TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
------------------
HỌC PHẦN: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Tiểu luận:
MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VỚI
MÔI TRƯỜNG
Giáo viên giảng dạy:
Học viên:
PSS. TS Ngun Khoa L©n
Nguyễn Thị Hương
Lê Thị Thanh Tâm
Trần Thị Tố Loan
Chuyên ngành: PPDH-K18
Huế, tháng 5-2010
1
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
MỤC LỤC
trang
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ........................................................................................3
PHẦN II: NỘI DUNG .........................................................................................4
I. Tác động của môi trường đến con người.............................................................4
I.1. Bức thư 2070....................................................................................................4
I.2. Tác động của môi trường đến con người..........................................................6
I.2.1. Ảnh hưởng của môi trường đến sự hình thành lồi người.............................6
I.2.2. Mơi trường là nguồn tài nguyên của con người.............................................6
I.2.3. Môi trường tác động đến sản xuất xã hội.......................................................9
II. Tác động của con người đến môi trường............................................................11
II.1. Quá trình tác động của con người vào tự nhiên...............................................11
II.2. Con người là thành phần, là chủ thể trong hệ môi trường...............................12
II.3. Hậu quả sự tác động của con người đến môi trường.......................................13
II.3.1. Tác động của con người vào hệ thống tự nhiên............................................13
II.3.2. Sự suy giảm đa dạng sinh học......................................................................15
II.3.3. Cạn kiệt nguồn tài ngun............................................................................16
II.3.4. Ơ nhiễm mơi trường.....................................................................................19
II.3.5. Các hậu quả khác.........................................................................................29
III. Sự điều chỉnh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên...................................30
IV. Các biện pháp giải quyết mối quan hệ giữa con người với môi trường.............31
PHẦN III: KẾT LUẬN........................................................................................35
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................36
2
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Mơi trường và con người có một mối quan hệ biện chứng qua lại. Ngay từ
thời cổ đại, mối quan hệ giữa con người - mơi trường và vai trị của môi trường đối
với sự phát triển của con người đã được một số học giả đề cập đến. Tuy nhiên,
những quan điểm và nhận thức về vấn đề này còn rời rạc, chưa mang tính hệ thống.
Đến thời trung cổ, các quan điểm về mối quan hệ và vai trò của môi trường đối với
con người chịu sự chi phối mạnh mẽ của các tư tưởng tôn giáo, với ý niệm cho rằng:
Chúa tạo ra vạn vật, con người là trung tâm của vũ trụ. Từ thế kỉ XIX, bắt đầu xuất
hiện hàng loạt các trường phái lí thuyết mới trong lĩnh vực nghiên cứu này. Đặc biệt
là từ những năm 1950, vấn đề con người-mơi trường đã được nhìn nhận ở nhiều
chiều cạnh khác nhau như văn hóa, lịch sử, chính trị, tơn giáo, tín ngưỡng,… Và vai
trị của môi trường trong sự phát triển bền vững của con người được các học giả đặc
biệt quan tâm không chỉ ở phạm vi vùng, miền, quốc gia mà còn mang tính tồn cầu.
Giữa con người và mơi trường có quan hệ chặt chẽ với nhau như máu chảy
đến từng cơ quan bộ phận. Cụ thể, con người tác động đến môi trường, chọn lựa và
tạo dựng môi trường sống của mình từ mơi trường tự nhiên. Ngược lại, mơi trường
tự nhiên quy định cách thức tồn tại và phát triển của con người. Tuy nhiên, con
người phải phát triển dựa trên các quy luật của tự nhiên. Ngày nay, con người tác
động vào tự nhiên theo 2 hướng tích cực và tiêu cực, sự tác động của con người
tăng lên theo theo sự gia tăng quy mô dân số và hình thái kinh tế. Như vậy, mơi
trường cung cấp nguồn tài nguyên thiên nhiên, không gian lãnh thổ sống cho con
người, nhưng Trái đât – một vật thể hữu hạn, nó cũng có khả năng tải và cung cấp
một nguồn tài nguyên nhất định. Mặt khác, môi trường cũng là nơi tiếp nhận các
nguồn thải của con người. NHƯNG, con người làm ơ nhiễm và suy thối mơi
trường sẽ hủy hoại chính cuộc sống của con người. “ CON NGƯỜI VỪA LÀ THỦ
PHẠM, VỪA LÀ NẠN NHÂN CỦA CHÍNH MÌNH”. Xuất phát từ mâu thuẩn đó,
chúng tơi lựa chọn nghiên cứu vấn đề “ MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ
MÔI TRƯỜNG”.
3
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
PHẦN II: NỘI DUNG
I. Tác động của môi trường đến con người
I.1. Bức thư 2070
Bức thư của một người được gửi đến từ năm 2070 có nội dung như sau: “Chúng
tơi đang ở vào năm 2070, tôi vừa bước sang tuổi 50 nhưng trong như đã 85, tơi
đang bị bệnh nặng về thận vì uống q ít nước. Tơi nghĩ rằng mình khơng con sống
được bao lâu nữa, hiện nay tôi là người già nhất cịn sống trong xã hội này. Tơi nhớ
rằng lúc tơi 5 tuổi, mọi sự đã khác xa bây giờ, có rất nhiều cây cối trong cơng viên,
nhà cửa có cây xanh xung quanh, tơi có thể tắm thật lâu tùy thích và đứng dưới vịi
sen nước cả giờ đồng hồ. Hiện nay, chúng tơi đành phải lau mình bằng khăn giấy
thấm dầu khoáng chất. Trước đây, phụ nữ hãnh diện và mái tóc đẹp của mình, bây
giờ thì chúng tơi phải cạo trọc để giữ cho đầu sạch mà không phải dùng nước.
Trước đây, cha tôi thường rữa xe với nước tn ra từ vịi, hiện nay trẻ em khó tin
rằng người ta khó có thể làm được một điều như thế. Tơi nhớ những lời cảnh báo,
“ĐỪNG PHÍ PHẠM NƯỚC”, nhưng chẳng ai buồn để ý, người ta nghĩ rằng nguồn
nước thì vơ tận. Ngày nay, sơng, đập, vịn và nước ngầm hoặc đã ô nhiễm tồi tề hoặc
đã khô cạn rồi. Phong cảnh chung quanh chúng tôi trở thành một sa mạc mênh
mông, bệnh đường ruột, bệnh da liễu và bệnh tiểu đường trở thành những nguyên
do chính khiến người ta chết. Kỹ nghệ tê liệt và tình trạng thất nghiệp đạt đến mức
bi đát. Những nhà máy lọc nước muối trở thành nơi tuyển dụng chính, người ta trả
cơng bằng nước uống thay vì trả lương. Người ta luôn khát nước đến khô cổ trên
những con đường vắng tanh. 80% thức ăn là lương thực tổng hợp. Trước đây, người
ta khuyên một người lớn nên uống 8 ly nước mỗi ngày, hiện nay tôi chỉ được phép
uống nữa ly thơi. Vì khơng thể giặt đồ nên chúng tôi vứt bỏ chúng, và lại làm tăng
thêm số lượng rác. Chúng tôi phải trở lại với loại nhà vệ sinh hôi thối như thế kỷ
trước kia do hệ thống thải khơng cịn hoạt động vì thiếu nước. Người ta chỉ cịn da
bọc xương, thân thể gầy cịm, khơ cằn vì thiếu nước. Da thịt lỡ loét do tia cực tím
mà bầu khí quyển khơng cịn lọc được vì tầng ozon đã tan biến rồi. Vì da khơ nên
một thiếu nữ 20 trông già hơn 40. Các nhà khoa học thực hiện đủ loại nghiên cứu
4
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
nhưng khơng tìm ra được giải pháp ổn thỏa, chúng tôi không thể sản xuất được
nước. Vì thiếu cây nên lượng oxy cần thiết cũng thiếu, do đó chỉ số thơng minh của
thể hệ sắp đến sẽ thấp đi rất nhiều. Cấu trúc tinh trùng của nhiều người đã biến
đổi…hệ quả là các cháu sinh ra đủ loại thiểu năng, khuyết tật và dị tật. Chính phủ
bắt mọi người phải đóng thuế cho khơng khí mình thở 137 mét khối mỗi ngày
(137.000 lít). Những ai khơng trả thuế nổi thì bị đuổi ra khỏi “vùng thống khí”
được lắp đặt những chiếc phổi nhân tạo khổng lồ, chạy bằng năng lượng mặt trời.
