Tải bản đầy đủ (.docx) (72 trang)

báo cáo công trình nghiên cứu khoa học sinh viên đề tài mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và ý kiến kiểm toán của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.38 MB, 72 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KINH TẾ

BÁO CÁO
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
Đề tài:
Mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và ý kiến kiểm tốn

của các cơng ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam

Hà Nội, 05/2016

download by :


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KẾ TỐN – KIỂM TỐN

CƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

Đề tài nghiên cứu:
Mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và ý kiến kiểm toán của các cơng ty

niêm yết trên sàn chứng khốn Việt Nam

Hà Nội, 05/ 2016

Page 2

download by :




Chúng tôi xin cam đoan nghiên cứu “Mối quan hệ giữa điều chỉnh lợi
nhuận và ý kiến kiểm toán của các công ty niêm yết ở Việt Nam trong năm
2014” là cơng trình nghiên cứu độc lập của chúng tơi.
Các trích dẫn, tài liệu tham khảo, các số liệu thống kê được sử dụng
trong bài nghiên cứu là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng.

Nhóm tác giả nghiên cứu

Page 3

download by :


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN……………………………………………………………………. 2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT............................................................................. 7
DANH MỤC BẢNG........................................................................................... 8
DANH MỤC HÌNH............................................................................................ 9
I. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU............................................................. 10
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.................................................... 10
1.3. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu........................................ 12
1.4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu....................................................... 12
1.5. Phương pháp nghiên cứu..................................................................... 13
II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU................................ 14
2.1. Cơ sở lý thuyết..................................................................................... 14
2.1.1. Hành vi điều chỉnh lợi nhuận........................................................... 14
2.1.2. Ý kiến kiểm toán............................................................................. 18
2.1.3 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và điều chỉnh lợi nhuận..............21

2.2 Tổng quan nghiên cứu........................................................................... 25
2.3 Tóm tắt chương II:................................................................................. 31
III. XÁC ĐỊNH GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................... 33
3.1. Xây dựng giả thiết nghiên cứu.............................................................. 33
3.2. Chọn mẫu............................................................................................. 34
3.3 Dữ liệu nghiên cứu................................................................................ 34
3.4 Mơ hình nghiên cứu............................................................................... 34
3.4.1 Mơ hình dùng để tính tốn biến dồn tích có thể điều chỉnh (Dicretionary

Accruals).................................................................................................. 35
3.4.2. Mơ hình hồi quy tổng thể nhằm đánh giá mối quan hệ giữa điều chỉnh
lợi nhuận và ý kiến kiểm tốn.................................................................... 36
3.5 Quy trình nghiên cứu............................................................................. 38
3.6.1 Kiểm định giả thiết........................................................................... 39
Page 5

download by :


3.6.2Kiểm định về ý nghĩa của
IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..................................................................................

4.1.Phân tích thống kê số liệu nghiên cứu .....................................
4.2 Phân tích tương quan ........................................................................................

4.3.Kiểm định đa cộng tuyến ...........................................................
4.4 Kết quả phân tích hồi quy ................................................................................

4.4.1Đánh giá sự phù hợp của


4.4.2Kiểm định về độ tin cậy củ

4.4.3Kiểm định giả thuyết về cá

4.4.4Kiểm định giả thuyết nghi
V. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU...........................................................
5.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu .........................................................................

5.2.Hạn chế của bài nghiên cứu .....................................................

5.3.Hướng nghiên cứu tiếp theo ......................................................
PHỤ LỤC: Danh sách các cơng ty niêm yết có ý kiến kiểm tốn khơng chấp nhận

tồn phần năm 2014 ...................................................................................................

Page 6

download by :


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt
BCTC
BCKQHĐKD
BCLCTT
CTCP
DN
DNNY
EM

GAAP
HĐKD
KTV
SPSS
TSCĐ
VAS
VSA

Giải thích
Báo cáo tài chính
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Công ty cổ phần
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp niêm yết
Earning management – (hành vi) điều chỉnh lợi nhuận
Genneral accepted accounting principles
Các nguyên tắc kế toán được thừa nhận chung
Hoạt động kinh doanh
Kiểm toán viên
Phần mềm thống kê kinh tế
Tài sản cố định
Vietnam accounting standard – Chuẩn mực kế toán Việt Nam
Vietnam standards of auditing – Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

Page 7

download by :



Bảng
Bảng 2.1
Bảng 3.1
Bảng 4.1
Bảng 4.2
Bảng 4.3
Bảng 4.4
Bảng 4.5
Bảng 4.6

Page 8

download by :


DANH MỤC HÌNH
Hình

Tên hình

Hình 2.1

Sơ đồ tác động của REM và AEM lên lợi

Hình 3.1

nhuận Quy trình nghiên cứu

Hình 4.1


Biểu đồ cơ cấu ý kiến kiểm tốn khơng chấp nhận tồn phần Biểu

Hình 4.2

đồ cơ cấu kết quả kinh doanh năm 2013 của mẫu nghiên cứu

Hình 4.3

Cơ cấu cơng ty kiểm tốn phát hành ý kiến kiểm tốn khơng
chấp nhận tồn phần

Hình 4.4

Biểu đồ cơ cấu ý kiến kiểm toan năm 2013 của mẫu

Hình 4.5

nghiên cứu Kết quả đánh giá hồi quy

Page 9

download by :


CHƯƠNG I:
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trên thực tế, ban giám đốc thường được trả lương thưởng theo lợi nhuận của
công ty, do đó họ thường có xu hướng dùng các thủ thuật để điều chỉnh lợi nhuận
đạt mức mong muốn. Bên cạnh đó, một trong những yếu tố mà thu hút sự chú ý của

các nhà đầu tư đó là chỉ tiêu lợi nhuận. Từ chỉ tiêu lợi này, nhà đầu tư có thể đánh
giá được tình hình hoạt động kinh doanh của công ty, triển vọng tăng trưởng của
công ty trong tương lai. Nhà đầu tư thường có xu hướng đầu tư vào công ty lợi
nhuận cao hơn là những cơng ty có lợi nhuận thấp (Ambrose Jagongo, 2014).

