Đề 2:
Câu 1: (5 điểm)
Phân tích ngun tắc hịa giải trong tố tụng dân sự và đề xuất các kiến nghị
nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc này tại các Tòa án Việt Nam.
Trả lời:
Trong Tố tụng Dân sự, xét theo nghĩa rộng thì hịa giải khơng những chỉ là một thủ
tục bắt buộc do tòa án cấp sơ thẩm tiến hành trước khi có quyết định đưa vụ việc ra giải
quyết bằng một phiên tòa xét xử hoặc một phiên họp theo quy định của pháp luật mà còn
là một thủ tục do tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các bên đương sự hiểu rõ quyền và nghĩa
vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Hịa giải trước hết phải là sự thỏa thuận của đương sự và cơ sở của việc hòa giải là
bắt buộc phải gồm 3 yếu tố cơ bản:
•
Giữa các bên liên quan phải có tranh chấp xảy ra;
•
Trong q trình giải quyết phải có sự tham gia của một bên gọi là bên thứ ba khơng có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan (bên trung lập) để giải thích, tư vấn và cơng nhận sự hịa
giải thành của các bên trong tranh chấp;
•
Trong q trình hịa giải bắt buộc phải có sự tham gia của một bên gọi là bên thứ ba
khơng có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (bên trung lập) để giải thích, tư vấn và cơng
nhận sự hịa giải thành của các bên trong tranh chấp.
Từ những phân tích ở trên, ta có thể hiểu khái niệm hịa giải trong Tố tụng Dân sự
như sau: “Hòa giải dân sự là hoạt động tố tụng do tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các
đương sự thảo thuận với nhau về giải quyết vụ án dân sự”.
Nguyên tắc hòa giải được quy định tại khoản 2 Điều 205 Bộ luật Tố tụng Dân sự
năm 2015 quy định việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:
“a) Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực
hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý
chí của mình;
b) Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không
trái đạo đức xã hội.”
1
Thứ nhất, hịa giải phải tơn trọng sự tự nguyện của các bên, không bắt buộc, áp đặt
các bên tranh chấp phải tiến hành hòa giải. Theo quy định tại Điều 205 Bộ Luật Tố tụng
Dân sự 2015 quy định. Như vậy, khi các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận tức là các
đương sự tự lựa chọn quyết định các vấn đề tranh chấp bằng hòa giải và thương lượng,
thỏa thuận với nhau giải quyết các vấn đề của vụ án.
Thứ hai, hòa giải phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật, nội dung
thỏa thuận không trái với pháp luật, đạo đức xã hội.
Khi tòa án tiến hành hòa giải để giải quyết vụ án dân sự ngoài yếu tố tự nguyện thỏa
thuận của các đương sự thì việc tịa án hịa giải cịn phải thỏa mãn các điều kiện: tuân thủ
đúng trình tự, thủ tục hòa giải; phạm vi hòa giải theo pháp luật quy định; nội dung thỏa
thuận giữa các đương sự không được trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội
Thứ ba, hòa giải phải tích cực, kiên trì nhằm đạt được kết quả hịa giải. Tích cực để
có thể giải quyết được nhanh chóng vụ án, khơng để việc hịa giải kéo dài vơ ích khi
khơng có khả năng hịa giải nhưng lại phải kiên trì giải thích cho đương sự hiểu rõ pháp
luật áp dụng giải quyết vụ án và đi sâu giải quyết các mắc mớ trong tâm tư tình cảm của
họ.
Hòa giải được tiến hành với hầu hết các vụ việc dân sự, trừ những trường hợp khơng
hịa giải được, pháp luật quy định khơng được hịa giải và những vụ án được giải quyết
theo thủ tục rút gọn.
Những vụ án dân sự khơng được hịa giải được quy định tại Điều 206 Bộ luật Tố tụng
Dân sự năm 2015.
• Yêu cầu đồi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước. Theo đó, mọi hành vi gây
thiệt hại đến tài sản của Nhà nước đều là trái pháp luật và buộc phải bồi thường. Người
gây thiệt hại khơng có quyền điều chỉnh, thương lượng với Nhà nước về mức độ bồi
thường và bồi thường như thế nào. Mặt khác, pháp luật cũng phòng ngừa trường hợp
những cá nhân đại dienjd cho Nhà nước, lợi dụng quyền đó để tùy tiện thương lượng với
bên gây thiệt hại hoặc móc ngoắc với bên gây thiệt hại làm thất thốt tài sản của Nhà
nước.
