Tải bản đầy đủ (.docx) (13 trang)

Tiểu luận anti dumping case of vietnam catfish in us market

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (237.25 KB, 13 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC UEH – TRƯỜNG KINH
DOANH UEH KHOA QUẢN TRỊ

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
Giảng viên: TS. Hà Quang An
Lớp học phần: 21C1BUS50300805
Môn học: Quản trị kinh doanh quốc tế
Sinh viên: Trần Thị Hoài Thương
MSSV: 31191027240
Email:

Tháng 12/2021

download by :


PHỤ LỤC
I.

THẢO LUẬN Ý KIẾN.................................................................................................................... 2

1. Cơ sở lý thuyết................................................................................................................................ 2
2. Phân tích tình huống........................................................................................................................ 3
3. Kết luận.............................................................................................................................................. 4
II. ANTI - DUMPING CASE OF VIETNAM CATFISH IN US MARKET............................ 4
1. Tóm tắt tình huống........................................................................................................................... 4
2. Phân tích sự ảnh hưởng đến các bên liên quan..................................................................... 5
2.1 Bên hưởng lợi.......................................................................................................................... 6
2.2 Bên chịu ảnh hưởng................................................................................................................ 6
3. Kết luận về những gì Hoa Kỳ nhận được từ vụ kiện.......................................................... 8
III. THẤT BẠI CỦA AMAZON TẠI THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC..................................... 8


1. Khái quát tình huống....................................................................................................................... 8
2. Phân tích ngun nhân..................................................................................................................... 9
3. Đề xuất giải pháp.......................................................................................................................... 10
4. Kết luận............................................................................................................................................ 11
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................................. 12

1

download by :


I.

Thảo luận ý kiến
Trong thế giới khơng có chi phí vận tải, khơng có các rào cản thuế quan và khơng

có những sự khác biệt đáng kể về nguồn lực sản xuất giữa các quốc gia, các doanh
nghiệp cần mở rộng ra thị trường quốc tế nếu họ muốn tồn tại và tăng trưởng.
1.

Cơ sở lý thuyết
Nếu những giả định trên xảy ra thì thương mại tự do là có lợi cho tất cả các

quốc gia tham gia vào nó.
Lý thuyết thương mại tự do được xây dựng trên các giả định khơng tồn tại các rào
cản đối với dịng lưu chuyển tự do của hàng hoá giữa các quốc gia. Nó đề cập đến một
tình trạng mà trong đó chính phủ khơng tìm ra cách can thiệp bằng thuế quan hay hạn
ngạch đối với hàng hố mà cơng dân tại nước đó có thể mua từ nước khác, hay có thể
sản xuất và bán sang nước khác. Smith lập luận rằng bàn tay vơ hình của cơ chế thị
trường, chứ khơng phải chính sách chính phủ, sẽ quyết định một quốc gia nên nhập khẩu

cái gì và xuất khẩu cái gì. Lập luận của ơng hàm ý rằng tự do thương mại đem lại những
lợi ích tốt nhất cho một quốc gia. Bên cạnh đó thì cịn có hai học thuyết khác được xây
dựng dựa trên cơ sở lý luận của Smith có bao gồm học thuyết về lợi thế cạnh tranh.

Những lợi ích của thương mại tự do xảy ra:


Một ví dụ đầu tiên là trường hợp Nhật Bản với củ và hạt hoa Tulip. Nhật Bản có
thể trồng loại hoa này mặc dù chi phí cho nhân cơng rất cao nhưng chi phí vận
chuyển nhập khẩu hoa tươi còn cao hơn nên họ đã chuyển sang nhập khẩu củ
và hạt giống hoa tulip. Nếu thương mại tự do không tồn tại các rào cản về vận
chuyển hay thuế quan thì Nhật Bản sẽ chỉ việc nhập khẩu hoa tươi tulip từ Hà
Lan và tập trung các nguồn lực đang có vào những ngành mà họ có lợi thế như
các sản phẩm cơng nghiệp mang tính kỹ thuật.