Khơng khí trong “vùng thống khí” thì khơng trong lành lắm nhưng ít ra thì cũng
thở được. Tuổi thọ trung bình là 35. Một số nước bảo vệ thành cơng vài hịn đảo có
cây cối và suối nước, những vùng này được quân đội canh phòng rất nghiêm ngặt.
Nước trở thành một vật liệu hiến, một kho tàng rất được tìm kiếm, quý hơn vàng bạc
và kim cương. Cịn ở đây thì khơng cịn cây cối nữa vì rất ít khi mưa, và khi trời
mưa thì chỉ là mưa axit. Khơng cịn bốn mùa trong năm, những thay đổi khí hậu
như hiệu ứng nhà kính và những hoạt động ơ nhiễm mà chúng tơi bỏ qua trong thế
kỷ 20, giờ đây đã xóa sạch các mùa. Lúc bấy giờ, tôi đã được cảnh báo là cần phải
để ý đến môi trường, nhưng chẳng ai quan tâm. Tơi khơng thể khơng thấy mình có
tội vì tơi thuộc một thế hệ đã hồn tất cơng việc phá hoại mơi trường sống của mình
do khơng buồn quan tâm đến những lời cảnh báo, mặc dù những lời cảnh báo ấy
khơng phải là ít. Tơi thuộc về thế hệ cuối cùng cịncó thể thay thế được nhưng đã
chọn lựa không hành động mảy may. Ngày nay, con cái chúng tơi phải trả giá q
đắt. Ơi! Ước gì tơi có thể đi ngược thời gian để nói với nhân loại hiểu điều này…
vào thời điểm mà chúng ta còn có thể làm một cái gì đó để cứu lấy hành tinh – Địa
cầu của mình. Xin gửi bức thư này đến mọi thân hữu của bạn và góp phần, dù là
nhỏ nhoi vào chương trình cảnh báo về vấn đề thiếu nước. Đây khơng phải là trị
đùa, mà đã là một thực trạng rồi. Hãy làm vì con cái của bạn, nếu bạn chưa có con
thì ngày nào hẳn bạn sẽ có. Đừng để lại di sản là một hỏa ngục. Hãy để lại sự sống
cho các cháu”. Người đàn ơng này ước có thể quay ngược thời gian để làm được
một điều gì đó nhưng khơng thể, cịn chúng ta, chúng ta thuộc vào thế hệ cuối cùng
có thể hành động được, chúng ta đã làm gì và sẽ phải làm gì?
5
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
I.2. Tác động của mơi trường đến con người
I.2.1. Ảnh hưởng của môi trường đến sự hình thành lồi người [2]
Mơi trường tự nhiên quy định cách thức tồn tại và phát triển của con người.
Cụ thể, mơi trường có ảnh hưởng đến hình dạng, kích thước của cơ thể. Việc chuyển
cuộc sống và cách kiếm ăn từ trên cây xuống mặt đất đã làm thay đổi cột sống và 2
chi trước, khiến cho con người đứng thẳng được và sử dụng đôi tay khéo léo. Thức
ăn chín và tinh hơn đã làm thay đổi bộ răng và xương hàm rút ngắn dần lại. Tư duy
phát triển đã làm não bộ ngày một tăng thể tích, trán dơ ra và bộ sườn khép gọn lại.
Lượng protit động vật ngày một tăng và thức ăn ngày càng có hàm lượng
dinh dưỡng cao đã giúp con người tăng dần lên về kích thước. Hiện nay người ở
vùng ôn đới (ăn nhiều thịt) cũng to lớn hơn người miền nhiệt đới (ăn nhiều thực
vật). Để chống lại cái lạnh, người miền nhiệt đới có lớp mỡ dày hơn, lơng rậm hơn.
Người miền xích đạo có màu da đen hơn.
Môi trường ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người. Cung cấp
thức ăn, nguyên liệu làm nhà ở, đường sá cầu cống, các phương tiện đi lại. Cung cấp
nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất các đồ tiêu dùng, thuốc men, mỹ
phẩm, quần áo, vải vóc…Cung cấp các địa điểm nghỉ ngơi, an dưỡng, du lịch…
I.2.2. Môi trường là nguồn tài nguyên của con người [2, 3]
Môi trường là nơi con người khai thác nguồn vật liệu và năng lượng cần thiết
cho hoạt động sản xuất và cuộc sống như đất, nước, khơng khí, khống sản và các
dạng năng lượng như gỗ, củi, ánh sáng mặt trời, gió,…Các sản phẩm cơng, nơng,
lâm, ngư, nghiệp và văn hóa, du lịch của con người từ các dạng vật chất tồn tại trên
trái đất và không gian bao quanh trái đất.
Ơng cha ta đã từng nói “rừng vàng biển bạc”, môi trường đã cung cấp cho
con người một nguồn tài nguyên phong phú, dồi dào. Có những quốc gia may mắn
hơn những quốc gia khác khi được sinh sống trên những vùng đất giàu có tài
ngun. Thế nhưng khơng phải quốc gia nào có nhiều tài nguyên cũng trở nên giàu
có. Tài nguyên thiên nhiên là dạng hàng hóa đặc biệt bởi chúng khơng phải đi qua
q trình sản xuất. Nếu được quản lý tốt, tài nguyên sẽ sản sinh lợi tức. Với nhiều
6
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
quốc gia, khoản lợi tức này đóng góp rất lớn vào nguồn tài chính phục vụ phát triển
đất nước. Song bên cạnh đó cũng có những quốc gia sống dựa vào việc bán rẻ tài
nguyên và bị kìm hãm trong “lời nguyền tài nguyên”. Bản thân mỗi quốc gia và
người dân của họ phải xây dựng các hệ thống quản lý tài nguyên nhằm đảm bảo
nguồn của cải này phục vụ cho lợi ích phát triển và ổn định của chính họ
(Shankleman 2006) [16]. Chính vì vậy, kiểm sốt nguồn tài ngun thiên nhiên cũng
là nền tảng trong vấn đề bảo vệ chủ quyền của mỗi quốc gia. Đồng thời, quản lí,
khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội
của đất nước. [16]
Tuy nhiên, để phát triển kinh tế các nước, các nguồn tài nguyên bị khai thác
cạn kiệt dẫn tới tình trạng suy thối về chất lượng và số lượng. Đồng thời, các quốc
gia còn phải đối mặt với việc giải quyết các thảm hoạ môi trường. Do vậy, “Tăng
trưởng chỉ là ảo nếu dựa vào khai thác quá mức tài nguyên đất đai và khai thác cạn
kiệt các nguồn tài nguyên ngư nghiệp và lâm nghiệp” (Hamilton and World Bank
2006) [16]. Tuy nhiên, theo tính tốn, vốn thiên nhiên cuả nước ta chiếm khoảng
27% tổng giá trị tài sản quốc gia– cùng nhóm các nước thu nhập thấp theo phân loại
của Ngân hàng Thế giới (Hồng, Hải et al. 2008) [16]. Do vậy, để nâng cao giá trị
của các nguồn tài nguyên cần đẩy mạnh tới cơng tác quản lí và sử dụng hợp lí các
nguồn tài ngun phù hợp với mơi trường nước ta.
