Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Kiến thức bản địa (KTBĐ) và vấn đề thích nghi với biến đổi khí hậu (BĐKH) của các tộc người dân tộc thiểu số (DTTS) ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (268.38 KB, 5 trang )

KIẾN THỨC BẢN ĐỊA (KTBĐ) VÀ VẤN ĐỀ THÍCH NGHI VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU (BĐKH) CỦA CÁC TỘC NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ (DTTS) Ở KHU
VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM
Trần Văn Điền17, Hồ Ngọc Sơn1, Lưu Thị Thu Giang18
Tóm tắt
BĐKH đe dọa nghiêm trọng đến phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo đối với các nhóm
DTTS ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam. Do vậy, cần phải có các giải pháp để thích nghi hiệu
quả với BĐKH. Kiến thức bản địa trong hoạt động sản xuất nơng nghiệp đóng vai trị quan trọng trong
sự nghiệp phát triển một nền nơng nghiệp biết thích ứng và bền vững. Các kiến thức bản địa và truyền
thống là những nguyên tắc cơ bản để cộng đồng các tộc người đương đầu với các sự biến đổi khí hậu
và đa dạng khí hậu tại khu vực này. Đồng bào nơi đây cũng có một vốn kiến thức rộng về mơi trường
sống của mình được hình thành qua những quan sát và trải nghiệm cá nhân và từ kinh nghiệm chung
của cộng đồng. Tuy nhiên, KTBĐ hiện vẫn chưa được cơng nhận trong nội dung của các chính sách
ứng phó với BĐKH. Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm củng cố vai trị của KTBĐ trong việc thích
ứng với BĐKH nói chung và trong sản xuất nơng nghiệp nói riêng. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra
rằng KTBĐ và kinh nghiệm của đồng bào khu vực này khá đa dạng và tồn tại dưới nhiều hình thức
khác nhau như sử dụng nhiều loại cây trồng và giống vật nuôi, thay đổi lịch trồng trọt và thời vụ để
phù hợp với thời tiết ngày một biến đổi, và sử dụng kinh nghiệm khi quan sát và dự báo các hiện
tượng thời tiết khắc nghiệt nhằm tránh thất thu trong sản suất. Tuy vậy, cần phải thấy rằng BĐKH có
thể thay đổi mạnh mẽ tính thiết thực của một số vốn tri thức bản địa. Vì thế, trong bối cảnh BĐKH
như hiện nay, cần có sự kết hợp giữa KTBĐ và tri thức khoa học (TTKH).
Từ khóa: BĐKH, thích nghi/ thích ứng, KTBĐ, nơng nghiệp.

17
18

Đại học Nơng Lâm Thái Ngun
Tổ chức quốc tế CARE tại Việt Nam

200



1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một trong những nước dễ bị
tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu trên thế
giới [4]. Chương trình Mục tiêu Quốc gia về
ứng phó với biến đổi khí hậu (2008) nhận thấy
rằng các khu vực miền núi phía Bắc có nguy cơ
cao phải đối mặt với thiên tai, các thảm họa và
các tác động biến đổi khí hậu [6]. Đây là vùng
đất của hơn 12 triệu người, thuộc hơn 30 dân
tộc. Dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung và
khu vực miền núi phía Bắc đặc biệt là những
nhóm dễ bị tổn thương nhất bởi biến đổi khí
hậu.
Khu vực miền núi phía Bắc là nơi sinh
sống của hầu hết các nhóm dân tộc thiểu số
sinh sống với tỷ lệ đói nghèo rất cao, ví dụ,
trong năm 2012 tỷ lệ hộ nghèo khu vực Đông
Bắc là 17,5%, khu vực Tây Bắc là 28,5%. Biến
đổi khí hậu đặt ra một mối đe dọa đáng kể cho
việc đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên
niên kỷ, trong đó có xóa đói giảm nghèo, và
tiếp cận với các dịch vụ nhà nước như giáo dục
và y tế. Một nghiên cứu gần đây của tổ chức
CARE International tại Việt Nam (2010) cho
thấy thiên tai, thời tiết khắc nghiệt gây ra thiệt
hại nặng nề đến sản xuất nông nghiệp trên địa
bàn tỉnh Bắc Kạn, một trong những tỉnh nghèo
nhất ở khu vực miền núi phía Bắc [3]. Vì vậy,
cần phải thích ứng thành cơng với biến đổi


