1
Chủ đề: Phân tích những điểm mạnh và điểm yếu của mơ hình hệ thống chính trị
Việt Nam. Liên hệ và đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động
của hệ thống chính trị cơ sở ở địa phương nơi đồng chí cơng tác.
BÀI LÀM
Hệ thống chính trị cấu thành bởi ba bộ phận, gồm: tổ chức đảng, tổ chức chính
quyền, tổ chức mặt trận và các đồn thể chính trị - xã hội. Ba bộ phận này có mối
quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau và mỗi bộ phận có vai trị, vị trí riêng được thể
hiện trong cơ chế tổ chức và phương thức hoạt động của từng bộ phận. Với vai trị, vị
trí và tầm quan trọng của cơ sở, Đảng và Nhà nước ta ln quan tâm xây dựng, củng
cố hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, trong đó coi việc đổi mới tổ chức và
hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở là một nhiệm vụ quan trọng, nhằm nâng cao
vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của
chính quyền và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa. Đại hội XIII của Đảng cũng đã nêu những định hướng lớn cho nhiệm vụ
xây dựng, đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đến năm 2030,
trong đó chú trọng nội dung xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh
gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Song, vấn đề đặt ra là phải đánh giá đung những
điểm mạnh và những điểm yếu của mơ hình hệ thống chính trị của Việt Nam hiện nay
để có giải pháp phát huy tối đa những điểm mạnh, khắc phục tuyệt đối các điểm, từng
bước nâng cao hiệu quả hoạt động của Hệ thống chính trị Việt Nam.
1. Cơ sở lý luận
1.1. Các khái niệm có liên quan
* Khái niệm hệ thống chính trị: Hệ thống chính trị là một chỉnh thể bao gồm
các thể chế chính trị (nhà nước, đảng chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội...) được
tổ chức theo một kết cấu chức năng với các cơ chế vận hành và mối quan hệ giữa
chúng nhằm thực thi quyền lực chính trị.
* Khái niệm hệ thống chính trị Việt Nam: Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay
là một chỉnh thể thống nhất, gắn bó hữu cơ, bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đồn
thể chính trị - xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam để thực hiện đầy
đủ quyền làm chủ của nhân dân và xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hệ
thống chính trị ở nước ta vận hành theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,
nhân dân làm chủ.
* Khái niệm hệ thống chính trị ở cơ sở là: Tổng thể gồm Đảng bộ cơ sở, chính
quyền, các tổ chức chính trị-xã hội hoạt động trong một cơ chế nhất định nhằm thực
hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và phát huy
quyền làm của nhân dân ở cấp cơ sở.
1.2. Khái qt mơ hình hệ thống chính trị Việt Nam:
2
Hệ thống chính trị Việt Nam về mặt thiết chế bao gồm: Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức chính trị - xã hội (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt
Nam, Hội Nông dân Việt Nam). Hệ thống chính trị được tổ chức ở cấp trung ương và
địa phương theo cấp hành chính nhà nước. Nhà nước gồm có: Quốc hội, Chủ tịch
nước, Chính phủ, Tịa án nhân dân, Viên kiểm sát nhân dân, chính quyền địa phương,
Hội đồng Bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước.
Trong hệ thống chính trị Việt Nam, Nhà nước là trung tâm của hệ thống; Đảng
Cộng sản Việt Nam là hạt nhân lãnh đạo; Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội là cơ sở chính trị của Đảng và Nhà nước.
* Cơ chế và các nguyên tắc vận hành
Hệ thống chính trị Việt Nam vừa hoạt động theo những nguyên tắc phổ biển
của hệ thống chính trị nói chung: ngun tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân,
nguyên tắc ủy quyền có điều kiện và có thời hạn, nguyên tắc tập trung dân chủ là
nguyên tắc hoạt động cơ bản của hệ thống chính trị. Riêng Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam hoạt động dựa trên nguyên tắc đồng thuận, hiệp thương dân chủ.
