Chủ đề 3 : TÁC ĐỘNG CỦA DÂN NHẬP CƯ ĐẾN MỨC LƯƠNG LAO ĐỘNG TẠI ĐỊA
PHƯƠNG
4.10 Chính sách : Sự tác động của dân nhập cư đến mức lương lao động tại địa phương
Gia tăng số lượng của dân nhập cư hay giảm thu nhập của lao động địa phương ? Câu
hỏi này có lẽ là vấn đề quan trọng và xúc động nhất trong tranh luận hiện tại trên khắp chính
sách nhập cư tại Mỹ và trên nhiều quốc gia phát triển khác .
Có 2 quan điểm đối lập nhau về ảnh hưởng của những địa phương có dân nhập cư
trong thị trường lao động. Để tạo sự khác biệt độ co giãn giữa yếu tố giá cả giữa dân địa
phương và dân nhập cư là đối lập , vậy nên cả 2 nhóm dùng để thay thế cho sản xuất .
Anh hưởng của dân nhập cư trên thị trường lao động địa phương khi cả 2 nhóm thay
thế được minh họa ở hình 4_17(a). Bởi vì dân nhập cư tham gia vào thị trường lao động, sản
phẩm cận biên ( tức MPP) và vì thế đường cầu của dân địa phương di chuyển xuống ( tức là
đường cầu của doanh nghiệp địa phương giảm ) và tiền lương của dân địa phương giảm từ
W0->W1 .Tại mức lương thấp hơn này , ít dân địa pương sẵn sàng làm việc hơn và có suwk
sụt giảm ở việc làm địa phương ( từ E0->E1) .Tại tác động đó dân nhập cư “nghỉ việc” từ
doanh nghiệp địa phương bởi vì sự suy giảm mức lương địa phương và “ thuyết phục” nhiều
lao động địa phương rằng khơng cịn đáng giá để làm việc
Sự tranh cãi đối lập khác đó là dân nhập cư và lao động địa phương không cạnh tranh
nhau cho cùng loại công việc giống nhau .Họ khẳng định trong thực tế , dân nhập cư nhận
những công việc mà dân địa phương từ chối tuyển vào . Cho ví dụ , dân nhập cư có thể
thơng thạo đặc biệt tại nhiều loại của thâm dụng lao động sản xuất nơng nghiệp . Điều này
giải phóng nhiều kĩ năng làm việc của lao động địa phương để trình diễn những kĩ năng tốt
hơn sử dụng vốn con người . Sự có mặt của dân nhập cư làm gia tăng năng suất của dân địa
phương bởi vì dân địa phương lúc này chun mơn hịa nhiệm vụ thích hợp hơn cho kĩ năng
của họ . Dân nhập cư và lao động địa phương theo cách đó bổ sung cho nhau trong thị
trường lao động
Nếu cả 2 nhóm bổ sung cho nhau trong sản xuất , sự gia tăng trong số lượng dân nhập cư
tăng lên sản phẩm cận biên của daonh nghiệp địa phương , sự di chuyển lên trên đường cầu
được minh họa ở hình 4_17(b) . Sự gia tăng trong năng suất sản xuất địa phương tăng tiền
lương dân địa phương từ W0->W1 . Hơn nữa , nhiều người dân địa phương trước đây
khơng tìm hiểu lợi ích của việc lúc này tăng lương cao hơn bởi vì động cơ thêm vài thị
trường lao động và việc làm dân địa phương cũng tăng
Sự thảo luận của chúng ta giải thích 1 điểm quan trọng : Cuộc thảo luận đối với sự ảnh
hưởng của người nhập cư trên thị trường lao động là một thảo luận ảnh hưởng đến biểu
hiện ( và tầm quan trọng ) của độ co giãn chéo của cầu về nhân tố giá giữa dân địa phương
và dân nhập cư . Trong đó hơn nữa , khơng có lí do thuyết phục cho sự kiêu ngạo rằng dân
nhập cư hoặc là “ giỏi “ hoặc là “ tệ “ hơn dân địa phương
Sự ảnh hưởng của dân nhập cư đối với thu thập và công việc địa phương (4_17)
Hình (a) :Nếu lao động địa phương và dân nhập cư thay thế nhau , sự nhập cư làm giảm
giá trị của sản phẩm cận biên của doanh nghiệp địa phương , đường cầu di chuyển xuống
cho lao động địa phương và giảm lương cũng như công việc cho dân địa phương