khí hậu để đảm bảo giảm nghèo bền vững
cho các nhóm dân tộc thiểu số ở khu vực miền
núi phía Bắc của Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng
kiến thức bản địa và địa phương trong lĩnh vực
sản xuất nông nghiệp, quản lý tài nguyên của
đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi
phía Bắc của Việt Nam vơ cùng đa dạng.
Chính vốn kiến thức phong phú này đã giúp họ
cũng thích ứng với thay đổi mơi trường địa
phương [9, 8, 5]. Kiến thức bản địa là một kiến
thức giá trị của một cộng đồng địa phương cụ
thể trong một khu vực cụ thể [1]. So với kiến
thức khoa học "hiện đại", kiến thức bản địa có
một lợi thế ở chỗ là thích nghi tốt hơn với đời
sống địa phương vì đây là nơi nó được xây
dựng, thử nghiệm và phát triển [2,7]. Kiến thức
bản địa là một sản phẩm của việc quan sát tại
vùng, thử nghiệm và học hỏi qua nhiều năm
của các cộng đồng. Vì vậy, kiến thức bản địa
đóng một vai trị quan trọng trong thích ứng
với khí hậu của các cộng đồng. Trong bài báo
cáo này, chúng tôi nêu bật tầm quan trọng của
kiến thức bản địa trong việc thích ứng biến đổi
khí hậu của các nhóm dân tộc thiểu số ở miền
núi phía Bắc của Việt Nam.

2. Phương pháp nghiên cứu
Dữ liệu thực nghiệm cho nghiên cứu này

được lấy chủ yếu từ 15 làng miền núi ở Bắc
Kạn, Phú Thọ và Yên Bái ở khu vực miền núi
phía Bắc trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến
tháng 8 năm 2013. Nơi đây là địa bàn sinh
sống của hơn 12 triệu người, thuộc hơn 30 dân
tộc. Một số biện pháp được sử dụng để thu
thập thông tin, kiểm tra chéo kết luận và xây
dựng một tổng quan chính xác về việc áp dụng
kiến thức bản địa để thích ứng biến đổi khí
hậu. Các kỹ thuật sử dụng bao gồm có phỏng
vấn, các nhóm tập trung và hội thảo cộng
đồng, và quan sát thực địa; cùng với các nhận
định của các nhà hoạch định chính sách địa
phương và khu vực, quản lý tài nguyên, các
nhà khoa học, các cơng trình đã được hoặc
chưa được cơng bố, và các nguồn có sẵn thơng
tin khác. Tổng số lượng người tham gia phỏng
vấn tại nhà hoặc tại thực địa là 240. Các khu
vực nghiên cứu được chọn đại diện cho các
vùng sinh thái khác nhau của miền núi phía
Bắc Việt Nam. Các nhóm dân tộc thiểu số
được lựa chọn trong nghiên cứu này đại diện
cho nhiều nhóm văn hóa, hệ thống canh tác
khác nhau, do đó, cũng thể hiện được mức độ
khác nhau về khả năng dễ bị tổn thương và khả
năng thích ứng. Trong khi người Tày, Thái,
Mường sống ở các khu vực thấp, gần đường
giao thơng chính và các trung tâm xã, người
Dao và H’mông sống xa địa điểm trên.
3. Kết quả và thảo luận

