ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
----------
NGUYỄN LÊ THẢO NGUN
Mơtíp giấc mơ trong tiểu thuyết Đêm thánh
nhân của Nguyễn Đình Chính
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong tất cả các hiện tượng tinh thần mà con người từng tiếp xúc và trải
nghiệm thì giấc mơ đóng một vai trị vơ cùng to lớn đối với cuộc sống của
chúng ta. Giấc mơ giúp chúng ta tìm ra được câu trả lời mà ở thế giới hiện
thực luôn là sự lặng im. Đồng thời nó cũng giúp ta hiểu được những điều
thầm kín trong bản thân của mỗi người. Vì thế việc đi vào khám phá và giải
thích giấc mơ chính là “con đường vương giả để đạt tới sự hiểu biết của lòng
người” (S.Freud).
Trong văn học, từ trước đến nay đã “có nhiều tác phẩm văn học nói về
giấc mơ, lấy giấc mơ làm thi liệu, văn liệu, từ đó thể hiện nhiều chủ đề sinh
động và có tính nghệ thuật cao” (Lê Giảng). Đặc biệt những năm sau 1986, sự
xuất hiện yếu tố giấc mơ đã trở nên dày đặc trong sáng tác của nhiều nhà văn
như Bảo Ninh, Võ Thị Hảo, Hồ Anh Thái,… Nhưng tiêu biểu hơn cả vẫn là
nhà văn Nguyễn Đình Chính với tiểu thuyết Đêm thánh nhân. Chất liệu giấc
mơ mà tác giả đã sử dụng trong cuốn tiểu thuyết này như là một phương thức
phản ánh hiện thực và bóc trần thế nội tâm của nhân vật.
Tiểu thuyết Đêm Thánh Nhân của nhà văn Nguyễn Đình Chính là một
tác phẩm xuất sắc bởi những nét mới lạ, độc đáo. Xuyên suốt cuốn tiểu thuyết
là một chuỗi những giấc mơ của nhân vật mà tiêu biểu nhất vẫn là bác sĩ Cần.
Các giấc mơ xuất hiện trong tác phẩm như một thủ pháp nghệ thuật đắc dụng,
tạo nên cá tính sáng tạo của nhà văn.
Việc đưa ra hướng tiếp cận “Mơtíp giấc mơ trong tiểu thuyết Đêm
thánh nhân của Nguyễn Đình Chính”, chúng tơi mong muốn khám phá được
tâm hồn sâu kín của con người thể hiện trong tác phẩm. Đồng thời, chúng tơi
cịn hi vọng được bổ sung thêm những kiến thức, hiểu biết vơ cùng hữu ích
cho cơng việc học tập, nghiên cứu sau này.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Đình Chính là một cái tên không mấy xa lạ đối với bạn đọc
Việt Nam, ông được biết đến bởi tài năng và phong cách rất độc đáo qua
những trang tiểu thuyết của mình. Với tiểu thuyết Đêm thánh nhân, dù mới ra
đời đã gặp nhiều sóng gió nhưng cuối cùng thì độc giả cũng đã thừa nhận và
khẳng định vị trí của nó trong dịng chảy của văn học nước nhà. Đặc biệt,
trong nghiên cứu văn chương nó đã trở thành một địa hạt giàu tiềm năng
nhưng cũng đầy ma lực thu hút một số nhà nghiên cứu quan tâm.
Trước hết đó là cơng trình nghiên cứu “Một thành tựu của văn chương
kì ảo” của Đặng Tiến, bài viết đã phân tích khá rõ một số đặc điểm nổi bật
của tiểu thuyết này, tác giả đã khẳng định Đêm thánh nhân là “một thành tựu
của văn chương”, nó “hứa hẹn một nguồn giải trí lành mạnh cho trí thức và
tâm linh trong một xã hội mà trật tự tinh thần chưa được ổn định, sau những
cơn địa chấn quân sự, chính trị, kinh tế”. Đêm thánh nhân “đã mở ra một
nguồn vui và một niềm tin: tin ở con người, ở cuộc sống, ở tình đồng loại và
khả năng hạnh phúc”. [20, tr.11]. Đây là một cơng trình nghiên cứu khá sâu
sắc về những giá trị mà tác phẩm đã mang lại.