Hình (b): Nếu lao động địa phương địa phương và dân nhập cư bổ sung cho nhau , sự
nhập cư làm tăng giá trị của sản phẩm cận biên của dân địa phương , làm đường cầu dân địa
phương di chuyển lên và tăng mức lương cũng như việc làm cho dân địa phương
Một số nhóm nhập cư có lẽ gần như là những người thay thế trong sản xuất với một số
nhóm dân địa phương , nhưng có thể bổ sung cho các kĩ năng của người khác . Ví dụ , những
người dân nhập cư có tay nghề cao, nhưng có thể là người thay thế cho cơng nhân người Mỹ
gốc Phi. Kết quả là , có thể có nhiều sự kết hợp bổ sung và thay thế khác nhau giữa nhiều
nhóm người nhập cư và địa phương
Cuộc thảo luận của chúng tôi đề nghị một cách đơn giản để xác định theo kinh nghiệm
nếu người nhập cư và dân địa phương là bổ sung hoặc thay thế trong sản xuất . Nếu họ là
người thay thế , thu nhập của công nhân địa phương sẽ thấp hơn nếu họ cư trú tại thị
trường lao động nơi mà người nhập cư là nguồn cung dồi dào . Nếu họ người bổ sung, thu
nhập dân địa phương sẽ cao hơn ở thành phố nơi người nhập cư có xu hướng tụ tập
Thực tế tất cả các nghiên cứu thực nghiệm gần dậy đều dựa trên hàm ý này của phân tích
lý thuyết . Những nghiên cứu này so sánh thu nhập địa phương ở các thành phố nơi người
nhập cư chiếm một phần đáng kể lực lượng lao động ( ví dụ : Los Angeles hoặc New York )
với thu nhập địa phương ở các thành phố nơi người nhập cư chiếm một phần tương đối nhỏ
trong lực lượng lao động ( chẳng hạn như : Pittburg hặc Nashville) . Tất nhiên , mức lương
địa phương sẽ khác nhau giữa các thị trường lao động ngay cả khi khơng có người nhập cư .
Do đó, tính hợp lệ của phân tích phụ thuộc rất quan trọng vào mức độ có thể kiểm sốt
được tất cả các yếu tố khác tạo ra sự phân tán trong tiền lương của người dân địa phương
giữa các thành phố . Những yếu tố này bao gồm sự khác biệt về địa lý trong kĩ năng của
người dân địa phương , chênh lệch lương theo khu vực và sự khác biệt về mức độ hoạt động
kinh tế
Hồi quy điển hình được ước lượng trong các nghiên cứu này thuộc loại sau :
Wj = B.pj + các biến khác
(4_35)
Wj là lương của một công nhân địa phương ở thành phố j
P là phần trăm lực lượng lao động của thành phố đó sinh ra ở nước ngồi
Hệ số B ước tính sự thay đổi trong mức lương người dân địa phương liên quan đến sự gia
tăng của một điểm trong tỷ lệ phần trăm lực lượng lao động của thành phố đó sinh ra ở
nước ngồi .Hệ số có thể được sử dụng để tính tốn độ co giãn chéo của yếu tố giá .
Có một sự đồng thuận đáng chú ý trong số nhiều nghiên cứu ước tính tác động của
những người nhập cư đối với cơ hội kiếm tiền của người lao động địa phương ở Hoa Kỳ .
Mối tương quan giữa các thành phố giữa mức lương người lao động địa phương và phần
nhỏ người nhập cư trong dân số là hơi tiêu cưc , do đó mức lương địa phương thấp hơn một
chút ở những thị trường lao động nơi người nhập cư có xu hướng cư trú . Tuy nhiên , độ co
giãn chéo của yếu tood giá là rất nhỏ . Nếu một thành phố có nhiều người nhập cư hơn 10%
so với thành phố khác , thì mức lương của người địa phương ở thành phố có nhiều người
nhập cư nhất chỉ thấp hơn 0.2% . Do đó ,việc tăng gấp đôi số lượng người nhập cư vào thị
trường lao động , làm giảm tỷ lệ lương địa phương chỉ 2% . Do đó , bằng chứng cho thấy
rằng người nhập cư và người dân địa phương là những người thay thế rất yếu trong sản xuất
.
