huy động tài nguyên, tính sẵn sàng của cộng đồng giúp đỡ người nghèo thoát
nghèo, tạo ra sự hài hòa của quan hệ giữa người nghèo với cộng đồng (Nguyễn Thị
Hoa, 2015).
Mục tiêu cuối cùng của CTXH với hộ nghèo là giúp thành viên học cách thực hiện
chức năng của mình để đáp ứng các nhu cầu về phát triển cả về mặt tâm lý, tình
cảm và xã hội cho tất cả các thành viên trong gia đình (Collins, Jordan và
Coleman, 2007). Các mục tiêu cụ thể:
-
Tăng cường sức mạnh của cá nhân và gia đình để mọi người sẵn sàng cho
những thay đổi tốt hơn;
-
Cung cấp thêm những dịch vụ can thiệp cá nhân và gia đình để duy trì thực
hiện chức năng một cách hiệu quả;
-
Tạo ra những thay đổi cụ thể trong việc thực hiện chức năng của gia đình
nhằm duy trì hoạt động để đảm bảo tốt cuộc sống hàng ngày của mọi thành viên
trong gia đình.
Trong đề tài này, CTXH sẽ can thiệp, hỗ trợ nhóm hộ nghèo nâng cao năng lực sử
dụng vốn vay ưu đãi hợp lý để phát triển kinh tế kết hợp với các lợi thế trong chính
sách, điều kiện tự nhiên – xã hội
1.1.3.Khái niệm về nghèo, hộ nghèo, cận nghèo
•
Quan niệm về nghèo của một số cơ quan, tổ chức quốc tế
Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả
vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là khơng có đủ ăn, đủ mặc, khơng được
đi học, khơng được đi khám, khơng có đất đai để trồng trọt hoặc khơng có nghề
nghiệp để ni sống bản thân, khơng được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa
là khơng an tồn, khơng có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và
cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngồi lề xã hội hoặc trong
các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và cơng trình vệ sinh an toàn”
(Tuyên bố Liên hợp quốc, 6/2008, được lãnh đạo của tất cả các tổ chức UN thông
qua).
Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế Xã hội Khu vực Châu Á- Thái
Bình Dương (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia
trong khu vực đã thống nhất cao rằng: "Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân
cơ khơng có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những
nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của
từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận."
Theo Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ (đoạt giải Nobel Kinh tế năm
1998): để tồn tại, con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu;
dưới mức tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn.
•
Quan niệm nghèo của Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm nghèo đói,
song ý kiến chung nhất cho rằng:
-
Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cơ chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần
nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung
bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.¬¬
-
Hộ nghèo, hộ cận nghèo là hộ gia đình qua điều tra, rà sốt hằng năm ở cơ
sở đáp ứng các tiêu chí về xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định của Thủ
tướng Chính phủ và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận
thuộc danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn.
-
Người nghèo: là người thuộc hộ nghèo.
-
Lao động nghèo: là người trong độ tuổi lao động, cịn khả năng lao động
thuộc hộ nghèo.
•
Tiêu chí xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo ở Việt Nam
Tiêu chí xác định hộ nghèo và cận nghèo được xác định trong giai đoạn 2016-2020
được căn cứ theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ “về
việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020”:
(1)
Các tiêu chí về thu nhập
-
Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và
-
900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.
-
Chuẩn cận nghèo: 1.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thơn và
-
1.300.00
(2)
Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản
-
Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và
vệ sinh; thông tin;
đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.
-
Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số):
tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng
đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình qn đầu người; nguồn
nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản
phục vụ tiếp cận thông tin.
(3)
Hộ nghèo
a)
Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
-
Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;
-
Có thu nhập bình qn đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.00.00 đồng
và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ
bản trở lên.
b)
Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
-
Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;
-
Có thu nhập bình qn đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000
đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã
hội cơ bản trở lên.
Mức chuẩn nghèo quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh
xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác.
