Tải bản đầy đủ (.pdf) (83 trang)

Phân tích các vấn đề liên quan đến thuốc trong hành vi dùng thuốc của bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại trung tâm y tế thành phố yên bái

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.03 MB, 83 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

BÙI THỊ CẨM NHUNG

PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
ĐẾN THUỐC TRONG HÀNH VI
DÙNG THUỐC CỦA BỆNH NHÂN
ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2 ĐIỀU TRỊ
NGOẠI TRÚ TẠI TRUNG TÂM
Y TẾ THÀNH PHỐ YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

HÀ NỘI 2021


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

BÙI THỊ CẨM NHUNG

PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN
THUỐC TRONG HÀNH VI DÙNG THUỐC
CỦA BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2


ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI TRUNG TÂM
Y TẾ THÀNH PHỐ YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
CHUYÊN NGHÀNH DƯỢC LÂM SÀNG
MÃ SỐ: 8720205

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Tứ Sơn

HÀ NỘI 2021


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt q trình học tập và hồn thành luận văn, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị, các em và các bạn.
Đầu tiên, với lịng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn tới TS.
Nguyễn Tứ Sơn – Giảng viên Bộ môn Dược lâm sàng, người thầy đã cùng tôi đi từ
những bước đầu tiên, hướng dẫn, đưa ra lời khuyên và những chỉ bảo tận tình trong
suốt thời gian tơi thực hiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ths. Nguyễn Thị Thảo, Ths. Cao Thị Bích Thảo
– Giảng viên Bộ môn Dược lâm sàng đã theo sát, giúp đỡ và cho tơi những lời khun
hữu ích trong q trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Bệnh viện, các bác sĩ, điều dưỡng,
cán bộ khoa Nội tiết Trung tâm Y tế Thành phố Yên Bái đã luôn giúp đỡ, tạo mọi
điều kiện giúp tôi thực hiện đề tài.
Tôi cũng dành lời cảm ơn chân thành tới các thầy cơ và tồn thể các bạn làm
nghiên cứu khoa học tại Bộ môn Dược lâm sàng đã đồng hành và nhiệt tình hỗ
trợ trong thời gian tơi thực hiện luận văn.
Và cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến gia đình và bạn bè tôi, những
người luôn ở bên, động viên và chia sẻ trong những lúc tơi cảm thấy khó khăn nhất,

là nguồn động lực cho tôi tiếp tục cố gắng.
Hà Nội, ngày 24 tháng 10 năm 2021
Học viên

Bùi Thị Cẩm Nhung


Mục lục
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ ...................................................................................................................... 1
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN ................................................................................................. 3
1.1. Vấn đề liên quan đến thuốc (DRP) trong hành vi dùng thuốc của bệnh nhân
đái tháo đường típ 2 ....................................................................................................... 3
1.1.1. Khái niệm DRP ................................................................................................. 3
1.1.2. Phân loại ........................................................................................................... 3
1.1.3. DRP trong hành vi của bệnh nhân .................................................................. 7
1.1.4. Đánh giá tuân thủ điều trị của bệnh nhân ...................................................... 9
1.2. Các mối liên quan giữa tự tin dùng thuốc, niềm tin về thuốc và các vấn đề liên
quan đến thuốc trong hành vi dùng thuốc của bệnh nhân ĐTĐ típ 2 ..................... 10
1.2.1. Tự tin dùng thuốc ........................................................................................... 10
1.2.2. Niềm tin về thuốc ............................................................................................ 11
1.2.3. Thực trạng ....................................................................................................... 12
1.2.4. Các yếu tố làm tăng nguy cơ xảy ra DRP trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2 .......... 14
1.3. Mơ hình quản lý bệnh nhân đái tháo đường điều trị tại Trung tâm y tế thành phố
Yên Bái........................................................................................................................... 17
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................. 19
2.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................................ 19
2.2. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................... 19

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu ....................................................................................... 19
2.2.2. Quy trình thực hiện nghiên cứu.................................................................... 19
2.2.3. Chỉ tiêu nghiên cứu ....................................................................................... 24
2.2.4. Một số quy ước sử dụng trong nghiên cứu................................................... 25
2.2.5. Phương pháp xử lý số liệu ............................................................................. 25
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .......................................................................... 27
3.1. Các vấn đề liên quan đến thuốc trong hành vi dùng thuốc của bệnh nhân..... 27
3.1.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân .................................................................... 27


3.1.2. Đặc điểm bệnh lý ............................................................................................. 29
3.1.3. Đặc điểm các vấn đề liên quan đến thuốc trong hành vi dùng thuốc của
bệnh nhân .................................................................................................................. 30
3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi dùng thuốc .................................................. 35
3.2.1. Đặc điểm niềm tin về thuốc của bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu .......... 35
3.2.2. Đặc điểm tự tin dùng thuốc của bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu.......... 37
3.2.3. Các yếu tố liên quan đến thuốc trong hành vi dùng thuốc của bệnh nhân . 39
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN ................................................................................................ 42
4.1. Quy trình nghiên cứu ............................................................................................ 42
4.2. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu .................................................................. 42
4.2.1. Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu ................................................................... 43
4.2.2. Đặc điểm bệnh lý ............................................................................................. 43
4.2.3. Đặc điểm hành vi dùng thuốc ........................................................................ 45
4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của bệnh nhân điều trị đái tháo đường típ II
........................................................................................................................................ 50
4.3.1. Các yếu tố liên quan đến điểm tuân thủ dùng thuốc .................................... 50
4.3.2. Các yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng thuốc .......................................... 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC



DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ADA

American Diabetes Association (Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ)

AHFS

American Hospital Formulary Service
American Society of Hospital Pharmacists (Hiệp hội dược sĩ bệnh viện của

ASHP

Mỹ)

BYT

Bộ Y tế

DRP

Drug-related problem (Vấn đề liên quan đến thuốc)

DSXĐ

Dược sĩ xác định

ĐTĐ

Đái tháo đường


HDĐT

Hướng dẫn điều trị

IDF

International Diabetes Federation (Liên đoàn đái tháo đường thế giới)

PCNE

Pharmaceutical Care Network Europe (Mạng lưới chăm sóc dược châu Âu)


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Các hệ thống phân loại DRP

4

Bảng 1.2. Các yếu tố làm tăng nguy cơ xảy ra DRP trên bệnh nhân đái tháo
đường typ 2 trong các nghiên cứu