3.1. Sử dụng các giống cây trồng phổ biến
địa phương
Một số giống cây trồng của người Tày
1) Đậu xanh ‘Tiêu’ (tiếng Tày: Thúa Tày)
và đậu xanh ‘Mốc’
Đặc điểm chung: hạt nhỏ hơn hạt lai, chiều
cao cây khoảng 80cm và phải mất 45 ngày để
thu hoạch hạt giống lần một.
Đặc điểm thích nghi: cây trồng địa phương
này có sức đề kháng cơn trùng và bệnh tật tốt.
Ngồi ra, đậu xanh 'Tiêu' có thể chịu hạn tốt.
2) Lạc “đỏ” (tiếng Tày: Thúa Đin Đeng).
Đặc điểm chung: Hạt nhỏ hơn và hương vị tốt
hơn so với các giống lai, có thể lưu trữ để
dùng cho vụ mùa tiếp theo. Mùa sinh trưởng là
từ tháng Hai đến tháng Tám, mùa thu hoạch là
từ tháng năm đến tháng mười một.
Đặc điểm thích nghi: chịu hạn tốt, có thể được
trồng xen với ngô trong các lĩnh vực đất khô.
3) Lúa nếp ‘Đít Đen’ (tiếng Tày: Nua cuốn
đăm)

201


Đặc điểm chung: Chiều cao cây là 1-1,1 m,
hạt hình tròn, thường được trồng vào tháng
Sáu và thu hoạch vào tháng Mười Một.
Đặc điểm thích nghi: cần ít phân bón và nước hơn
các giống lúa khác; đề kháng tốt với bệnh tật.

4) Gạo nếp ‘Nếp cái Hoa Vàng’ (tiếng Tày:
Nua lương)
Đặc điểm chung: Chiều cao cây khoảng 1,11,2 m. Hạt có hình bầu dục, màu vàng-nâu.
Thích hợp trồng trên nương và ruộng ướt.
Đặc điểm thích nghi: Giống lúa này có tính
chịu hạn cao. Cây con có thể trồng vào đất
muộn tối đa 40 ngày trong trường hợp ruộng
chưa sẵn sàng. Đặc tính này là một lợi thế
trong bối cảnh của những năm hạn hán.
5) Ngô nếp (Tiếng Tày: Bắp nua)
Đặc điểm chung: Chiều cao cây khoảng 1,61,7 m. Bắp nhỏ hơn so với ngơ lai, hạt có màu
trắng hơi vàng. Lồi này thích hợp trồng trên
đồi, ruộng khơ và những cánh đồng trồng lúa
vụ mùa. Mùa sinh trưởng từ tháng ba đến
tháng sáu.
Đặc điểm thích nghi: Giống ngơ này là chịu
hạn tốt, và địi hỏi ít phân bón.
6) Chuối ‘Tây’
Đặc điểm chung: giống chuối 'Tây' này
thường được trồng ở Chợ Mới trong khoảng
80 năm nay. Cây cao và lớn hơn chuối thường.
Đặc điểm thích nghi: giống chuối này là thích
hợp với nhiều loại đất (đồi, gần suối, hay cánh
đồng khô hạn); chịu hạn tốt và có khả năng để
duy trì độ ẩm trong đất.
Một số giống cây trồng của người Dao
1) Ngô ta (Tiếng Dao: Mẹ pèng)
Đặc điểm chung: Chiều cao cây khoảng 1,82m; bắp ngắn hơn so với bắp lai lai. Hạt có
màu trắng hơi vàng; được trồng chủ yếu trên
các ngọn đồi. Mùa sinh trưởng là từ tháng 6

đến tháng 7, thu hoạch vào tháng tháng 11.
Đặc điểm thích nghi: chịu hạn tốt. Ví dụ, trong
thời gian hạn hán, trong khi các cây trồng khác
có thể bị ảnh hưởng thì giống ngơ ta này vẫn
cịn khả năng ra hạt bình thường.
2) Đậu xanh “trơn” (Tiếng Dao: Tọc meng)
Đặc điểm chung: Cành nhỏ nhưng khá cứng.
Hạt nhỏ hơn và cứng hơn đỗ thường; được
trồng vào tháng 6 và thu hoạch quả 3 lần mỗi
vụ.
Đặc điểm thích nghi: giống đậu này chịu được
hạn; là một loại cây họ đậu nên có thể làm
giàu cho loại đất và là một loại cây rất tiềm
năng để trồng tại các cánh đồng lúa một vụ do
thiếu nước vào mùa đơng.