• Những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội. Đây
chính là các giao dịch dân sự vô hiệu nên khi giải quyết vụ án này Tòa án sẽ giải quyết
theo hướng tuyên bố giao dịch dân sự và giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vơ hiệu
vì khi giao dịch dân sự vơ hiệu thì về mặt pháp lý quyền và nghĩa vụ của các bên không
được nhà nước thừa nhận và bảo về nên Tịa án khơng thể tiến hành hịa giải được.
Những vụ án khơng thể tiến hành hịa giải được, được quy định tại Điều 207 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015. Bao gồm:
2
•
Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai
mà vẫn cố tình vắng mặt.
•
Đương sự khơng thể tham gia hịa giải được vì có lý do chính đáng.
•
Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự.
•
Một trong các đương sự đề nghị khơng tiến hành hịa giải.
Đề xuất các kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc này tại các Tòa án Việt
Nam.
Một là, tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Chỉ thị của Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao về tăng cường cơng tác hịa giải tại Tịa án nhân dân
Để cơng tác hịa giải tại Tịa án đi vào thực chất và đạt hiệu quả cao hơn thì cần phải
tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 04/2017/CT-CA ngày 03/10/2017
của Tòa án nhân dân tối cao về việc tăng cường cơng tác hịa giải tại Tịa án nhân dân.
Trong đó, thẩm phán, thẩm tra viên, thư ký Tòa án cần nhận thức rõ về vai trò quan trọng
và ý nghĩa to lớn của cơng tác hịa giải khi giải quyết vụ án dân sự để chủ động, tích cực,
kiên trì hịa giải. Coi cơng tác hịa giải là nhiệm vụ hàng đầu cần ưu tiên thực hiện trong
quá trình giải quyết các vụ án dân sự nói chung.
Hai là, khi tiến hành hịa giải, phải đảm bảo trình tự, thủ tục hịa giải phải được tiến
hành theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Khơng được lợi dụng hịa giải để
tiêu cực, trục lợi trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Bảo đảm dân chủ, bình đẳng,
tơn trọng sự tự nguyện thỏa thuận và quyền tự định đoạt của các đương sự; không được
lừa dối, cưỡng ép, đe dọa, dùng vũ lực bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù
hợp với ý chí của họ.
Ba là, đối với thẩm phán, hịa giải viên cần kiên trì hịa giải, những vấn đề nào
đương sự chưa hiểu hoặc chưa thống nhất thì cần giải thích rõ ràng hơn về các quy định
của pháp luật có liên quan, phân tích hậu quả pháp lý của hịa giải thành và hịa giải
khơng thành phải đưa vụ án ra xét xử để từ đó đương sự tự nguyện thương lượng hòa giải
việc giải quyết vụ án. Kết quả hòa giải thành giúp giải quyết triệt để, hiệu quả các tranh
chấp mà không phải mở phiên tòa xét xử; kết quả hòa giải thành phần lớn được các bên
tự nguyện thi hành; vụ việc không phải trải qua thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc
thẩm; tiết kiệm chi phí, thời gian, cơng sức của các bên liên quan và Nhà nước; hạn chế
tranh chấp kéo dài, gây bức xúc trong dư luận.
3
Bốn là, tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật nhằm nâng
cao nhận thức về công tác hòa giải. Đối với người làm nhiệm vụ hòa giải phải coi hòa
giải là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt trong q trình giải quyết vụ án. Hịa giải thành
nhiều vụ án sẽ góp phần nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án mà Tòa án thụ lý giải
quyết, giảm được áp lực cơng việc, nâng uy tín của Tịa án, tạo được lịng tin vào cơng lý
của nhân dân đối với Ngành Tòa án. Đối với đương sự, hòa giải thành sẽ giảm được thời
gian đi lại, cơng sức, tiền của đương sự. Hịa giải thành sẽ sớm giải quyết được các tranh
chấp của các bên.
