Chủ đề:
PHÂN TÍCH SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC VỀ KIỂM SỐT
QUYỀN LỰC TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ.
LIÊN HỆ VỚI THỰC TRẠNG, VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP
CHO VIỆC KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA
PHƯƠNG NƠI ĐỒNG CHÍ CƠNG TÁC
BÀI LÀM
Nền chính trị đương đại là sản phẩm của quá trình phát triển tri thức, tư duy chính
trị của nhân loại. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, con người sống trong xã hội ln tìm
cách trả lời những câu hỏi rất căn bản như: Quyền lực xã hội (mà căn bản là quyền lực
nhà nước) bắt nguồn từ đâu? Hình thức chính thể nào là tốt nhất? Tại sao phải kiểm soát
quyền lực và kiểm soát quyền lực bằng cách nào là hiệu quả? Quyền lực và pháp luật có
mối quan hệ với nhau như thế nào? Yếu tố văn hóa liệu có tạo nên sự khác biệt trong
chính trị ở từng quốc giá, từng khu vực khơng?, …
Từ góc nhìn của chính trị học có thể thấy, lịch sử phát triển của tri thức chính trị
nhân loại có một số nội dung nổi bật: Một là, sự phát triển nhận thức về nguồn gốc của
quyền lực nhà nước; Hai là, sự phát triển nhận thức về các mơ hình chính thể; Ba là, sự
phát triển nhận thức về kiểm soát quyền lực; Bốn là, sự phát triển nhận thức về pháp
quyền; Năm là, sự phát triển nhận thức về sự phù hợp giữa yếu tố thể chế với yếu tố văn
hóa bản địa. Trong đó, sự phát triển nhận thức về kiểm sốt quyền lực là một trong những
nội dung quan trọng nhằm đánh giá và kiểm định quá trình thực thi quyền lực.
1. Một số khái niệm cơ bản
1.1. Khái niệm quyền lực
Quyền lực là mối quan hệ diễn ra phổ biến trong đời sống xã hội. Mọi tổ chức, kể
cả tổ chức phi chính trị đều có thể coi là một tổ chức quyền lực với phương thức hoạt
động riêng (bao gồm cách thức ra quyết định và thi hành quyết định). Có nhiều cách tiếp
cận khác nhau về quyền lực, tùy cách tiếp cận mà các nhà nghiên cứu đưa ra những định
nghĩa khác nhau.
Dù các định nghĩa về quyền lực đều hàm chứa và phản ánh các phương diện khác
nhau, nhưng ý tưởng căn bản là: Quyền lực là năng lực của một chủ thể, buộc chủ thể
khác phải hành động theo ý chí của mình.
1.2. Khái niệm quyền lực nhà nước
1
Quyền lực nhà nước là quyền lực gắn liền với sự ra đời của nhà nước, theo đó nhà
nước được áp dặt ý chí và buộc những chủ thể khác trong xã hội phải phục tùng mệnh
lệnh của mình nhằm đảm bảo an ninh, duy trì trật tự xã hội.
Giai cấp thống trị muốn hiện thực hóa lợi ích của mình phải thơng qua bộ máy nhà
nước, bởi quyền lực nhà nước được đảm bảo thực thi bằng các công cụ cưỡng chế hợp
pháp. Mặt khác, quyền lực nhà nước, về hình thức bao giờ cũng thể hiện là quyền lực
công – quyền lực đại diện cho tất cả các thành viên trong xã hội; nhưng về bản chất,
quyền lực nhà nước lại thể hiện tính giai cấp, bởi nó được nắm giữ và thực thi bởi một
giai cấp (hay liên minh giai cấp). Từ đây, nhà nước phải thực hiện hai chức năng căn bản
như chủ nghĩa Mác đã nhấn mạnh, đó là chức năng cơng quyền (hay cịn gọi là chức năng
xã hội) và chức năng giai cấp (hay còn gọi là chức năng thống trị giai cấp). Do đó, có thể
nói, quyền lực nhà nước là biểu hiện tập trung của quyền lực công và quyền lực chính trị.