202

3) Bí ngơ ngếp (Tiếng Dao: Nhun Buột)
Đặc điểm chung: là loại cây thân leo. Thường
được trồng trên nương rẫy hoặc trong vườn
nhà. Qủa có màu vàng xanh, hình cầu, và nặng
2-3 kg mỗi quả. Hương vị ngon nên có nhu
cầu thị trường cao.
Đặc điểm thích nghi: chịu được hạn; thích
hợp để trồng tại các ruộng khô vào mùa đông.
4) Gạo nếp vàng (Tiếng Dao: Biào Buột
Viàng)
Đặc điểm chung: giống lúa này được trồng
trên đồi (đốt nương làm rẫy trồng trọt).Thân

cứng và cao 1,1-1,2 m.
Đặc điểm thích nghi: cây trồng này chịu hạn
tốt. Khi hạn hán, năng suất chỉ giảm khoảng
30% trong khi giống lúa khác có thể mất trắng.
Ngồi ra, có khả năng chống chọi sâu bệnh;
thân khá cứng nên ít khi bị gió làm đổ.
Một số giống lúa của người H’mơng
1) Lúa cạn: (H’mông name: Mè sua)
Đặc điểm chung: thân cây cao, bông lớn, và
hạt hơi đỏ; cấy vào tháng 6 và thu hoạch vào
tháng 11.
Đặc điểm thích nghi: có gốc rễ chính lớn và
dài nên hút được nhiều nước hơn và chịu được
hạn hán rất tốt; dễ cấy trên nhiều loại đất khác
nhau; chống chọi sâu bệnh tốt.
2) Ngô ta trắng (tiếng H’mông : Po cừ đơ)
Đặc điểm chung: Thân cây cao khoảng 1,7 m,
có gốc lớn và khỏe. Bắp có hạt màu đen và
trắng, với tỷ lệ là 50:50. Năng suất tương
đương ngô lai nhưng thời gian sinh trưởng dài
hơn (7 tháng).
Đặc điểm thích nghi: rễ mọc từ thân cây, cao
30 cm so với mặt đất do đó chịu gió rất tốt;
chịu lạnh tốt, do đó rất thích hợp cho các khu
vực lạnh như huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái.
3) Ngô nếp ( tiếng H’mông : Po cừ lẩu)
Đặc điểm chung: thân cao, hạt mềm, hạt giống
có thể được sử dụng cho các bữa ăn hàng ngày.
Thường được trồng trong ở đất thấp, nhưng có
thể được trồng ở các nương rẫy ẩm. Thời gian

sinh trưởng là 5 tháng.
Đặc điểm thích nghi: giống ngơ chịu lạnh và
ướt tốt. Ví dụ, khi đất trồng ẩm và kéo dài, ngơ
lai có thể chết nhưng ngô địa phương này vẫn
phát triển rất tốt, thậm chí rễ phát triển tốt hơn.
Nghiên cứu chỉ ra rằng người H’mông , Dao
và Tây vẫn sử dụng nhiều loại cây trồng của
địa phương. Tuy nhiên, người Thái và người
Mường không sử dụng bất kỳ loại cây trồng
địa phương nào như gạo và ngô chẳng hạn tuy
nhiên họ vẫn sử dụng một số loại rau của vùng
như bí ngơ, rau bina (rau muống) hoặc một số
loài gia súc, gia cầm như gà hoặc heo. Lý do


là vì năng suất thấp, và thường phù hợp với
nương rẫy. Trong thực tế, người dân Thái and
Mường sống gần tuyến đường chính và các
trung tâm xã do đó họ thường trồng lúa nước,
và có sinh kế đa dạng hơn.
3.2. Kinh nghiệm và kiến thức địa phương
về dự báo thời tiết
Nói chung, đồng bào dân tộc thiểu số ở
khu vực miền núi phía Bắc của Việt Nam vẫn
giàu kinh nghiệm quan sát và dự báo thời tiết
và để lập kế hoạch để tránh mất mát do thiên
tai. Ví dụ, người Tày ở Bắc Kạn quan sát sự
phát triển của nấm đất và biết khi nào cơn mưa
đang đến. Ngoài ra, người dân địa phương có
thể quan sát các cử động của các con vật để dự