Rất nhiều người Mỹ tin rằng việc tiêu dùng những sản phẩm được sản xuất trong
nước Mỹ sẽ giúp tạo ra việc làm cho cư dân Mỹ trước những cạnh tranh từ nước
ngoài. Tuy nhiên, các học thuyết của Smith, Ricardo, Heckscher-Ohlin sẽ cho chúng
ta thấy rằng nền kinh tế của một quốc gia vẫn có thể được lợi nếu người dân nước
đó mua những hàng hố nhất định từ các quốc gia khác, mặc dù những hàng hoá
2

download by :


này có thể sản xuất từ nước mình. Ví dụ trong trường hợp giữa Mỹ và
Trung Quốc, Mỹ có thể tập trung nguồn lực để sản xuất máy bay phản lực ưu thế của Mỹ và nhập khẩu hàng dệt may từ Trung Quốc - quốc gia có chi
phí sản xuất áo quần rẻ hơn rất nhiều, mặc dù Mỹ vẫn có thừa khả năng để

sản xuất áo quần tốt hơn. Hay trường hợp Việt Nam có thể tập trung nguồn
lực vào sản xuất gạo, cà phê và nhập khẩu các mặt hàng mà Việt Nam
khơng có ưu thế như các sản phẩm về điện tử, máy móc, thiết bị.
Lý thuyết thương mại mới thì cho rằng đơi khi các quốc gia chun mơn hố vào sản
xuất và xuất khẩu những mặt hàng cụ thể nào đó khơng phải dựa trên những khác biệt
chính về nguồn lực có sẵn cả các yếu tố sản xuất, mà bởi vì trong một số ngành cơng
nghiệp, thị trường tồn cầu chỉ có thể hỗ trợ một số lượng có hạn các doanh nghiệp.
Lý thuyết lợi thế so sánh cho rằng khi một quốc gia chun mơn hố trong sản xuất
những hàng hố mà họ có thể sản xuất một cách hiệu quả nhất và mua những hàng hoá
mà họ sản xuất kém hiệu quả hơn so với quốc gia khác. Ngay cả nếu quốc gia đó mua từ
những quốc gia khác các hàng hố, mà bản thân họ có thể sản xuất hiệu quả hơn.

Lý thuyết lợi thế cạnh tranh cho rằng lợi ích chung trong việc trao đổi hàng hóa
giữa các nhóm hàng hóa trong đó mỗi quốc gia xuất khẩu các sản phẩm có sản
lượng tương đối hiệu quả hơn so với các quốc gia khác vì các quốc gia khác nhau
có các ưu thế với các yếu tố sản xuất khác nhau.
2.

Phân tích tình huống
Nếu những giả định trên xảy ra thì mọi quốc gia tham gia vào thương mại tự do sẽ tập

trung nguồn lực vào những gì là ưu thế của họ và lựa chọn nhập khẩu những mặt hàng họ
khơng có ưu thế. Như vậy thì một số ngành tại một số quốc gia sẽ gặp phải những khó khăn,
thậm chí là có thể biến mất. Hiện tại một chiếc ô tô nhập khẩu vào Việt Nam phải chịu hàng
loạt các loại thuế phí khác nhau vì vậy giá ô tô nhập khẩu tại Việt Nam thường rất cao, nếu
Việt Nam tham gia vào thương mại tự do mà không gặp những bất cập nào về vận chuyển
hay thuế quan thì người tiêu thụ trong nước sẽ đổ xô đi mua xe ô tô nhập khẩu từ nước
ngồi, khi ấy thương hiệu ơ tơ trong nước như Vinfast sẽ thực sự gặp khó khăn.

3


download by :


Nếu khơng có chi phí vận chuyển hoặc các rào cản thương mại và sự khác biệt không
đáng kể giữa các quốc gia liên quan đến nguồn lực, bất kỳ công ty nào không mở rộng ra
quốc tế sẽ không thể tồn tại do sự khác biệt về sản phẩm, ngun liệu và th ngồi lao động.
Hầu hết các cơng ty muốn mở rộng kinh doanh để có lợi thế so sánh vì bằng cách đó họ có
thể dễ dàng đạt được hiệu quả kinh tế về quy mô, lợi thế chi phí thấp hơn và cơ hội khác biệt
hóa sản phẩm,.... Các công ty muốn mở rộng ra quốc tế phải áp dụng một trong