Theo Thomas P. Houck (2003) các cơng ty niêm yết thường có xu hướng
điều chỉnh lợi nhuận để tạo ra kết quả kinh doanh hấp dẫn hơn đối với các nhà
đầu tư và các thơng tin trên BCTC có thể tác động tới giá cổ phiếu của cơng ty.
Bên cạnh đó một cơng ty tư nhân cũng có thể “xào nấu” sổ sách (cooking the
book) với mục đích cổ phần hóa trong tương lai. Những cơng ty tư nhân này
cũng có thể sẽ che giấu thu nhập hoặc “thổi phồng” thu nhập phụ thuộc vào tình
hình hoạt động sản xuất kinh doanh của cơng ty.
Do sự xuất hiện tình trạng xung đột lợi ích (conflict of interest) trên giữa chủ
sở hữu và ban giám đốc và sự tồn tại thông tin bất đối xứng (information
asymmetry) giữa ban giám đốc và người sử dụng BCTC nên cần một bên thứ ba
độc lập để đánh giá sự trung thực và minh bạch của các thơng tin được trình
bày trên BCTC thể hiện tình hình tài chính của cơng ty (DeAngelo, 1981). Bên
thứ ba này được biết đến như là các Kiểm toán viên, thực hiện cơng việc kiểm
tra tính trung thực, minh bạch và hợp lý, hợp pháp của các thông tin trên BCTC
của các công ty. Trách nhiệm của KTV đối với các bản BCTC là cung cấp cuối
cùng được thể hiện thông qua ý kiến của KTV về bản BCTC đó.
Cho đến nay đã có rất nhiều vụ bê bối kế tốn kiểm tốn xảy ra, điển hình như vụ
bê bối kế toán của Enron. Cổ phiếu Enron từ đỉnh cao 90$ từ giữa năm 2000 đã giảm
xuống chỉ còn chưa tới 1$ vào cuối tháng 11/2001, khiến nhà đầu tư mất hàng nghìn tỷ đơ
và khoảng 20 nghìn nhân viên Enron mất việc làm, nhiều người trong số họ mất luôn cả
khoản tiết kiệm vì đã góp vốn vào cơng ty. Nguyên nhân của sự việc này là do Enron đã
tìm cách thổi phồng lợi nhuận của mình, che dấu hàng tỷ USD bị thua lỗ, đồng thời tạo áp
lực để Cơng ty Kiểm tốn Arthur Andersan (một trong năm cơng ty kiểm toán lớn nhất thế
giời) bỏ qua các vấn đề kế tốn có rủi ro quan trọng. Trong khi đó, những người quan tâm
lại hồn tồn tin tưởng vào BCTC đã kiểm toán. Ngay khi bị phát hiện, Enron đã trở thành

vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ tính
Page 10

download by :


tới thời điểm đó. Rất nhiều các vụ bê bối khác như là Worldcom, Olympus,
Tyco International, hay Parmalat và gần đây nhất là Toshiba… cũng đã khiến
cho nhiều nhà đầu tư bị thua lỗ vì những quyết định đầu tư dựa trên các con số
được điều chỉnh trên các bản BCTC đã được kiểm toán.
Tại Việt Nam, nhiều nhà đầu tư đã bị “đánh lừa” bởi những con số đẹp được
trình bày trên các bản BCTC đã được kiểm tốn. Ví dụ như trường hợp cơng ty
Dược Viễn Đơng (DVD – sàn HSX) đã kinh doanh thua lỗ song BCTC vẫn thể hiện
kết quả ấn tượng, nhưng cả hai công ty kiểm toán lớn là ACC và Ernst & Young đều
không phát hiện ra hành vi điều chỉnh lợi nhuận của cơng ty này, khiến cho hàng
nghìn nhà đầu tư thua lỗ vì đã tin tưởng vào BCTC đã được kiểm tốn bởi cơng ty
kiểm tốn. Hay trong trường hợp ngược lại, các công ty như Tribeco (TRI), công ty
Petrolimex, CTCP Quốc Cường Gia Lai (QCG), CTCP Vận tải biển và bất động sản
Việt Hải (VSP), Tổng CTCP Phân bón và Hóa chất dầu khí (DPM) đã thực hiện hành
vi điều chỉnh giảm lợi nhuận trên BCTC so với thực tế, tuy nhiên đã được phát hiện
bởi các Kiểm toán viên cho thấy vai trò của KTV trong việc thực hiện chức năng
kiểm tra của mình. Và gần đây nhất là vụ việc của Ngân hàng Thương mại Xuất
nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), đã làm nhu cầu của nhà đầu tư về việc nhận diện
hành vi điều chỉnh lợi nhuận của ban giám đốc ngày càng tăng. Vấn đề được đặt ra
là những cơng ty có hành vi điều chỉnh lợi nhuận có khả năng nhận được ý kiến
kiểm tốn khơng chấp nhận tồn phần cao hơn các cơng ty khác hay khơng?
Đã có một số cơng trình nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa ý kiến
của KTV về BCTC và hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Charalambos Spathis và Maria
Tsipouridou (2013) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và hành vi
điều chỉnh lợi nhuận đối với các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Athens ở Hy

Lạp (Athens Stock Exchange – ASE), trong giai đoạn từ 2005 – 2011 và đưa ra kết
luận ý kiến kiểm toán phụ thuộc vào khả năng hoạt động liên tục của công ty chứ
không phụ thuộc vào hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Kathleen Herbohn, Vanitha
Ragunathan (2008) đã nghiên cứu tất cả các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán
Australia giai đoạn từ 1999-2003, cho rằng điều chỉnh lợi nhuận không phải là
nguyên nhân của ý kiểm kiểm tốn khơng chấp nhận tồn phần. Arnedo Ajona cùng
cộng sự (2008) cũng nghiên cứu về mối quan hệ này đối với những cơng ty có mức
độ rủi ro cao tại thị trường Tây Ban Nha, cho thấy điều chỉnh lợi nhuận có mối quan
hệ cùng chiều với việc phát hành ý kiến kiểm tốn khơng chấp nhận tồn phần…Tuy
nhiên, trên thị trường Việt Nam có tồn tại mối quan hệ này hay khơng thì vẫn chưa
có một bài nghiên cứu nào cho vấn đề này. Do đó, đây sẽ là bài nghiên cứu đầu tiên
về mối quan hệ đã được nêu ra.
Vậy trên tổng thể, KTV có phát hiện ra những hành vi điều chỉnh lợi nhuận của
các công ty niêm yết trên thị trường hay không? Để trả lời cho câu hỏi này dựa trên cơ
sở khoa học thì thật cần thiết để có một bài nghiên cứu cho mối quan hệ này.
Page 11

download by :


Dựa trên các bài nghiên cứu trước đây trên thế giới và tình hình thực tế tại
Việt Nam về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Ban giám đốc và việc phát hành các ý
kiến kiểm toán của KTV đối với các bản BCTC của các công ty niêm yết, nhóm
nghiên cứu nhận ra thực sự cần thiết của nghiên cứu về mối quan hệ này.