•
Kinh tế hộ gia đình:
Tại Việt Nam, lực lượng sản xuất quan trọng nhất ở nông thôn là kinh tế hộ gia
đình. Lực lượng sản xuất này chủ yếu phát triển dựa vào nơng nghiệp, có mơ hình
sản xuất, kinh doanh đa dạng, kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, tiểu thủ công
nghiệp và kinh doanh ngành nghề phụ. Do nơng nghiệp, nơng thơn và nơng dân có
vai trị quan trọng trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước, Đảng và Nhà
nước ta đã có những chủ trương, chính sách về nơng nghiệp, tạo điều kiện cho kinh
tế hộ gia đình phát triển. Từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa VI
(1988), hộ nơng dân đã thực sự được trao quyền tự chủ trong sản xuất, và do đó đã
khơi dậy nhiều nguồn lực và tiềm năng để kinh tế hộ gia đình phát triển. Nghị
quyết Trung ương 6 lần 1 (khoá VIII) với chủ trương tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh
cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn đã
khẳng định nông nghiệp, nơng thơn là lĩnh vực có vai trị cực kỳ quan trọng cả
trước mắt và lâu dài, làm cơ sở để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.
Trong Chương trình giảm nghèo, hộ gia đình được hiểu là những người cùng ăn,
cùng ở, cùng chung quỹ chi tiêu. Do đó, đây là một đơn vị sản xuất phổ biến, có vị
trí quan trọng trong q trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế vĩ mô, nhằm huy
động mọi nguồn lực tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trong hoạt động kinh tế, hộ gia đình có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình
sản xuất và tái sản xuất. Chủ hộ điều hành tồn bộ mọi q trình sản xuất kinh
doanh và chịu trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động của mình.
Kinh tế hộ gia đình đang có cơ hội, điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn khi Chương
trình Giảm nghèo đang là mục tiêu phát triển kinh tế trọng tâm của nước ta. Với
những cách tiếp cận đối tượng theo hộ gia đình và chính sách hỗ trợ trên tinh thần
“nhà nước và nhân dân cùng làm”, Chương trình đã và đang tỏ ra hiệu quả trong
việc hỗ trợ hộ nghèo phát triển kinh tế hộ gia đình, xố bỏ tơ tơởng trơng chờ, ỷ lại
vào các chính sách cho không nhơ thời gian trước đây.
(3).Khái niệm vay vốn ưu đãi
Vốn là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất đối với quá trình tăng trưởng
và phát triển kinh tế đối với mỗi quốc gia. Việt Nam là nước đang phát triển có nhu
cầu vốn rất lớn để đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì vậy nhận
thức và vận dụng đúng đắn phạm trù vốn là tiền đề thúc đẩy khai thác có hiệu quả
mọi tiềm năng vốn để đầu tư phát triển nền kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế
nơng nghiệp nơng thơn nói riêng. Hiện nay, vốn được tiếp cận dưới nhiều góc độ
khác nhau:
Vốn là một khối lượng tiền tệ nào đó được ném vào lưu thơng nhằm mục đích
kiếm lời. Số tiền đó được sử dụng mn hình, mn vẻ, nhưng suy cho cùng là để
mua sắm tư liệu sản xuất và trả công cho người lao động, nhằm hồn thành cơng
việc sản xuất kinh doanh hay dịch vụ nào đó với mục đích là thu về số tiền lớn hơn
số tiền ban đầu (Trần Thị Thu Thủy, 2010).
Các nhà kinh tế thuộc nhiều trường phái kinh tế trước C.Mác nghiên cứu vốn thông
qua phạm trù tư bản và đi đến kết luận: Vốn là phạm trù kinh tế, do yêu cầu cao
của sự phát triển, vốn là yếu tố cần thiết đối với quá trình sản xuất các nước đang
phát triển và kém phát triển. Phạm trù vốn trong phát triển kinh tế được các nhà
kinh tế học nghiên cứu và tiếp cận trên nhiều bình diện khác nhau.
Trên cơ sở đó, vốn vay là vốn huy động được từ bên ngoài để bổ sung, làm tăng
lượng vốn của chủ thể kinh doanh, đảm bảo tính liên tục và hiệu quả của q trình
sản xuất. (Trần Thị Thu Thủy, 2010). Người vay vốn là người có nhu cầu bổ sung
vật chất và tài sản vào quá trình sản xuất, kinh doanh. Họ mua quyền sử dụng vốn
bằng cách trả cho chủ sở hữu vốn một khoản dưới dạng lãi suất cho vay, lãi suất
cho vay tùy thuộc vào nhu cầu lượng vốn vay và lãi suất huy động vốn.