Đối với nước ta, tài nguyên thiên nhiên rất đa dạng và phong phú. Trong các
loại khoáng sản phải kể đến photphate, dầu, than đá, khí đốt, quặng bơ-xit,….Nhiều
nguồn khống sản với trữ lượng lớn. Đặc biệt là than đá. Việt Nam nước ta là nhà
sản xuất antraxit (than cứng) lớn nhất khu vực châu Á-Thái Bình Dương và chiếm
1/3 sản lượng than antraxit của thế giới. Về mặt dầu và khí đốt, sản lượng khai thác
dầu thơ khoảng 400.000 thùng/ ngày (2004). Ước tính sản lượng dầu thơ của nước ta
đạt khoảng 600 triệu – 3 tỷ thùng, trữ lượng khí đốt khoảng 190 tỷ m 3 (Tạp chí dầu
và khí, 2006) [3]. Ở nước ta, ngành cơng nghiệp khai khống đã đóng góp trên 100
sản phẩm [3]. Đóng góp của khống sản có xu hướng tăng trong thời gian vừa qua
do giá cả thị trường của các tài nguyên này tăng và sản lượng khai thác nâng lên do
7
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
có đầu tư sâu vào hoạt động thăm dò để phát hiện thêm nhiều mỏ mới. Giá trị sản
xuất cơng nghiệp khống sản từ năm 1995 đến năm 1999 tăng liên tục từ 27- 40
nghìn tỉ đồng, chiếm 26% giá trị sản xuất công nghiệp trong cả nước và 5-6% GDP
cả nước [3].
Bảng 1: Giá trị tài nguyên thiên nhiên (khí thiên nhiên và than đá) [3]
Đất là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, đặc biệt
là những quốc gia với hơn 70% dân số tham gia vào hoạt động nông nghiệp.
Trong nguồn vốn thiên nhiên, tài nguyên rừng – nguồn tài nguyên có thể tái
sinh – mới chỉ đóng góp 9%. Giá trị tài nguyên gỗ và phi gỗ có thể được tăng lên
đáng kể mà khơng làm kiệt quệ rừng nếu có đầu tư thích đáng vào cải thiện năng
suất rừng sản xuất thông qua cải tiến cơng nghệ, quản lý và chính sách [16].
Tài ngun nước ta rất phong phú. Nước ta có 2.360 con sơng, 10 lưu vực
sơng có diện tích hơn 10.000 km 2. Tổng lượng dịng chảy hằng năm trên tất cả các
sơng suối chảy qua nước ta khoảng 853km 3/năm tương đương với 27100 m3/giây.
Tổng lượng dòng chảy thuộc phần phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam là 317km 3/năm
chiếm 37% tổng lượng dòng chảy, phần còn lại được sản sinh từ nước láng giềng
khoảng 536km3/năm, chiếm 63% tổng lượng dòng chảy năm [1].
Vùng biển Việt Nam rộng khoảng 1 triệu km2, án ngữ trên các tuyến hàng hải
và hàng không huyết mạch giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Châu Âu,
Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực. Bờ biển
Việt Nam dài 3.260km, bao bọc lãnh thổ Việt Nam ở cả ba hướng Đơng, Nam và
Tây Nam, trung bình 100km2 đất liền có 1km bờ biển (cao gấp sáu lần tỷ lệ này của
thế giới). Dọc bờ biển có một số trung tâm đô thị lớn, 90 cảng biển lớn nhỏ và gần
100 địa điểm có thể xây dựng cảng (kể cả cảng ở qui mơ trung chuyển thế giới), 125
bãi biển có cảnh quan đẹp, trong đó có 20 bãi đạt tiêu chuẩn quốc tế để phát triển du
8
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
lịch biển. Ven bờ biển có nhiều loại khống sản và vật liệu xây dựng quan trọng
phục vụ phát triển công nghiệp và hơn 6 vạn héc ta ruộng muối biển [1, 3,12].
Các nguồn năng lượng, vật liệu, thông tin sau mỗi lần sử dụng được tuần
hoàn quay trở lại dạng ban đầu được gọi là tài nguyên tái tạo. Ngược lại, các nguồn
năng lượng, vật liệu, thông tin bị mất mát, biến đổi hoặc suy thối khơng trở lại
dạng ban đầu thì được gọi là tài nguyên không tái tạo. Tuy nhiên, với sự phát triển
của khoa học kỹ thuật, con người ngày càng tăng cường khai thác các dạng tài
nguyên mới và gia tăng số lượng khai thác, tạo ra các dạng sản phẩm mới có tác
động mạnh mẽ tới chất lượng mơi trường sống.
II.2.3. Môi trường tác động đến sản xuất xã hội.
Môi trường tự nhiên và sản xuất xã hội quan hệ khăng khít, chặt chẽ, tác
động lẫn nhau trong thế cân đối thống nhất: Môi trường tự nhiên (bao gồm cả tài
nguyên thiên nhiên) cung cấp nguyên liệu và không gian cho sản xuất xã hội. Sự
giàu nghèo của mỗi nước phụ thuộc khá nhiều vào nguồn tài nguyên, rất nhiều quốc
gia phát triển chỉ trên cơ sở khai thác tài nguyên để xuất khẩu đổi lấy ngoại tệ, thiết
bị cơng nghệ hiện đại,... Có thể nói, tài ngun nói riêng và mơi trường tự nhiên nói
chung (trong đó có cả tài ngun) có vai trị quyết định đối với sự phát triển bền
vững về kinh tế - xã hội (KT-XH) ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương vì:
Thứ nhất, mơi trường khơng những chỉ cung cấp “đầu vào” mà cịn chứa
đựng “đầu ra” cho các q trình sản xuất và đời sống. Hoạt động sản xuất là một quá
trình bắt đầu từ việc sử dụng nguyên, nhiên liệu, vật tư, thiết bị máy móc, đất đai, cơ
sở vật chất kỹ thuật khác, sức lao động của con người để tạo ra sản phẩm hàng hóa.
Những dạng vật chất trên khơng phải gì khác mà chính là các yếu tố môi trường.
Các hoạt động sống cũng vậy, con người ta cũng cần có khơng khí để thở,
cần có nhà để ở, cần có phương tiện để đi lại, cần có chỗ vui chơi giải trí, học tập
nâng cao hiểu biết,... Những cái đó khơng gì khác là các yếu tố mơi trường.
Như vậy chính các yếu tố mơi trường (yếu tố vật chất kể trên - kể cả sức lao
động) là “đầu vào” của quá trình sản xuất và các hoạt động sống của con người. Hay
nói cách khác: Môi trường là “đầu vào” của sản xuất và đời sống. Tuy nhiên, cũng
9
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
phải nói rằng mơi trường tự nhiên cũng có thể là nơi gây ra nhiều thảm họa cho con
người (thiên tai), và các thảm họa này sẽ tăng lên nếu con người gia tăng các hoạt
động mang tính tàn phá mơi trường, gây mất cân bằng tự nhiên.