các phương pháp khác nhau như cấp phép, xuất khẩu, nhượng quyền, sáp nhập,
mua lại, đầu tư, liên doanh và chìa khóa trao tay. Do đó, cả lý luận và thực tiễn đều
cho thấy các công ty đang chịu rất nhiều áp lực để tồn tại trong nước và vươn ra quốc
tế vì mỗi quốc gia có nền tảng tài nguyên thiên nhiên khác nhau và lợi thế so sánh về
nguyên liệu. Vì vậy, nếu tất cả các công ty khác tham gia vào thương mại tự do, bất
kỳ công ty nào không tham gia, sẽ khơng thể cạnh tranh về mặt tài chính.
Các quốc gia khác nhau có các yếu tố ưu đãi khác nhau, đây là cơ sở của lập luận lợi
thế so sánh ngụ ý rằng các ngành công nghiệp nên dựa trên các quốc gia có nhiều yếu tố
sản xuất quan trọng hơn đối với hoạt động của doanh nghiệp. Bằng cách này, các ngành
cơng nghiệp có thể sản xuất hiệu quả hơn. Các doanh nghiệp không cần phải di dời. Họ
có thể chọn tập trung vào thị trường trong nước nhưng nếu họ muốn giao dịch quốc tế tùy
ý, họ có thể thực hiện việc đó một cách tự do thông qua cấp phép hoặc nhập khẩu trực
tiếp mà không nhất thiết phải thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài.
3.

Kết luận
Trong trường hợp những giả định về thương mại tự do xảy ra, các doanh nghiệp

đang có lợi thế so sánh tại quốc gia của họ có thể lựa chọn hình thức xuất khẩu trực

tiếp hoặc cấp phép chứ không nhất thiết phải thực hiện di dời. Nhưng trong trường
hợp ngược lại thì các doanh nghiệp nhất định phải đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
hoặc di dời đến những quốc gia có lợi thế về lao động, tài ngun, thị trường,...để có
thể hưởng lợi về mặt tài chính và tồn tại lâu dài, các doanh nghiệp này cũng có thể
chuyển sang những ngành mà trong nước đang có lợi thế so sánh hơn.
AI. Anti - Dumping case of Vietnam Catfish in US market
1.

Tóm tắt tình huống “
4

download by :


Bài báo đề cập đến vấn đề chống bán phá giá xảy ra đối với mặt hàng cá da
trơn hay cá basa, cá tra vào thị trường Mỹ.
Hai nước đã tăng cường trao đổi thương mại sau khi ký kết Hiệp định Thương mại
song phương Việt Nam - Hoa Kỳ BTA năm 2000. Những năm sau đó, sản lượng cá basa
và cá tra Việt Nam được xuất khẩu sang Mỹ dưới dạng phi lê đông lạnh ngày càng nhiều,
cá tra và basa của Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ đã tăng từ 1.9 triệu pound năm 1999 lên
7 triệu pound năm 2000, 17.1 triệu pound năm 2001, và giữa năm 2002 là gần 19,6% thị
trường cá da trơn của Hoa Kỳ. Sản lượng cá basa, cá tra nhập khẩu từ Việt Nam đã góp
phần đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cá của người dân Hoa Kỳ, góp phần thúc đẩy nghề nuôi
trồng cá tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, Hiệp hội nuôi cá da trơn Hoa
Kỳ CFA nhận thấy doanh thu và giá cả của họ đã bị giảm vì sự xuất hiện của mặt hàng cá
basa, cá tra của Việt Nam và họ đã đâm đơn kiện với lý do bán phá giá.”

Vào tháng 7 năm 2003, Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ ITC tuyên bố
rằng các doanh nghiệp Việt Nam “Bán cá basa vào thị trường Hoa Kỳ với giá thấp
hơn giá thành, gây hại cho ngành cá da trơn Hoa Kỳ. Và đặt ra mức thuế chống

bán phá giá rất cao từ 36,84% đến 63,88%. Kết quả là, xuất khẩu cá da trơn của
Việt Nam sang Hoa Kỳ giảm mạnh, gần như bị đóng cửa hồn tồn.
2.

Phân tích sự ảnh hưởng đến các bên liên quan
Xét về bối cảnh của phiên tòa, bên thua kiện là VASEP - Đại diện từ Việt Nam,

bên thắng kiện là CFA.
Ở góc độ nhà sản xuất và xuất khẩu, bên thua thiệt là các nhà xuất khẩu và

người nuôi cá ở Việt Nam, bên được lợi là người nuôi trồng và doanh nghiệp chế
biến cá da trơn tại Mỹ.
Ở khía cạnh tiêu dùng sản phẩm, những người ảnh hưởng là người tiêu dùng

tại thị trường Hoa Kỳ, những người có khả năng sẽ từ bỏ hoặc chuyển sang các
mặt hàng khác rẻ hơn.
Ở khía cạnh chính trị thì chính phủ Hoa Kỳ là bên được hưởng lợi khi thu về

khoản thuế cao từ các doanh nghiệp Việt Nam, bên ảnh hưởng là Việt Nam sẽ
giảm kim ngạch xuất khẩu cá tra, cá basa.
5

download by :