Thái Thị Vàng Anh với cơng trình nghiên cứu mang tên “Thời gian
trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại” cũng đã đề cập đến tiểu
thuyết Đêm thánh nhân trên phương diện nghệ thuật lắp ghép, đồng hiện điện
ảnh. Ngồi ra, tác giả cịn đưa ra nhận xét “Trong Đêm thánh nhân của
Nguyễn Đình Chính, những giấc mơ tình dục của bác sĩ Cần bộc lộ mặc cảm
tàn phế” [19, tr.13].
Trong lời tựa của cuốn tiểu thuyết Đêm thánh nhân Nguyễn Đình
Chính đã giới thiệu “Tơi viết tập sách này hình như là theo thể loại du ký
chương hồi cũ rích, tất cả các nhân vật trong truyện đều là những người dân
bình thường có cuộc đời vất vả, éo le, đầy những lầm lỗi ăn năn. Họ ở những
bậc thang thấp nhất của xã hội, cả đời chỉ xoay xở quần quật để kiếm sống.
Họ rất đông, và họ chưa bao giờ được gọi là thánh cả. Họa chăng chỉ có thể
được gọi là thánh trong sự bông phèng hài hước mà thôi. Nhưng đối với tôi,
trong nhiều đêm nằm ngủ tôi lại mơ thấy họ được phong thánh.” [5, tr.6].
Bách Thị Hiền với cơng trình “Mơtíp giấc mơ trong tiểu thuyết Việt
Nam từ 1990 đến 2000”, Luận văn thạc sĩ, Đại học sư phạm Huế, 2011. Ở
cơng trình này, tác giả đã đi vào nghiên cứu một cách tỉ mỉ về mơtíp giấc mơ
trong một giai đoạn văn học cụ thể, và có đề cập đến tác giả Nguyễn Đình
Chính với tiểu thuyết Đêm thánh nhân nhưng chỉ trên cơ sở so sánh và đối
chiếu với các tác phẩm khác.
Từ những cơng trình nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi
nhận thấy chưa có cơng trình nào nghiên cứu về “mơtíp giấc mơ trong tiểu
thuyết Đêm thánh nhân của Nguyễn Đình Chính” một cách cụ thể và có hệ
thống. Vì vậy chúng tôi đi vào nghiên cứu đề tài này với hy vọng tìm ra được
những giá trị đích thực của giấc mơ mà tác giả muốn gửi gắm.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Mơtíp giấc mơ – những dạng thức biểu hiện và một số phương thức
thể hiện.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Tiểu thuyết Đêm thánh nhân của Nguyễn Đình Chính (2008), Nxb Văn
học, Hà Nội.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh và đối chiếu với các dòng
văn học khác, đồng đại cũng như lịch đại để thấy được sự gặp gỡ ảnh hưởng
và đặc biệt làm rõ những đóng góp mới của Nguyễn Đình Chính.
- Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê số lần giấc mơ trong tác
phẩm nghiên cứu trên bình diện: nhân vật, nội dung. Sau đó phân loại giấc mơ
thành những mơtip giấc mơ chính.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Đi sâu vào các giấc mơ của nhân
vật, sau đó đi phân tích, tổng hợp các dữ liệu để có được một cái nhìn tổng
qt nhất về môtip giấc mơ trong cuốn tiểu thuyết.
- Phương pháp hệ thống: Nghiên cứu tác phẩm dưới góc độ hệ thống từ
sự kết hợp các lý thuyết tự sự học, thi pháp học và văn học so sánh. Từ đó
khái qt các đặc điểm nổi bật của các mơtip giấc mơ trong tiểu thuyết “Đêm
thánh nhân” của Nguyễn Đình Chính.
5. Đóng góp của luận văn
Với đề tài này, chúng tơi mong muốn được góp một phần nhỏ cơng sức
của mình vào q trình nghiên cứu mơtíp giấc mơ trong văn học. Và chúng
tôi cũng hy vọng đề tài này sẽ gợi mở một hướng tiếp cận mới mẻ để tìm hiểu
một số nét riêng, nét độc đáo trong tiểu thuyết Đêm thánh nhân. Qua đó
khẳng định vị trí của tiểu thuyết này trong nền văn học Việt Nam giai đoạn
sau 1986.
6. Bố cục khóa luận
Ngồi phần Mở đầu và phần Kết luận thì nội dung chính của đề tài này
gồm ba chương:
Chương 1. Mơtíp giấc mơ và những biểu hiện của giấc mơ trong
tiểu thuyết Việt Nam sau 1986.