Ngược lại môi trường tự nhiên cũng lại là nơi chứa đựng, đồng hóa “đầu ra”
các chất thải của các quá trình hoạt động sản xuất và đời sống. Q trình sản xuất
thải ra mơi trường rất nhiều chất thải (cả khí thải, nước thải, chất thải rắn). Trong
các chất thải này có thể có rất nhiều loại độc hại làm ơ nhiễm, suy thối, hoặc gây ra
các sự cố về mơi trường. Q trình sinh hoạt, tiêu dùng của xã hội lồi người cũng
thải ra mơi trường rất nhiều chất thải. Những chất thải này nếu không được xử lý tốt
cũng sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Thứ hai, mơi trường liên quan đến tính ổn định và bền vững của sự phát triển
kinh tế - xã hội. Phát triển KT-XH là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất
và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã
hội, nâng cao chất lượng văn hóa. Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân cũng
như của cả lồi người trong q trình sống. Giữa mơi trường và sự phát triển có mối
quan hệ chặt chẽ. Môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát
triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường.
Trong hệ thống KT-XH, hàng hóa được di chuyển từ sản xuất đến lưu thơng,
phân phối và tiêu dùng cùng với dịng ln chuyển của nguyên liệu, năng lượng, sản
phẩm, chất thải. Các thành phần đó ln ln tương tác với các thành phần tự nhiên
và xã hội của hệ thống môi trường đang tồn tại trong địa bàn đó. Tác động của con
người đến mơi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc
tạo ra kinh phí cần thiết cho q trình cải tạo đó, nhưng có thể gây ra ơ nhiễm mơi
trường tự nhiên hoặc nhân tạo. Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng tác
động đến sự phát triển KT-XH thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên - đối
tượng của sự phát triển KT-XH hoặc gây ra các thảm họa, thiên tai đối với các hoạt
động kinh tế xã hội trong khu vực.
II. Tác động của con người đến môi trường
II.1. Quá trình tác động của con người vào tự nhiên
10
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
Q trình tác động của con người vào tự nhiên qua các thời kỳ:[2]
Thời kỳ tự nhiên thống trị con người và con người hoàn toàn phụ thuộc vào
tự nhiên: kéo dài từ khi loài người xuất hiện cho đến khi họ biết làm nơng nghiệp
(cách đây 10.000 năm). Đó là thời kỳ bầy người nguyên thủy, sống bằng săn bắn và
hái lượm, nghĩa là cịn phụ thuộc hồn tồn vào sự ban phát của tự nhiên.
Thời kỳ con người bắt đầu chinh phục và cải tạo tự nhiên, đặc điểm nổi bật
của thời kỳ này là dùng lửa để đốt rừng làm rẫy, biết chế tạo các công cụ lao động
bằng sắt và sự xuất hiện các động cơ, máy móc cơ khí. Trong thời kỳ này quy mơ
tác động vào tự nhiên ngày càng lớn và với mức độ ngày càng sâu, nhất là vào giai
đoạn cuối. Kết quả là tất cả các thành phần của tự nhiên và hầu như tất cả các khu
vực trên trái đất đều chịu những biến đổi to lớn và sâu sắc.
Thời kỳ con người bốc lột thậm tệ tự nhiên và tự nhiên bắt đầu trả thù con
người (từ sau cách mạng công nghiệp đến cuối những năm 60 của thế kỷ XX). Đây
là thời kỳ vơ vét khống sản để làm cơng nghiệp nặng, ra sức đốt phá rừng để làm
nông nghiệp, tìm bắt các thú để lấy lơng, da, sừng, xương, mật…Quy mô và mức độ
của sự vơ vét, tàn phá này còn được nhân lên gấp bội nhờ các thành tựu của cuộc
cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại, nhờ các q trình tự động hóa và nhờ biết sử
dụng năng lượng nguyên tử và nhiệt hạch. Ngoài ra cịn có sự tàn phá nặng nề của
chiến tranh. Tự nhiên trả thù con người bằng sự suy thoái với tốc độ ngày càng
nhanh về số lượng và chất lượng của tất cả các thành phần, bằng các tai họa sinh
thái ngày càng xảy ra dồn dập và với quy mô ngày càng lớn.
Thời kỳ con người cố gắng sống hòa nhập với tự nhiên (bắt đầu từ những
năm 70) bằng cách điều chỉnh các quá trình sản xuất (giảm các ngành công nghiệp
truyền thống, tăng các ngành công nghiệp kỹ thuật cao và kỹ thuật sạch, giảm nền
nông nghiệp hóa học mà tăng nền nơng nghiệp sinh học và sinh thái, ngày càng tăng
tỷ lệ của các hoạt động dịch vụ so với nông nghiệp và công nghiệp, tìm mọi cách để
bảo vệ và cải thiện mơi trường)
Qua các thời kỳ, các nguồn gây tác động là các hoạt động công nghiệp sản
11
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
xuất nơng nghiệp như lâm nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải, dịch vụ và sinh
hoạt của con người. Nguồn tác động còn là các cuộc chiến tranh và các cuộc thử vũ
khí hạt nhân và hóa học…Những hình thức tác động phổ biến là khai khống, phá
thảm thực vật và địa hình để làm mặt bằng cho sản xuất, cho giao thông, xây dựng
làng xóm – đơ thị, thải ra các phế liệu, chất thải ở các dạng rắn lỏng và khí vào mơi
trường, đào các hồ, kênh mương và xây dựng các hệ thống đê đập, xây dựng các
chuồng trại nhà máy công xưởng, làng mạc và các đô thị, phá hủy rừng để lấy gỗ
làm nhiên liệu, nguyên liệu cho công nghiệp giấy và làm nhà cửa, sử dụng một
lượng nước ngọt, sạch rất lớn để sản xuất công nghiệp và tưới nước trong nông
nghiệp, đưa vào môi trường một lượng lớn phân bón và thuốc trừ sâu, săn bắn rất
nhiều lồi động vật hoang dại quý hiếm và đánh bắt nhiều loài thủy hải sản.[1, 2]
II.2. Con người là thành phần, là chủ thể trong hệ môi trường
Con người là một thành phần của hệ môi trường. Mỗi hệ môi trường gồm có
nhiều thành phần mà một trong những thành phần đó là con người. Tất cả thành
phần này có mối liên hệ hữu cơ với nhau, do quy định bởi tính chất hệ của nó. Do
đó, bất kỳ một thành phần nào của hệ bị biến động thì tồn hệ sẽ bị biến động và dĩ
nhiên các thành phần còn lại đều bị ảnh hưởng. Cần nhận thức rõ hơn về quan hệ
giữa con người và môi trường là quan hệ đồng đẳng, mối quan hệ gắn bó giữa con
người và mơi trường chính là mối quan hệ gắn bó giữa một thành phần của hệ với
toàn hệ, giữa một bộ phận với toàn cơ thể.