Vốn vay tín dụng ưu đãi với hộ nghèo:
Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ và triển khai nhiều
chương trình ưu đãi dành cho người dân tộc thiểu số và người nghèo các khu vực
để phát triển kinh tế. Đây là giải pháp nhằm mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài
chính, tín dụng nhất là các quỹ tiết kiệm và tín dụng nhỏ phù hợp với thói quen,
phong tục tập quán. Việc cải cách và đổi mới hệ thống tài chính, tín dụng nơng
thơn đã tạo điều kiện đầu tư vốn thuận lợi để giúp đỡ nông dân nhất là hộ gia đình
nghèo đa dạng hóa sản phẩm nơng nghiệp, đảm bảo điều kiện vay vốn thuận lợi,
đồng thời cũng huy động được các nguồn lực tín dụng trong xã hội để phát triển
sản xuất.
Bên cạnh đó, tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau và hoàn trả cả gốc và lãi
trong một khoảng thời gian nhất định đã được thỏa thuận giữa người đi vay và
người cho vay. Hay nói một cách khác, tín dụng là một phạm trù kinh tế, trong đó
mỗi cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hay hiện
vật cho một các nhân hay tổ chức khác với thời hạn hoàn trả cùng với lãi suất, cách
thức vay mượn và thu hồi món vay… Tín dụng ra đời, tồn tại và phát triển cùng
với nền sản xuất hàng hóa. Trong điều kiện nền kinh tế cịn tồn tại song song hàng
hóa và quan hệ hàng hóa tiền tệ thì sự tồn tại của tín dụng là một tất yếu khách
quan.
Ngày 04/10/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng
đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Theo đó, tín dụng đối với
người nghèo là những khoản tín dụng chỉ dành riêng cho người thuộc hộ nghèo, có
sức lao động, nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất trong một thời gian nhất định
phải hoàn trả số tiền gốc và lãi; tuỳ theo từng nguồn có thể hưởng theo lãi suất ưu
đãi khác nhau nhằm giúp người nghèo mau chóng vượt qua nghèo đói vươn lên
hồ nhập cùng cộng đồng. Tín dụng đối với người nghèo hoạt động theo những
mục tiêu, nguyên tắc, điều kiện riêng, khác với các loại hình tín dụng của các Ngân
hàng Thương mại mà nó chứa đựng những yếu tố cơ bản sau (Nguyễn Thị Lan,
2005):
*
Mục tiêu: Tín dụng đối với người nghèo nhằm vào việc giúp những lao động
thuộc hộ nghèo có vốn phát triển sản xuất kinh doanh nâng cao đời sống, hoạt
động vì mục tiêu giảm nghèo bền vững, khơng vì mục đích lợi nhuận.
*
Ngun tắc cho vay: Cho vay hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn sản
xuất kinh doanh. Hộ nghèo vay vốn phải là những hộ được UBND cấp xã công
nhận theo chuẩn nghèo do Chính phủ hoặc do địa phương quy định trong từng thời
kỳ. Hộ nghèo tham gia vay vốn có trách nhiệm phải hồn trả (gốc và lãi) theo kỳ
hạn đã thoả thuận.
*
Điều kiện: Có một số điều kiện, tuỳ theo từng nguồn vốn, thời kỳ khác nhau,
từng địa phương khác nhau có thể quy định các điều kiện cho phù hợp với thực tế.
Nhưng một trong những điều kiện cơ bản nhất của tín dụng đối với người nghèo đó
là: Khi được vay vốn khơng phải thế chấp tài sản.
Vai trò của vốn vay ưu đãi đối với hộ nghèo
Tín dụng ưu đãi là một trong những yếu tố để phát triển nông nghiệp, nhất là giúp
các hộ nghèo phát triển kinh tế hộ gia đình. Tín dụng ưu đãi là cần thiết cho các
vùng mà lao động đang gặp nhiều khó khăn về đời sống và kinh tế, cho các thời
điểm mà nông dân thực sự đáp ứng nhu cầu bức thiết của nơng dân và nơng thơn.
Vì thế tùy theo điều kiện của từng quốc gia, chính phủ có những chương trình tín
dụng ưu đãi cho phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, cho hộ nghèo thiếu
vốn sản xuất, để thực hiện các mục tiêu giảm nghèo bền vững, công bằng xã hội và
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nơng nghiệp nơng thơn.