2.1 Bên hưởng lợi
Có thể thấy rằng qua vụ kiện này, các doanh nghiệp nuôi và chế biến cá da trơn của
Hoa Kỳ là những người được hưởng lợi nhiều nhất. Họ lo ngại sản phẩm cá basa, cá tra
nhập khẩu từ Việt Nam với giá thành rẻ hơn, chất lượng và tươi ngon hơn hơn sẽ làm
giảm sức mua của người dân và đặc biệt là các nhà hàng đối với sản phẩm trong nước,

và cuối cùng làm giảm giá thành, sản lượng bị thấp hơn. Sau tuyên bố chính thức từ Uỷ
ban Thương mại Hoa Kỳ, sản lượng cá da trơn nhập khẩu từ Việt Nam đã giảm mạnh,
thậm chí dừng hẳn. Điều này cũng vơ tình khiến các quốc gia khác phải dè chừng khi
nhập khẩu sản phẩm cá của mình vào thị trường Hoa Kỳ, kết quả là sản lượng cá da trơn
nhập khẩu vào đất nước này bị giảm, tạm thời là vậy. Từ đó, các doanh nghiệp nuôi và
chế biến cá da trơn tại Hoa Kỳ sẽ tận dụng cơ hội này để gia tăng thị phần trở lại, đặc biệt
là tăng giá thành và mở rộng sản xuất vì nhu cầu với cá da trơn tại đây là không bị ảnh
hưởng bởi vụ kiện này, thậm chí nhu cầu cịn tăng lên. “
Bên được lợi tiếp theo có thể kể đến là chính phủ Hoa Kỳ. Chính phủ tại đây đáp ứng
những nhu cầu của các tổ chức, hiệp hội trong nước và bảo vệ họ khỏi những doanh nghiệp
nhập khẩu nước ngoài với lý do bán phá giá. Khi đó, các doanh nghiệp muốn nhập khẩu vào
Hoa Kỳ nhưng mặt hàng của họ được cho là đang bán phá giá phải chịu thêm khoản thuế liên
quan đến chống bán phá giá do chính phủ Hoa Kỳ áp đặt. Những khoản thuế này là rất lớn, ví
dụ có thời điểm Hoa Kỳ áp mức thuế 7,74 USD/kg lên cá tra nhập khẩu từ Việt Nam, cao gấp
9.7 lần so với mức thuế trước đó. Hay cuối tháng 11 năm 2021, Bộ Thương mại Mỹ (DOC)
công bố mức thuế chống bán phá giá sơ bộ đối với mặt hàng mật ong Việt Nam xuất khẩu
sang Mỹ với mức thuế chung dành cho tất cả doanh nghiệp xuất khẩu mật ong của Việt Nam
là 412.49%, cao hơn gấp đôi so với mức thuế mà Hiệp hội các nhà sản xuất mật ong Mỹ đề
xuất ban đầu là 207%, mặc dù ngành chăn nuôi mật ong tại đây không đáp ứng đủ nhu cầu
thị trường trong nước. Có thể thấy dù phải nhập khẩu nhiều mặt hàng vì sản lượng sản xuất
khơng đáp ứng được mức tiêu thụ nhưng Mỹ vẫn áp đặt mức thuế chống bán phá giá rất cao
đối với các doanh nghiệp nước ngoài. Khoản thu khổng lồ từ thuế chống bán phá giá sẽ chảy
vào túi chính phủ nước này.”