Thơng qua đó, giai cấp nắm giữ quyền lực thực hiện vai trị thống trị chính trị của mình
đối với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội.
Với ý nghĩa đó, quyền lực nhà nước là quyền lực chính trị của giai cấp nắm giữ và
thực thi quyền lực cơng.
1.3. Khái niệm kiểm sốt quyền lực
Kiểm sốt quyền lực là một hoạt động cơ bản, thường xuyên, mang tính bản chất
của hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước; hoạt động thể hiện và bảo đảm thực hiện chủ
quyền nhân dân.
1.4. Khái niệm kiểm soát quyền lực nhà nước
Kiểm sốt quyền lực nhà nước là tồn bộ hoạt động xem xét, theo dõi, đánh giá để
ngăn chặn, loại bỏ những nguy cơ, những hành vi, những việc làm sai trái của các chủ thể
(gồm cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước) trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà
nước bảo đảm cho quyền lực nhà nước được sử dụng và thực hiện theo Hiến pháp và
pháp luật.
2. Sự phát triển nhận thức về kiểm soát quyền lực
Quyền lực nhà nước là cái cần thiết cho xã hội, được hình thành với mục đích ban
đầu là làm cho con người sống hạnh phúc, bảo vệ các quyền tự nhiên của con người, đảm
bảo cho xã hội tồn tại trong vòng trật tự, ổn định và phát triển. Thế nhưng, các bằng
chứng lịch sử cho thấy, từ khi hình thành nhà nước đến nay, thay vì bảo vệ quyền tụ do
của con người, thì chính quyền, nhà nước lại là chủ thể xâm phạm các quyền tự do của
2
con người nhiều nhất. Từ đó dẫn đến sự tha hóa thẩm quyền chính thức, làm cho quyền
lực mất đi mục đích tốt đẹp ban đầu của nó. Ngun nhân của sự tha hóa quyền lực này
xuất phát từ đặc tính vị kỷ và khát vọng quyền lực của con người. Trong tác phẩm
Leviathan (1651), Hobbes mô tả con người như những thực thể tư lợi thâm căn cố đế,
luôn tìm kiếm cho mình một vị thế mạnh mẽ để đảm bảo được các lợi ích của mình.
Hobbes nhấn mạnh, trong con người luôn tồn tại một tinh thần vị kỷ và một khát vọng
không ngừng đối với quyền lực và điều này chỉ mất đi khi con người chết. Từ thế kỷ
XVII, Montesquieu cũng đã viết: “Bất cứ ai có quyền đều có xu hướng lạm quyền và họ
cứ sử dụng quyền đến khi nào gặp phải giới hạn”.
Để hạn chế sự tha hóa quyền lực, các nhà tư tưởng chính trị đã bàn đến các cách
thức kiểm sốt quyền lực khác nhau như: kiểm soát quyền lực bằng đạo đức, kiểm soát
quyền lực bằng luật pháp, kiểm soát quyền lực bằng các thể chế bên trong và các thể chế
bên ngồi nhà nước.
Các nhà tư tưởng chính trị Trung Quốc cổ đại, do quan niệm rằng quyền lực nhà
nước, quyền lực của vua xuất phát từ đấng siêu nhiên, nên nó gần như khơng bị chủ thể
quyền lực nào kiểm sốt; có chăng chỉ là sự kiểm sốt một cách vơ hình từ “thượng đế”,
và sự tự kiểm soát của bản thân người cai trị. Sự tự kiểm soát này dựa vào các chuản mực
đạo đức và nổ lực kiềm chế tham vọng của người cai trị như trong tư tưởng Nho gia. Sự
kiểm sốt này có hiệu quả hay không lại phụ thuộc rất lớn vào nhận thức của những
người cai trị.