Như đã đề cập, một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, có nguyên nhân
chủ yếu và cơ bản là do thiếu vốn, thiếu kiến thức làm ăn. Vốn, kỹ thuật, kiến thức
làm ăn là “chìa khố” để người nghèo vươn lên thốt nghèo. Do khơng đáp ứng đủ
vốn nhiều người rơi vào tình thế luẩn quẩn làm khơng đủ ăn, phải đi làm thuê, vay
nặng lãi, bán lúa non, cầm cố ruộng đất, chặt phá rừng… mong đảm bảo được cuộc
sống tối thiểu hàng ngày, nhưng nguy cơ nghèo đói vẫn thường xun đe doạ họ,
thốt nghèo khơng bền vững. Mặt khác do thiếu kiến thức làm ăn nên lao động
nghèo chậm đổi mới tư duy làm ăn, bảo thủ với phương thức làm ăn cũ cổ truyền,
không muốn hoặc không thể áp dụng kỹ thuật mới để tăng năng suất lao động làm
cho sản phẩm sản xuất ra kém hiệu quả. Thiếu kiến thức và kỹ thuật làm ăn là một
cản lực lớn nhất hạn chế tăng thu nhập và cải thiện đời sống hộ gia đình nghèo.
Khi giải quyết được vốn cho người nghèo có tác động hiệu quả thiết thực.
Ngồi ra, hộ nghèo cịn gặp một số trở ngại như: trong hộ gia đình có thành viên là
người già, yếu, ốm đau, khơng có sức lao động, hoặc do đông con dẫn đến thiếu
lao động, nhiều người ăn theo, hay do mắc tệ nạn xã hội, lười lao động, hộ gia đình
thiếu kiến thức trong sản xuất kinh doanh, do điều kiện tự nhiên bất thuận lợi, do
không được đầu tư, do thiếu vốn... Trên thực tế, ở nông thôn Việt Nam bản chất
của những nhiều người dân là tiết kiệm cần cù, nhưng nghèo đói là do khơng có
vốn để tổ chức sản xuất, thâm canh, tổ chức kinh doanh. Vì vậy, vốn ở những
trường hợp này là điều kiện tiên quyết, là động lực đầu tiên giúp hộ nghèo phát
triển kinh tế, vươn lên thoát nghèo. Khi có vốn trong tay, kết hợp sức lao động và
phương pháp làm ăn, hộ nghèo sẽ dần có điều kiện mua sắm vật tư, phân bón, cây
con giống để tổ chức sản xuất thực hiện thâm canh tạo ra năng xuất và sản phẩm
hàng hoá cao hơn, tăng thu nhập, cải thiện đời sống.
Tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo cũng tạo điều kiện cho người nghèo không phải vay
nặng lãi, khơng phải tiếp cận với nguồn tín dụng khơng tích cực, nên hiệu quả hoạt
động kinh tế sẽ cao hơn, tránh được sự bóc lột, lợi dụng của các hoạt động vay
nặng lãi.
Lao động nghèo sẽ dần nâng cao được kiến thức tiếp cận với thị trường, có điều
kiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Để đáp ứng điều
kiện thu hồi vốn và lãi, lao động nghèo tham gia vay vốn phải tính tốn phương
thức và cách thức làm ăn để có hiệu quả kinh tế cao. Để làm được điều đó họ phải
tìm hiểu học hỏi kỹ thuật sản xuất, suy nghĩ biện pháp quản lý từ đó tạo cho họ
tính năng động sáng tạo trong lao động sản xuất, tích luỹ được kinh nghiệm trong
công tác quản lý kinh tế. Mặt khác, khi số đơng người nghèo đói tạo ra được nhiều
sản phẩm hàng hố thơng qua việc trao đổi trên thị trường làm cho họ tiếp cận
được với kinh tế thị trường một cách trực tiếp.
Cuối cùng, giảm nghèo là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các
ngành. Tín dụng cho người nghèo thơng qua các quy định về mặt nghiệp vụ cụ thể
của nó như việc bình xét cơng khai những người được vay vốn, việc thực hiện các
tổ tương trợ vay vốn, tạo ra sự tham gia phối hợp chặt chẽ giữa các đoàn thể chính
trị xã hội, của cấp uỷ, chính quyền. Điều này sẽ dẫn đến một số lợi ích sau: (1)
Tăng cường hiệu lực của cấp uỷ, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo kinh tế ở địa
phương; (2) Tạo ra sự gắn bó giữa hội viên, đồn viên với các tổ chức hội, đồn
thể của mình thơng qua việc hướng dẫn giúp đỡ kỹ thuật sản xuất, kinh nghiệm
quản lý kinh tế của gia đình, quyền lợi kinh tế của tổ chức hội thông qua việc vay
vốn; (3) Thông qua các tổ tương trợ tạo điều kiện để những người vay vốn có cùng
hồn cảnh gần gũi, nêu cao tính tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau tăng cường
tình làng, nghĩa xóm, tạo niềm tin ở dân đồi với Đảng, Nhà nước. Điều này sẽ thay
đổi đời sống kinh tế ở nơng thơn, an ninh, trật tự an tồn xã hội phát triển tốt, hạn
chế được những mặt tiêu cực, tạo ra được bộ mặt mới trong đời sống kinh tế xã hội
và nông thôn.