Trong hệ sinh thái, quần xã sinh vật là chủ thể, thì trong một hệ mơi trường
con người đảm nhiệm vai trị này. Vai trị chủ thể được khẳng định trong quá trình
phát triển của con người với tư cách là một cộng đồng, một xã hội. Hơn nữa, để tồn
tại và phát triển con người phải đụng chạm đến, phải khai thác các thành phần cịn
lại của hệ. Nói con người là chủ thể còn bao hàm cả ý nghĩa này. Nhưng chỉ cần
một thành phần của hệ bị biến động sẽ kéo theo tồn hệ bị biến động, bị ảnh hưởng.
Trong q trình tồn tại của mình, con người đã khơng ngừng tác động vào hệ mơi
trường, khơng ít các nguy cơ con người tạo ra làm hệ biến đổi theo chiều hướng có
ảnh hưởng ngược lại chính mình.
12
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
Hệ sinh thái ln là hệ cân bằng động và là hệ tự điều chỉnh. Tính chất cân
bằng động và tự điều chỉnh của hệ nhờ vào khả năng thích nghi lớn và đa dạng của
cả quần xã sinh vật nói chung và các quần thể cấu thành quần xã nói riêng. Các hệ
mơi trường cũng là các hệ có cân bằng động và là các hệ có điều khiển, cơ quan điều
chỉnh hệ chính là con người sinh sống trong hệ. Con người thực hiện 2 nhiệm vụ
chính: tác động vào khả năng tự điều chỉnh của sinh vật, nâng cao năng suất sinh
học của quần xã sinh vật và điều chỉnh các yếu tố vật lý của hệ, làm cho sự vận hành
của hệ tối ưu nhất.
Vấn đề con người và môi trường có liên hệ mật thiết với nhau. Con người có
quyền được sống trong một môi trường trong sạch và lành mạnh. Điều đó đã được
ghi nhận trong một số điều ước quốc tế về môi trường. Mọi hoạt động đe dọa đến sự
sống còn của con người rõ ràng là trái với luật pháp quốc tế và cần phải được ngăn
chặn. Hiến chương châu Phi về các quyền con người và quyền của nhân dân quy
định rằng: “ Tất cả nhân dân có quyền hưởng một mơi trường thuận lợi cho sự phát
triển của mình”. Rất tiếc là những quy định kiểu như vậy có nội dung rất chung
chung và kém hiệu quả. Khi thống nhất về nguyên tắc là con người phải được hưởng
một môi trường trong sạch, các quốc gia cần phải thống nhất được các tiêu chuẩn
của môi trường trong sạch đối với con người để trên cơ sở đó xây dựng các quy định
pháp lý quốc tế chung.
II.3. Hậu quả của sự tác động của con người đến môi trường
II.3.1. Tác động của con người vào hệ thống tự nhiên.
Con người đã xuất hiện trên trái đất khoảng 3 đến 4 triệu năm, trải qua nhiều
thời đại đã tác động và làm biến đổi sâu sắc đến tự nhiên. Cùng với sự phát triển của
khoa học kỹ thuật phục vụ cho các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và cuộc sống.
Con người đã biết ứng dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho đời
sống. Con người đã biết cải tạo tự nhiên, làm tăng khả năng khai thác và sử dụng
các nguồn của cải vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng
tăng của con người. Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạt động của con người đã để lại
những ảnh hưởng tiêu cực đối với các hệ sinh thái trong tự nhiên.
13
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
Ngày nay, con người đã tác động vào hệ thống tự nhiên, không tuân theo quy
luật tự nhiên mà tuân theo quy luật xã hội, và hệ quả đã gây nên ô nhiễm môi
trường, biến đổi khí hậu, cạn kiệt nguồn tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học.
Con người tận dụng, khai thác tài nguyên thiên nhiên, các yếu tố môi trường
phục vụ cuộc sống của mình, từ chỗ bị động (khai thác đơn giản) đến cải tạo, chinh
phục tự nhiên. Con người tác động vào hệ thống tự nhiên bao gồm: hệ thực vật, hệ
động vật và hệ thống tài nguyên thiên nhiên với các hoạt động tích cực và tiêu cực.
Cụ thể, con người tác động vào hệ thực vật bằng các hoạt động như: canh tác trồng
trọt, chặt phá rừng và trồng cây gây rừng, lai tạo các giống mới, tạo các thực phẩm
biến đổi gen, lựa chọn các loài thực vật cho mục đích sống của mình, khai thác, sử
dụng làm cạn kiệt, tuyệt chủng các loài thực vật quý hiếm. Con người tác động vào
hệ động vật bằng các hoạt động: Săn bắt các loài động vật để làm nguồn thực phẩm,
thuần hóa các lồi động vật hoang dã thành động vật nuôi, khai thác, sử dụng làm
cạn kiệt, tuyệt chủng các loài động vật quý hiếm. Con người tác động vào hệ thống
tài nguyên thiên nhiên bằng các hoạt động: Sử dụng nước để sinh hoạt, trong nông,
công nghiệp, đất để sản xuất nông nghiêp…, gây ô nhiễm và làm cạn kiệt nguồn tài
nguyên này. Những thứ con người không thể sử dụng được sẽ được thải vơ tội vạ ra
ngồi mơi trường, nước thải sinh hoạt và sản xuất được thải ra các thủy vực, chất
thải rắn, chất thải nguy hại thải bỏ ra môi trường đất, các loại khí thải xả thẳng lên
mơi trường khơng khí. Tất cả những việc con người làm đã làm ô nhiễm môi trường,
suy thoái môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên. Một nhà máy 9 năm
gây ô nhiễm…vẫn chờ xử lý. Dù đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải nhưng từ khi
đi vào hoạt động năm 2001, nhà máy giấy n Bình (thuộc cơng ty cổ phần Nông
lâm sản thực phẩm Yên Bái), vẫn xã thẳng nước thải chưa xử lý với khối lượng
2000m3/ ngày đêm. Đáng ngạc nhiên là chính quyền địa phương vẫn không hay biết
về việc này.
14
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
Hình 1: Nước thải của một nhà máy giấy xả tràn lan trên một khu đất
vốn là ruộng của người dân. (Ảnh minh họa: Bee.net.vn)
II.3.2. Suy giảm đa dạng Sinh học
Việt Nam được xem như một điểm nóng về đa dạng sinh học, có khoảng 10%
trong tổng số tất cả các loài sinh vật được biết đến trên thế giới - cho đến nay xấp xỉ
12.000 loài thực vật và 7.000 loài động vật đã được ghi nhận ở Việt Nam. Tuy
nhiên, ngoài những con số đáng kinh ngạc này, thì minh chứng thu hút nhất về sự
giàu có đa dạng sinh học của Việt Nam là sự khám phá gần đây về một số loài thú
lớn chưa từng được biết đến hiện nay. Cả lồi Sao la và Mang lớn đều được tìm thấy
lần đầu tiên ở khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang, cịn lồi mang Trường Sơn đã
được các nhà khoa học đang làm việc ở khu rừng rậm thuộc tỉnh Quảng Nam miêu
tả. Theo Cunningham Saigo ước tính: Một hệ sinh thái khơng bị tác động sẽ có mức
độ tuyệt chủng là 1 loài/1 thập kỷ. Nhưng với tác động của con người, hàng trăm,
hàng nghìn lồi bị tuyệt chủng hàng năm, 1/3-2/3 số loài hiện tại sẽ bị tuyệt chủng
vào giữa thế kỷ này. Năm 2006, có 40.168 lồi được đánh giá trong đó có 784 lồi
bị tuyệt chủng, 16.118 loài bị đe dọa tuyệt chủng (gồm 7.725 loài động vật, 8.390
loài thực vật và 3 loài nấm và địa y). Năm 2007, có 41.415 lồi được đánh giá trong
đó 16.308 loài bị đe dọa tuyệt chủng (tăng 118 loài).