Tuy nhiên, do nhà vua không thể tự mình cai trị xã hội, mà phải thơng qua hệ
thống quan lại dưới quyền, nên nguy cơ quyền lực của vua bị các quan lại lạm dụng vẫn
có thể xảy ra. Bằng cách này hay cách khác, các nhà tư tưởng cũng đề xuất những biện
pháp giúp vua kiểm sốt quyền lực của bề tơi thơng qua hệ thống kiểm tra, giám sát giữa
các cơ quan do vua lập ra, hoặc bởi các cá nhân do vua chỉ định. Theo Hàn Phi Tử, nhà
vua phải dùng pháp – thế - thuật để cai trị, trong đó pháp luật là cơng cụ để kiểm sốt
hành vi của mọi chủ thể, kể cả tầng lớp quan lại. Mọi thứ cứ đúng pháp luật mà thưởng
phạt nghiêm minh thì cái ác trong mỗi con người sẽ được khắc chế.
Còn ở phương Tây, kiểm soát quyền lực là một trong những vấn đề cơ bản trong
các nghiên cứu về chính trị học và là nội dung trọng tâm của lý thuyết phân quyền. Tuy
có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử, tư tưởng phân quyền chỉ trở thành một lý thuyết hoàn
chỉnh trong thời kỳ Khai sáng. Những người phát triển lý thuyết này là triết gia người
3
Anh, John Locke (1632-1704) và người có cơng phát triển nó một cách hồn chỉnh là nhà
luật học người Pháp S.Montesquieu (1689-1755).
Nội dung cốt lõi của lý thuyết này là: Quyền lực nhà nước ln có xu hướng tự mở
rộng, tự tăng cường vai trị của mình. Bất cứ ở đâu có quyền lực là ở đó có thể xuất hiện
khả năng lạm quyền, cho dù quyền lực ấy thuộc về ai. Do vậy, để đảm bảo các quyền tự
do cơ bản của công dân, ngăn ngừa các hành vi lạm quyền của chính phủ thì phải thiết
lâp cơ chế nhằm giới hạn quyền lực nhà nước. Cách tốt nhất để chống lạm quyền là giới
hạn quyền lực bằng các công cụ pháp lý và cách thực hiện không phải là tập trung quyền
lực mà là phân chia nó ra. Thể chế chính trị tự do là thể chế chính trị trong đó quyền lực
tối cao được chia làm ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Các quyền này phải
được trao cho các bộ phận độc lập với nhau nắm giữ. Sự phân chia quyền lực ở đây phải
được thể hiện trên cơ sở của pháp luật, nghĩa là các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp
chỉ được thực hiện những quyền mà luật pháp quy định. Luật pháp ở đây phải mang tính
khách quan, phải thừa nhận các quyền tự do cá nhân và bản chất của nó phải là sự thể
hiện ý chí chung của nhân dân.
Tuy nhiên, nội dung của lý thuyết phân quyền không chủ dừng lại ở việc phân
định chức năng cho các nhánh quyền lực, mà còn tiến đến một mục đích cao hơn, đó là
cơ chế kiểm sốt lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực, hay còn gọi là cơ chế kiềm chế và
đối trọng.
Kiềm chế và đối trọng là tập hợp các quyền và trách nhiệm do pháp luật quy định
làm cơ sở để các nhánh quyền lực thực hiện kiểm sốt lẫn nhau. Nó tạo lập mối quan hệ
chính trị - pháp lý giữa các nhánh quyền lực sao cho các nhánh đó có thể độc lập thực thi
nhiệm vụ bằng những thẩm quyền pháp lý của mình, đồng thời có thể ngăn chặn được sự
lạm quyền của một nhánh nào đó.
Cơ chế phân quyền và đối trọng quyền lực được thể hiện ra là:
Một là, lập pháp ban hành luật, giám sát việc thực hiện các đạo luật do nó ban
hành và truy tố những quan chức trong bộ máy hành pháp khi họ vi phạm trách nhiệm.