Năm là, tăng cường công tác lãnh đạo, kiểm tra đối với cơng tác hịa giải của thẩm
phán. Hiện nay, mặc dù cơng tác hịa giải được chú trọng và quan tâm rất nhiều. Tuy
nhiên, vẫn còn thẩm phán là những người trực tiếp làm nhiệm vụ giải quyết, xét xử án
chưa thật sự coi trọng cơng tác hịa giải. Từ đó, chất lượng hịa giải các vụ án dân sự, hơn
nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động khơng cao, chưa phát huy hết vai trò,
trách nhiệm trung gian của Tòa án trong giải quyết tranh chấp.
Sáu là, tiếp tục bồi dưỡng, nâng cao trình độ chun mơn nghiệp vụ, kỹ năng hòa
giải cho thẩm phán. Thẩm phán là người được phân công giải quyết vụ án, đồng thời là
người trực tiếp chủ trì việc hịa giải. Do đó, việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chun
mơn và kỹ năng hòa giải cho thẩm phán là yêu cầu cấp thiết trước mắt và lâu dài. Bởi
việc hịa giải có thành cơng hay khơng thì ngồi việc nắm vững kiến thức pháp luật, thu
thập đầy đủ chứng cứ thì thẩm phán còn phải được trang bị kỹ năng hòa giải tốt. Trong
điều kiện hiện nay, các quan hệ dân sự, hơn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại…
ngày càng đa dạng, đan xen phức tạp. Do đó, địi hỏi thẩm phán phải được bồi dưỡng
thường xuyên, nâng cao trình độ chun mơn và kỹ năng hịa giải.
Bảy là, tiếp tục duy trì việc phát động phong trào thi đua khen thưởng về cơng tác
hịa giải cho thẩm phán, thư ký và thẩm tra viên. Thông qua việc tổng kết phong trào thi
đua khen thưởng, nhiều cá nhân là thẩm phán, thư ký, thẩm tra viên đã được nêu gương,
tạo động lực cho các thẩm phán, thư ký, thẩm tra viên khác trong đơn vị tiếp tục phấn đấu
nỗ lực nhiều hơn nữa thực hiện nhiệm vụ của mình.
Cuối cùng, đầu tư thêm cơ sở vật chất tạo điều kiện cho thẩm phán làm tốt cơng tác
hịa giải. Bên cạnh các giải pháp nêu trên thì việc đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho cơng
tác hịa giải của các thẩm phán có nhiều ý nghĩa, góp phần có hiệu quả cho cơng tác hịa
giải. Đặc thù của cơng tác hịa giải là rất cần sự thiện chí của các bên tranh chấp.
Câu 2: (5 điểm)
4
Trình bày hậu quả pháp lý và thủ tục áp dụng theo quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015 đối với trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện vụ án dân sự
tại tòa án cấp sơ thẩm.
Trả lời:
Theo bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015, Người khởi kiện hay cụm từ chính xác là
nguyên đơn được hiểu là “Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người
được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa
án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm
phạm”. Từ khái niệm trên, chúng ta có thể rút ra 2 đặc trưng tiêu biểu của ngun đơn,
đó là:
•
•
Ngun đơn là người khởi kiện hoặc người được người khác khởi kiện thay;
Nguyên đơn là người cho rằng quyền và hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Theo các quy định tại khoản 2 Điều 71 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, ghi
nhận, nguyên đơn được quyèn “thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện; rút một phần
hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện”.
Trên ta có thể thấy việc rút yêu cầu khởi kiện trong một vụ án dân sự là quyền
của các đương sự vì thế thời điểm rút có thể từ giai đoạn trước khi thụ lý vụ án, sau
khi thụ lý vụ án, trong khi xét xử sơ thẩm, phúc thẩm.
Hậu quả pháp lý của thủ tục rút đơn khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ
thẩm:
Hậu quả của việc rút đơn khởi kiện xét theo tùy theo từng giai đoạn mà Tịa án có
thể ra những quyết định phù hợp khi rút đơn khởi kiện, cụ thể: Khi chưa thụ lý thì Tịa án
trả lại đơn khởi kiện; sau khi thụ lý rồi thì Tịa án ra quyết định đình chỉ vụ án; khi vụ án
đang được xét xử sơ thẩm, nếu rút một phần hay toàn bộ u cầu khởi kiện thì Tịa án
đình chỉ một phần hay toàn bộ yêu cầu của đương sự; giai đoạn xét xử phúc thẩm thì Tịa
án hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
Trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước khi Tòa án thụ lý vụ án
Thì việc rút yêu cầu khởi kiện Dân sự chính là một trong những căn cứ để tịa án
trả lại đơn khởi kiện theo điểm g Khoản 1 Điều 192 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm
2015.