Những ngun nhân chính gây suy thối đa dạng sinh học:
Áp lực gia tăng dân số
Chiến tranh
Chuyển đổi mục đích sử dụng đất thiếu quy hoạch
Khai thác và sử dụng không bền vững tài nguyên sinh học
15
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
Ơ nhiễm mơi trường
Các loài sinh vật ngoại lai xâm hại
Cháy rừng
Cơng tác quản lý cịn nhiều bất cập
Thiên tai
Nếu chúng ta làm mất đi một lồi là có nghĩa chúng ta đang làm mất dần đi
lợi ích mà lồi đó mang lại. Làm mất cân bằng sinh thái và tước đoạt đi quyền sống
của một sinh vật.
II.3.3. Cạn kiệt nguồn tài nguyên
Tài nguyên thiên nhiên của mỗi quốc gia là “của trời cho”. Tuy nhiên, q
trình khai khống gây ra những tác động tiêu cực đối với môi trường. Nguồn tài
nguyên của chúng ta đang cạn kiệt dần. Khai thác khống sản ngày càng tăng có tác
động đáng kể đến sinh thái và môi trường, làm xuất hiện phế thải rắn, cạn kiệt các
tài ngun khác như xói mịn, thối hóa đất, tai biến mơi trường,.... diện tích đất
canh tác nông nghiệp của nước ta đang ngày càng thu giảm do các hoạt động đơ thị
hóa, mở rộng khu cơng nghiệp,... Tình trạng suy thối đất ngày càng nghiêm trọng
do việc sử dụng quá mức các loại phân bón hóa học và các loại thuốc bảo vệ thực
vật do rửa trơi, xói mịn, khơ hạn và sa mạc hóa, mặn hóa, phèn hóa, chua hóa, thối
hố lý hóa học đất, ơ nhiễm,... Suy thối chất lượng đất dẫn tới việc giảm khả năng
sản xuất, giảm đa dạng sinh học và nhiều hậu quả khác. Những tác động tiêu cực
trên đây ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 50% diện tích đã và đang sản xuất nông
nghiệp, đồng thời cũng là thách thức to lớn đối với sự phát triển nông nghiệp bền
vững ở nước ta.
Mặt khác, việc sử dụng đất cịn lãng phí, chỉ tính riêng ở 68 nơng trường quốc
doanh và 33 vùng kinh tế mới và chuyên canh trước đây đã có trên 30.000 ha sau khi
khai hoang lại bị bỏ hóa trở lại, khơng đưa vào sản xuất nơng, lâm nghiệp [13]. Diện
tích đất trồng lúa ngày càng bị thu hẹp lại do tốc độ “cắt xén” đất nông nghiệp để
chuyển đổi sang xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp. Hầu hết các nhà đầu tư
16
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
muốn các khu cơng nghiệp, cơ sở sản xuất của mình gần đường giao thơng để giảm
giá thành san lấp, xây dựng và vận chuyển hàng hoá khi đi vào hoạt động. Họ chỉ
quan tâm đến lợi nhuận mà không quan tâm đến môi trường, biến động xã hội địa
phương. Cịn chính quyền địa phương cũng "ưu ái" chiều theo khách hàng mà cắm
đất, thậm chí cốt có nhà đầu tư nhảy vào là mừng. Họ đã bất chấp tác hại của việc
khai thác đất nông nghiệp bừa bãi nên nhiều chỗ đất kém hiệu quả thì khơng chuyển
đổi mà sẵn sàng cho thu hồi, san lấp những mảnh đất màu mỡ, còn đất cằn thì để
nơng dân canh tác [6,16].
Trong những năm vừa qua, diện tích rừng nước ta khơng ngừng bị thu giảm.
Năm 1943, diện tích rừng Việt Nam khoảng 14 triệu ha với tỉ lệ che phủ là 43%.
Năm 1976, diện tích rừng giảm xuống còn 11 triệu ha với tỉ lệ che phủ 34%. Năm
1985, diện tích rừng chỉ cịn 9,3 triệu ha với tỉ lệ che phủ còn 30%. Năm 1995, diện
tích rừng cịn 8 triệu hecta, và tỉ lệ che phủ còn 28 % (theo Jyrki và cộng sự, 1999)
[3].
Bảng 2: Diễn biến diện tích rừng từ năm 1943 đến năm 2004 [3].
Mặc dù trong những năm gần đây, tỷ lệ che phủ rừng ở nước ta đã đạt mức
khoảng 30% diện tích tự nhiên nhưng chiều hướng diễn biến rừng vẫn ở tình trạng
suy thối so với hơn nửa thế kỷ trước, chất lượng rừng giảm sút. Rừng ngập mặn,
đầm phá đã bị khai thác quá mức để ni trồng thuỷ sản trên quy mơ lớn làm diện
tích rừng này ngày càng bị thu hẹp, có tác động tiêu cực đến mơi trường [3].
Mặc dù rừng trồng có diện tích trên 2 triệu ha, chiếm tỉ lệ 18% diện tích có
rừng. Song các khu rừng đó mang tính chất thuần loại về cây trồng, phục vụ chủ yếu
17
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
cho sản xuất cơng nghiệp. Chính vì vậy, mặc dù diện tích rừng chúng ta tăng nhưng
chất lượng rừng không tăng và ngày càng suy giảm. Bên cạnh đó, tình trạng phá
rừng ngày càng tăng, xuất hiện dưới những hình thức mới như "phá rừng chờ quy
hoạch", phá rừng để trồng cây công nghiệp,... đang diễn ra ở một số địa phương hiện
nay.
Hình 2: Rừng đang bị tàn phá triệt để [3].
Những năm gần đây, trên các lưu vực sông, nhất là khu vực hạ lưu, tình trạng
suy giảm nguồn nước dẫn tới thiếu nước, khan hiếm nước không đủ cung cấp cho
sinh hoạt, sản xuất đang diễn ra ngày một thường xuyên, trên phạm vi rộng lớn và
ngày càng nghiêm trọng. Trong khi đó, chúng ta thường chỉ chú trọng giá trị thủy
điện, thủy lợi của nước mà chưa chú ý đầy đủ, toàn diện đến các giá trị nhiều mặt,
đa dạng và rất thiết yếu của nước trong phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi
trường. Điều này dẫn đến hậu quả là tác hại của sự suy giảm nguồn nước không chỉ
diễn ra trên quy mô một vài địa phương mà gây tác động lớn đến tài nguyên nước,
môi trường sinh thái các dịng sơng, làm gia tăng nguy cơ kém bền vững của tăng
trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo và phát triển xã hội.