Hai là, hành pháp có nhiệm vụ thực thi pháp luật, ngăn chặn những dự định tùy
tiện của cơ quan lập pháp.
Ba là, sự độc lập của cơ quan tư pháp và các quan tịa nhằm bảo vệ cơng dân khỏi
sự xâm hại bởi những đạo luật của cơ quan lập pháp cũng như hành vi tùy tiện của cơ
quan hành pháp.
4
Bên cạnh những kênh kiểm soát quyền lực bên trong bộ máy nhà nước, các nhà tư
tưởng chính trị cũng bàn đến các hình thức kiểm sốt quyền lực từ phía người dân và xã
hội. Khi bàn về xu hướng lạm quyền, thối hóa của quyền lực hành pháp và biện pháp
khắc phục, J.J.Rousseau cho rằng: các chính phủ trên đời, một khi nắm được quyền lực
cơng cộng đều tìm cách lạm dụng, thoán đoạt quyền lực tối cao của tồn dân. Để ngăn
chặn nguy cơ chính phủ tiếm quyền, theo Rousseau phải áp dụng một biện pháp triệu tập
hội nghị định kỳ tồn dân với mục đích làm rõ hai câu hỏi: “Một là, tồn dân có muốn
giữ ngun hình thức chính phủ hiện hữu hay khơng?; Hai là, nhân dân có vừa lịng với
sự cai trị của những người hiện đang được ủy thác hay không?”. Với biện pháp như vậy,
chính phủ sẽ ln bị đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của nhân dân, và nhân dân có quyền
chấp nhận hay chối bỏ chính phủ bất cứ lúc nào.
3. Thực trạng, vấn đề đặt ra và giải pháp cho việc kiểm soát quyền lực nhà
nước ở địa phương
Kiểm soát quyền lực nhà nước là một vấn đề quan trọng trong tổ chức thực thi
quyền lực nhà nước. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta đã khẳng định:
“Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh,
tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất
nước. Tăng cường cơng khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực, gắn
với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của nhà nước và của cán bộ, công chức,
viên chức”. Cùng với đẩy mạnh phân cấp, phần quyền tạo sự chủ động, sáng tạo cho
chính quyền địa phương, vấn đề kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước của chính
quyền địa phương ln được Đảng và Nhà nước quan tâm, cơ chế kiểm soát quyền lực
nhà nước ngày càng rõ ràng hơn. Tuy nhiên, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII,
Đảng vẫn nhận định: “…cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước chưa đầy
đủ, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả chưa cao”. Vì vậy, kiểm sốt quyền lực nhà nước trong
đó có kiểm sốt việc thực hiện quyền lực nhà nước của chính quyền địa phương cần được
quan tâm.
3.1. Thực trạng và một số vấn đề đặt ra cho việc kiểm soát quyền lực nhà nước
ở địa phương
Với trách nhiệm nặng nề mà Đảng và Nhân dân giao phó, người đứng đầu cấp ủy,
chính quyền địa phương có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức mạnh của hệ thống
chính trị, tổ chức các phong trào cách mạng của quần chúng, góp phần thực hiện thắng
5
lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng ở địa phương.
Tuy nhiên, tại địa phương vẫn còn tồn tại nhiều biểu hiện lạm quyền, lợi dụng quyền và
lộng quyền ở một số chức danh, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước đối với
Nhân dân. Cụ thể:
Thứ nhất, hạn chế của cấp ủy Đảng trong kiểm soát quyền lực đối với chính quyền
địa phương (cùng cấp).