2.2 Bên chịu ảnh hưởng
6

download by :



Rõ ràng bên chịu thiệt hại nặng nề nhất trong trường hợp này là những doanh nghiệp
Việt Nam khi phải chịu mức thuế chống bán phá giá rất cao từ 36.84% đến 63.88%. Việt
Nam hầu như khơng cịn khả năng xuất khẩu cá basa, cá tra vào thị trường Mỹ. Nuôi
trồng và chế biến các loại cá này là hoạt động kinh tế quan trọng tại một số tỉnh thành
thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Việc sản lượng xuất khẩu sang Mỹ bị hạn chế
khiến các công nhân trong các nhà máy mất việc làm, các hộ phụ thuộc vào nuôi trồng cá
basa, cá tra bị thiệt hại nặng nề. Trường hợp các doanh nghiệp muốn vực dậy hoạt động
kinh tế của mình cũng như đảm bảo cơng ăn việc làm cho các cơng nhân liền nhanh
chóng tìm kiếm thị trường mới, tuy nhiên, việc không thực hiện nghiên cứu kỹ những thị
trường mới về đặc điểm, điều kiện xuất khẩu sẽ khiến các doanh nghiệp này gặp khó
khăn trong q trình thực hiện xuất khẩu. “
Bên chịu ảnh hưởng tiếp theo là người tiêu dùng cá da trơn tại Hoa Kỳ. Họ sẽ phải
chi trả nhiều đô la hơn cho việc tiêu thụ cá da trơn vì những tác động về thuế chống bán
phá giá khiến giá cá basa, cá tra nhập khẩu vào đất nước này trở nên đắt đỏ hơn. Trong
khi các doanh nghiệp xuất khẩu cá da trơn tại Việt Nam đứng trước tình huống cân nhắc
gánh mức thuế cao chót vót hay ngừng xuất khẩu sang Hoa Kỳ thì các hộ ni trồng,
doanh nghiệp chế biến cá da trơn tại Hoa Kỳ lại nhân cơ hội này để tăng giá, khiến người
tiêu dùng Mỹ phải chi trả nhiều hơn để sử dụng mặt hàng này.”

Kim ngạch xuất khẩu thuỷ hải sản tại Việt Nam cũng phải chịu ảnh hưởng vì
Hoa Kỳ là 1 trong 8 thị trường xuất khẩu cá tra, cá basa lớn nhất của Việt Nam.
Cuối những năm 1980 đầu 1990 Việt Nam mới bắt đầu quá trình đổi mới, mở cửa
thị trường. Sang những năm 2000 - 2003, dù đã tham gia vào nền kinh tế thị trường
được vài năm nhưng Việt Nam vẫn chưa có nhiều kinh nghiệm. Việc rơi vào một vụ
kiện tụng thương mại với một cường quốc kinh tế như Mỹ khiến các doanh nghiệp
Việt gặp nhiều khó khăn hơn cả cũng một phần vì thời đó Việt Nam khơng có đủ đội
ngũ chun gia pháp lý có chun mơn và kinh nghiệm. Hiện nay các doanh nghiệp
xuất khẩu của Việt Nam cùng các Bộ, Ngành đã cẩn trọng hơn khi chủ động chuẩn bị
đầy đủ giấy tờ pháp lý, giấy phép chứng từ có liên quan để phòng hờ cho những
trường hợp tương tự cũng như xuất trình cho các quốc gia nhập khẩu khi có yêu cầu.

7

download by :


3.

Kết luận về những gì Hoa Kỳ nhận được từ vụ kiện “
Mở rộng việc làm, duy trì khả năng tiếp cận các nguồn cung cấp năng lượng nước

ngoài, thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Hoa Kỳ và giảm chi phí cho người tiêu dùng Hoa
Kỳ là tất cả các mục tiêu trong chính sách kinh tế đối ngoại của nước này. Tuy nhiên DOC
đã vội vàng kết luận áp đặt lệnh “chống bán phá giá” đối với Việt Nam, lập luận cho rằng
Việt Nam không phải là nền kinh tế thị trường và để người dân Mỹ phải bỏ thêm nhiều
tiền để chi trả cho việc tiêu thụ cá da trơn. Quốc gia bị thâm hụt không thực sự tốt cho
Hoa Kỳ. Bên cạnh đó, Việt Nam có ngành sản xuất và xuất khẩu cá tra lớn nhất thế giới,
việc đánh thuế chống bán phá giá quá cao không chỉ ảnh hưởng đến các hộ nuôi trồng và
doanh nghiệp chế biến cá tra Việt Nam mà còn gây thiệt hại trực tiếp cho những người lao
động Hoa Kỳ liên quan đến sản phẩm cá tra nhập khẩu từ Việt Nam. Cuối cùng, những
khoản thu được từ thuế chống bán phá giá không đủ để bù đắp những thâm hụt thương
mại mà Hoa Kỳ gặp phải. Khi đó, Hoa Kỳ khơng được lợi ích gì từ việc áp đặt thuế chống
bán phá giá đối với sản phẩm cá tra, cá basa của Việt Nam.”
BI. Thất bại của Amazon tại thị trường Trung Quốc
1.