* Nhận diện mơ hình
Theo tiêu chí về hệ tư tưởng, hệ thống chính trị Việt Nam là hệ thống chính trị
xã hội chủ nghĩa. Theo tiêu chí đảng chính trị cầm quyền, hệ thống chính trị Việt Nam
là hệ thống một đảng cầm quyền. Theo tiêu chí ủy quyền và phân quyền của Nhà
nước, hệ thống chính trị Việt Nam nghiêng về mơ hình nghị viện. Xét về mặt quyền
lực trên thực tế, hệ thống chính trị Việt Nam có sự song hành quyền lực nhất định
giữa Đảng và Nhà nước. Điều này thể hiện trong tổ chức và mối quan hệ lãnh đạo của
Đảng đối với Nhà nước, cụ thể trên một số lĩnh vực như quốc phòng, an ninh, đôi
ngoại và công tác cán bộ. Hiện nay, Việt Nam đang tiến hành đổi mới, sắp xếp tổ
chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
* Đặc điểm chủ yếu
Hệ thống chính trị Việt Nam có một đảng duy nhất – Đảng Cộng sản Việt Nam
cầm quyền, lãnh đạo được xây dựng trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mac-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh.
Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị.
Hệ thống chính trị được tổ chức theo các cấp hành chính từ Trung ương tới địa
phương. Trong tổ chức hoạt động của hệ thống chính trị có sự song trùng quyền lực
nhất định giữa các cơ quan đảng và các cơ quan nhà nước.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất
được sự ủy quyền trực tiếp từ nhân dân. “Quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân
cơng phối hợp, kiểm sốt giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền
lập pháp, hành pháp, tư pháp”1
1
Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hộ chủ nghĩa Việt Nam 2013 (Điều 2), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2016, tr.9.
3
Do điều kiện lịch sử hình thành và xuất phát từ cơ sở lý luận của Chủ nghĩa
Mác-Lênin, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội khơng độc lập với Đảng
và Nhà nước.
2. Những điểm mạnh và điểm yếu của mơ hình hệ thống chính trị Việt
Nam
Mỗi mơ hình hệ thống chính trị đều có những điểm mạnh và những điểm yếu từ
bản thân của nó. Đối với mơ hình hình hệ thống chính trị của Việt Nam cũng có
những điểm mạnh và những điểm yếu chủ yếu như:
2.1. Điểm mạnh
Hệ thống chính trị Việt Nam tỏ rõ tính ưu việt trong hai cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hoàn thành cuộc cách mạng, giải phóng dân tộc,
thống nhất đất nước. Sau chiến tranh, đất nước trải qua nhiều khó khăn, đặc biệt là sau
khi hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, Viêt Nam vẫn đứng vững vượt qua khủng hoảng;
thử thách và đạt được nhiều thành tựu to lớn.
Sự chuyển đổi từ hệ thống “chun chính vơ sản” sang hệ thống chính trị là
bước ngoặt đánh dấu sự thay đổi tư duy chính trị của Đảng trong thời kỳ đổi mới. Nó
nhấn mạnh tính tương tác, thích nghi của hệ thống. Điều này địi hỏi tính độc lập, tự
chủ của các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị. Đây chính là sự chuyển đổi từ việc
lấy chức năng quản lý là chính sang chức năng hợp tác, phục vụ, kiến tạo phát triển
trên cơ sở thực hiện quyền, làm chủ của nhân dân.
Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm tổ chức của Đảng,
Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính tri - xã hội được tổ chức theo các
cấp hành chính từ trung ương đến cơ sở, tạo ra một mạng lưới có thể chuyển tải nhanh
chóng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước tới
nhân dân.
Sự tập trung, thống nhất cao của hệ thống chính trị là mục tiêu, ý chí đến nguồn
lực và hành động, tạo nên sức mạnh hợp của hệ thống. Các quyết định chính sách của
Đảng và Nhà nước phù hợp, có sự đồng thuận cao sẽ được triển khai nhanh, đồng bộ,
tạo nên sự chuyển biến, thay đổi mạnh mẽ cho cả hệ thống chính trị và xã hội.
2.2. Những điểm yếu
Về mặt tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị cịn khá cồng kềnh, nhiều tầng
nấc, đầu mối trung gian. Chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ của các bộ phận cấu
thành hệ thống chính trị giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các tổ chức thành viên trên
một số lĩnh vực chưa được xác định rõ ràng, cụ thể, nhất là sự trùng lặp chức năng
giữa Đảng và Nhà nước. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa đáp
ứng được yêu cầu, đòi hỏi của xã hội. Tệ quan liêu, lãng phí, tham nhũng gây ra
những hậu quả nghiêm trọng.
Cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ mặc dù đã được cụ
thể hóa ở các nội dung và quan hệ nhất định nhưng một số chức năng, nhiệm vụ,
phạm vi hoạt động của từng chủ thể trong hệ thống chính trị chưa được phân định
thực sự rõ ràng, nhất là phạm vi quyền lực của Đảng và phạm vi quyền lực của Nhà
4
nước. Trên một số lĩnh vực, Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối như quốc phịng, an
ninh, đối ngoại, cơng tác cán bộ.
Sự tập trung quyền lực và tính thống nhất cao của hệ thống cũng có thể dẫn tới
thiếu sự phản biện độc lập trong hệ thống, dễ dẫn tới nguy cơ chủ quan, duy ý chí và
sự trì trệ (như Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc làn thứ VI của Đảng đã tổng kết).
Nếu các quyết định được đưa ra không phù hợp hoặc sai lầm sẽ chậm hoặc khó được
phản hồi, điều chỉnh kịp thời.
Trong quan hệ với Quốc hội, Chính phủ có thẩm quyền khá lớn trong việc cụ
thể hóa luật do Quốc hội ban hành thành những nghị định, thông tư (do các bộ ban
hành), hướng dẫn để thực hiện luật. Bên cạnh việc thực hiện các dự án, chính sách
quan trọng được Quốc hội thơng qua, Chính phủ cũng có vai trị lớn đối với việc
hoạch định và thực thi những chính sách trong phạm vi thẩm quyền của mình. Chính
vì vậy, có thể nói, Chính phủ có thực quyền lớn trong tương quan với quyền lập pháp.
Bên cạnh đó, một số yếu tố khác cũng làm cho Quốc hội khó có thể giám sát, kiểm
sốt được quyền lực của Chính phủ một cách hiệu quả.
Các cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hồn thiện, chưa chặt chẽ dẫn tới tình
trạng tham nhũng, lãng phí. Cuộc chiến chống tham nhũng đã đạt được những kết quả
nhất định nhưng tình trạng tham nhũng vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi.
Tổ chức, bộ máy của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể vẫn cịn tình trạng “nhà
nước hóa” về tổ chức và kinh phí, “hành chính hóa” về phương thức hoạt động, khiến
cho cơng tác của các đồn thể chưa thực sự gắn bó mật thiết với quần chúng, việc
thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức
chính trị - xã hội cịn mang tính hình thức, hiệu quả cịn chưa cao.
3. Thực trạng hệ thống chính trị huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang
3.1. Những kết quả cơ bản đạt được
Giồng Riềng là huyện vùng sâu, vùng căn cứ kháng chiến của Tỉnh Kiên
Giang, tiếp giáp tỉnh Hậu Giang và Thành phố Cần Thơ. Diện tích tự nhiên là
63.936,27 ha, đất sản xuất đất nơng nghiệp là 56.601,36 ha. Dân số có 54.465 hộ,
225.369 khẩu, có 03 dân tộc chính là Kinh chiếm 82,89%; dân tộc Khmer chiếm
16,28%; dân tộc Hoa chiếm 0,83%; cịn lại là dân tộc khác. Tồn huyện có 60 chi,
đảng bộ trực thuộc, gồm 22 Đảng bộ cơ sở, và 28 chi bộ cơ sở, với 6.202 đảng viên,
chiếm 2,75% so với dân số.
Qua gần 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá X) “về tiếp tục đổi
mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”, Hệ
thống chính trị cơ bản được củng cố, kiện toàn, chất lượng hoạt động được nâng lên
đáng kể, các cơ quan Dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể từ huyện đến cơ sở
có chuyển biến tích cực, tập trung củng cố, kiện tồn chi, tổ hội có đổi mới phương
pháp và hình thức tổ chức sinh hoạt.
Tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ổn định, đời sống vật
5
chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ nét, các chính sách an sinh xã hội được
quan tâm chăm lo, y tế, giáo dục không ngừng được cũng cố nâng lên về chất lượng;
cơng tác phịng chống dịch Covid-19 cơ bản được kiểm soát, do dịch bệnh phải thực
hiện giản cách xã hội để thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19,
nên việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, cơng chức, viên chức cịn gặp nhiều khó
khăn.