1.2. Đóng góp dự kiến của đề tài
Về mặt khoa học, nghiên cứu được thực hiện để tìm hiểu mối quan hệ
giữa ý kiến kiểm tốn và điều chỉnh lợi nhuận của các cơng ty niêm yết trên thị
trường Việt Nam.
Về mặt thực tiễn, nghiên cứu này sẽ giúp những người quan tâm tới BCTC có cái

nhìn khách quan hơn tới tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Cụ thể nếu
kết quả của bài nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và hành vi điều
chỉnh lợi nhuận cùng chiều thì các báo cáo đã kiểm tốn càng có độ tin cậy cao và ngược
lại nếu khơng tồn tại mối quan hệ này thì các đối tượng bên ngồi cần tham khảo thêm từ
các nguồn thơng tin khác để có quyết định phù hợp hơn.

1.3. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu chính của bài nghiên cứu là kiểm định mối quan hệ giữa ý kiến
kiểm tốn chấp nhận khơng tồn phần và hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong
công ty niêm yết tại Việt Nam. Ngồi ra, nhóm nghiên cứu cũng đặt ra mục tiêu
tìm hiểu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận và phân tích một số nhân tố ảnh
hưởng tới ý kiến kiểm tốn khơng chấp nhận tồn phần.
Để trả lời cho mục tiêu nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đặt ra những câu
hỏi nghiên cứu chi tiết cho vấn đề này như sau:
Thứ nhất, ý kiến kiểm tốn khơng chấp nhận tồn phần và hành vi điều
chỉnh lợi nhuận có mối quan hệ như thế nào?
Thứ hai, ngoài điều chỉnh lợi nhuận, trong mơ hình được xây dựng có
những nhân tố nào ảnh hưởng tới việc phát hành ý kiến không chấp nhận toàn
phần của KTV?
1.4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Để đánh giá mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và hành vi
điều chỉnh lợi nhuận trong DN, nhóm nghiên cứu đã tham khảo các nghiên cứu
trước đây và đã tiến hành nghiên cứu tất cả các DN đang niêm yết (khoảng gần 900
DN) trên sàn chứng khoán HNX và HOSE và đã chọn ra được 92 DN nhận được ý
kiến kiểm tốn khơng chấp nhận toàn phần đối với BCTC năm 2014.

Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và hành vi điều
chỉnh lợi nhuận trong các công ty là đối tượng nghiên cứu của đề tài.

Page 12


download by :


1.5. Phương pháp nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu dùng phương pháp định lượng. Mẫu số liệu sử dụng
trong BCTC đã kiểm tốn của các cơng ty niêm yết ở Việt Nam. Phần mềm
nhóm nghiên cứu sử dụng để kiểm định mơ hình là phần mềm SPSS.

Page 13

download by :


CHƯƠNG II:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý thuyết
2.1.1. Hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Khái niệm điều chỉnh lợi nhuận
Cho đến nay vẫn chưa có một câu trả lời thống nhất cho câu hỏi điều chỉnh
lợi nhuận (earning management) là gì. Thuật ngữ điều chỉnh lợi nhuận xuất hiện từ
khá sớm. Trong bài nghiên cứu của Schipper (1989): “Điều chỉnh lợi nhuận là một sự
can thiệp có tính tốn trong q trình cung cấp thơng tin tài chính nhằm đạt được
những mục đích cá nhân”. Điều chỉnh lợi nhuận phản ánh hành động của ban giám
đốc trong việc lựa chọn các phương pháp kế toán để mang lại lợi ích cho họ hoặc
làm gia tăng giá trị thị trường của công ty (Scott 1997). Trong khi đó, Healy and
Whalen (1999) cho rằng, điều chỉnh lợi nhuận xảy ra khi ban giám đốc sử dụng các
ước tính kế tốn hoặc giao dịch nội bộ để nhằm thay đổi BCTC, đánh lạc hướng
người sử dụng thông tin trên BCTC về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty hoặc làm ảnh hưởng đến kết quả của các hợp đồng mà phụ thuộc vào số

liệu kế tốn trên BCTC (ví dụ: hợp đồng tín dụng với ngân hàng, hợp đồng thù lao
giữa ban giám đốc và công ty…). Ronen và Yaari (2008) đã tổng hợp lại các nghiên
cứu trước đó và đưa ra một định nghĩa và phân loại điều chỉnh lợi nhuận như sau:
“điều chỉnh lợi nhuận là hành vi của ban giám đốc sử dụng việc ghi nhận trên cơ sở
dồn tích thơng qua một số tài khoản để làm thay đổi lợi nhuận sau thuế theo các
mục tiêu công bố thông tin của họ”. Trong nghiên cứu của Ronen và Yaari, tùy thuộc
vào động cơ mà điều chỉnh lợi nhuận có thể được phân làm 3 nhóm:

-

Điều chỉnh lợi nhuận trắng (White Earnings Management): Ban giám đốc dựa trên

lợi thế về quyền lực để lựa chọn các chính sách kế tốn một cách linh hoạt nhằm thơng
báo tín hiệu cá nhân của họ về dòng tiền của DN trong tương lai (Ronen và

Sadan, 1981; Demski, Patell, và Wolfson, 1984; Suh, 1990; Demski, 1998; Beneish,
2001, Sankar và Subramanyam, 2001). Loại này được xem là có lợi và làm gia tăng chất
lượng BCTC. Mục đích của ban giám đốc là muốn công bố nhiều thông tin với chất lượng
tốt hơn đến người sử dụng, giúp các các nhà đầu tư khám phá ra các mong đợi của họ
về các dòng tiền mà DN sẽ mang lại trong tương lai (Beneish, 2011).

-

Điều chỉnh lợi nhuận xám (Grey Earnings Management): Các ban giám đốc lựa

chọn các chính sách kế tốn trong hoặc ngồi các giới hạn cho phép nhằm làm gia tăng
giá trị của DN hoặc vì vụ lợi của họ (Watts và Zimmerman, 1990; Fields, Lys, và

Vincent 2001).