Kiểm sốt quyền lực đối với chính quyền là ở khâu giới thiệu bầu cử hay bố trí
nhân sự cho chính quyền. Đảng giới thiệu ứng cử thì cũng có thể đề xuất bãi nhiệm chức
vụ đó nếu khơng cịn xứng đáng. Bên cạnh đó, Đảng ủy giám sát đảng viên là cán bộ,
cơng chức trong chính quyền. Tuy nhiên trên thực tế, cấp ủy kiểm soát quyền lực nhà
nước hiện nay chưa thực sự hiệu quả do chưa có quy định, hướng dẫn thống nhất, cụ thể
về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của cấp ủy với chính quyền địa
phương. Mặt khác, ranh giới cơng việc của cấp ủy với chính quyền địa phương chưa rõ
dẫn đến tình trạng Đảng ủy bng lỏng sự lãnh đạo hoặc bao biện làm thay chính quyền
dẫn đến mất đồn kết nội bộ. Đồng thời, cấp ủy Đảng còn lúng túng trong kiểm soát
quyền lực bằng ban hành quyết sách, phân công thực hiện và kiểm tra việc thực hiện đối
với đảng viên trong chính quyền địa phương.
Thứ hai, hạn chế của Hội đồng nhân dân trong kiểm soát quyền lực đối với Ủy ban
nhân dân.
Trong thực tế, hiệu quả kiểm soát quyền lực của Hội đồng nhân dân chưa cao, các
hoạt động được tổ chức cịn mang tính hình thức. Phần lớn cịn bị ràng buộc ở vị trí cơng
tác đương nhiệm nên cịn hạn chế trong việc góp ý và phê bình các hoạt động của Ủy ban
nhân dân. Bên cạnh đó, các đại biểu Hội đồng nhân dân cịn thiếu kiến thức, khơng am
hiểu sâu sắc về các mảng công việc nhất là các lĩnh vực quản lý kinh tế, xã hội, quản lý
đất đai, … nên khó kiểm tra, giám sát kịp thời để ngăn ngừa sự lạm quyền.
Thứ ba, hạn chế của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đồn thể chính trị - xã hội
trong kiểm sốt quyền lực đối với chính quyền cấp xã.
Công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đồn thể chính trị
- xã hội cịn chung chung, chưa phát huy trách nhiệm; cơng tác giám sát chưa tổ chức
thường xuyên; nội dung giám sát, phản biện xã hội chưa phong phú. Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc chưa giám sát chặt chẽ việc tiếp thu, giải quyết các ý kiến, kiến nghị từ phía chính
quyền địa phương. Mặt khác, thành viên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
6
chính trị - xã hội chưa am hiểu sâu sắc về các lĩnh vực nên phần lớn ý kiến phản biện
thiếu thực tế và không hiệu quả.
Những hạn chế trên dẫn đến việc kiểm soát quyền lực nhà nước chưa hiệu quả, dễ
xảy ra hiện tượng lạm quyền và lộng quyền. Ngun nhân chính và chủ yếu đó là:
Một là, quy định về cơ chế kiểm sốt quyền lực nói chung, kiểm sốt quyền lực
nhf nước ở địa phương nói riêng vẫn chưa đầy đủ, chưa cụ thể, thiếu đồng bộ. Trách
nhiệm của các cơ quan, tổ chức chưa rõ ràng, do các đại biểu HĐND chủ yếu là kiêm
nhiệm dẫn đến tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi cịi”; các cơ quan, tổ chức bị khiếu nại,
tố cáo tự giải quyết các khiếu nại, tố cáo; hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân chưa
hiệu quả. Các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị ở địa phương chưa chủ động, tích
cực trong việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực trong nội bộ hệ thống của
mình. Nhiều vụ, việc do cơng luận bức xúc, các cơ quan chức năng mới vận hành để
kiểm tra, giám sát.
Hai là, nhận thức về kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực còn lệch lạc, coi
trọng ổn định, bệnh thành tích.
Ba là, sự phối hợp của các hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra chưa đồng bộ,
còn chồng chéo hoặc bỏ trống nhiều việc cần kiểm soát. Các hoạt động giám sát của Mặt
trận Tổ quốc và các đồn thể chính trị - xã hội chưa sắc nét, gần như né tránh giám sát
các hoạt động liên quan thực thi quyền lực của Chủ tịch UBND xã/phường.