Cơng tác triển khai, qn triệt thực hiện các chủ trương, nghị quyết được có
liên quan đến cơng tác xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương đều được Ban chấp
hành đảng bộ huyện tiến hành khẩn trương, nghiêm túc, cơ bản đạt yêu cầu. Đội ngũ
cán bộ, cơng chức, viên chức đã có nhận thức đúng đắn về đường lối, quan điểm, chủ
trương đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của hệ
thống chính trị.
Ban Thường vụ Huyện ủy lãnh đạo đổi mới phương thức hoạt động, khắc phục
tình trạng quan liêu hành chính hố trong hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể.
Lãnh đạo xây dựng và thực hiện quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận
Tổ quốc, các đoàn thể và nhân dân đối với các cơ quan Đảng, Nhà nước, cán bộ, đảng
viên. Ban Thường vụ Huyện ủy xây dựng quy chế về sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối
với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; chỉ đạo xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ
quan chính quyền với Mặt trận Tổ quốc, các đồn thể chính trị- xã hội trong tổ chức
triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng về xây dựng khối đại đoàn kết tồn dân,
về cơng tác dân vận ở địa phương, về công tác giám sát và phản biện xã hội.
Thời gian qua trên cơ cơ sở Nghị quyết, kết luận của Đảng, văn bản pháp luật
của Nhà nước về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng tổ chức bộ máy
của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, Huyện đã xác định các
nhiệm vụ trọng tâm và ban hành nhiều chương trình, kế hoạch để thực hiện những nội
dung đề ra.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá, sơ kết, tổng kết việc thực
hiện nghị quyết, kế hoạch; đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ
tục hành chính; nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình; kiện tồn tổ chức
bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tin gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả,
khắc phục tình trạng quan liêu, trùng lặp, chồng chéo hoặc không phù hợp về chức
năng, nhiệm vụ. Hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở thường xun được củng cố,
kiện tồn; cơng tác cải cách thủ tục hành chính, cải tiến phương pháp, lề lối làm việc,
trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà
nước từng bước được nâng lên chất lượng.
Quá trình lãnh đạo điều hành, ln chấp hành nghiêm quy chế làm việc, đồn
kết thống nhất, năng động, sáng tạo, trách nhiệm, định hướng chỉ đạo bằng việc cụ thể
hóa Nghị quyết Đại hội thành các Nghị quyết, chương trình, kế hoạch thực hiện sát
hợp với tình hình, điều kiện, khả năng thực tế của Đảng bộ huyện, cuối nhiệm kỳ có
kiểm điểm, tổng kết đánh giá việc lãnh đạo thực hiện quy chế làm việc của Ban Chấp
hành, Ban Thường vụ và Thường trực Huyện ủy.
6
Chính quyền tổ chức thực hiện nhiệm vụ phù hợp với nghị quyết, chương trình,
kế hoạch chỉ đạo của cấp ủy. Thực hiện chế độ làm việc được đảm bảo, phát huy tốt
nguyên tắc tập trung dân chủ trong làm việc và vai trò quyết định của người đứng
đầu; giảm được một số cuộc họp, giải quyết công việc nhanh, kịp thời. Ban Thường
vụ Huyện ủy đã chỉ đạo củng cố, kiện toàn và nâng lên chất lượng hoạt động của các
tổ chức cơ sở đảng; các nguyên tắc trong sinh hoạt đảng, nguyên tắc tập trung dân
chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách được thực hiện nghiêm túc, dân chủ trong
đảng được phát huy.
Công tác chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội các khóa và bầu cử đại biểu Hội đồng
nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, 2021-2026 được các cấp ủy đảng quan tâm chỉ
đạo thực hiện đảm bảo theo quy định. Thường trực, các ban, các tổ đại biểu HĐND
huyện bám chặt nghị quyết, chương trình, kế hoạch cấp trên, cấp mình nên HĐND
huyện thực hiện cơ bản hoàn thành các nhiệm vụ đề ra.