16

Bảng 2.1. Bảng điểm tuân thủ (ARMS) của bệnh nhân

19

Bảng 2.2. Bảng điểm mức độ tự tin dùng thuốc


Bả
20

Bảng 2.3. Bảng điểm mức độ tuân thủ

Bảng 3.5. Đặc điểm kỹ thuật dùng bơm tiêm insulin

ng
21
điể
25
m
28
tuâ
29
n
30
th
31


Bảng 3.6. Tần suất tái sử dụng kim tiêm của bệnh nhân

32
(A

Bảng 3.7. Đặc điểm tuân thủ dùng thuốc

R
33

M
35
S)
37
củ
39
a

Bảng 3.1. Đặc điểm nhân khẩu học
Bảng 3.2. Đặc điểm bệnh lý và dùng thuốc
Bảng 3.3. Phác đồ điều trị đái tháo đường
Bảng 3.4. Đặc điểm hành vi sử dụng thuốc

Bảng 3.8. Đặc điểm niềm tin về thuốc
Bảng 3.9. Đặc điểm tự tin dùng thuốc
Bảng 3.10. Các yếu tố liên quan đến điểm tuân thủ dụng thuốc
Bảng 3.11. Các yếu tố liên quan đến việc xuất hiện vấn đề trong hành vi sử
dụng thuốc (ít nhất 1 hành vi sai)

DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Lưu đồ nghiên cứu

40
bệ
nh
nh
Bả
ân
ng
3.1

20
0.

c
yế
u
tố
liê
n
qu
an


ĐẶT VẤN ĐỀ
Khơng cịn giới hạn ở các nước giàu có, đái tháo đường đã trở thành căn bệnh
phổ biến trên toàn thế giới. Đặc biệt trong vài thập niên trở lại đây, số người mắc bệnh
đái tháo đường ở các quốc gia có thu nhập trung bình tăng lên rõ rệt, trong đó Việt
Nam thuộc nhóm có tỷ lệ tăng nhanh nhất.
Theo Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới (IDF), năm 2015 tồn thế giới có 415 triệu
người (trong độ tuổi 20-79) bị bệnh đái tháo đường (ĐTĐ). Đến năm 2040, ước tính là
642 triệu. Bên cạnh đó, cùng với việc tăng sử dụng thực phẩm khơng thích hợp, ít hoặc
không hoạt động thể lực, bệnh ĐTĐ típ 2 đang có xu hướng tăng ở cả trẻ em và trở thành
vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng trên nhóm đối tượng này. Bệnh ĐTĐ gây nên
nhiều biến chứng nguy hiểm, là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tim mạch, mù lòa, suy
thận, và cắt cụt chi. Nhưng một điều đáng khả quan, có tới 70% trường hợp ĐTĐ típ 2
có thể dự phịng hoặc làm chậm xuất hiện bệnh bằng tuân thủ lối sống lành mạnh, dinh
dưỡng hợp lý và tăng cường luyện tập thể lực [1]. Ở Việt Nam, năm 90 của thế kỷ trước,
tỷ lệ bệnh ĐTĐ chỉ là 1,1% (ở thành phố Hà nội), 2,25% (ở thành phố Hồ Chí Minh),
0,96% (thành phố Huế). Nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết trung ương cho
thấy tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ trên toàn quốc ở người trưởng thành là 5,42%. Tỷ lệ đái tháo

đường chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là 63,6%. Theo Liên đoàn Đái tháo đường
Quốc tế (IDF), năm 2019 toàn thế giới có 463 triệu người (trong độ tuổi 20-79) bị bệnh
đái tháo đường, dự kiến sẽ đạt 578 triệu người vào năm 2030 và 700 triệu người vào
năm 2045. Ước tính hơn 4 triệu người trong độ tuổi từ 20-79 đã tử vong vì các nguyên
nhân liên quan đến ĐTĐ trong năm 2019 [1]. Hiện nay tỷ lệ này ngày một tăng cao, có
rất nhiều nguyên nhân từ yếu tố xã hội, con người và các vấn đề liên quan đến thuốc làm
tăng tỉ lệ số người mắc ĐTĐ.
Tối ưu hóa sử dụng thuốc đóng vai trị chính trong việc đạt mục tiêu điều trị ở
bệnh nhân mắc ĐTĐ. Tuy nhiên, bệnh nhân ĐTĐ típ 2 thường có một chế độ dùng
thuốc phức tạp nên các vấn đề liên quan đến thuốc (DRP) thường xảy ra với các đối
tượng này [24], [29], dẫn đến giảm hiệu quả kiểm soát bệnh, tăng nguy cơ gặp các biến
chứng [27]. DRP có thể xảy ra tại bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình sử dụng thuốc,

1


từ giai đoạn kê đơn của bác sĩ, cấp phát thuốc của dược sĩ đến thực hiện thuốc của điều
dưỡng và hành vi sử dụng thuốc của bệnh nhân [23]. Với các đối tượng bệnh nhân điều
trị ngoại trú thì DRP chủ yếu xảy ra ở giai đoạn hành vi sử dụng thuốc của bệnh nhân.
Vì vậy, để có hiệu quả điều trị tốt, DRP cần được hạn chế trong giai đoạn này. Nhiều
nghiên cứu cho thấy dược sĩ lâm sàng là cán bộ y tế có chun mơn thích hợp để phát
hiện và ngăn ngừa DRP trong quá trình kê đơn và trong hành vi của bệnh nhân, giúp
nâng cao hiệu quả điều trị [36], [42], [58].
Trung tâm y tế thành phố Yên Bái có cơ sở vật chất, trang bị máy móc hiện đại.
Mặt khác, tinh thần thái độ phục vụ của đội ngũ y bác sỹ tốt nên đã thu hút nhiều bệnh
nhân trái tuyến đến điều trị không cần lên tuyến tỉnh và Trung ương. Bệnh viện quản
lý và theo dõi điều trị ngoại trú của một lượng lớn bệnh nhân điều trị ĐTĐ típ 2 (trên
1000), hầu hết là bệnh nhân cao tuổi, mắc kèm nhiều bệnh, là các đối tượng có nguy
cơ gặp DRP cao. Tuy nhiên, các nghiên cứu được thực hiện tại khoa đa phần mới chỉ
dừng lại ở việc khảo sát các vấn đề đơn lẻ, chưa có sự nhìn nhận phân tích các vấn đề

về sử dụng thuốc trên bệnh nhân một cách tổng thể. Do đó, để góp phần vào việc nâng
cao hiệu quả điều trị, đề tài “Phân tích các vấn đề liên quan đến thuốc trong hành vi
dùng thuốc của bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại trung tâm y tế
thành phố Yên Bái” được tiến hành với hai mục tiêu:
1.

Phân tích các vấn đề liên quan đến thuốc trong hành vi dùng thuốc của

bệnh nhân.
2.

Phân tích đặc điểm và mối liên quan giữa tự tin dùng thuốc, niềm tin về

thuốc với các vấn đề liên quan đến thuốc của bệnh nhân trong mục tiêu 1.