Chương 2. Mơtíp giấc mơ trong Đêm thánh nhân - những dạng thức
biểu hiện.
Chương 3. Mơtíp giấc mơ trong Đêm thánh nhân - một số phương
thức thể hiện
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
MƠTÍP GIẤC MƠ VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA GIẤC MƠ TRONG
TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1986
1.1. Giới thuyết khái niệm
1.1.1. Mơtíp – “một phương diện của thi pháp học”
*Mơtíp
Trong Từ điển thuật ngữ văn học thì mơtíp “tiếng Hán việt gọi là “mẫu
đề” (do người Trung Quốc phiên âm chữ motif trong tiếng Pháp), có thể
chuyển thành các từ “khn”, “dạng” hoặc “kiểu” trong tiếng Việt, nhằm chỉ
những thành tố, những bộ phận lớn hoặc nhỏ đã được hình thành ổn định bền
vững và được sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ thuật, nhất là
trong văn học nghệ thuật dân gian” [11, tr.168].
Còn đến với cuốn “150 thuật ngữ văn học” thì mơtip được định nghĩa
như sau: “Mơtíp gắn với thế giới tư tưởng và xúc cảm của tác giả một cách
trực tiếp hơn so với các thành tố khác của hình thức nghệ thuật, nhưng khác
với thành tố ấy, mơtíp khơng mang tính hình tượng độc lập, khơng mang tính
tồn vẹn thẩm mỹ, chỉ trong q trình phân tích cụ thể sự vận động của môtip
chỉ trong việc soi chiếu tính bền vững và có tính cá thể hàm nghĩa của nó, nó
mới có được ý nghĩa và giá trị nghệ thuật” [2, tr.209].
Từ hai khái niệm trên cho thấy: Mơtíp chính là những yếu tố, bộ phận
lớn nhỏ đã được hình thành ổn định bền vững. Được sử dụng nhiều lần trong
quá trình sáng tác văn học nghệ thuật. Và mơtíp khơng mang tính hình tượng
độc lập mà chỉ trong q trình phân tích sự “vận động” thì nó mới có ý nghĩa
và mới có giá trị nghệ thuật.
*Mơtíp – “một phương diện của thi pháp học”
Trong văn học, mơtíp có ý nghĩa tư tưởng nghệ thuật. Theo
A.N.Vênêxêlơpxki, “Mơtíp là những cơng thức trả lời cho các vấn đề mà giới
tự nhiên đặt cho con người từ những thuở nguyên sơ, khắp mọi nơi, hoặc là
những ấn tượng về hiện thực được đúc kết nổi bật, hoặc tỏ ra quan trọng và
được lặp lại” [15, tr.28]. Thống kê hệ thống mơtíp trong văn học phương
Đơng, người ta có thể kể ra hơn con số 23 mơtíp. Điều đáng nói là hệ thống
mơtíp và ý thức hệ có mối liên hệ hết sức chặt chẽ và khăng khít, tạo thành
tính quan niệm.
Mơtíp được sử dụng và nghiên cứu nhiều nhất trong truyện kể dân gian.
Ở đó ta bắt gặp hàng loạt các mơtíp như: “người đội lốt cóc”, “lốt quả thị”,
“lốt cọp” trong nhiều truyện cổ tích khác nhau, mơtíp “quả bầu”, “cục thịt bọc
trứng” sinh ra trong thần thoại của nhiều dân tộc, mơtíp “đôi giày và việc thử
giày” trong truyện Tấm Cám” [11, tr.197].
Mơtíp có thể là sản phẩm của trí tưởng tượng non trẻ, thơ ngây của loài
người ở trước thời kỳ của tư duy khoa học: những con vật biết nói, người chết
biến thành cây, cái thảm biết bay, hạt gạo to như cái đấu và khi chín thì tự đi
về nhà, nồi cơm ăn khơng bao giờ hết. Mơtíp cũng có thể là sản phẩm của sự
quan sát cuộc sống xã hội có thực nhưng nó phải là bất thường, quá đáng như
mẹ ghẻ giết con chồng, anh em ruột hại nhau, cha mẹ đẻ mang con bỏ rừng.