Khái quát tình huống
Được thành lập tại Mỹ vào năm 1994 với xuất phát từ một cửa hàng bán sách

trực tuyến, nhà sáng lập Jeff Bezos đã đưa Amazon trở thành một đế chế thương mại
điện tử khổng lồ trên thế giới. Trong khi đó Trung Quốc là một thị trường tỷ dân đầy

tiềm năng mà bất kỳ ông lớn nào trên thế giới đều muốn tiếp cận, điển hình là các
ơng lớn về cơng nghệ như Google, Facebook, Microsoft, Sony, Samsung hay cả đến
các chuỗi thức ăn nhanh như KFC, Burger King; đồ uống như Pepsi, Coca Cola; siêu
thị bán lẻ như Walmart, Costco; thời trang như Adidas, Nike, H&M và hàng loạt các
thương hiệu lớn nhỏ khác trên thế giới. Tuy nhiên khi tham gia vào thị trường Trung
Quốc các thương hiệu này ít nhiều gặp phải những rào cản và một trong những vấn
đề bất cập là văn hoá - xã hội. Trường hợp tai tiếng tiêu biểu có thể kể đến như vụ
hiểu nhầm slogan tiếng anh của KFC, Pepsi; vụ tẩy chay vì những liên quan đến việc
ngừng mua ngun liệu bơng vùng Tân Cương của H&M, Nike và những trường hợp
khác nữa. Amazon cũng thất bại trong việc tiến vào thị trường Trung Quốc.
8

download by :


Amazon gia nhập thị trường Trung Quốc vào năm 2004 thông qua việc mua lại
một công ty mua sắm trực tuyến nội địa có tên là Joyo, và cơng ty này đã được biến
đổi thành Amazon Trung Quốc. Thời gian đầu, Amazon đã rất thành công khi chiếm
lĩnh 15% thị phần của mảng mua sắm trực tuyến tại Trung Quốc. Tuy nhiên vào thời
điểm giữa năm 2019 con số này giảm xuống mức khiêm tốn chỉ tầm khoảng 1%.

Tới ngày 18 tháng 7 năm 2019, Amazon đã chấm dứt mảng bán hàng nội địa
trực tuyến tại Trung Quốc. Tuy nhiên Amazon vẫn còn hoạt động mảng thương
mại điện tử xuyên biên giới tại đây. Người tiêu dùng tại Trung Quốc khơng thể
mua các hàng hố của thương nhân nước này nhưng vẫn có thể đặt hàng từ Mỹ,
Đức hay Nhật Bản thơng qua cửa hàng tồn cầu của hãng.
Sự ra đi của Amazon khiến người tiêu dùng tại Trung Quốc không mấy tiếc
nuối và họ cho rằng đây là kết quả của việc khơng thích nghi được với lối sống và
văn hố của dân bản địa.
2. Phân tích ngun nhân

Ngun nhân dễ thấy đầu tiên là Amazon đã thất bại trong việc thiết kế website phù hợp
với thị hiếu của người tiêu dùng Trung Quốc. Tưởng chừng như người tiêu dùng muốn sử
dụng một trang web đơn giản, dễ hiểu và rõ ràng như Amazon đang làm thì thực tế, người
tiêu dùng ở đây lại có hứng thú hơn với những trang web ngập tràn những món hàng, những
ưu đãi và thậm chí có phần rườm rà. Bởi người tiêu dùng nước này cảm thấy thích thú hơn
với việc mua sắm khi họ có thể quan sát được nhiều mặt hàng với nhiều ưu đãi, và dĩ nhiên
họ có thể dễ dàng nhìn thấy được món hàng mà mình đang quan tâm. Có người tiêu dùng tại
Trung Quốc cịn cho rằng giao diện của Amazon nhìn giống như một trang chuyên bán đồ
điện tử Newegg tại Mỹ và khi nhìn vào trang web của Amazon thì họ đã khơng cịn hứng thú
để mua sắm. Mặc dù vấn đề này đã được nhận diện bởi đội ngũ Amazon tại Trung Quốc
nhưng chính Amazon lại chỉ muốn gắn bó với một phong cách UI (User Interface Design) duy
nhất trên quy mơ tồn cầu. Vì thế việc tạo ra hoặc biến đổi giao diện của một trang web sao
cho phù hợp với từng thị trường là rất khó khăn.
Người dân Trung Quốc có tâm lý thích mua hàng với những quảng cáo đi kèm để hiểu
biết hơn về công năng cũng như thông tin sản phẩm nhưng Amazon lại giữ phương thức
9