2


CHƯƠNG I. TỔNG QUAN
1.1. Vấn đề liên quan đến thuốc (DRP) trong hành vi dùng thuốc của bệnh nhân
đái tháo đường típ 2
1.1.1. Khái niệm DRP
Có nhiều định nghĩa về các vấn đề liên quan đến thuốc, mỗi một định nghĩa
đề cập đến một khía cạnh khác nhau của các vấn đề liên quan đến thuốc.
Khái niệm các vấn đề liên quan đến thuốc (Drug Related Problems - DRPs)
lần đầu tiên được Linda Strand đề cập đến năm 1990: “một vấn đề liên quan đến thuốc
tồn tại khi bệnh nhân xuất hiện hoặc có khả năng xuất hiện một bệnh hoặc một triệu
chứng bệnh có liên quan thực sự hoặc nghi ngờ với thuốc điều trị” [55]. Khái niệm này
đề cập đến dấu hiệu để nhận biết các vấn đề liên quan đến thuốc thông qua việc xem
các triệu chứng hoặc khả năng xuất hiện các triệu chứng bệnh có mối liên quan hoặc

nghi ngời liên quan đến thuốc điều trị.
Theo hiệp hội dược sĩ bệnh viện của Mỹ (American Society of Hospital
Pharmacists-ASHP), DRP “là một tình huống liên quan đến điều trị bằng thuốc, thực
sự hoặc có khả năng gây trở ngại việc đạt hiệu quả điều trị tối ưu trên một bệnh nhân
cụ thể” [22]. Định nghĩa này nhấn mạnh đến việc ảnh hưởng của các vấn đề liên quan
đến thuốc trong hiệu quả điều trị trên bệnh nhân. Tuy nhiên trên thực tế, các vấn đề
liên quan đến thuốc không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị trên bệnh nhân mà cịn
có nguy cơ gây ảnh hưởng đến sức khỏe, thậm chí gây tử vong. Vì vậy Hiệp hội chăm
sóc dược Châu Âu (Pharmaceutical Care Network Europe -PCNE), định nghĩa DRP là
“những tình huống liên quan đến điều trị bằng thuốc có thể gây hại hoặc tiềm ẩn mối
nguy hại cho sức khỏe bệnh nhân” [45].
1.1.2. Phân loại
DRP có thể xảy ra tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình sử dụng thuốc, từ
kê đơn thuốc của bác sĩ, cấp phát thuốc của dược sĩ đến thực hiện thuốc của điều dưỡng
và hành vi sử dụng thuốc, tuân thủ điều trị của bệnh nhân. Trong mỗi giai đoạn, DRP
lại được chia thành nhiều loại khác nhau [50].
Các hệ thống phân loại khác nhau sẽ có trọng tâm khác nhau. Một số phân
loại tập trung vào quan điểm của bệnh nhân và kết quả điều trị, một số khác được định

3


hướng về quá trình kê đơn, pha chế và sử dụng thuốc. Một số phân loại được định
hướng nghiên cứu, trong khi số khác được phát triển đặc biệt cho thực hành dược hoặc
mục đích đánh giá sử dụng thuốc. Bên cạnh đó, nghiên cứu năm 2004 của Mil Van
cho thấy không một hệ thống nào là đầy đủ tất cả các vấn đề liên quan đến thuốc [57].
Vì vậy, để phù hợp với mục đích và đối tượng nghiên cứu, việc lựa chọn hệ thống phân
loại đóng vai trị rất quan trọng và trong nhiều nghiên cứu các tác giả còn sử dụng hệ
thống phân loại tự thiết kế dựa trên các hệ thống phân loại phổ biến.
Hệ thống phân loại đầu tiên được xây dựng bởi Linda Strand, trong đó DRP

được chia thành 8 nhóm [55]. Tiếp theo đó, các nhóm nghiên cứu khác đã xây dựng
và phát triển nhiều hệ thống phân loại DRP mới. Một nghiên cứu tổng quan năm 2014
cho thấy có khoảng 20 hệ thống phân loại DRP đã được ứng dụng trong thực hành lâm
sàng, và được thể hiện qua bảng 1.1 đó là:
Bảng 1.1. Các hệ thống phân loại DRP
Năm
STT

Tên hệ thống phân loại DRP

Cách phân loại DRP

xuất
bản

1

Hepler–Strand (Mỹ) [55]

8 nhóm vấn đề

1990

2

Hanlon (Mỹ) [30]

10 nhóm vấn đề

1992


3

PI-doc [52]

6 nhóm vấn đề

1995

4

Phân loại của ASHP [18]

13 nhóm vấn đề

1996

5

PAS (Hà Lan) [53]

10 nhóm chính và 48 nhóm phụ

1997

6

Cipolle/Morley/Strand (Mỹ) [19]

7


ABC (Hà Lan) [43]

33 nhóm nguyên nhân và 7
nhóm vấn đề
3 nhóm vấn đề

4

1999

2000


Năm
Tên hệ thống phân loại DRP

STT

Cách phân loại DRP

xuất
bản

8

Krska (Anh) [39]

18 nhóm vấn đề


2002

9

Granada (Tây Ban Nha) [49]

6 nhóm vấn đề

2002

10

Westerlund (Thụy Điển) [60]

14 nhóm vấn đề

2002

Trong hệ thống phân loại Hepler – Strand đã giới thiệu một số loại DRP.
Trong cách tiếp cận này, vấn đề và nguyên nhân không tách rời nhau và được định
nghĩa là “Một hành vi liên quan đến sủ dụng thuốc của bệnh nhân có khả năng can
thiệp vào thành tích của một kết quả điều trị tốt”.
Trong phân loại này, DRP được phân loại ra 8 nhóm vấn đề như sau: Các chỉ
định chưa được điều trị, lựa chọn thuốc không đúng cách, liều lượng điều trị, không
nhận được thuốc, quá liều lượng, tương tác thuốc, sử dụng thuốc mà khơng có chỉ định
[55].
Một hệ thống phân loại DRP khác được phát triển bởi Hệ thống Chăm sóc
Dược Châu Âu (PCNE). Phân loại này có tiêu chuẩn hóa phù hợp và có thể so sánh
với các nghiên cứu quốc tế. Trong phân loại này, DRP được phân loại theo 6 nhóm
vấn đề như sau: Phản ứng trái ngược, vấn đề lựa chọn thuốc, vấn đề về liều lượng, vấn