Có lúc mơtíp là sản phẩm của sự mơ ước dân gian: chàng trai nghèo lấy được
vợ tiên, công chúa, cô gái nghèo lấy được hồng tử. Hay mơtíp chính là sản
phẩm của trí thông minh, sự khôn ngoan bất ngờ, thú vị của trí tuệ dân gian
như trong các truyện ngụ ngơn, truyện cười, truyện đánh lừa. Đặc biệt là
mơtíp nói về chàng mồ cơi. Hình ảnh chàng trai mồ cơi được xuất hiện rất
nhiều trong các truyện cổ tích, đó là nhân vật mang nhiều phẩm chất cao đẹp
của những con người lao động. Thường thì họ rất thơng minh, tốt bụng. Cuộc
sống của họ gặp rất nhiều trắc trở nhưng cuối cũng vẫn vươn lên bằng chính
sức lực của mình và cùng với một ít sự hỗ trợ của thế lực siêu nhiên thì họ đã
vượt qua tất cả. Từ đó họ có một cuộc sống hạnh phúc bên vợ đẹp con ngoan
cùng với rất nhiều của cải vật chất và họ đã sống cuộc đời rất lương thiện. Với
việc sử dụng mơtíp này, các tác giả dân gian mong muốn một sự công bằng
trong xã hội “ở hiền gặp lành”. Sử dụng rất nhiều mơtíp giống nhau, tác giả
đã nói lên được những ước mơ, khát vọng chân chính của người dân lao động.
Trong các truyện thần thoại hay cổ tích, ta thường bắt gặp mơtíp người
gặp Tiên. Các câu chuyện này thường thì khi nhân vật trong truyện gặp nạn,
cần sự giúp đỡ và lúc đó các ơng Bụt bà Tiên sẽ xuất hiện. Họ hiện ra giúp
nhân vật hoàn thành mơ ước và cuối tác phẩm bao giờ cũng là cuộc sống hạnh
phúc sẽ đến với người lương thiện.
Trong văn học mơtíp là cơng cụ rất hữu ích và cần thiết đối với việc
nghiên cứu và lý giải các tác phẩm nghệ thuật. Vì vậy, mơtíp xuất hiện trong
văn học như một thủ pháp nghệ thuật thể hiện chủ đề cũng như nội dung tư
tưởng của tác phẩm. Và ở mỗi giai đoạn trong văn học các tác giả đã khéo léo
sử dụng thủ pháp này với dụng ý nghệ thuật khác nhau để tránh sự nhàm chán
mà vẫn giữ được cái hay, cái độc đáo của nó. Đặc biệt ở thời kì văn học sau
này, mơtíp được sử dụng khá rộng rãi và phổ biến. “Mỗi một tác giả lựa chọn
cho mình những mơtíp khác nhau chẳng hạn: mơtíp con đường, hành trình
trong sáng tác của Gogol, mơtíp sa mạc trong sáng tác của Lecmotov, ở
Haruki Murakami ta thường thấy mơtíp kiểu nhân vật có yếu tố tiên tri” [12,
tr.33]. Hay trong các sáng tác của Nam Cao, ta thường thấy sự xuất hiện của
các nhân vật tiểu tư sản như trong Sống mịn, Đời thừa… Mặc dù họ có tài và
muốn cống hiến một cái gì đó cho văn chương nhưng vì ghánh nặng của “cơm
áo gạo tiền” nên họ đành phải chấp nhận những tấn bi kịch tinh thần. Qua
cuộc sống bần cùng của họ, Nam Cao muôn phản ánh cuộc sống quá cơ cực
đã vùi lấp đi những khát khao sáng tạo của những người nghệ sĩ tài năng.
Giấc mơ đã xuất hiện khá nhiều trong tác phẩm văn học, từ trong văn học
dân gian chúng ta đã thấy ở trong truyện “Sự tích bánh chưng bày dày”, hay
trong truyện “Cây bút thần”,…Ở giai đoạn này giấc mơ xuất hiện nhằm mang
chức năng báo mộng. Còn đến văn học hiện đại, đặc biệt giai đoạn sau 1986
thì yếu tố giấc mơ đã xuất hiện trong rất nhiều tác phẩm và nó đã trở thành
một mơtíp.