Ủy ban nhân dân huyện đã xây dựng Đề án tinh giản biên chế đến năm 2021,
giảm 09 cán bộ, công chức huyện, 263 viên chức và 38 cán bộ, công chức cấp xã (đạt
10,75%). Kết quả, khối các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp thuộc
UBND huyện giảm 402 biên chế (trong đó cắt giảm theo quy định là 302 biên chế;
quyết định tinh giản 100 người), đạt 16,35%; khối xã, thị trấn đã cắt giảm 38 cán bộ,
công chức (giảm 02 cán bộ, công chức/19 xã, thị trấn), ngoài ra, đã tinh giản biên chế
21 cán bộ, công chức theo quy định.
Cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đồn thể chính trị - xã hội hoạt động
theo đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy chế, có mối quan hệ chặt chẽ từ huyện đến
cơ sở. Cơng tác bố trí cán bộ, cơng chức, viên chức phù hợp với vị trí việc làm và
theo chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Qua triển khai, thực hiện nhìn
chung các tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị hoạt động theo đúng chức năng,
nhiệm vụ theo quy chế, có mối quan hệ chặt chẽ từ huyện đến cơ sở. Công tác bố trí
cán bộ, cơng chức, viên chức phù hợp với vị trí việc làm và theo chức năng nhiệm vụ
của từng cơ quan, đơn vị. Trình độ của cán bộ, công chức, viên chức và người lao
động từng bước được nâng lên, có kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ chun
mơn, góp phần vào sự phát triển kinh tế- xã hội của địa phương. Biên chế cán bộ công
chức, viên chức hợp lý, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thực tế của từng cơ quan, đơn vị.
Tình hình thực hiện chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ công tác của các cơ
quan tham mưu của Huyện ủy, UBND huyện hoạt động nề nếp, ổn định, có hiệu quả;
lãnh đạo, chỉ đạo hệ thống chính trị có bước phát triển, chất lượng hoạt động của các
tổ chức cơ sở đảng có chuyển biến tích cực, tình hình an ninh chính trị, trật tự an tồn
xã hội từng bước ổn định; sự phối hợp giữa các ngành khá chặt chẽ, từng bước đổi
mới phong cách lãnh đạo và lề lối làm việc đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình
hiện nay. Đội ngũ cán bộ, cơng chức khơng ngừng học tập rèn luyện phẩm chất đạo
đức, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà
Nghị quyết của Đại hội Đảng các cấp đã đề ra.
7
Hoạt động của các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đồn
thể đã có mối quan hệ, phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, gắn
với thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với nhiều hình thức phong phú. Hệ thống
chính trị từ huyện đến cơ sở thường xuyên được củng cố, kiện tồn vững mạnh; cơng
tác cải cách thủ tục hành chính, cải tiến phương pháp, lề lối làm việc, trách nhiệm của
đội ngũ cán bộ, công chức, hiệu lực, hiệu quả, từng bước được nâng cao chất lượng,
phục vụ tốt hơn nhu cầu của các tổ chức kinh tế và nhân dân trên địa bàn.
Tổ chức bộ máy của các cơ sở đã được sắp xếp, kiện toàn theo đúng quy định
và hướng dẫn của trên; bộ máy các cơ quan hoạt động cơ bản tốt, đảm bảo đúng chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phân định và phù hợp với tình hình chung. Sự phối hợp,
tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của mỗi cá nhân được tăng cường, chủ động thực
hiện nhiệm vụ theo lĩnh vực được phân công; cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết
bị, điều kiện làm việc của các cơ quan cơ bản đã đáp ứng và khai thác, sử dụng có
hiệu quả.
Hoạt động của các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đồn
thể đã có mối quan hệ, phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, gắn
với thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với nhiều hình thức phong phú. Hệ thống
chính trị từ huyện đến cơ sở thường xuyên được củng cố, kiện tồn vững mạnh; cơng
tác cải cách thủ tục hành chính, cải tiến phương pháp, lề lối làm việc, trách nhiệm của
đội ngũ cán bộ, công chức, hiệu lực, hiệu quả, từng bước được nâng cao chất lượng,
phục vụ tốt hơn nhu cầu của các tổ chức kinh tế và nhân dân trên địa bàn.