Page 14

download by :


-

Điều chỉnh lợi nhuận đen (Black Earnings Management): Là hành vi sử dụng các

thủ thuật của ban giám đốc để làm sai lệch hoặc giảm sự minh bạch của các BCTC

(Schipper, 1989; Levitt, 1998; Healy và Wahlen 1999; Tzur và Yaari, 1999; Chtourou,
Bédard, và Courteau, 2001; Miller và Bahnson, 2002).
Theo Carmen Joosten (2012), lợi nhuận bao gồm dòng tiền từ hoạt động và dịng
tiền tích lũy, ban giám đốc cơng ty có 2 phương thức để điều chỉnh lợi nhuận:

-

Điều chỉnh lợi nhuận bằng các giao dịch thực (Real earning management):
Cơng ty có thể điều chỉnh lợi nhuận thơng qua những chỉnh sửa từ hoạt động kinh
doanh bình thường, vì vậy dịng tiền từ hoạt động kinh doanh có thể bị ảnh hưởng.
Những chỉnh sửa từ hoạt động kinh doanh bình thường để điều chỉnh BCKQHĐKD

này được gọi là điều chỉnh lợi nhuận bằng các giao dịch thực (REM)
(Rowchowdhury, 2006).

-

Điều chỉnh lợi nhuận bằng các ước tính kế tốn (Accrual-based earning
management): Cơng ty có thể thay đổi mức độ dồn tích để có được lợi nhuận như

mong muốn. Việc ban giám đốc sử dụng các ước tính để lập BCTC được gọi là điều
chỉnh lợi nhuận trên cơ sở ước tính (AEM) (Healy and Wahlen, 1999).

Những hoạt
động kinh
doanh thực
phát sinh

Hình 2.1 Sơ đồ tác động của REM và AEM lên lợi nhuận

Ở Việt Nam, thuật ngữ Earning Management (EM) được dịch ra với nhiều
cách khác nhau như: điều chỉnh lợi nhuận, quản trị thu nhập, điều chỉnh lợi nhuận…
Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là những nghiên cứu của Việt Nam về EM thường đi
theo hướng tiêu cực như những phương pháp để “làm đẹp” BCTC hay “những thủ
thuật phù phép BCTC”. Nhóm nghiên cứu đã thống nhất trong bài nghiên cứu này
thuật ngữ EM được dùng với nghĩa điều chỉnh lợi nhuận.

Page 15


download by :


Đã có một số bài nghiên cứu và bài báo trong nước bàn về vấn đề điều chỉnh
lợi nhuận như bài viết của tác giả Lê Minh Thủy, công ty tư vấn tài chính Capstone
đăng trên tạp chí “Nhịp cầu đầu tư” ngày 26/04/2010 với tựa đề “Nỗi niềm mùa
BCTC” đã đưa ra các phương pháp kế toán mà chủ sở hữu hay ban giám đốc sử
dụng đề làm sai lệch về tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của DN nhưng các
phương pháp này lại là các phương pháp gian lận như: dùng nghiệp vụ ảo, che giấu
giao dịch, phù phép về thời gian ghi nhận giao dịch. Bài viết với tiêu đề “Hoạt động

quản trị kết quả kinh doanh trên thế giới và khuyến nghị cho các DN Việt Nam”
(11/2011) của Ts. Trần Thị Kim Anh, với nội dung chính là các khái niệm, cách phân
loại, các phương pháp điều chỉnh lợi nhuận và kiến nghị cho DN Việt Nam. Ngồi ra,
Ths. Phạm Thị Bích Vân (2013), đã cung cấp cho các nhà đầu tư ở Việt Nam một số
cách để đo lường sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC. Trong nghiên cứu
này, tác giả cũng nhắc đến 5 thủ thuật mà ban giám đốc sử dụng để điều chỉnh lợi
nhuận như: lựa chọn các phương pháp kế toán, lựa chọn thời điểm vận dụng các
phương pháp kế tốn và các ước tính các khoản chi phí doanh thu, lựa chọn thời
điểm đầu tư hay thanh lý tài sản cố định, dàn xếp thông qua các giao dịch thực.

Phương pháp đo lường điều chỉnh lợi nhuận
Theo Renick van Oosterbosch (2009), để đo lường điều chỉnh lợi nhuận
có 3 phương pháp tiếp cận:

-

Phương pháp thứ 1 là đo lường biến dồn tích khơng thể điều chỉnh được (non

discretionary accruals) dựa vào mối quan hệ giữa tổng dồn tích và giả thuyết giải thích
các yếu tố. Mơ hình sử dụng cách tiếp cận được gọi là mơ hình tổng dồn tích, ví dụ như
mơ hình của Healy (1985) và Jones (1991); Dechow (1995); Deangelo (1986)

-

Phương pháp thứ 2 là sử dụng một mơ hình dồn tích cụ thể. Trong nghiên cứu

thực nhiệm sử dụng mơ hình dồn tích cụ thể, trọng tâm thường là một ngành cơng
nghiệp cụ thể nơi có mức dồn tích lớn hoặc các biến dồn tích đơn lẻ. Wilson (1988),

Petroni (1992), Beaver và Engel (1996)


-

Phương pháp thứ 3: quan sát mức dồn tích trong một khoảng cụ thể.
Cách tiếp cận này xem xét tính chất thống kê của thu nhập để xác định hành vi
đó ảnh hưởng đến thu nhập. Burgstahler và Dichev (1997), Degeorge (1999).
Có khá nhiều nghiên cứu nổi tiếng dựa trên phương pháp thứ nhất như mơ
hình của Jones (1991); Dechow (1995); Kaszmik (1999); Kothari (2005). Trong
những bài nghiên cứu này, cơng thức tính tổng dồn tích được được xác định dựa
trên 2 phương thức hạch toán cơ bản của kế tốn: cơ sở dồn tích và cơ sở tiền.

-

Kế tốn theo cơ sở dồn tích là phương pháp hạch toán dựa trên cơ sở dự thu –

dự chi. Theo VAS 01, “mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của cơng ty liên quan đến tài sản,
nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí phải được ghi sổ kế tốn
Page 16


download by :


vào thời điểm phát sinh giao dịch, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc
thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền”.