Bốn là, bộ máy chính trị ở địa phương chưa đủ mạnh, cịn tình trạng nể nang, thậm
chí bố trí, tuyển dụng người thân quen, người nhà, … vào bộ máy nên kiểm sốt khó
khách quan, chỉ lo che chắn, bảo vệ lợi ích cho nhau, …
3.2. Giải pháp bảo đảm kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương trong giai
đoạn hiện nay
Nhằm đảm bảo kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương trong giai đoạn hiện
nay cần thực hiện một số giải pháp, cụ thể như sau:
Thứ nhất, hồn thiện phương thức kiểm sốt trong nội bộ hệ thống chính trị (kiểm
sốt bên trong).
Xây dựng, hồn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực của cấp ủy Đảng, tạo điều kiện
nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực của cấp ủy Đảng đối với chính quyền địa phương.
Cụ thể hóa những quy định trong Điều 4 Hiến pháp năm 2013 thành một văn bản
pháp luật với các nội dung liên quan đến chính quyền địa phương như: Nhiệm vụ, quyền
7
hạn và trách nhiệm của Thường trực Đảng ủy, tập thể Đảng ủy, Đảng bộ xã; Quy định về
các nội dung mà các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến
pháp và pháp luật; Xây dựng, hồn thiện quy chế làm việc của Bí thư, Thường trực Đảng
ủy và Đảng ủy để có cơ sở loại trừ tính ngẫu hứng, bè phái, cục bộ địa phương, lợi ích
nhóm, dịng họ, … bảo đảm cơng việc được xem xét, quyết định một cách khách quan
theo nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; Thực
hiện các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.
Thứ hai, hồn thiện cơ chế tự kiểm sốt quyền lực của chính quyền địa phương.
Quan tâm đến việc kiểm soát quyền lực của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dân. Tăng cường vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội ở
cấp xã, cụ thể:
Một là, cần quy định đầy đủ hơn về giám sát của MTTQ, các tổ chức thành viên
đối với Đảng ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố
cáo của công dân. Các kiến nghị của MTTQ cần được xem xét nghiêm túc và thông báo
lại bằng văn bản đúng thời hạn quy định để thể hiện sự tôn trọng ý kiến của MTTQ.
Hai là, tăng cường sự phối hợp giữa MTTQ với các cơ quan có chức năng giám
sát, thanh tra, kiểm tra cùng cấp và cấp trên để thực hiện quyền giám sát của mình. Đồng
thời, cán bộ MTTQ cần phải đi sâu, sát với các tầng lớp nhân dân để lắng nghe ý kiến
phản ánh của nhân dân đối với hoạt động của chính quyền địa phương.
Ba là, cần quy định và phân công cụ thể về việc tiếp nhận, xử lý, trả lời ý kiến,
giám sát, phản biện phản ánh tình hình của MTTQ và các thành viên về cán bộ, đảng
viên, về công tác Đảng.
Bốn là, về mặt tổ chức và hoạt động của MTTQ, cần hoàn thiện bộ máy tổ chức,
năng lực phẩm chất của cán bộ Mặt trận; đổi mới phương thức hoạt động, bổ sung kinh
phí cho hoạt động giám sát.
Thứ ba, hồn thiện phương thức kiểm sốt từ bên ngồi vào hệ thống chính trị cấp xã.
Một là, tăng cường kiểm soát quyền lực cấp xã của các cơ quan, tổ chức ở cấp
huyện. Bao gồm các hoạt động: Tăng cường hoạt động kiểm tra của Huyện ủy, các cơ
quan của Huyện ủy đối với Đảng ủy, chính quyền, MTTQ và các thành viên MTTQ xã;
Tăng cường các hoạt động giám sát của HĐND huyện đối với hoạt động của HĐND và
UBND cấp xã; Tăng cường các biện pháp kiểm tra, thanh tra của UBND huyện, các cơ
quan chức năng của UBND huyện đối với UBND cấp xã; MTTQ huyện và các tổ chức
8
thành viên theo chức năng của mình kiểm tra, giám sát các tổ chức tương ứng ở cấp xã,
kịp thời ngăn chặn những sai lầm, thiếu sót trong cơng tác.