• Hậu quả pháp lý: Thẩm phán được giao giải quyết vụ án sẽ là người trả lại đơn
khởi kiện. Người đã khởi kiện có quyền khởi kiện lại sau khi rút đơn nếu thỏa mãn
các điều kiện tại Khoản 1 Điều 192 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015
• Khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Thẩm phán
phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng
•
5
•
•
•
•
•
•
•
•
cấp. Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải
được sao chụp và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu
cầu.
Trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện trước phiên tòa sơ thẩm dân sự:
Nếu khơng có u cầu phản tố và yêu cầu độc lập thi Tòa án chấp nhận việc rút đơn khởi
kiện, ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
Người khởi kiện rút đơn khởi kiện nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố và
người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vẫn giữ ngun u cầu độc lập thì Tịa án ra
quyết định đình chỉ vụ án dân sự đối với yêu cầu của người khởi kiện đã rút.
Người khởi kiện rút đơn khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập thì Tịa án ra quyết định
đình chỉ vụ án dân sự đối với yêu cầu của người khởi kiện và yêu cầu phản tố của bị đơn
đã rút.
Người khởi kiện rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ
yêu cầu độc lập nhưng bị đơn vẫn giữ ngun u cầu phản tố thì Tịa án sẽ ra quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đối với yêu cầu của người khởi kiện và yêu cầu độc lập
của người có quyền và lợi ích liên quan đã rút.
Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người
có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan rút tồn bộ u cầu độc lập thì Tịa án ra quyết định
đình chỉ giải quyết tồn bộ vụ án dân sự.
Đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm,
tái thẩm mà Tịa án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án thì Tịa án đồng thời phải
giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có); trường
hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng
mặt thì việc đình chỉ giải quyết vụ án phải có sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan.
Trường hợp đương sự rút đơn khởi kiện tại phiên tịa sơ thẩm:
Ngun đơn rút tồn bộ u cầu khởi kiện nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố
thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ xét xử đối với toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn
đã rút. Khi đó, bị đơn trở thành nguyên đơn.
Nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn cũng rút toàn bộ yêu cầu phản tố,
nhưng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập thì Hội
đồng xét xử ra quyết định đình chỉ xét xử đối với tồn bộ yêu cầu của nguyên đơn và bị
đơn
Lưu ý: Liên quan đến hệ quả của việc rút đơn khởi kiện, không phải trong mọi
trường hợp khi những người khởi kiện rút hồ sơ khởi kiện thì đều được kiện lại cũng như
được Tòa án thụ lý giải quyết, mà theo quy định của pháp luật thì chỉ trong 1 số trường
hợp khi rút đơn khởi kiện bên đương sự mới được kiện lại.
6
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và hướng dẫn trong Nghị quyết số
04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao về việc
hướng dẫn 1 số quy định tại khoản 1 và khoản 3, Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015 về việc trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ, sẽ có 6 trường
hợp đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại đó là:
1. Tịa án nhân dân đã Thơng báo trả lại đơn khởi kiện với lý do những người khởi kiện rút
đơn khởi kiện hay Tịa án nhân dân đã đình chỉ giải quyết vụ án với lý do đối tượng khởi
kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hay nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà
vẫn vắng mặt (căn cứ theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
2015).
Theo khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 : “Khi có quyết định đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự, đương sự khơng có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết
lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau khơng có gì khác với vụ án trước về
nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại
khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác
theo quy định của pháp luật.”
Tòa án đã bác bỏ (không chấp nhận) yêu cầu ly hôn, yêu cầu về việc thay đổi nuôi
con, thay đổi mức độ cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi những người
quản lý tài sản, thay đổi đối tượng quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hay vụ án đòi
tài sản, đòi tài sản cho thuê, mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, mượn, cho ở
nhờ.