-

Kế toán theo cơ sở tiền: là phương pháp hạch toán dựa theo cơ sở thực
thu – thực chi tiền. Kế toán theo cơ sở tiền chỉ cho phép ghi nhận các giao dịch

khi các giao dịch này phát sinh bằng tiền.
Nguyễn Thị Minh Trang (2012), BCKQHĐKD phải được ghi nhận theo cơ
sở dồn tích. Điều này mang lại cơ hội cho ban giám đốc thực hiện hành động
điều chỉnh lợi nhuận thông qua các giao dịch khơng bằng tiền nhằm đạt được
một mục tiêu nào đó. Trong khi đó, kế tốn theo cơ sở tiền được sử dụng để
lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ (theo phương pháp trực tiếp) dựa trên cơ sở
thực thu, thực chi tiền nên ban giám đốc không thể điều chỉnh các giao dịch. Từ
đó chênh lệch giữa lợi nhuận trên BCKQHĐKD và dòng tiền trên BCLCTT (theo
phương pháp trực tiếp) tạo ra biến kế tốn gọi là Accruals. Vì vậy, cơng thức
tính tổng dồn tích (total accrual) được xác định như sau:
Biến kế tốn dồn tích (Accruals) = Lợi nhuận sau thuế - Dòng tiền thuần
từ hoạt động kinh doanh (Phạm Thị Bích Vân, 2013).
Dịng tiền từ HĐKD trên BCLCTT được lập theo cơ sở tiền nên không thể
điều chỉnh được, nên muốn điều chỉnh lợi nhuận các ban giám đốc phải điều chỉnh
các biến kế tốn dồn tích. Theo các nhà nghiên cứu, các biến kế tốn dồn tích
(Accruals) gồm hai phần: phần không thể điều chỉnh (NDA) và phần có thể điều
chỉnh từ ban giám đốc (DA). Ví dụ như giảm khoản nợ phải thu do phải tăng dự
phịng phải thu khó địi vì mức dự phịng cần trích lập lớn hơn so với năm trước, lự
a chọn mức lập dự phòng nào trong giới hạn cho phép của chế độ kế toán đều là ý
muốn chủ quan của ban giám đốc. Như vậy biến kế toán này có thể điều chỉnh
được. Nhưng giảm khoản nợ phải thu do thắt chặt chính sách tín dụng của DN thì
khơng thể thay đổi theo ý muốn của ban giám đốc được (Ths. Nguyễn Thị Minh
Trang, 2012). Vì vậy, đo lường phần biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh được là
đo lường hành vi điều chỉnh lợi nhuận của DN. Các nhà nghiên cứu trước đây đã sử
dụng nhiều cách khác nhau để đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh.

Mơ hình của Healy (1985): Healy là người đầu tiên phát triển mơ hình
tổng dồn tích. Mơ hình này sử dụng giá trị trung bình của tổng dồn tích trong
suốt kỳ đo lường như một đại diện cho biến kế tốn dồn tích khơng thể điều
chỉnh, vì thế biến kế tốn dồn tích có thể điều chỉnh được đo lường bằng chênh

lệch giữa biến kế toán dồn tích khơng thể điều chỉnh và tổng dồn tích.
Mơ hình của Deangelo (1986), sử dụng tổng dồn tích năm trước để để đo lường
biến kế tốn dồn tích khơng thể điều chỉnh của năm nay. Biến kế toán dồn tích có thể
điều chỉnh bằng tổng dồn tích trừ đi biến kế tốn dồn tích khơng thể điều chỉnh.

Page 17

download by :


Mơ hình của Jones (1991), một cách tiếp cận hồi quy để kiểm sốt các
nhân tố khơng thể điều chỉnh đến tổng dồn tích, như là ảnh hưởng của việc
thay đổi lĩnh vực kinh tế của cơng ty – có mối quan hệ tuyến tính rõ ràng giữa
tổng dồn tích và thay đổi trong doanh thu, tài sản, nhà máy và thiết bị.
Mơ hình của Dechow (1995) dựa trên mơ hình của Jones (1991) nhưng sự
thay đổi doanh thu được điều chỉnh bằng sự thay đổi của khoản phải thu trong năm.
Tính linh hoạt của các chuẩn mực và chế độ kế toán hay sự khác biệt về chế độ
kế toán giữa các quốc gia đã cho phép ban giám đốc có thể thực hiện một số phương
thức để điều chỉnh chỉ tiêu lợi nhuận trong BCTC để mang lại lợi ích cho cơng ty trong
việc phát hành cổ phiếu, thu hút đầu tư, san bằng lợi nhuận giữa các kỳ kế tốn, hoặc
mang lại lợi ích cho chính ban giám đốc thông qua hợp đồng thù lao, tiền lương. Ths.
Phạm Thị Bích Vân (2013) đã đưa ra một số ví dụ về các thủ thuật mà ban giám đốc có
thể thực hiện để điều chỉnh lợi nhuận. Đối với phương thức điều chỉnh lợi nhuận thơng
qua các ước tính kế tốn và chính sách kế tốn, ban giám đốc có thể điều chỉnh chi phí
khấu hao thơng qua ước tính thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ, hoặc thời điểm trích
lập khấu hao. Ban giám đốc cịn có thể lựa chọn chính sách hàng tồn kho nào có lợi nhất
đối với DN của mình. Đối với phương thức điều chỉnh lợi nhuận thông qua các giao dịch
thực, ban giám đốc có thể tăng doanh thu thơng qua các chính sách giá và tính dụng. Cụ
thể, biện pháp mà ban giám đốc thường sử dụng để tăng lợi nhuận khi thấy có nguy cơ
khơng đạt kế hoạch đề ra là giảm giá hàng bán hoặc nới lỏng các điều kiện tín dụng, tăng

khuyến mãi nhằm tăng lượng hàng bán ra, từ đó tăng doanh thu. Ban giám đốc cũng có
thể ký các hợp đồng bán hàng đối với khách hàng mà trong đó, hàng được bán và ghi
nhận doanh thu vào cuối năm tài chính năm nay, nhưng sẽ được trả lại vào đầu năm tài
chính năm sau.