Khi đi vào trong thế giới của mơtíp giấc mơ, nhân vật đã thể hiện một
cuộc chu du trong tâm tưởng để đến một miền đất đầy bí ẩn, mới lạ nhưng
cũng hết sức sinh động bởi đó là một thế giới nơi cái thực được hư hóa, cái
hư được hóa thực. Với việc sử dụng mơtíp giấc mơ vào trong văn học, các
nhà văn muốn đi vào khám phá đời sống tâm linh của con người cũng như
phản ánh cuộc sống thực tại.
1.1.2. Giấc mơ – dưới góc nhìn của Phân tâm học
*Giấc mơ: Giấc mơ là một khái niệm khá trừu tượng nên đã dẫn đến sự
ra đời nhiều ý kiến khác nhau.
Trong cuốn Dẫn giải ý tưởng văn chương của Henri Benac “Giấc mơ là
hoạt động tâm thần, không phụ thuộc vào ý chí, diễn ra trong giấc ngủ. Khi
mơ diễn ra trong trạng thái thức, đó là một hư cấu của trí tưởng tượng trong
khi tìm cách thốt khỏi thực tại: khi ấy người ta nói về trạng thái mơ màng,
mơ mộng” [13, tr.715].
Cịn trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới: giấc mơ được hiểu là
chiêm mộng “là biểu hiện của cuộc phiêu lưu cá thể, được cất sâu trong tâm
khảm đến nỗi nó vượt ra khỏi vịng cương tỏa của người sáng tạo ra nó; chiêm
mộng hiện ra với chúng ta như là biểu hiện bí mật và trơ trẽn nhất của chính
chúng ta”. Và “Chiêm mộng là một hiện tượng tâm lý xảy ra trong lúc ngủ và
được cấu thành bởi một loạt hình ảnh mà diễn biến của chúng giống như một
vở kịch ít hay nhiều liên tục” [6, tr.164].
*Giấc mơ - dưới góc nhìn của Phân tâm học
Học thuyết Phân tâm học được xây dựng trên khái niệm vô thức. Freud
quan niệm tất cả các hiện tượng tâm thần của con người về bản chất là hiện
tượng vô thức. Vô thức là phạm trù chủ yếu trong đời sống tâm lí của con
người. Mọi hoạt động trong tâm trí đều bắt nguồn trong vơ thức và tùy theo
tương quan của những lực lượng thôi thúc và ngăn cản được biểu hiện ra theo
những quy luật khác hẳn với ý thức. Và vơ thức có thể được xem như một
vùng hoạt động của não bộ, có nội dung, cơ chế và năng lượng đặc biệt. Giữa
vô thức và ý thức có một rào cản mà S.Freud gọi là “kiểm duyệt”. Sự kiểm
duyệt này nằm ở tầng tiền ý thức. Có những biểu tượng được bước tới vùng ý
thức một cách khơng khó khăn, nhưng có những biểu tượng trong vùng vô
thức bị dồn nén mạnh mẽ, là căn nguyên hình thành những giấc mơ.
S.Freud cho rằng phần chính tâm lí của con người cũng được ẩn giấu
trong cõi vơ thức. Bên dưới lớp vỏ ngồi, vì những lí do nào đó mà một cá
nhân đã khơng những giấu kín người khác mà cịn giấu ngay cả bản thân mình
nữa. Cõi vô thức là tối thượng cho mọi hoạt động ý thức chỉ có một vị trí phụ
thuộc. Nếu hiểu được cái thầm kín bí mật sâu xa của cõi vơ thức thì chúng ta
hiểu được bản chất nội tâm của con người. Các nhà phân tâm học xem giấc
mơ như cửa ngõ chính dẫn vào thế giới vơ thức. Giấc mơ chính là mắt xích
trọng tâm của cõi vô thức, là trung gian giữa cuộc sống của những tình cảm
được che giấu và cuộc sống được đem đặt dưới sự chi phối của lí trí chúng ta.
Nhờ đó chúng ta có thể học được nhiều điều mà khi thức chúng ta từ chối
không muốn biết. Không một giấc mơ nào hồn tồn phi lí, mỗi giấc mơ với
tính cách là một hành vi tâm linh trọn vẹn, có ý nghĩa chính xác.