đề sử dụng/quản lý, tương tác, khác [48]. Hệ thống phân loại được xác định và điều
chỉnh thường xuyên. Hiện tại phiên bản là V9.0, đã được phát triển trong một hội thảo
chuyên gia vào tháng 2 năm 2019. Việc phân loại này được sử dụng trong nghiên cứu
về bản chất, mức độ phổ biến và tỷ lệ xảy ra các DRP và cũng như quá trình trong các
nghiên cứu thực nghiệm về kết quả chăm sóc dược. Nó cũng có nghĩa giúp các chuyên
gia y tế ghi lại thơng tin DRP trong quy trình chăm sóc dược [49]. Bao gồm:
+

Vấn đề:



Hiệu quả điều trị

5




An toàn điều trị



Khác

+

Nguyên nhân:




Lựa chọn thuốc



Dạng thuốc



Lựa chọn liều



Độ dài trị liệu



Cấp phát



Quá trình sử dụng thuốc



Liên quan đến bệnh nhân



Liên quan đến chuyển bệnh nhân




Khác

+

Can thiệp

+

Chấp thuận can thiệp

+

Tình trạng DRP
Trong các hệ thống phân loại hiện hành, hệ thống phân loại (1996) cũng

là 1 hệ thống phổ biến [22]. Trong hệ thống có các danh mục như sau:
 Chỉ định không căn cứ
 Thuốc không được kê đầy đủ với tình trạng bệnh
 Thuốc được kê đơn khơng phù hợp cho một tình trạng cụ thể
 Liều lượng, dạng thuốc, liệu trình, đường dùng khơng phù hợp
 Lặp thuốc
 Kê đơn thuốc mà bệnh nhân bị dị ứng
 Tác dụng phụ thực tế và tiềm ẩn của thuốc
 Tương tác thực tế và tiềm tàng có ý nghĩa lâm sàng giữa thuốc - thuốc,
thuốc – bệnh, thuốc – chất dinh dưỡng và thuốc – xét nghiệm
 Can thiệp với điều trị bằng cách sử dụng thuốc
 Không nhận được đầy đủ lợi ích của trị liệu

 Vấn đề phát sinh từ tác động tài chính của trị liệu

6


 Thiếu hiểu biết về thuốc
 Bệnh nhân không tuân thủ
Ngoài những hệ thống phân loại trên, một số nghiên cứu sử dụng hệ thống
phân loại tự thiết kế. Phân tích 268 nghiên cứu liên quan đến DRP cho thấy có đến
46% nghiên cứu sử dụng hệ thống phân loại tự thiết kế dựa trên sự thay đổi, bổ sung
từ các hệ thống phân loại phổ biến để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, địa điểm
nghiên cứu và loại hình nghiên cứu [54]. Do đó việc so sánh kết quả giữa các nghiên
cứu liên quan đến phát hiện và đánh giá DRP của các tác giả và các đơn vị khác nhau
thường gặp nhiều khó khăn. Do tính chất đa diện của các DRP khác nhau phát sinh
trong thực hành về nguyên nhân cũng như hậu quả, phát triển một hệ thống cung cấp
một phân loại dựa trên một sự lựa chọn duy nhất là phức tạp và khó khăn. Do đó, một
tập hợp bổ sung của các quy tắc phân loại là cần thiết cho các trường hợp không rõ
ràng.
Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ra quyết định 3547/QĐ-BYT [2] đã ban hành mẫu
phiếu phân tích sử dụng thuốc. Trong quyết định này, các vấn đề liên quan đến thuốc
được phân loại, đi kèm với các can thiệp của người làm công tác dược lâm sàng và ý
kiến của người kê đơn. Các DRP được đề cập gồm có các vấn đề liên quan tới lựa chọn
thuốc, liều dùng, tuân thủ của người bệnh, điều trị chưa đủ, độ dài đợt điều trị, theo
dõi điều trị, cấp phát thuốc.
1.1.3. DRP trong hành vi của bệnh nhân
DRP trong hành vi dùng thuốc có thể xảy ra đối với bất cứ bệnh nhân nào, và
nhất là đối với nhóm bệnh nhân phải sử dụng thuốc trong thời gian dài như các bệnh
nhân đái tháo đường. DRP trong hành vi dùng thuốc của bệnh nhân có thể làm giảm
tác dụng của thuốc và hiệu quả điều trị. Để làm giảm DRP trong hành vi của bệnh
nhân, các nghiên cứu đã được thực hiện trên đối tượng bệnh nhận bị mắc các bệnh như

tim mạch, huyết áp, tiểu đường, xơ vữa mạch vành…..
Nghiên cứu của Huang và Chen (2014), Lam và Fresco (2015) [31] trên
người bị bệnh tim mạch vành thường cần dùng thuốc uống để đạt được và duy trì việc
kiểm soát triệu chứng hiệu quả và ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh. Bệnh nhân không
tuân thủ dùng thuốc theo yêu cầu là khá phổ biến. Các nghiên cứu đã chỉ ra có khoảng

7


21% –50% bệnh nhân mắc bệnh tim mạch không tuân thủ chế độ dùng thuốc của họ
[59]. Không dùng thuốc theo chỉ dẫn có liên quan đến việc tái nhập viện và tử vong
sớm. Tuân thủ thuốc đóng một vai trị quan trọng đối với sự an tồn của bệnh nhân
bệnh tim mạch vành [31]. Một nghiên cứu cắt ngang đã chỉ ra ảnh hưởng tích cực của
việc tuân thủ thuốc đối với người bệnh mắc các bệnh mãn tính như bệnh mạch vành,
đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và hen suyễn / bệnh phổi tắc nghẽn
mãn tính trong việc giảm thiểu thiệt hại do nghỉ việc và tàn tật ngắn hạn gây ra do
không tuân thủ thuốc [62].
Sự hiểu biết về thuốc được đề cập vào năm 2005 trong một tài liệu của chính
phủ ở Vương quốc Anh đề cập đến việc cải thiện chất lượng trong việc cung cấp thông
tin về thuốc cho những người có hiểu biết kém về sức khỏe. Hiểu biết về thuốc được
định nghĩa là “mức độ mà các cá nhân có thể có được, hiểu, giao tiếp, tính tốn và xử
lý thông tin cụ thể của bệnh nhân về thuốc của họ để đưa ra các quyết định về thuốc
và sức khỏe sáng suốt, nhằm sử dụng thuốc của họ một cách an toàn và hiệu quả, bất
kể phương thức nào mà nội dung được chuyển tải”. Nó có thể đóng vai trị như một
yếu tố dự báo quan trọng về việc sử dụng thuốc hợp lý. Một số nghiên cứu đã chỉ ra
rằng một tỷ lệ lớn các tác dụng phụ liên quan đến thuốc sẽ có thể ngăn ngừa được nếu
hiểu biết về thuốc tốt hơn. Tuy nhiên, mối liên quan giữa việc hiểu biết về thuốc và
tuân thủ thuốc vẫn chưa được giải thích rõ ràng [62].
Hiểu được vai trò của việc hiểu biết về thuốc trong việc dùng thuốc đó là những
nỗ lực khuyến khích bệnh nhân dùng thuốc đúng cách và do đó, có thể ảnh hưởng đến