2.1.2. Ý kiến kiểm toán
Nội dung quan trọng nhất trong báo cáo kiểm tốn là ý kiến nhận xét của KTV
về thơng tin được kiểm toán. Trong báo cáo về kiểm toán Báo cáo kiểm toán, ý kiến
nhận xét của kiểm toán viên thường có sự phân định rõ, đặc biệt là ý kiến nhận xét
của kiểm toán viên độc lập về BCTC đã được kiểm tốn. Do vậy đã hình thành nên
các loại báo cáo kiểm tốn khác nhau, trong đó có ý kiến nhận xét khác nhau.
Để hình thành nên ý kiến nhận xét về BCTC, KTV phải căn cứ vào kết quả
kiểm toán về đánh giá, soát xét để đưa ra các kết luận về các khía cạnh sau đây:

- Các BCTC lập ra có phù hợp với các thơng lệ, ngun tắc và chuẩn mực
kế tốn hiện hành hoặc chấp nhận hay khơng

- Các thơng tin tài chính có phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài
chính trên các mặt trọng yếu hay khơng.

-

Các thơng tin tài chính có phù hợp với các quy định pháp lý hiện hành không.

Page 18

download by :


- Tồn cảnh các thơng tin tài chính của doanh nghiệp có nhất quán với

hiểu biết của KTV về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hay không.
Tùy theo kết quả của từng cuộc kiểm tốn BCTC, KTV có thể đưa ra ý
kiến thuộc một trong các loại ý kiến sau đây:

-

Ý kiến chấp nhận toàn phần
Ý kiến chấp nhận từng phần
Ý kiến từ chối (từ chối đưa ra ý kiến)
Ý kiến không chấp nhận ý kiến trái ngược)

Tương ứng với mỗi loại ý kiến nhận xét là một loại báo cáo kiểm toán.

Ý

kiến nhận xét và báo cáo kiểm tốn dạng chấp nhận tồn phần

Ý kiến chấp nhận tồn phần được đưa ra khi KTV cho rằng BCTC phản
ánh trung thực, hợp lý trên tất cả các khía cạnh trọng yếu về tình hình tài chính
của đơn vị là phù hợp với các chuẩn mực kế toán xác định. Đồng thời mọi thay
đổi về nguyên tắc kế toán và ảnh hưởng của chúng đã được đánh giá đúng và
được nên ra trong thuyết minh BCTC.
Trong một số trường hợp KTV có thể đưa ra báo cáo kiểm tốn chấp nhận toàn
phần với một đoạn nhận xét thêm (đoạn ghi thêm ý kiến) để làm sáng tỏ thêm một vài yếu
tố ảnh hưởng đến BCTC và là đối tượng của một đoạn thuyết minh chi tiết hơn. Đoạn
nhận xét này khơng ảnh hương gì đến ý kiến của KTV. Ví dụ như đoạn nhấn mạnh về
một vấn đề trọng yếu liên quan đến tính liên tục cảu hoạt động kinh doanh hoặc một tình
huống khơng chắc chắn nghiêm trọng vì vấn đề đặt ra còn phụ thuộc vào một sự kiện
trong tương lai nằm ngoài khả năng khả năng kiểm sốt của đơn vị và KTV và có thể ảnh
hưởng đến BCTC (như một vụ kiện đang có sự điều tra, thẩm định; một khoản doanh thu

có thể khơng được chấp nhận). Đoạn nhận xét thường được đặt sau đoạn nêu ý kiếnvà
nói rõ rằng đoạn nhận xét thêm này không phủ nhận (không trái ngược) với ý kiến đã
nêu. KTV có thể đưa vào đoạn nhận xét thêm những vấn đề cần lưu ý thêm cho người
đọc về BCTC của đơn vị mà KTV cho là cần thiết nhưng khơng liên quan trực tiếp đến
BCTC (ví dụ những thơng tin khác đi kèm BCTC đã được kiểm toán) và không ảnh
hưởng đến ý kiến nhận xét cả KTV.

Ý kiến nhận xét và báo cáo kiểm toán dạng chấp nhận từng phần
KTV đưa ra ý kiến nhận xét dạng chấp nhận từng phần khi KTV cho rằng
không thể đưa ra ý kiến chấp nhận tồn phần do cịn có những yếu tố chưa xác
nhận được hoặc không đồng ý với đơn vị. Những yếu tố này là quan trọng nhưng
không liên quan tới một số lượng lớn các khoản mục tới mức có thể dẫn đến ý kiến
“từ chối” hoặc ý kiến “không chấp nhận”. Ý kiến chấp nhận từng phần được thể hiện
bởi thuật ngữ “ngoại trừ” và nêu rõ ảnh hưởng của những vấn đề ngoại trừ. Vấn đề
ngoại trừ có thể do phạm vi kiểm tốn bị giới hạn hay không đồng ý với đơn vị.
Page 19


download by :


Phạm vi kiểm toán bị giới hạn là khi KTV khơng thể thực hiện được các thủ
tục kiểm tốn mà họ cho là cần thiết. Nguyên nhân giới hạn phạm vi kiểm tốn có
thể là do bản thân đơn vị hoặc do hoàn cảnh khách quan. Nếu phạm vi kiểm tốn bị
giới hạn mà KTV khơng thể thực hiện được các thủ tục kiểm tốn cần thiết thì KTV
khơng thể thực hiện được các thủ tục kiểm toán cần thiết thì KTV khơng thể thực
hiện được các thủ tục kiểm tốn cần thiết thì KTV khơng có đủ bằng chứng để đưa
ra ý kiến chấp nhận toàn phần. Phạm vi kiểm tốn bị hạn chế ở mức độ khơng lớn
thì KTV đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần, có yếu tố ngoại trừ.