3.2 Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn con tồn tại những hạn chế, khuyết
điểm
Đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với hệ thống chính trị
cịn chậm, có mặt cịn lúng túng. Vẫn cịn tình trạng cấp ủy ở xã, thị bao biện làm thay
hoặc buông lỏng lãnh đạo trên một số lĩnh vực. Đối với Mặt trận Tổ quốc và các đồn
thể chính trị - xã hội chậm sơ kết bổ sung quy chế quan hệ phối hợp hoạt động của
các tổ chức trong hệ thống chính trị. Năng lực lãnh đạo, điều hành của một số cấp ủy
còn hụt hẫng so với yêu cầu của sự phát triển, một số cán bộ làm công tác Mặt trận và
các đồn thể ở ấp, khu phố cịn yếu, phần lớn chưa được đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn
hoá theo chức danh.
Những hạn chế yếu kém trên là do huyện có địa bàn rộng, đông dân cư, chất
lượng nguồn nhân lực thấp. Chế độ, chính sách cho cán bộ, cơng chức, viên chức còn
chưa sát thực tiễn, chưa đảm bảo cho cuộc sống để cán bộ, công chức, viên chức an
tâm công tác, nhất là đối với cán bộ cơ sở chưa đủ sức thu hút người có trình độ về
cơng tác; chế độ giữa cán bộ chuyên trách, công chức với người hoạt động khơng
chun trách cấp xã cịn bất hợp lý.
Đội ngũ cán bộ chưa thật sự ổn định nhất là các xã, thị thường xuyên thay đổi
cán bộ chun mơn, chất lượng hoạt động cịn hạn chế. Người đứng đầu cơ quan, đơn
vị chưa làm hết thẩm quyền và trách nhiệm, chưa kiên quyết trong công tác xây dựng
8
tổ chức, bộ máy, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; thiếu quyết liệt trong
chỉ đạo tinh giản biên chế. Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức tinh thần trách
nhiệm không cao; ý thức tổ chức kỷ luật, kỷ cương hành chính thực hiện chưa
nghiêm; phương pháp, lề lối làm việc chậm đổi mới; trình độ, năng lực thực tiễn còn
chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới nên ảnh hưởng tiến trình
đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy.
4. Giải pháp nâng cao hệ thống chính trị ở huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên
Giang
Một là, Đảng bộ cần nâng cao nhận thức và thực hiện đúng vai trò hạt nhân
lãnh đạo của hệ thống chính trị ở cơ sở. Đảng lãnh đạo phải bằng chủ trương, định
hướng, không bao biện làm thay cơng việc của chính quyền; phát huy tính chủ động,
sáng tạo và tinh thần trách nhiệm trong việc thực hiện đường lối của Đảng. Đổi mới
phương thức lãnh đạo của đảng bộ trước hết là đổi mới việc ra nghị quyết và chỉ đạo
thực hiện các nghị quyết của Đảng; đa dạng hóa các nội dung sinh hoạt của các tổ
chức cơ sở đảng. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thực hiện nghiêm túc
nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; tăng cường công tác giáo dục rèn
luyện nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở.
Hai là, đối với chính quyền cần có mơ hình tổ chức hợp lý, đảm bảo hiệu lực,
hiệu quả hoạt động. Phát huy mạnh mẽ vai trò của cơ quan hành chính trong việc mở
rộng và thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân
giám sát, dân thụ hưởng”. Mọi hoạt động của cơ quan hành chính của đơn phải hướng
vào mục tiêu phục vụ dân; giải quyết đúng đắn và nhanh chóng các cơng việc có liên
quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân. Giáo dục cán bộ, công chức cơ sở có phong
cách "trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân", "nghe dân
nói, nói dân hiểu, làm dân tin". Phát huy vai trò tự quản trong cộng đồng dân cư của
tổ chức các ấp.