Hai là, tăng cường kiểm soát quyền lực cấp xã của Nhân dân.
Để phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với đại biểu dân cử cần mở rộng
phạm vi tiếp xúc cử tri.
Phát huy quyền giám sát nhân dân ở cơ sở như: Ban Thanh tra nhân dân, Ban
Giám sát đầu tư cộng đồng, … Để phát huy hơn nữa hoạt động giám sát của nhân dân,
cần có cơ chế pháp lý đầy đủ và cụ thể, rõ ràng để nhân dân dễ dàng thực hiện.
Thực tiễn đã chứng minh, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, cơng tác xây
dựng Đảng và chính quyền nhà nước, trong đó có vấn đề kiểm sốt quyền lực ln ln
được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng. Đặc biệt, từ sau khi
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra
đời, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, vấn đề kiểm soát quyền lực nhằm xây dựng
Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, bảo đảm cho sự bền vững
của chế độ và sự thắng lợi của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước quá độ lên chủ
nghĩa xã hội càng được chú trọng hơn, bắt đầu từ nhận thức về sự cần thiết, ý nghĩa, yêu
cầu và phương pháp, cách tiếp cận vấn đề kiểm sốt quyền lực chính trị.
Trên cơ sở nhận thức về sự cần thiết, nội dung, vai trị, ý nghĩa của vấn đề kiểm
sốt quyền lực chính trị trong quá trình lãnh đạo cách mạng, xây dựng, phát triển đất
nước, Đảng, Nhà nước ta đã không ngừng xây dựng và hồn thiện cơ chế, chính sách
nhằm kiểm sốt quyền lực chính trị dưới các cấp độ, hình thức khác nhau.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đối với việc hồn thiện cơ chế kiểm
sốt quyền lực, Đảng ta nhấn mạnh là phải tăng cường và bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ
giữa các thiết chế trong kiểm soát quyền lực. Do vậy, cần quán triệt và bảo đảm sự phối
hợp đồng bộ trong hoạt động kiểm soát quyền lực của các cơ quan quyền lực nhà nước
như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp;tăng cường hoạt động kiểm tra của Đảng với
hoạt động kiểm tốn độc lập, hoạt động của thanh tra Chính phủ và hoạt động của các cơ
quan tố tụng trong các vụ án về kinh tế, tham nhũng, chức vụ; tạo sự phối kết hợp trong
hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng và hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các
tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm “tăng
cường sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, kiểm tra, tránh chồng
chéo, trùng lặp, lãng phí nguồn lực, khơng hiệu quả”; quán triệt và thực hiện phương
9
châm “tăng cường kiểm tra, giám sát công tác cán bộ, gắn với kiểm soát quyền lực,
chống chạy chức, chạy quyền”; bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ cơ chế giám sát của Mặt
trận Tổ quốc và tổ chức chính trị - xã hội với cơ chế nhân dân trực tiếp giám sát quyền
lực nhà nước.
Tóm lại, ở đâu có quyền lực thì ở đó có u cầu kiểm sốt quyền lực với vai trị
như một cơng cụ điều tiết, bảo đảm cho quyền lực được sử dụng hợp lý, hiệu quả; khơng
bị lạm dụng, sử dụng sai mục đích, dẫn đến hậu quả tiêu cực. Trong lĩnh vực chính trị,
vấn đề kiểm sốt quyền lực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, liên quan đến lợi ích sống cịn
của một dân tộc, sự bền vững của một quốc gia, sự tồn vong của một chế độ. Chính vì
vậy, kiểm sốt quyền lực chính trị mà cụ thể là kiểm soát quyền lực nhà nước hiện nay là
một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết cần được duy trì và thực hiện thường xuyên, liên
tục, lâu dài.
10