download by :


bán hàng truyền thống như ở Mỹ và ít quảng cáo. Trong khi đó các đối thủ như
Taobao, JD.Com, Alibaba,... lại tích cực thúc đẩy hoạt động quảng cáo, nhắm vào
tâm lý người tiêu dùng trong nước và đặc biệt là tạo ra động cơ mua sắm trực
tuyến càng nhiều trong các dịp lễ đặc biệt của Trung Quốc. Nhờ vậy mà những
hãng như Alibaba, JD.com đã chiếm được 82% thị trường thương mại điện tử
Trung Quốc vào thời điểm đó cịn thị phần của Amazon lại chỉ cịn chưa đầy 1%.
Một vấn đề nữa là về thời gian vận chuyển, trong cuộc sống bận rộn với công việc
và gia đình, tính cấp thiết của tiêu dùng, ai cũng muốn gói hàng của mình được vận
chuyển nhanh nhất có thể nhưng Amazon lại không thể vận chuyển nhanh hơn Tmall
hay JD.Com. Người tiêu dùng sẽ lựa chọn những gì là tốt nhất cho mình, vì thế sự

chậm trễ trong giao là cũng là nguyên nhân khiến Amazon thất bại tại thị trường này.

Mặc dù độ tin cậy và tính kiểm duyệt hàng hoá của Amazon chiếm ưu thế hơn
so với các công ty mua sắm thương mại điện tử hoạt động tại Trung Quốc nhưng
người tiêu dùng nước này có sở thích mua sắm nhiều mặt hàng đa dạng. Rõ ràng
Taobao, Alibaba, JD.Com đang là tốt điều này hơn.
Người tiêu dùng thì mong muốn tiếp cận nhiều mặt hàng đa dạng hơn, u thích khuyến
mãi hơn, muốn hàng của mình được giao nhanh hơn và tất nhiên chất lượng hàng cũng phải
đảm bảo. Trong khi đó thị trường thương mại điện tử Trung Quốc lại đang có q nhiều các
cơng ty hoạt động. Những nền tảng nào đáp ứng được nhiều nhất những nhu cầu trên của
người tiêu dùng dĩ nhiên sẽ giành phần thắng trong cuộc chiếm lĩnh thị phần tại đây. Tất nhiên
một nền tảng nước ngoài du nhập vào như Amazon không đáp ứng được đầy đủ những nhu
cầu đó đã thất bại và phải rút lui khỏi thị trường màu mỡ này.

3.

Đề xuất giải pháp
Amazon cần phải nghiên cứu kỹ thị trường trước khi quyết định kinh doanh quốc tế tại bất

kỳ một quốc gia nào. Việc nghiên cứu kỹ sẽ giúp cho doanh nghiệp biết được chính xác
insight khách hàng, nắm bắt được những điều đó thì có thể dễ dàng tiếp cận và chinh phục
được những thị trường này. Việc nghiên cứu không chỉ dừng lại ở thời điểm mới bắt đầu thâm
nhập thị trường mà cần phải quan sát thường xuyên, nghiên cứu xuyên suốt để nắm bắt được
những thay đổi trong động cơ mua sắm của khách hàng. Có thể thấy Amazon
10

download by :


có kết quả khả quan khi mới bắt đầu hoạt động mảng mua sắm trực tuyến tại

Trung Quốc, tưởng chừng hãng này sẽ có chỗ đứng vững vàng tại thị trường Trung
Quốc sau 15 năm thâm nhập thì kết cục lại phải rút lui trong tiếc nuối.
Cần phải nhạy bén, nhanh chóng trong việc nhận diện thực tế và thay đổi phù hợp.
Được biết là đội ngũ Amazon tại Trung Quốc đã nhận diện được những vấn đề xảy ra đối
với hãng này tại đây nhưng chỉ vì những nguyên tắc, thói quen (đã đề cập ở mục trên)
được cho là bảo thủ đã dẫn đến lượng người dùng suy giảm, mất thị phần nghiêm trọng.
4.