3.
Người khởi kiện đã có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự.
4.
Tịa án nhân dân đã Thơng báo trả lại đơn khởi kiện do những người khởi kiện
không được sửa chữa, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng yêu cầu của Thẩm phán bởi trong
đơn khởi kiện những người khởi kiện đã không ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm
việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, những đối tượng có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan (theo quy định trong khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015) hay Tịa án
nhân dân đã đình chỉ giải quyết vụ án đối với lý do người khởi kiện không cung cấp đầy
đủ và đúng với địa chỉ cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của đối tượng bị kiện, những
người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan (căn cứ theo Điều 6 Nghị quyết số
04/2017/NQ-HĐTP) tuy nhiên nay đối tượng khởi kiện đã cung cấp được đầy đủ và đúng
theo địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, những đối tượng có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
5.
Tịa án nhân dân đã Thông báo trả lại đơn khởi kiện hay những vụ án Tịa án nhân
dân đã đình chỉ giải quyết vụ án với lý do đối tượng khởi kiện nhưng chưa có đủ điều
kiện khởi kiện tuy nhiên hiện nay người khởi kiện đã có đầy đủ điều kiện để khởi kiện.
Mặc dù chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo đúng quy định của pháp luật thuộc trường
hợp pháp luật tố tụng dân sự, quy định của pháp luật khác về các điều kiện để cơ quan, tổ
2.
7
chức và cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình hay bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người khác, lợi ích cơng cộng
cũng như lợi ích của Nhà nước những đối tượng khởi kiện đã tiến hành khởi kiện đến Tòa
án nhân dân khi còn thiếu 1 trong các điều kiện đó (theo Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự
2015).
6.
Những vụ án dân sự chia tài sản chung là di sản thừa kế đã hết thời hạn 10 năm, kể
từ thời điểm mở thừa kế mà trước thời hạn 1/1/2017, Tòa án nhân dân đã ra quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án cũng như trả lại đơn khởi kiện vì chưa đủ điều kiện để khởi kiện
chia tài sản chung, tuy nhiên thời hiệu khởi kiện vụ án chia thừa kế đối với các di sản
thừa kế đó vẫn cịn trong vịng 30 năm đối với bất động sản, 10 năm với động sản, tính từ
thời điểm mở thừa kế.
Như vậy, chỉ trong 6 trường hợp trên thì người khởi kiện sẽ được quyền kiện lại và
được Tòa án nhân dân thụ lý giải quyết lại từ đầu.
Trình tự thủ tục:
• Rút đơn khởi kiện trước khi Tòa án thụ lý vụ án
Người khởi kiện làm đơn xin rút hồ sơ khởi kiện. Qua bộ phận tiếp nhận đơn,
đơn rút hồ sơ khởi kiện sẽ được chuyển đến Thẩm phán được phân công xem xét
đơn khởi kiện.
Căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015,
Thẩm phán ra thông báo trả lại đơn khởi kiện. Trong đó nêu rõ lý do trả lại đơn khởi
kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà
Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao chụp và lưu tại Tòa án để làm cơ sở
giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có u cầu.
•
Rút đơn khởi kiện trước khi diễn ra phiên xét xử dân sự sơ thẩm:
Trong trường hợp này, Người khởi kiện phải làm đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện
gửi Thẩm phán được phân công thụ lý xét xử vụ án.
Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tịa án ra
quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn
khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu có u cầu; trong trường hợp
này, Tịa án phải sao chụp và lưu lại để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có
yêu cầu.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện
và Viện kiểm sát cùng cấp.
•
Rút đơn khởi kiện tại phiên xét xử sơ thẩm:
8
Tại phiên xét xử sơ thẩm, người khởi kiện trình bày yêu cầu rút đơn khởi kiện và
nêu lý do trước hội đồng xét xử.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 trong trường hợp
có đương sự rút một phần hoặc tồn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự
nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn
bộ yêu cầu đương sự đã rút.
Về tiền tạm ứng án phí:
Trường hợp Tịa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do người
khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c và trường hợp khác quy
định tại các điểm d, đ, e và g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án
phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho người khởi kiện (Khoản 3 Điều 218 Bộ
luật Tố tụng Dân sự năm 2015).
9