KTV có thể khơng đồng ý với đơn vị về việc lựa chọn và áp dụng chuẩn
mực, chế độ kế tốn hay tính thích hợp của các thông tin đưa ra trong thuyết
minh BCTC ở mức độ khơng lớn thì KTV cũng đưa ra ý kiến chấp nhận từng
phần, có yếu tố ngoại trừ.
Khi đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần có yếu tố ngoại trừ, KTV phải mơ
tả rõ ràng trong báo cáo kiểm tốn những lý do chủ yếu dẫn đến loại ý kiến này
do phạm vi bị giới hạn hay bởi bất đồng với đơn vị. Những lý do đó phải được
ghi trong một đoạn riêng, đặt trước đoạn nêu ý kiến và có thể được tham chiếu
đến một đoạn thuyết minh chi tiết hơn trong BCTC (nếu có).
Theo chuẩn mực kiểm tốn Việt Nam số 700 Báo cáo kiểm toán đưa ra ý
kiến chấp nhận từng phần cịn được trình bày trong trường hợp kiểm tốn viên
và cơng ty kiểm tốn cho rằng BCTC chỉ phản ánh trung thực và hợp lý trên
các khía cạnh trọng yếu.
Yếu tố tùy thuộc là yếu tố trọng yếu nhưng không chắc chắn, như các
vấn đề liên quan đến tính liên tục hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
hoặc một khoản doanh thu có thể khơng được công nhận làm ảnh hưởng đến
kết quả kinh doanh của cơng ty.
Yếu tố tùy thuộc do kiểm tốn viên nêu ra thường liên quan đến các sự
kiện có thể xảy ra trong tương lai, nằm ngoài khả năng kiểm soát của đơn vị và
kiểm toán viên. Việc đưa ra yếu tố tùy thuộc cho phép kiểm tốn viên hồn
thành trách nhiệm kiểm tốn của mình nhưng cũng làm cho người đọc BCTC
phải lưu ý và tiếp tục theo dõi khi sự kiện có thể xảy ra.
Ý kiến nhận xét và báo cáo kiểm tốn dạng từ chối (khơng thể đưa ra ý kiến)
KTV đưa ra ý kiến nhận xét và báo cáo kiểm toán dạng từ chối trong trường hợp
hậu quả của việc giới hạn phạm vi kiểm toán là quan trọng hoặc liên quan đến một số
lượng lớn các khoản mục tới mức mà KTV không thể thu thập đầy đủ và thích hợp các
bằng chứng kiểm tốn để có thể cho ý kiến về BCTC. Các phạm vi kiểm toán bị giới hạn
trong trường hợp này là không thể vượt qua được. KTV phải mô tả đầy đủ và rõ ràng
những giới hạn trong báo cáo kiểm tốn và chỉ ra rằng nếu khơng tồn tại
Page 20


download by :


giới hạn trong báo cáo kiểm toán và chỉ ra rằng nếu khơng tồn tại giới hạn này
thì rất có thể phải có những điều chỉnh trên BCTC. Đoạn mơ tả đó phải được
đặt trước đoạn nêu ý kiến của KTV.
Ý kiến nhận xét và báo cáo kiểm toán dạng không chấp nhận (ý kiến trái ngược)

KTV đưa ra ý kiến nhận xét và báo cáo kiểm tốn dạng khơng chấp nhận
trong trường hợp việc KTV không đồng ý với đơn vị là quan trọng hoặc liên
quan đến một số lượng các khoản mục khiến KTV không thể đưa ý kiến dạng
“ngoại trừ”. KTV có thể khơng đồng ý với các nhà quản lý đơn vị về:

- Việc lựa chọn và áp dụng chuẩn mực, chế độ kế toán.
- Sự thể hiện trung thực và hợp lý của các thông tin trong thuyết minh BCTC
- Việc tuân thủ các quy định, hoặc luật lệ hiện hành.
KTV phải mô tả đầy đủ và rõ ràng những điểm không đồng ý với đơn vị
và định lượng (nếu được) những ảnh hưởng tới BCTC của những sự kiện đó.
Đoạn mơ tả đó phải được đặt trước đoạn nêu ý kiến của KTV. Trong trường
hợp này KTV không được đưa ra ý kiến nhận xét dạng từ chối để né tránh việc
đưa ra ý kiến dạng không chấp nhận.
Trong trường hợp cần thiết, KTV có thể nêu dẫn chứng về những điểm
khơng đồng ý với đơn vị trong phần phụ lục đính kèm báo cáo kiểm toán.
Theo Nguyễn Viết Lợi và Đặng Ngọc Châu (2013) Giáo trình Lý thuyết
Kiểm tốn, NXB Tài chính, Hà Nội.
2.1.3 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và điều chỉnh lợi nhuận
Mục đích của kiểm tốn là làm tăng độ tin cậy của người sử dụng đối với báo cáo
tài chính, thơng qua việc kiểm tốn viên đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có
được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khn khổ về lập và trình bày báo

cáo tài chính được áp dụng hay khơng. Để kiểm tốn viên có cơ sở để đưa ra ý kiến kiểm
tốn, chuẩn mực kiểm toán quốc tế yêu cầu kiểm toán viên đạt được sự đảm bảo hợp lý
về việc liệu báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có cịn sai sót trọng yếu do
gian lận hoặc do nhầm lẫn hay không. Sự đảm bảo hợp lý là sự đảm bảo ở mức độ cao
và chỉ đạt được khi kiểm toán viên đã thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm tốn thích
hợp nhằm làm giảm rủi ro kiểm toán (là rủi ro do kiểm toán viên đưa ra ý kiến khơng phù
hợp khi báo cáo tài chính cịn chứa đựng sai sót trọng yếu) tới một mức độ thấp có thể
chấp nhận được. Tuy nhiên, sự đảm bảo hợp lý không phải là đảm bảo tuyệt đối, do ln
tồn tại những hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán làm cho hầu hết bằng chứng kiểm toán
mà kiểm toán viên dựa vào để đưa ra kết luận và ý kiến kiểm tốn đều mang tính thuyết
phục hơn là khẳng định.

Page 21

download by :


Mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên khi thực hiện một cuộc kiểm tốn báo
cáo tài chính đó là được sự đảm bảo hợp lý về việc liệu báo cáo tài chính, xét trên
phương diện tổng thể, có cịn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay
khơng, từ đó giúp kiểm tốn viên đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có
được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khn khổ về lập và trình bày
báo cáo tài chính được áp dụng hay khơng. (Chuẩn mực kiểm tốn quốc tế số 200)
Trong khi đó theo cơ sở lý thuyết bên trên về điều chỉnh lợi nhuận thì đây là
những hành vi có thể gây ra ảnh hưởng cho việc đảm bảo hợp lý cho các thông tin
trên BCTC tức là những thơng tin này được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù
hợp với khn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay khơng.
Khi đó ý kiến của kiểm tốn viên đối với những khoản điều chỉnh này có thể là chấp
nhận tồn phần, chấp nhận từng phần, không đưa ra ý kiến hay trái ngược còn phụ
thuộc vào nhiều yếu tố khác. Do vậy việc xem xét mối quan hệ này cần được đặt