báo thời tiết và thời tiết khắc nghiệt. Ví dụ, nếu
vào đầu năm nay, nếu thấy loài ong bắp cày
(thường xây dựng tổ của chúng trên các cành
chóp) nay xây tổ ở bụi cây thấp hơn, thì khả
năng cao năm nay có cơn bão lớn. Bên cạnh
kinh nghiệm quan sát và dự báo thời tiết, người
Tày ở Bắc Kạn có kinh nghiệm về trồng các
loại cây dựa trên lịch thời vụ của vùng mình.
Ví dụ, người Tây thường sử dụng các dấu hiệu
của sự ra hoa của cây Melia tại nơi sinh sống
để trồng đậu xanh, khi cây bắt đầu ra búp thì
đó là thời gian để trồng ngơ và đậu khác.
Người Dao có kinh nghiệm quan sát cua suối
để dự báo thời tiết. Ví dụ, nếu cua bò ra khỏi suối
và leo lên đồi, nó rất có khả năng lũ lụt đang đến.
Tương tự như vậy, nếu họ thấy rêu suối nổi thì trời
sẽ mưa trong khoảng 5 ngày tới.
Những người H’mơng có kinh nghiệm
quan sát sên. Ví dụ, nếu họ nhìn thấy chúng
leo lên mỏm đá, thì mưa lũ đang đến. Theo
người Thái, những năm mà giống xồi ra quả
sai thường có mưa bão nghiêm trọng và các
cơn bão thường đến khi các loại hoa quả vào
mùa chín (tháng Sáu và tháng Bảy). Theo
người Mường, nếu ong bắp cày xây dựng tổ
ong của họ tại bụi cây thấp hơn, năm đó có các
đợt bão lớn.
Ở khu vực miền núi phía Bắc của Việt
Nam, việc tiếp cận thơng tin và dự báo thời tiết
cịn hạn chế. Vì vậy, việc sử dụng các kinh

nghiệm của người dân trong việc quan sát và
dự báo thời tiết và sử dụng nó để lên kế hoạch
sản xuất đem lại hiệu quả trong nhiều trường
hợp. Khí hậu và thời tiết địa phương đa dạng
nên kinh nghiệm địa phương là quan trọng để
phản ứng kịp thời. Tuy nhiên, cần phải nhận ra
BĐKH có thể làm thay đổi ý nghĩa trên của ít
nhất một vài kiến thức truyền thống của người
dân bản địa. Vì vậy, việc kết hợp của kiến thức
truyền thống và kiến thức khoa học có vai trị

hết sức quan trọng khi biến đổi khí hậu đang
diễn ra.
5. Kết luận
Rủi ro khí hậu đã có tác động sâu sắc đến
cuộc sống của các nhóm DTTS ở khu vực miền
núi phía Bắc của Việt Nam. Cộng đồng địa
phương đã phản ứng bằng nhiều cách. Trong số
các biện pháp thích ứng, việc sử dụng kiến thức
bản địa như các giống cây trồng địa phương,
kinh nghiệm trong dự báo thời tiết về cảnh báo
sớm, và trồng trọt đã được chứng minh là rất hiệu
quả trong một số hoàn cảnh. Các giống cây trồng
địa phương cũng bộc lộ được khả năng thích
nghi với thời tiết và môi trường địa phương như
hạn hán, thời tiết lạnh, đầu vào thấp và bộc lộ
được tính dễ dàng canh tác của mình. Những lợi
thế của cây trồng, giống vật ni địa phương có ý
nghĩa quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Biến đổi khí hậu dự kiến sẽ tăng cường độ và tần