Ba là, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức chính trị - xã hội theo hướng mở rộng, đa dạng hoá các hình thức
tập hợp quần chúng nhân dân, đáp ứng yêu cầu và chăm lo lợi ích thiết thực, chính
đáng và hợp pháp của nhân dân; nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận
Tổ quốc và các tổ chức thành viên. Mở rộng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân đi
đôi với giữ vững kỷ cương, kỷ luật. Có cơ chế để nhân dân tham gia, giám sát các
hoạt động của tổ chức cơ sở đảng, chính quyền và các đồn thể nhân dân một cách
thiết thực; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân. Tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ
thống quy chế, quy định và làm rõ mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống chính
trị của đơn vị. Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hoá ở khu dân cư”, kịp thời giải quyết những vướng mắc phát sinh trong nội
bộ nhân dân, khơng để những mâu thuẫn nhỏ tích tụ lâu ngày trở thành “điểm nóng”.
Bốn là, cần có chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho hệ thống chính trị của
đơn vị. Có cơ chế tuyển dụng những trí thức trẻ có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất chính
9
trị, đạo đức, năng lực chuyên môn vào các cơ quan của Đảng, chính quyền và các
đồn thể chính trị - xã hội. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ đơn vị. Thực hiện tốt
công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức trong các tổ chức
của hệ thống chính trị đơn vị.
Năm là, Đẩy mạnh công tác đào tạo và thường xuyên tập huấn chuyên môn
nghiệp vụ, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ kế thừa và cần có chế độ chính sách đối với
cán bộ làm công tác tại các ấp, cán bộ khơng chun trách cấp xã. Với vị trí quan
trọng của hệ thống chính trị ở cơ sở là nơi thể hiện một cách trực tiếp, cụ thể hiệu lực,
hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước cũng như phát
huy quyền làm chủ của Nhân dân trong các hoạt động kinh tế - xã hội ở cơ sở nên
việc xây dựng mơ hình hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh là một trong những nền
tảng quan trọng đầu tiên nhằm triển khai kịp thời, có hiệu quả chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tới nhân dân.
5. Đề xuất, kiến nghị
Thứ nhất, đề nghị Trung ương có chủ trương công nhận chức danh là cán bộ
(hoặc công chức) cấp xã đối với cán bộ làm công tác Văn phịng, Tổ chức, Tun
giáo, Kiểm tra Đảng ủy. Có chế độ đãi ngộ (hay phụ cấp công việc đặc thù) đối với
cán bộ làm công tác Đảng, Mặt trận và các đoàn thể ở cấp xã. Xem xét quy định thời
gian giữ ngạch công chức đối với cán bộ, công chức xã, thị trấn khi có nhu cầu bố trí,
điều động về huyện từ 60 tháng xuống còn 36 tháng.
Thứ hai, đề nghị Tỉnh ủy xem xét cho chủ trương bố trí thêm 01 Phó Bí thư phụ
trách cơ sở đảng đối với huyện có nhiều tổ chức đảng trực thuộc và có đơng đảng
viên. Sớm tổ chức sơ kết việc thực hiện các chủ trương trên, đặc biệt là các mơ hình
mới, để kịp thời đánh giá những mặt được và những bất cập, khó khăn, từ đó có
hướng chỉ đạo thực hiện tốt hơn trong thời gian tới.
Thứ ba, đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh có quy định cụ thể về quản lý, đánh giá
chất lượng hoạt động đối với những người hoạt động không chuyên trách cấp xã và
ấp, khu phố. Có chính sách khuyến khích cho cán bộ, công chức tự túc tham gia đào
tạo, bồi dưỡng nhằm góp phần đảm bảo cuộc sống, yên tâm tham gia học tập và công
tác. Quy định cụ thể số lượng, chức danh cán bộ cấp xã để đảm bảo chế độ kiêm
nhiệm theo quy định của Chính phủ.
Tóm lại, với việc đánh giá đúng những điểm mạnh và những điểm yếu của hệ
thống chính trị Việt Nam, đánh giá đúng thực trạng hoạt động của mơ hình hệ thống
chính trị ở các cấp, đặt biệt là cấp cơ sở, trên cơ sở để đề ra các giải pháp phát huy các
điểm mạnh và khắc phục các điểm yếu, xây dựng, phát triển hệ thống chính trị Việt
nam từ Trung ương đến cơ sở ngày càng vững chắc, hoạt động ngày càng hiệu quả,
gắn bó máu thịch với Nhân dân, thực hiện có hiệu quả đường lối đổi mới đất nước,
10
góp phần quan trọng và quyết định cơng cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.