việc kiểm soát kết quả lâm sàng. Thiếu các nghiên cứu về mối tương quan giữa việc
tuân thủ dùng thuốc và khả năng hiểu biết về thuốc ở bệnh nhân mắc bệnh mãn tính,
và rất ít thơng tin về việc hiểu biết thuốc và tuân thủ thuốc ảnh hưởng lẫn nhau như
thế nào. Vì vậy, nghiên cứu này nhằm mục đích khám phá mối quan hệ giữa tuân thủ
thuốc và khả năng hiểu biết về thuốc ở bệnh nhân mắc bệnh mãn tính. Nghiên cứu của
chúng tơi có thể đưa ra các phương pháp tiếp cận mới cho các nhà cung cấp dịch vụ
chăm sóc sức khỏe nhằm vào bệnh nhân và các khu vực có vấn đề cần can thiệp cụ thể
để cải thiện việc tuân thủ thuốc ở những bệnh nhân mắc bệnh mãn tính.

8


1.1.4. Đánh giá tuân thủ điều trị của bệnh nhân
* Phương pháp đánh giá tuân thủ điều trị của bệnh nhân
Hiện nay có các loại thang đánh giá mức độ tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân
thường được sử dụng trong lâm sàng là bảng câu hỏi tuân thủ lĩnh thuốc và dùng thuốc
(ARMS) bảng câu hỏi niềm tin về thuốc điều trị (BMQ), thang đánh giá mức độ tự tin
tưởng dùng thuốc đúng cách (SEAM) [12].
Thang đánh giá mức độ tự tin tưởng dùng thuốc đúng cách (SEAM) là bộ công
cụ đánh giá mức độ tuân thủ điều trị dựa vào niềm tin của bệnh nhân vào thuốc điều trị.
Ưu điểm của SEAM là câu hỏi đơn giản, rất hữu ích trong quản lý phịng khám. SEAM
có hạn chế là khó chấm điểm. Thang đánh giá này áp dụng cho bệnh nhân mạn tính như
bệnh mạch vành, tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng glucose máu [12].
Thang đánh giá tuân thủ lĩnh thuốc và dùng thuốc (ARMS) đánh giá mức độ tuân
thủ do nguyên nhân hay quên, giá thuốc và ảnh hưởng của tác dụng. ARMS không đánh
giá được niềm tin của bệnh nhân vào thuốc điều trị, khó áp dụng vì câu hỏi phức tạp
nhưng dễ ghi điểm [12].
Một khảo sát cắt ngang về bệnh nhân tăng huyết áp ở Trung Quốc thực hiện từ
tháng 8 đến tháng 12 năm 2016 với mục đích tìm hiểu các yếu tố liên quan đến việc
sử dụng thuốc ở bệnh nhân tăng huyết áp để cải thiện khả năng tự dùng thuốc và quản

lý tăng huyết áp an toàn, hợp lý. Có 590 bệnh nhân tăng huyết áp đã được khảo sát
trong nghiên cứu này (tỷ lệ trả lời là 100%). Khoảng 11,5% người tham gia tốt nghiệp
trung học cơ sở, 18,7% người tham gia có thu nhập trên 100.000 nhân dân tệ một năm,
41,9% người tham gia có bảo hiểm y tế cho người lao động thành thị. Mặc dù hiểu biết
đầy đủ về thuốc rất quan trọng cho việc kiểm soát bệnh tăng huyết áp, nhưng hiểu biết
về thuốc của bệnh nhân tăng huyết áp nói chung là thấp. Các yếu tố ảnh hưởng đến
hiểu biết về thuốc là trình độ học vấn thấp, thu nhập thấp, thất nghiệp, khơng có bảo
hiểm. Giáo dục sức khỏe là một biện pháp quan trọng để đảm bảo bệnh nhân THA
tự dùng thuốc an tồn. Bên cạnh đó, sàng lọc bệnh nhân cần trợ giúp, đào tạo có hệ
thống nhân viên y tế và huy động toàn diện các nguồn lực y tế có thể giúp cải thiện
mức độ hiểu biết dùng thuốc của bệnh nhân tăng huyết áp [40].

9


Trong một nghiên cứu mơ tả cắt ngang của phịng khám dịch vụ Quân y ở
Nablus, Palestine. Sủ dụng thang đo tuân thủ thuốc Morisky 8 mục. Một mẫu thuận
tiện gồm 131 bệnh nhân đái tháo đường đã được nghiên cứu. Kết quả thu được theo
ARMS, 50 bệnh nhân (38,5%) có mức độ tuân thủ cao, 58 (44,6%) có mức độ tn thủ
trung bình và 22 (16,9%) có tỷ lệ tuân thủ thấp [11].
Tuân thủ dùng thuốc đề cập cụ thể đến việc theo dõi điều trị bằng thuốc theo
quy định [40]. Ngoài việc tiếp cận điều trị, việc tuân thủ thuốc thành cơng địi hỏi phải
tự quản lý đúng cách [44]. Để sử dụng thuốc đúng cách, bệnh nhân cần phải đọc được
các thông tin y tế liên quan, bao gồm nhãn thuốc, hướng dẫn sử dụng, và dùng liều
lượng chính xác. Mỗi người nhân cũng cần phải quyết định những hành động nào nên
được thực hiện để xử lý khi gặp sai sót về liều lượng (ví dụ: tăng gấp đơi hoặc bỏ qua
nó) và các tác dụng phụ tiềm ẩn. Những cơng việc này địi hỏi sự hiểu biết đầy đủ về
thuốc.
1.2. Các mối liên quan giữa tự tin dùng thuốc, niềm tin về thuốc và các vấn đề
liên quan đến thuốc trong hành vi dùng thuốc của bệnh nhân ĐTĐ típ 2