Đặc điểm tâm lý – xã hội và nhu cầu của hộ gia đình nghèo
*
Đặc điểm tâm lý – xã hội
Nhìn chung người thuộc hộ gia đình nghèo thường có đặc điểm tâm lý mặc cảm, tự
ti, do hoàn cảnh, chất lượng cuộc sống không bằng mặt bằng chung của cộng đồng.
Từ đó dẫn đến việc ngại giao tiếp và tham gia vào các hoạt động tập thể. Bên cạnh
đó, cịn nhiều trường hợp người nghèo có tư tưởng bng xi, phó mặc và chưa
thực sự quyết tâm vươn lên, không dám đấu tranh, không dám bộc lộ bản thân,
ngại thay đổi.
Sự tự tin của nhóm người này dẫn đến sự thiếu mạnh dạn tham gia, đề xuất ý kiến
với cộng đồng. Họ tự cho rằng lời nói của mình khơng có trọng lượng, khơng được
chấp thuận...
*
Nhu cầu của hộ gia đình nghèo
Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con
người vào những năm 1950. Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu
nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến
cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần.
Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con
người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu. Ông đã đem các loại
nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính địi hỏi của nó và thứ tự phát
sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của
con người tư thấp đến cao.
Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như
nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục.
Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh: An ninh và an tồn có nghĩa là một mơi trường
khơng nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người.
Những nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận: Do con người là thành viên của xã
hội nên họ cần nằm trong xã hội và được người khác thừa nhận.
Nhu cầu được tơn trọng: Lịng tự trọng và được người khác tôn trọng.
Nhu cầu phát huy bản ngã: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân
cấp về nhu cầu của ơng. Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của
một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó. Nội dung
nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu,…) nhu cầu
thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng
khả năng của cá nhân.
Người thuộc hộ nghèo cũng có những nhu cầu nhất định và cơ bản của họ. Nhu cầu
lớn nhất của người nghèo trước tiên là đủ ăn, đủ mặc khơng bị đói kém triền miên
hết năm này sang năm khác. Những hộ quá nghèo thì nhu cầu được trợ cấp hàng
tháng của Nhà nước để đáp ứng những nhu cầu tối thiểu, muốn được vay vốn để
phát triển sản xuất, có nhu cầu học hỏi kinh nghiệm trong chăn nuôi, trồng trọt.
Hiểu được những nhu cầu của lao động nghèo để biết họ đang ở bậc thang nhu cầu
thứ mấy, họ đã đáp ứng được nhu cầu nào và mong muốn gì giai đoạn tiếp theo
nhằm tiếp cận để thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của người nghèo như ăn, mặc, học
hành, khám chữa bênh, nhà ở…
Đáp ứng đúng nhu cầu của lao động nghèo sẽ giúp họ phát triển bền vững hơn
trong kinh tế, điều kiện sống của gia đình. Tuy nhiên, nhu cầu thì nhiều, hầu như
gia đình nào cũng có nhu cầu kể cả gia đình thốt nghèo và khá giả. Vậy cùng một
lúc và với sự hỗ trợ hạn hẹp của Chính phủ thì không thể đáp ứng đầy đủ và hết
những nhu cầu của người nghèo được. Cần có sự ưu tiên trong các nhu cầu, phải
xem xét nhu cầu nào là thật sự cần thiết và tính hiệu quả khi giải quyết các nhu cầu
này. Điều này địi hỏi phải có những cán bộ làm CTXH đi sâu tìm hiểu từng hộ gia
đình, lắng nghe những tâm sự, mong muốn, nguyện vọng của người nghèo từ đó
xây dựng kế hoạch trợ giúp.
1.2.
Một số lý thuyết vận dụng