Tuy nhiên, nhiều dịng sơng đang bị suy thoái, nước trong các ao hồ cạn kiệt
vào vụ đông-xuân ở miền Bắc hoặc mùa khô ở miền Nam. Trên hạ lưu sông Đà,
sông Thao, sông Lô và sông Hồng, nguồn nước trong 4 năm gần đây đều thấp hơn
trung bình nhiều năm từ 11-20%. Trong đó, tại tuyến Hà Nội, thấp hơn trung bình
18
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
tới 20%, riêng năm 2006 thấp hơn tới 30%. Ở Trung Bộ, Nam Bộ và Tây Nguyên,
tài nguyên nước phổ biến ở mức xấp xỉ và thấp hơn trung bình; riêng các lưu vực
sơng ở Nam Trung Bộ, thấp hơn trung bình tới 20-40%, có năm hụt tới 50-70%
lượng nước. Hiện tượng nguồn nước suy giảm trong mấy vụ đông - xuân vừa qua
(2004-2005, 2005-2006, 2006-2007) đã diễn ra ở hạ lưu các hồ chứa thủy điện Hịa
Bình, Thác Bà, gần đây là thêm hồ Tuyên Quang, dẫn tới suy giảm liên tục trong
mấy năm ở hạ lưu sông Hồng. Khan hiếm nước do nguồn nước ở hạ lưu các sông đã
suy giảm lại bị tác động mạnh của nước thải ô nhiễm, của xâm nhập mặn làm cho
việc cấp nước sinh hoạt, cho sản xuất gặp những bất trắc lớn như trên lưu vực sơng
Vu Gia - Thu Bồn, Đồng Nai - Sài Gịn, Cửu Long,… Trong khi đó, theo dự tính,
nhu cầu dùng nước đến năm 2010 ở nước ta do tăng dân số, đơ thị hóa, cơng nghiệp
hóa,… sẽ lên đến 130 tỷ m3/năm [19].
Hình 3: Tìm nguồn nước sạch (nguồn: Đình Duy Bê) [19].
Nguồn tài nguyên dồi dào của chúng ta đang cạn kiệt dần. Vì sao? Vì do con
người tham lam khai thác vô hạn trên tài nguyên hữu hạn của trái đất.
II.3.4. Ơ nhiễm mơi trường
Mơi trường Việt Nam đạt "ngưỡng tới hạn". Xếp hạng thứ 5 khu vực châu Á Thái Bình về mức độ ơ nhiễm khói bụi ở thành phố đơng dân, nồng độ khí thải tăng
cao và nhanh, hiện tượng nhiều dịng sơng cục bộ chết, việc xuất hiện các làng ung
thư... là những điểm nóng, cung cấp những bức tranh nhỏ lẻ, khiến người dân bức
xúc về thực trạng môi trường Việt Nam hiện nay. Hệ thống sinh thái đang phải tải
19
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, với sự phát triển dân sinh nhanh, tác động không
nhỏ tới đời sống, sức khỏe của con người cũng như các sinh vật.
II.3.4.1. Ơ nhiễm mơi trường nước.
Tình trạng ô nhiễm nguồn nước lục địa ở nước ta hiện nay đang diễn ra nghiêm
trọng do những nguyên nhân như:
Khai thác, sử dụng quá mức tài nguyên nước mặt, nước ngầm.
Nước thải công nghiệp chưa được xử lý khi thải ra môi trường.
Nước thải từ hoạt động nông nghiệp và nước thải từ các nguồn khác tại khu
vực nơng thơn.
Ơ nhiễm mơi trường nước ven biển do nhiều nguyên nhân chủ yếu:
Do hoạt động trong các khu dân cư, đô thị ven biển
Hoạt động công nghiệp tập trung tại khu vực ven biển
Hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản
Hoạt động giao thông vận tải thủy và sự cố tràn dầu
Khai thác khống sản
Nước thải sinh hoạt thành phố, đơ thị, các khu công nghiệp xả trực tiếp vào
kênh, mương, sơng, hồ dẫn đến tình trạng ơ nhiễm nghiêm trọng môi trường nước ở
một số nơi như Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phịng, Việt Trì, Biên Hồ
Nước sơng kênh rạch đen ngịm, hơi thối do các KCN "vô tư" xả thải trực tiếp . Ở
một số khu vực các sơng Sài Gịn, Cửu Long, Thị Vải, Ðồng Nai, Cầu,… chất lượng
nước đã bị suy giảm. Nhiều chỉ tiêu như chất hữu cơ, BOD 5,COD, NH+4,N, P cao
hơn tiêu chuẩn cho phép [18]. Nguy cơ thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất ở nhiều
vùng ngày càng trầm trọng.
20
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
(A)
(B)
(C)
(D)
Hình 4: Ơ nhiễm nguồn nước tại một số địa phương trên nước ta.
(A), (C): sự hoá đen của kênh rạch ở Thành phố Hồ Chí Minh
(B): chất thải của nhà máy Ve- đan trên sông Thị Vải
(D): xả chất thải trực tiếp vào nguồn nước
Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công
nghiệp tập trung rất lớn. Tại cụm cơng nghiệp Tham Lương, Thành phố Hồ Chí
Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩn do nước thải công nghiệp tổng lượng ước tính 500
ngàn m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt. Nước thải ra kênh Tham
Lương có màu đen, mùi hôi thối, ô nhiễm nặng, hàm lượng thủy ngân cao. ở Thành
phố Thái Nguyên, nước thải từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, kim màu,
khai thác than chưa được xử lý đổ ra sông Cầu. Hàng trăm làng nghề sắt thép, đúc
đồng, nhơm, chì, dệt, nhuộm thuộc các tỉnh lưu vực sông Cầu với lượng nước thải
hàng ngàn m3/ngày không qua xử lý gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước và môi
trường khu vực. Ở Thủ đơ Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh vẫn cịn tình trạng
nước thải sinh hoạt khơng có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp
nhận (sông, hồ, kênh, mương). Phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế chưa có hệ
thống xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom
hết [1]. Mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ của thành phố rất nặng. Không chỉ
ở Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đơ thị khác như: Hải Phòng,
Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương... nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý.
Độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép.
Chất lượng nước một số khu vực các sông Sài Gòn, Cửu Long, Thị Vải,
21
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
Ðồng Nai, Cầu đã bị suy giảm, nhiều chỉ tiêu như chất hữu cơ, BOD 5,COD, NH+4,N,
P cao hơn tiêu chuẩn cho phép, nguy cơ thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất ở
nhiều vùng ngày càng trầm trọng. Nguy cơ thiếu nước vào những thập kỷ tới có khả
năng xảy ra [18]. Hiện nay, trên nhiều nhánh sơng cịn có tình trạng xâm lấn của các
thuỷ sinh vật như bèo tây, bèo cái, rau dừa nước, mai dương,… trên diện rộng rất
khó kiểm sốt, gây ảnh hưởng tới mĩ quan cũng như có tác động tiêu cực đến các
sinh vật địa phương
Nước biển ven bờ có dấu hiệu ơ nhiễm. Hàm lượng các chất hữu cơ, chất
dinh dưỡng, kim loại nặng, vi sinh, hoá chất bảo vệ thực vật ở một số nơi vượt tiêu
chuẩn cho phép 2- 5 lần. Trong những năm qua sự cố tràn dầu vẫn xảy ra nhiều và
gây thiệt hại lớn. Từ năm 1994 -1998 đã xác định được đối tượng gây ra 34 vụ với
số lượng dầu tràn trên 4000 tấn. Hàm lượng dầu ở một số vùng biển vượt quá tiêu
chuẩn và đang có xu hướng tăng dần. Mặt khác, với hàng chục nghìn lượt tàu
thuyền ra vào cảng và phương tiện thủy nội địa hoạt động gia tăng trong khu vực,
mỗi năm, chúng đã thải ra sơng, biển hàng nghìn tấn chất thải sinh hoạt, nhiên liệu,
cặn dầu, nước rửa tàu lẫn chất thải rắn, mạt kim loại, sơn và các chất tẩy rửa trong
quá trình hoạt động [3].