trong mơ hình mà ý kiến kiểm tốn sẽ được tác động bởi nhiều giá trị khác nhau
không chỉ điều chỉnh lợi nhuận mà cịn những thơng tin khác có thể liên quan.
Trên thế giới mối liên quan giữa ý kiến kiểm toán viên và hành vi điều chỉnh lợi
nhuận luôn nhận được quan tâm qua các bài nghiên cứu. Ở những bài nghiên cứu của
Beckt và cộng sự, 1998; Francis, Maydew & Sparks 1999; Francis & Krishnan, 1999;
Chang, 2001; Vander Bauwhede và cộng sự, 2003 cho rằng khi công ty thực hiện điều
chỉnh lợi nhuận thì cơng ty có khuynh hướng nhận ý kiến kiểm tốn khơng chấp nhận
tồn phần. Những bài nghiên cứu này cũng đưa ra những mơ hình mà trong đó ý kiến
kiểm tốn được tác động bởi các trước hết là hành vi điều chỉnh lợi nhuận theo đó là các
tỷ số tài chính, tình hình hoạt động của cơng ty.

Nhóm nghiên cứu sử dụng các biến độc lập được phát hiện bởi các
nghiên cứu trước đó mà dường như chúng có tác động tới quyết định của ý
kiến kiểm toán. Những biến này miêu tả cả những nhân tố kiểm toán và cả
nhân tố về tình hình tài chính, ví dụ như khả năng sinh lợi, khả năng thanh
khoản, khả năng thanh toán nợ và rủi ro hoạt động cùng với yếu tố kiểm tốn
được xuất hiện trong mơ hình của chúng tơi.
Trong bài nghiên cứu Carcello & Neal (2000) cho kết quả rằng chi phí kiểm
tốn và loại cơng ty kiểm tốn (Big 5 hoặc non Big 5) không ảnh hưởng tới việc kiểm
tốn viên cung cấp ý kiến kiểm tốn khơng chấp nhận tồn phần. Thay vào đó, khả
năng nhận được ý kiến kiểm tốn có mối quan hệ với những nhân tố tài chính ví dụ
như tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản và các chỉ số thanh khoản. Mô hình trong
nghiên cứu này dựa trên 90% cơng ty trong số tổng quan sát.
Jeff P. Boone, Inder K. Khuranab, K.K. Raman (2010) đã tìm thấy bằng chứng cho
rằng khuynh hướng Big 4 có khả năng phát hành ý kiến tốn về vấn đề hoạt động liên tục
cao hơn so với non Big -4. Tuy nhiên mức độ sử dụng điều chỉnh lợi nhuận tại
Page 22

download by :



các công ty khách hàng này là giống nhau đối với cả hai. Trên phương diện đối
với nhà đầu tư, những nhà nghiên cứu này tìm ra rằng những khách hàng của
các cơng ty Big 4 thì sự kỳ vọng, phần bù rủi ro cổ phần của họ thấp hơn những
cơng ty được big 4 kiểm tốn.
Ngồi những nghiên cứu trên chúng tơi cịn dựa vào những bài nghiên cứu
sau để đưa ra những nhân tố này Choi, Doogar, & Ganguly,2004; Craswell, Stokes,
& Laughton, 2002; DeFond et al., 2002; DeFond, Wong, & Li, 2000; Ettredge et al., 2011;
Francis & Yu, 2009; Gaeremynck, Van Der Meulen, & Willekens, 2008; Geiger & Rama,
2006; Kothari, Leone, & Wasley, 2005; 1997; Reichelt & Wang, 2010.
Charalambos T. Spathis (2003) đã xem xét những thông tin tài chính và phi tài
chính có thể sử dụng để nâng cao khả năng lựa chọn báo cáo kiểm toán khơng
chấp nhận hay chấp nhận tồn phần. Họ đi vào kiểm tra những báo cáo kiểm toán,
ý kiến của kiểm toán viên và cả lưu ý trên báo cáo tài chính với những cơng ty nhận
được ý kiến kiểm tốn khơng chấp nhận tồn phần và cả những cơng ty nhận ý kiến
chấp nhận toàn phần. Quyết định đến báo cáo kiểm tốn có liên quan tới thơng tin
tài chính như suy giảm tài chính hay thơng tin phi tài chính như thơng tin kiện tụng
của cơng ty. Mơ hình này phát triển với độ chính xác 78%.
Và cụ thể những nhân tố có thể ảnh hưởng tới ý kiến kiểm tốn khơng chấp
nhận tồn phần mà nhóm nghiên cứu đã tổng hợp được gồm có khoản dồn tích có
thể điều chỉnh, loại cơng ty kiểm tốn cơng ty khách hàng, hệ số lợi nhuận trên tổng
tài sản, doanh thu trên tổng tài sản, tổng hàng tồn kho và khoản phải thu trên tổng
tài sản, tổng nợ trên vốn chủ sở hữu, liệu năm trước có tồn tại khoản lỗ hay nhận
được ý kiến kiểm tốn khơng chấp nhận tồn phần hay không và cuối cùng là số
ngày giữa ngày kết thúc năm tài chính và ngày cơng bố báo cáo tài chính kiểm tốn.

Nhóm nghiên cứu lấy vấn đề về trích lập dự phịng là vấn đề liên quan tới
việc phân chia ý kiến kiểm tốn trong mơ hình nghiên cứu. Chuẩn mực kế toán
quốc tế (IAS 37) định nghĩa một khoản dự phòng là một khoản nợ phải trả có
giá trị và thời gian khơng chắc chắn trong đó một khoản nợ phảI trả là một

nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ những sự kiện trong quá khứ,
viêc thanh toán các nghĩa vụ này được dự tính là sẽ làm giảm các nguồn lợi
kinh tế cử doanh nghiệp gắn liền với các lợi ích kinh tế. Dự phịng mang tính
tương đối vì nó được lập dựa trên các ước tính kế tốn. Cụ thể dự phịng phải
thu khó địi là dự phịng phần giả trị tổn thất của các khoản nợ phải thu, có thể
khơng địi được do đơn vị hoặc người nợ khơng co khả năng thanh tốn trong
năm kế hoạch. Mục đích của việc lập dự phịng phải thu khó địi là để đề phịng
nợ phải thu thất thu khi khách hàng khơng co khả năng trả nợ và xác định giả trị
thực của khoản tiền phải thu tồn trong thanh toán khi lập các báo cáo tài chính.

Page 23

download by :


×