số có thể hạn hán, lũ lụt và giá lạnh. Nghiên cứu
cho thấy người dân Tày, Dao và H’mông vẫn sử
dụng cây trồng địa phương nhiều hơn so với
người Thái và người Mường, và những giống
cây này có khả năng thích nghi tốt với hạn hán và
thời tiết lạnh. Lý do giải thích điều này có lẽ là
người Dao và người H’mơng sống ở các khu
vực cao hơn, xa đường và trung tâm xã, sinh kế
của họ dựa nhiều hơn vào nông nghiệp, đặc biệt
là canh nương rẫy trong khi người Mường và
người Thái sống ở chân đồi, gần đường và trung
tâm xã và trồng lúa là chính. Đối với người Tày,
kết quả mang tính hỗn hợp hơn. Ví dụ, những
cộng đồng nào sống gần đường chính và có
nhiều nguồn thu nhập ngồi nơng nghiệp sẽ có ít
kinh nghiệm trồng trọt các giống và sử dụng
phương pháp canh tác địa phương. Còn đồng bào
sống chủ yếu dựa vào nơng nghiệp nương rẫy, thì
họ vẫn có một lượng kiến thức lớn và mang tính
chất truyền thống, địa phương liên quan cây
trồng và phương pháp canh tác.
Tuy nhiên, điều quan trọng là phải nhận
thấy rằng chiến lược đối phó và thích ứng
truyền thống có thể giúp cộng đồng các dân tộc
chuẩn bị cho các tình huống được cho là rủi ro,
không nhất thiết phải cho những rủi ro bất trắc
và có thể khác nhau do BĐKH gây ra. Có khả
năng lớn là BĐKH đã thay đổi vai trị thiết
thực của ít nhất một số kiến thức truyền thống
của người dân bản địa [7]. Vì vậy, cần phải kết

hợp kiến thức truyền thống và kiến thức khoa
học trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Chính phủ
có thể nâng cao khả năng thích ứng đối với
BĐKH cho các nhóm dân tộc thiểu số bằng
cách tăng khả năng tiếp cận thông tin thời tiết
và dự báo cảnh báo sớm.

203


Tài liệu tham khảo:
[1] Agrawal, A., 1995. Rút ngắn khoảng cách giữa kiến thức bản địa và kiến thức khoa học, Sự phát
triển và thay đổi, 26 (3):. 413-439.
[2] Berkes, F., Colding, J. và Folke, C., 2000. Tìm hiểu lại kiến thức sinh thái truyền thống như kiểm
sốt thích ứng, ứng dụng sinh thái, 10 (5):. 1251-1262.
[3] Tổ chức CARE quốc tế tại Việt Nam, 2010. Dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc của Việt Nam:.
Khả năng dễ bị tổn thương và thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu
[4] Dasgupta, S., Laplante, B., Meisner, C., Wheeler, D. và Yan, J., 2007. Tác động của
nước biển dâng đến các nước đang phát triển: Một phân tích so sánh, Nhóm nghiên cứu chính sách số
4136 của Ngân hàng Thế giới, tháng 2 năm 2007, Ngân hàng Thế giới.
[5] Trần Văn Điền, 2011. Mơ hình nơng nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu sử dụng kiến thức bản
địa tại xã Thanh Vân và Mai Lập huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, Báo cáo nghiên cứu, Trung tâm
Nghiên cứu và Phát triển Nơng Lâm nghiệp miền núi phía Bắc (ADC ), Đại học Thái Nguyên.
[6] Chính phủ Việt Nam, năm 2008. Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu,
Bộ TN & MT.
[7] Macchi, M., Oviedo, G., Gothei, S., et al., 2008. Các dân tộc bản địa và biến đổi khí hậu, Tạp chí
IUCN, IUCN.
[8] Hồ Ngọc Sơn, 2011. Khả năng dễ bị tổn thương và thích ứng của người dân bản địa ở phía bắc
Việt Nam, báo cáo trình bày tại Hội thảo quốc tế "người dân địa phương, những người bị thiệt thịi và
biến đổi khí hậu", thành phố Mexico, Mexico, 19-21 tháng 7 năm 2011.

[9] Hoàng Xuân Tý, Lê Trọng Cúc năm 1998. Kiến thức bản địa của người dân vùng cao trong nông
nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.

204



×