1.2.1. Tự tin dùng thuốc
Thuốc đóng vai trị chính trong việc kiểm sốt hầu hết các bệnh, nhưng thuốc
cũng chiếm 1 trong 3 loại phổ biến nhất của các tác dụng phụ liên quan đến sức khỏe.
Các tác dụng ngoại ý liên quan đến thuốc “cao” có thể phịng ngừa được thường do
việc sử dụng thuốc khơng phù hợp, một tình huống có liên quan đến sự hiểu biết kém
về hướng dẫn sử dụng thuốc, tự tin dùng thuốc và trình độ hiểu biết về sức khỏe thấp
[46]. Tự tin về thuốc được hiểu như tự tin của bệnh nhân về việc sử dụng thuốc điều
trị trong các trường hợp, dịp đặc biệt và khi phải thay đổi thuốc trong điều trị [25]. Đái
tháo đường là một bệnh tiến triển mãn tính, đặc trưng bởi nhiều biến chứng về sức
khỏe. Tự tin khi dùng thuốc có mối liên quan chặt chẽ đến việc tuân thủ dùng thuốc.
Dù ở bất kỳ trường hợp hay hoàn cảnh nào bệnh nhân tự tin dùng thuốc đa số sẽ tuân
thủ dùng thuốc theo đúng phác đồ điều trị [11]. Kiến thức và nhận thức của bệnh nhân
về bệnh tiểu đường cũng như tự tin khi dùng thuốc được coi là yếu tố then chốt để tuân

10


thủ điều trị, để tăng hiệu quả điều trị. Vì vậy các cuộc nghiên cứu về độ tự tin dùng
thuốc là rất quan trọng và cần thiết.
1.2.2. Niềm tin về thuốc
Niềm tin và kiến thức là những yếu tố quan trọng để hiểu được sự khác biệt
trong việc tuân thủ thuốc ở bệnh nhân đái tháo đường. Bảng câu hỏi niềm tin về thuốc
có thể được sử dụng như một cơng cụ để xác định những người có nguy cơ không tuân
thủ cao hơn. Nâng cao kiến thức của bệnh nhân về bệnh tật của họ có thể ảnh hưởng
tích cực đến việc tuân thủ thuốc của họ [40]. Trong bộ câu hỏi niềm tin về thuốc, có
rất nhiều yếu tố liên quan đến các thuốc điều trị của bệnh nhân, các nghiên cứu phân
tích các yếu tố đó để chỉ ra sự liên quan đáng kể đến việc không tuân thủ điều trị: kiến
thức liên quan đến bệnh tật, niềm tin về sự cần thiết của thuốc chống đái tháo đường,
lo ngại về hậu quả bất lợi của thuốc chống đái tháo đường và niềm tin rằng thuốc nói
chung về cơ bản có hại. Bệnh nhân đái tháo đường có điểm kiến thức cao và những

người có niềm tin mạnh mẽ vào sự cần thiết của thuốc.
Trong một nghiên cứu từ một phòng khám ngoại trú ở Shiraz, Iran, [11] sử
dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Những người tham gia đã hoàn thành Bảng câu
hỏi về niềm tin thuốc (BMQ). Tổng số 102 bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường típ 2
đã được tuyển chọn để tham gia trả lời thì trong số đó các phát hiện của nghiên cứu
cho thấy nhận thức về bệnh tật, bao gồm cả dịng thời gian (mãn tính - niềm tin rằng
bệnh đái tháo đường sẽ kéo dài), dự đoán mức độ tuân thủ thuốc cao hơn, trong khi
niềm tin vào thuốc dự đoán mức độ tuân thủ thuốc thấp hơn. Dự đoán này liên quan
như tuổi tác và thời gian bị bệnh. Những phát hiện của nghiên cứu cho thấy rằng niềm
tin về thuốc, chẳng hạn như lo lắng về tác dụng tiêu cực của thuốc, có một vai trị quan
trọng trong việc tuân thủ thuốc ở mức độ thấp đối với bệnh nhân đái tháo đường ở Iran
[11].
Trong nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 300 bệnh nhân đái tháo
đường típ 2 được chuyển đến Phịng khám Nội tổng quát, Bệnh viện Yazd Shohdaye
Kargar, Thành phố Yazd, miền trung Iran từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2013 [51]. Mỗi
người tham gia đồng ý được phỏng vấn bởi một thành viên nghiên cứu đã được đào
tạo bằng cách sử dụng bảng câu hỏi. Kết quả thu được bệnh nhân bị đái tháo đường

11


niềm tin về thuốc (OR = 0,02; 0,018, 0,07) việc tuân thủ điều trị kém và niềm tin về
thuốc là mục tiêu nhằm cải thiện khả năng tự quản lý bệnh đái tháo đường.
Ở một khảo sát về niềm tin về thuốc (Bảng câu hỏi về thuốc) được kết hợp
với dữ liệu kê đơn từ Groningen Initiative để phân tích cơ sở dữ liệu Điều trị bệnh đái
tháo đường típ 2. Trong số 257 bệnh nhân đã liên hệ, 133 (52%) trả lại bảng câu
hỏi. Các bệnh nhân có tuổi trung bình là 66 tuổi và 50% là nữ. Niềm tin cần thiết không
khác biệt giữa những người tuân thủ và những người không tuân thủ không. Niềm tin
về sự cần thiết không liên quan chặt chẽ với việc không tuân thủ, trong khi niềm tin về
mối quan tâm của bệnh nhân có thể liên quan đến việc khơng tn thủ. Tuy nhiên, vai

trò của các yếu tố quyết định này khác nhau ở mỗi nhóm điều trị [21].
Tại một nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang bao gồm 387 bệnh nhân được
chẩn đốn mắc đái tháo đường típ 2 gần đây. Những người tham gia đã được đánh giá,
từ năm 2010 đến năm 2013 trả lời bảng câu hỏi Niềm tin về Thuốc. Kết quả phân tích
đường dẫn cho thấy niềm tin về thuốc có vai trị trung gian trong việc tự báo cáo việc
tuân thủ thuốc ngoại trừ niềm tin về những mối quan tâm cụ thể đối với thuốc. Do đó,
cả niềm tin chung và nhu cầu cụ thể về thuốc đều làm trung gian cho mối quan hệ giữa
hậu quả của bệnh đái tháo đường và việc tự báo cáo việc tuân thủ thuốc cũng như giữa
việc kiểm soát điều trị và việc tự báo cáo việc tuân thủ thuốc. Nhu cầu về thuốc làm
trung gian mối quan hệ giữa kiểm soát cá nhân và tự báo cáo việc tuân thủ thuốc. Các
chuyên gia y tế nên nhắm vào niềm tin về thuốc bên cạnh những biểu hiện về bệnh tật
liên quan đến việc tuân thủ thuốc. Nghiên cứu hiện tại có thể giúp tối ưu hóa việc tuân
thủ thuốc ở những bệnh nhân đái tháo đường típ 2 được chẩn đốn sớm. Cần tn thủ
thuốc trong điều trị đái tháo đường, góp phần làm giảm lượng đường huyết. Kiến thức
và nhận thức của bệnh nhân về bệnh đái tháo đường cũng như niềm tin về thuốc được
coi là yếu tố then chốt để tuân thủ điều trị [47] .
1.2.3. Thực trạng
Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 đã được
tiến hành, tuy nhiên các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào mô tả thực trạng sử dụng
thuốc, phân tích, đánh giá các kĩ năng sử dụng các dạng thuốc và tuân thủ thuốc của
bệnh nhân hoặc đánh giá tổng thể về DRP trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2. Hiện