Hình 5: Ơ nhiễm rác ven biển tại thành phố Nha Trang [3].
Nước ngầm đang bị cạn kiệt dần về lượng, bị ô nhiễm và suy giảm về chất.
22
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
Trong những năm gần đây đã xảy ra suy giảm mức nước ngầm vào mùa hè ở Tây
Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc.
II.3.4.2. Ơ nhiễm mơi trường khơng khí
Ơ nhiễm mơi trường khơng khí là một vấn đề bức xúc đối với mơi trường đô
thị, khu công nghiệp và một số làng nghề ở nước ta. Ơ nhiễm mơi trường khơng khí
có tác động xấu đối với sức khỏe con người, ảnh hưởng xấu đến sinh thái và biến
đổi khí hậu. Theo các số liệu quan trắc mơi trường hiện nay, khơng khí ở các đô thị
lớn ở nước ta đã bị nhiễm bụi, khí CO. Chất lượng khơng khí ở nơng thơn vẫn cịn
khá trong lành.
Ở các khu đơ thị nước ta vấn đề ô nhiễm do các nguyên nhân sau:
Do công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Giao thông vận tải
Xây dựng cơ sở hạ tầng, kỷ thuật
Sinh hoạt của người dân
Các nguồn gây ô nhiễm khác như cháy rừng, các nguồn gây ô nhiễm từ các
quốc gia lân cận
(A)
(B)
Hình 6 : Ơ nhiễm khơng khí tại các thành phố Hồ Chí Minh (A) và Hà Nội (B)
Tại Báo cáo về mơi trường tồn cầu vừa được UNEP cơng bố, theo đó Việt Nam
có TP Hà Nội và Hồ Chí Minh là 2 trong số 6 thành phố ơ nhiễm khơng khí nhất thế
giới. Nếu tính đến những thiệt hại môi trường, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt
23
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
Nam chỉ cịn 3-4%. Nồng độ bụi bẩn trong khơng khí, các thành phố lớn của nước ta
như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chỉ xếp sau Bắc Kinh, Thượng Hải của
Trung Quốc, New Dehli của Ấn Độ và Dhaka của Bănglađesh. Theo số liệu ước tính
từ năm 2005, tại thành phố Hồ Chí Minh, tổng tải lượng bụi hạt SO 2, NO2, CO,
VOC phát ra từ các nguồn như phương tiện giao thơng, khí thải cơng nghiệp, khí đốt
nhiên liệu sinh hoạt khoảng 60.000 tấn một năm (trong đó gần 90% là khí thải giao
thơng) [17].
Tại Hà Nội, theo số liệu quan trắc của Sở Tài nguyên Môi trường Hà Nội cho
biết, mơi trường khơng khí của thành phố đang bị ơ nhiễm bụi khá nặng. Tính trung
bình trên tồn thành phố, nồng độ bụi gấp 1,5 đến 3 lần tiêu chuẩn cho phép. Tại các
khu vực đang xây dựng, sửa chữa cơng trình và một số đường giao thơng vận
chuyển ngun vật liệu xây dựng, nồng độ bụi gấp 7-10 lần. Ước tính, thiệt hại do ơ
nhiễm khơng khí gây ra đối với Hà Nội khoảng 1 tỷ đồng/ngày, chưa tính đến thiệt
hại đối với nông nghiệp và cây xanh. Khu vực giao thơng Pháp Vân (quận Hồng
Mai) đứng đầu về ô nhiễm không khí ở Hà Nội. Trong khi nồng độ bụi lơ lửng ở Hà
Nội cao hơn tiêu chuẩn cho phép (TCCP) 2,5 lần thì khu vực Pháp Vân có nồng độ
cao gấp 4,1 lần TCCP. Đối với nồng độ bụi mịn, nồng độ bụi chì, bụi asen, khí CO,
khí NO2, khí SO2... thì khu vực Pháp Vân cũng đứng vị trí cao nhất. Khu vực này
cịn ơ nhiễm rất cao về nồng độ vi sinh vật, nấm mốc. Tổng số vi khuẩn tan máu/m 3
cũng cao hơn 100 lần TCCP vào mùa lạnh và cao hơn 400 lần vào mùa nóng [10].
Hình 7: Ơ nhiễm bụi tại các đơ thị [10]
Ơ nhiễm khơng khí gây ra các bệnh về mắt và bệnh phổi, ảnh hưởng tới phụ nữ
24
TiĨu ln Khoa hoc m«i trêng
đang mang thai và gây bệnh ngồi da,...
II.3.4.3. Ơ nhiễm mơi trường đơ thị và khu cơng nghiệp.
Hiện nay nước ta có 623 thành phố, thị xã, thị trấn, trong đó có 4 thành phố trực
thuộc Trung ương, 82 thành phố, thị xã thuộc tỉnh. Tỷ lệ dân đô thị trên tổng dân số
năm 1986 là 19%; năm 1990 là 20%; năm 1999 là 23%; dự báo đến năm 2010 là
33% và năm 2020 là 45% [9].
Môi trường ở nhiều đô thị ở nước ta bị ô nhiễm do chất thải rắn và chất thải lỏng
chưa được thu gom và xử lý theo đúng quy định. Hiện nay đã hình thành gần 100
khu cơng nghiệp, khu chế xuất, công nghệ cao, nhưng chỉ khoảng 1/3 trong số đó đã
xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và rất ít khu có hệ thống xử lý nước thải tập trung.
Trong khi đó, khí thải, tiếng ồn, bụi... của nguồn giao thông nội thị và mạng lưới sản
xuất quy mô vừa và nhỏ cùng với cơ sở hạ tầng yếu kém càng làm cho điều kiện vệ
sinh môi trường ở nhiều đô thị đang thực sự lâm vào tình trạng đáng báo động. Ðặc
biệt hệ thống cấp thốt nước lạc hậu, xuống cấp khơng đáp ứng được u cầu. Mức
ơ nhiễm khơng khí về bụi và các khí thải độc hại nhiều nơi vượt tiêu chuẩn cho phép
nhiều lần, đặc biệt tại một số thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh
vượt tiêu chuẩn cho phép 2-5 lần [9].
Môi trường các khu công nghiệp, đặc biệt ở các khu cơng nghiệp cũ, các ngành
hố chất, luyện kim, xi măng, chế biến đang bị ô nhiễm do các chất thải rắn, nước
thải, khí thải và các chất thải độc hại chưa được xử lý theo đúng quy định. Các cơ sở
công nghiệp do trong nước đầu tư chủ yếu có quy mơ nhỏ, cơng nghệ sản xuất lạc
hậu (chỉ có 20% xí nghiệp cũ đã đổi mới công nghệ). Khoảng 90% cơ sở sản xuất cũ
chưa có thiết bị xử lý nước thải [9].
Ơ nhiễm môi trường lao động: Tại nhiều khu vực sản xuất khơng đảm bảo tiêu
chuẩn vệ sinh, an tồn và sức khoẻ nghề nghiệp. Tình trạng ơ nhiễm về bụi, hố chất
độc hại, tiếng ồn, nhiệt độ đã làm gia tăng tỷ lệ công nhân mắc bệnh nghề nghiệp, nhất
là trong các ngành hoá chất, luyện kim, vật liệu xây dựng, khai thác mỏ,...
II.3.4.4. Ô nhiễm các làng nghề và suy thối mơi trường nơng thơn.
Mơi trường nơng thơn đang bị ô nhiễm do các điều kiện vệ sinh và cơ sở hạ
25