Người ta thường lập luận rằng người Mỹ gốc Phi là một trong những nhóm mà năng lực
kinh tế của họ có nhiều khả năng bị cản trở bởi sự gia nhập của người nhập cư vào Hoa Kỳ .
Tuyên bố này , tuy nhiên, không được hỗ trợ bởi bằng chứng thực nghiệm . Ngược lại , một
số nghiên cứu báo cáo rằng người Mỹ gốc Phi cư trú tại các thành phố có số lượng người
nhập cư tương đối lớn thực sự có mức lương cao hơn một chút so với những người sống ở
các thị trường lao động khác
Người dân địa phương có phản ứng với dân nhập cư ?
Thực tế là hầu hết các nghiên cứu của Hoa Kỳ tìm thấy rất ít bằng chứng về tác động bất lợi
đáng kể của dân nhập cư đối với thu nhập dân địa phương nêu ra 2 câu hỏi quan trọng . Tại
sao bằng chứng thực nghiệm lại khác xa với giả thuyết điển hình trong cuộc tranh luận về
chính sách nhập cư ? Và Tại sao bằng chứng thực nghiệm dường như khơng phù hợp với
hàm ý của mơ hình cân bằng cung-cầu đơn giản nhất . Xét cho cùng , những thay đổi được
quan sát thấy trong dòn chảy Mariel hoặc những thau đổi được quan sát thấy khi gần 8 triệu
người nhập cư vào Hoa Kỳ trong một thập kỷ ( như đã xảy ra vào những năm 1980) sẽ ảnh
hưởng đến mức lương trên thị trường lao động
LÝ THUYẾT TẠI NƠI LÀM VIỆC
Chuyến tàu thuyền Mariel và người tị nạn khác
Ngày 20/4/1980 , Fidel Castro tuyên bố rằng những cơng dân Cuba muốn chuyển đến Hoa
Kỳ có thể tự do rời cảng Mariel , Cuba. Đến tháng 9/1980, khoảng 125.000 người Cuba , chủ
yếu là lao động phổ thơng , đã chọn tìm hiểu hành trình . Tác động nhân khẩu học của
Marielitos đối với dân số và lực lượng lao động của Miami là khá lớn . Gần như chỉ sau một
đêm , lực lượng lao động của Miami đã bất ngờ tăng trưởng 7%. Tuy nhiên , một nghiên cứu
có ảnh hưởng gần đây chỉ ra rằng xu hướng tiền lương và cơ hội việc làm cho dân sô Miami ,
bao gồm cả người Mỹ gốc Phi , hầu như khơng bị ảnh hưởng bởi dịng chảy Mariel . Các xu
hướng kinh tế ở Miami từ năm 1980 đến năm 1985 , về mức lương và tỷ lệ thất nghiệp,
tương tự như các thành phố như Los Angeles , Houston và Atlanta , những thành phố khơng
trủa qua dịng chảy Mariel. Kết luận rằng , ngay cả những dòng người nhập cư lớn và bất
nhờ dường như không ảnh hưởng đến thị trường lao động địa phương được xác nhận bởi
kinh nghiệm của các quốc gia khác . Ví dụ , 900.000 người gốc Châu Âu đã trở về Pháp trong
vòng 1 năm sau sự kiện Algeria năm 1962, làm tăng lực lượng lao động của Pháp lên khoảng
2%. Tuy nhiên , khơng có bằng chứng cho thấy sự gia tăng này trên thị trường lao động .
Tương tự như vậy , khi Bồ Đào Nha mất đi đại tràng ở Châu Phi là Mozamnique và Angola
vào giữa những năm 1970, gần 600.000 người đã trở lại Bồ Đào Nha lên gần 7%. Các
retornados dường như không tác động lớn đến nền kinh tế Bồ Đào Nha