12


tại, chưa ghi nhận nghiên cứu nào phân tích mối liên quan đến sử dụng thuốc trong
hành vi dùng thuốc của bệnh nhân đái tháo đường típ 2, và cũng chưa có nghiên cứu
nào đánh giá về tự tin dùng thuốc và niềm tin về thuốc của bệnh nhân.
Năm 2017, các nghiên cứu của Nguyễn Thị Lý và Nguyễn Thị Hiền tại các cơ
sở khám chữa bệnh tuyến tỉnh và tuyến huyện cũng cho thấy tỷ lệ lựa chọn phác đồ

phù hợp thấp. Trên bệnh nhân không đạt mục tiêu điều trị khơng có sự thay đổi phác
đồ điều trị hoặc sự thay đổi không phù hợp hướng dẫn của ADA và Bộ Y tế tại thời
điểm nghiên cứu [6], [7]. Trong nghiên cứu của Bùi Thị Lệ Quyên tại khoa Nội tiết
đái tháo đường của bệnh viện Việt Xô [8] cũng cho thấy số lượng DRP phát hiện được
tương đối cao. Điều này cho thấy trong quá trình điều trị cần tư vấn cho bệnh nhân để
đảm bảo tuân thủ điều trị và không tự sử dụng thêm các thuốc không cần thiết.
Như vậy, các nghiên cứu cho thấy việc quản lý và theo dõi bệnh nhân đái tháo
đường típ 2 ngoại trú cịn gặp nhiều vấn đề dẫn tới hiệu quả điều trị chưa cao. Vấn đề
này đòi hỏi sự tham gia của nhiều nhóm cán bộ y tế, và dược sĩ là một phần của nhóm
quản lý đa ngành này, giúp tối ưu hóa điều trị bằng thuốc và giúp bệnh nhân tự tin,
hiểu biết, có niềm tin về thuốc hơn trong quá trình điều trị bệnh lâu dài.
Trên thế giới, nhiều nghiên cứu để phát hiện và đánh giá DRP trên bệnh nhân
đái tháo đường típ 2 đã được thực hiện, kết quả của các nghiên cứu được như:
+ Anne Gerd Granas [28]: Đã xác định 88 DRP trong 43 bệnh nhân. Các DRP
phổ biến nhất là phản ứng có hại của thuốc (22%) và sử dụng sai thuốc hoặc liều dùng
của bệnh nhân (14%). Các nhóm thuốc gây nên đa số DRP là thuốc được sử dụng trong
nhóm điều trị đái tháo đường [58], nhóm điều trị lipid máu [16], và nhóm chẹn beta
(2006). Dựa theo PCNE có điều chỉnh để phù hợp hệ thống y tế Na Uy.
+ Agnes YS Chung [61]: Nghiên cứu đã xác định được 417 vấn đề liên quan
đến thuốc. Tỷ lệ bệnh nhân có vấn đề liên quan đến thuốc là 62,8% với trung bình 0,9
vấn đề liên quan đến thuốc trên mỗi bệnh nhân. Các vấn đề liên quan đến thuốc chủ
yếu là liên quan đến việc dùng thuốc (43,9%), lựa chọn thuốc (17,3%) và các phản ứng
bất lợi không dị ứng (15,6%). Các loại thuốc liên quan thường xuyên nhất là nhóm
thuốc nội tiết hoặc tim mạch. Phần lớn (71,9%) nhóm thuốc nội tiết hoặc tim mạch.
Phần lớn (71,9%) các vấn đề liên quan đến thuốc có ý nghĩa lâm sàng vừa phải và

13


28,1% được coi là các vấn đề nhỏ. Các vấn đề liên quan đến thuốc đã được giải

quyết hoàn toàn (50,1%) và giải quyết một phần (11,0%) bằng cách chấp nhận các
khuyến nghị của dược sĩ hoặc nhận được sự thừa nhận từ bác sĩ (5,5%) (10/20123/2014).
+ Hasniza Zaman Huri [32]: Tổng cộng có 406 DRP đã được xác định. Trong
số những bệnh nhân này, 91,8% có ít nhất một DRP, trung bình 1,94 ± 1,10 vấn đề
trên mỗi bệnh nhân. Phần lớn bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường típ 2 bị rối loạn
lipid máu (91,8%) có ít nhất một DRP. Các loại DRP thường gặp nhất là tương tác
thuốc - thuốc tiềm tàng (18,0%), thuốc không được dùng (14,3%) và nhận thức không
đầy đủ về sức khỏe và bệnh tật (11,8%). Thuốc chống tăng huyết áp, điều chỉnh lipid
và chống đái tháo đường là các nhóm thuốc có khả năng liên quan đến DRP cao nhất
(01/2010-12/2011).
Từ các thông tin thu thập đươc, số lượng và loại DRP phát hiện trên bệnh nhân
có sự dao động giữa các nghiên cứu, phụ thuộc vào loại hình nghiên cứu, cách thức
phát hiện, đặc điểm bệnh nhân, hệ thống phân loại và tiêu chí xác định DRP. Tuy
nhiên, trong hầu hết các nghiên cứu, số DRP trung bình trên bệnh nhân thường lớn
hơn 1. DRP chiếm tỷ lệ cao là DRP liên quan tới hiệu quả điều trị và an toàn điều trị
[32]. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cũng chỉ ra DRP liên quan đến tuân thủ thuốc
của bệnh nhân chiếm tỷ lệ khá cao. Các DRP này trên thực tế đều có thể làm ảnh hưởng
đến hiệu quả điều trị, vì vậy, việc quản lý DRP là một hoạt động dược lâm sàng rất
quan trọng và cần được thực hiện tốt tại các cơ sở y tế.
1.2.4. Các yếu tố làm tăng nguy cơ xảy ra DRP trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2
Một DRP xảy ra ln có nguy cơ gây thiệt hại về sức khỏe và kinh tế, do đó,
việc xây dựng các biện pháp phịng tránh và giảm thiểu tác hại của DRP là rất quan
trọng. Một trong các cơng việc quan trọng của phịng tránh DRP là xác định các yếu
tố nguy cơ liên quan đến xuất hiện DRP, giúp cán bộ y tế có thể khu trú nhóm đối
tượng bệnh nhân hoặc nhóm thuốc cần chú ý hơn khi sử dụng.
Một số nghiên cứu trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 đã chỉ ra các yếu tố làm
tăng nguy cơ xảy ra DRP như: giới tính nam, khơng tn thủ điều trị, đã dược học.