Kết luận “
Đã có rất nhiều các cơng ty gặp phải những tình huống ối oăm về văn hóa khi thực hiện

q trình kinh doanh quốc tế như vụ việc Gerber - nhà cung cấp thực phẩm trẻ em của Nestle
đã gây ra một sự hiểu lầm ngớ ngẩn khi in hình trẻ em lên bao bì trong khi đó đa số người dân
châu Phi lại không biết chữ và nghĩ rằng đây là sản phẩm bán em bé. Thậm chí những cơng ty
lớn và tên tuổi như P&G đã gây ra những sai lầm ngớ ngẩn khi khơng tìm hiểu sự khác biệt
văn hố giữa phương Tây và phương Đơng. Điển hình là họ đã dùng lại một đoạn TVC được
sản xuất ở Châu Âu cho thị trường Nhật Bản vốn khắt khe và bảo thủ. Hay vụ việc liên quan
đến chính trị khi FIAT đã phát hành một quảng cáo ở Ý, trong đó diễn viên Richard Gere đã lái
một chiếc xe Lancia Delta từ Hollywood cho đến Tây Tạng (một tỉnh tự trị tại Trung Quốc). Tuy
nhiên, Gere bị ghét bỏ tại Trung Quốc vì là người ủng hộ quan điểm của Dalai Lama, kết cục
là đã có một cuộc hỗn loạn diễn ra trên mạng xã hội

ở Trung Quốc, với những bình luận rằng họ sẽ khơng bao giờ mua một chiếc xe

hơi nào của FIAT.
Ví dụ điển hình cho việc thành công khi kinh doanh quốc tế là Tinder. Tinder ra đời
năm 2012 tại Mỹ - quốc gia có văn hố phóng khống, tự do với hình ảnh selfie quyến rũ,
những người dùng tại châu Á lại khơng thích những điều này và cổ suý nó với những giao
dịch mại dâm. Giám đốc Tinder tại Hàn Quốc chia sẻ nghiên cứu của họ cho thấy thanh
niên tại đây gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm và gặp gỡ những người bạn mới.

Nhận thấy được điều đó, Tinder đã tự quảng bá mình là một nơi tìm bạn mới. Hình ảnh
người mẫu thổi bong bóng kẹo cao su cùng câu hỏi “Ai đó có muốn trị chuyện nhanh

11

download by :


không?” xuất hiện dày đặc trong các ga tàu điện ngầm tại thủ đô Seoul nước này.
Chiến lược quảng bá này giúp tăng gấp đôi số người sử dụng Tinder tại đây.
Có thể thấy từ trường hợp phân tích của Amazon, những sự cố về văn hoá khi kinh
doanh quốc tế hay thành công của Tinder tại Hàn Quốc giúp các doanh nghiệp rút ra được
bài học để đời về việc tìm hiểu kỹ văn hố, chính trị, xã hội, xu hướng, thói quen, hành vi
của người tiêu dùng cho các doanh nghiệp khi tham gia kinh doanh quốc tế.”

IV. Tài liệu tham khảo “
(Hummels, 2007)
(Tc & Dfo, 1996)
(Thai, 2005)
(Котлер, 2008)
(VASEP, 2020)
(Trúc, 2013)
(Pho Binh, 2014)
(To Win over Asia, Tinder Is Reinventing Itself, n.d.)
(Tinder Is Changing the Global Dating Scene, Even in Asia, n.d.)
([UEH_HDVU] Final Essay - Internation Business Management - MINISTRY OF
EDUCATION AND TRAINING UEH - StuDocu, n.d.)
(Top 10 Mặt Hàng Việt Nam Xuất Nhập Khẩu Nhiều Nhất Tháng 4_2021, n.d.)
(Kinh Tế Nhật Bản – Wikipedia Tiếng Việt, n.d.)
(Cách Tính Thuế ô Tô Nhập Khẩu 2021, n.d.)

(Hàng Việt Bị Kiện Nhiều Nhất ở Mỹ_ Vì Sao_ - MP Law Firm, n.d.)
(Mật Ong Việt Nam Bị Mỹ Áp Thuế Chống Bán Phá Giá 400% - Báo VietnamNet, n.d.)
(Đế Chế Amazon “khủng” Cỡ Nào_ - Nhịp Sống Kinh Tế Việt Nam & Thế Giới, n.d.)
(Amazon Đóng Cửa ở Trung Quốc_ Đây Là Lý Do Tại Sao Gã Khổng Lồ Gục Ngã ở
Thị Trường 1,3 Tỷ Dân, n.d.)”

12

download by :



×