14



Trong đó yếu tố đa dược học làm tăng nguy cơ gặp DRP cho bệnh nhân trong tất cả
các nghiên cứu.
Trong một số nghiên cứu cho thấy các yếu tố niềm tin về thuốc, tự tin về thuốc
cũng là yếu tố làm thăng nguy cơ xảy ra DRP như:
- Tự tin về thuốc: bệnh nhân sẽ chịu ảnh bới các tác động bên ngồi như cơng
việc q bận, đi cơng tác xa, khi khơng có ai nhắc nhở hay bác sĩ đổi thuốc mới…. Nếu
bệnh nhân khơng có đủ sự tự tin sẽ sử dụng thuốc một các rụt rè và không sử dụng đúng
theo chỉ định của bác sĩ dẫn đến làm tăng DRP.
- Niềm tin về thuốc: khi bệnh nhân khơng có niềm tin về thuốc sẽ dẫn đến bỏ
thuốc, khơng tin và q trình điều trị của bác sĩ, nghi ngờ hoặc hồi nghi về q trình
điều trị và thuốc đang sử dụng cũng sẽ dẫn đến các hiện tượng bỏ thuốc, uống cũng
được không uống cũng được làm tăng nguy cơ xảy ra DRP cũng làm ảnh đến hiệu quả
điều trị của bệnh nhân. Như trong một nghiên cứu của trường đại học Khoa học Y tế
Hamadan [51], kết quả của chúng tôi cho thấy rằng ở những đối tượng tin tưởng bệnh
và điều trị mạnh mẽ hơn, việc tuân thủ thuốc cao hơn. Niềm tin sai lầm là rào cản trong
việc kiểm soát và quản lý hành vi và do đó là sự tuân thủ thuốc yếu của bệnh nhân.

15


Bảng 1.2. Các yếu tố làm tăng nguy cơ xảy ra DRP trên bệnh nhân đái tháo
đường típ 2 trong các nghiên cứu
STT

Tác giả

Cỡ mẫu

Yếu tố nguy cơ

Giới tính nam

1

Hasniza
Zaman Huri
[32]

208 bệnh nhân ĐTĐ típ 2

Suy giảm chức năng thận

bị rối loạn lipid máu

Đa dược học
Kiểm soát lipid kém

1494 bệnh nhân ĐTĐ típ
2

GM Al-Taani
[14]

2 điều trị tại các phịng
khám ngoại trú của 5
bệnh viện chính và đại
học cơng lập Jordan

3


4

SZInamdar

123 bệnh nhân ĐTĐ típ 2

[33]

cao tuổi

Abdullah Al
Hamid [15]

134 bệnh nhân mắc ĐTĐ

16

Giới tính nam
Số thuốc
Kê đơn thuốc tiêu hóa
Khơng tn thủ các khuyến nghị
tự chăm sóc
Khơng dùng thuốc
Đa dược học
Đặc điểm của tuổi cao
Phác đồ điều trị ĐTĐ phức tạp
Đa dược học
Không tuân thủ điều trị



1.3. Mơ hình quản lý bệnh nhân đái tháo đường điều trị tại Trung tâm y tế thành phố
Yên Bái
Trung tâm y tế thành phố Yên Bái là trung tâm Y tế tuyến huyện nằm giữa
trung tâm thành phố nên khá thuận tiện cho công tác khám chữa bệnh. Tổng số cán bộ
của Trung tâm: 246 người (trong đó cán bộ hợp đồng là 46).
+ Cán bộ tại Trung tâm: 173 người.
+ Cán bộ tại Trạm Y tế là: 73 người.
Hiện tại trung tâm có 5 phịng chức năng, 11 khoa lâm sàng và cận lâm sàng,
15 trạm Y tế xã phường, Trung tâm Y tế có 225 giường bệnh kế hoạch (tại trung tâm
là 150 giường, tại các Trạm Y tế: 75 giường), giường thực kê tại Trung tâm là 195.
Trong năm 2020 trung tâm khám bệnh cho 122.461 lượt người, điều trị nội trú
cho 10.203 lượt người. Tổng số ca phẫu thuật là 539 ca.
Nghiên cứu được tiến hành tại khoa Nội tổng hợp của trung tâm. Bệnh nhân đái
tháo đường được khám và điều trị ngoại trú tại hai phòng khám với 2 bác sĩ và 2 điều
dưỡng. Tại khoa hiện quản lý trên 1000 bệnh nhân đái tháo đường điều trị ngoại trú.
Các bệnh nhân đa số là đối tượng cao tuổi, có nhiều bệnh lý mắc kèm. Bệnh nhân được
quản lý ngoại trú ổn định thông qua hệ thống phần mềm quản lý bệnh nhân và bệnh án
được lưu giữ tại phịng khám, chính vì vậy trung tâm y tế thành phố Yên Bái là trung
tâm y tế có điều kiện hết sức thuận lợi để khai thác thông tin tiền sử dùng thuốc của
bệnh nhân. Hàng tháng, bệnh nhân đến khám và lĩnh thuốc điều trị tại phòng khám
ngoại trú của khoa. Bệnh nhân khi đến được các hướng dẫn viên xếp số và đợi khám
theo thứ tự. Khi vào khám được bác sĩ khám và hỏi những vấn đề liện quan trong tháng
vừa qua, được đi làm các xét nghiệm và quay lại phòng khám đợi kết quả xét nghiệm.
Được bác sĩ và điều dưỡng trả kết quả, giải thích và nói rõ về kết quả xét nghiệm, sau
đó được kê đơn thuốc và hướng dẫn uống, sử dụng thuốc theo đúng đơn kê. Bác sĩ và
điều dưỡng nhắc nhở lịch khám của tháng tiếp theo và hướng dẫn đi lĩnh thuốc, mua
thuốc theo đơn.
Trong quá trình bệnh nhân đến đợi khám, đợi kết quả xét nghiệm là thời gian
bệnh nhân có thể tham gia phỏng vấn theo các bộ câu hỏi của nghiên cứu.


17


Hàng năm Trung tâm thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, các buổi học
chuyên môn về bệnh ĐTĐ. Tuy nhiên, vẫn cịn rất nhiều hạn chế về trình độ chuyên
môn cũng như về cách quản lý bệnh nhân. Qua đánh giá sơ bộ, tỷ lệ bệnh nhân tái
khám đều đặn chỉ chiếm khoảng 70%. Việc bệnh nhân không tái khám đều đặn cùng
với số lượng bệnh nhân lớn là một thách thức trong quá trình điều trị, và cũng là một
khó khăn để thực hiện nghiên cứu.

18


×