Vì vậy theo S. Freud, việc lý giải giấc mơ là con đường lớn của sự hiểu
biết về cái vô thức, là cơ sở vững chắc nhất cho những nghiên cứu của chúng
ta, và hơn bất cứ cách nào khác, chính việc nghiên cứu các giấc mơ sẽ làm
cho chúng ta thấy rõ giá trị của phân tâm học và đi vào thực hành nó. Như
vậy, giấc mơ là một phần vô cùng quan trọng của phân tâm học. Giấc mơ có
bốn nguồn gốc đặc thù như sau:
Thứ nhất, một sự kiện mới xảy ra có ý nghĩa quan trọng trong đời sống
xúc cảm của người nằm mơ được biểu hiện trực tiếp trong giấc mơ. Điều đó
thường xảy ra một cách tất nhiên và thật ra không cần phải lý giải, như trong
những giấc mơ đơn giản về sự thực hiện mong muốn của trẻ con.
Thứ hai, nhiều ý tưởng mới, quan trọng được giấc mơ trộn lẫn thành một
tập hợp đơn giản. Ở đây, sự phân tích là cần thiết, nhưng chỉ nhằm để giải
quyết một mặt của công việc mộng được Freud gọi là “cô đặc”.
Thứ ba, một hay nhiều sự kiện mới xảy ra và quan trọng trong đời sống
xúc cảm của người nằm mơ có thể được biểu hiện trong giấc mơ, bởi một ký
ức cũng mới mẻ nhưng vơ tình. Ở đây, cơ chế đã bao hàm cái được Freud gọi
là “di chuyển”, một sự phân tích phức tạp hơn, bằng liên tưởng tự do, là cần
thiết để thấy được ký ức ấy.
Và cuối cùng là một ký ức hay một ý tưởng, tuy quan trọng nhưng đã qua
từ lâu và đã bị chôn vùi, được biểu hiện trong giấc mơ bằng một ấn tượng mới
mẻ và tương đối vơ tình. Đó là kiểu di chuyển phức tạp nhất, nó thường hiện
ra tương đối nhiều hơn trong những giấc mơ của những người đã biểu hiện
những triệu chứng rối nhiễu xúc cảm khi thức. Giấc mơ còn giữ một chức
năng khá quan trọng đó là thực hiện ước vọng, đồng thời là người canh giữ
giấc ngủ. Như chúng ta đã biết, giấc mơ và giấc ngủ có mối quan hệ mật thiết
với nhau, chính giấc mơ đã “canh giữ” chứ khơng phải là quấy nhiễu hay phá
rối giấc ngủ.
Giấc mơ sẽ là hành vi giải tỏa nếu những hành vi sai lạc thể hiện cơ chế
hoạt động và khẳng định sự tồn tại của vô thức. Nếu quan sát thật kĩ thì người
ta sẽ nhận thấy ở đằng sau tất cả những dấu vết của kỉ niệm mà giấc mơ khơi
lại, có một ước muốn bị giấu kín, có khi ước muốn này xa lại với người nằm
mơ khi họ tỉnh. Và “những ước muốn không được kiểm duyệt chấp nhận trá
hình bằng mọi cách. Do sự trá hình, những ước muốn đeo một thứ mặt nạ cho
phép chúng có thể vượt qua mọi rào cản của sự kiểm duyệt. Những ước muốn
bị kiểm duyệt là những ước muốn mà người nằm mơ, với sự phê phán của
mình trong tình trạng tỉnh sẽ gạt bỏ chúng sổ sàng, đáng chê trách về phương
diện đạo đức, thẩm mỹ và xã hội” [12, tr.13]. Vì vậy, sự kiểm duyệt trong
chúng ta là cấp xét xử, phê phán cấm đốn. Cịn đối với S.Freud thì khác, ơng
cho rằng người nằm mơ có một sự ích kỉ rất lớn, có thể nói là “khơng giới hạn
và khơng đắn đo”. Ơng cũng nhận thấy trong giấc mơ có sự giải phóng của
bản năng nhục dục.
Để xây dựng giấc mơ thì vơ thức phải thực hiện các q trình như sau:
“Cơ đặc hóa (condensation), dời chuyển (deplacement) và hình tượng hóa
(figuration). Cơ đặc hóa và dời chuyển được gọi là những quá trình cấp một
(processus primaires)” [9, tr.46].
Cơ đặc hóa: “Giấc mơ thường ngắn ngủi, nghèo nàn, vắn tắt, so với sự
rộng lớn và phong phú của những ý nghĩ về giấc mơ”. Câu này thể hiện rõ
thực chất của sự cơ đặc. Điều đó có nghĩa là trong giấc mơ biểu hiện, một ý
tưởng có thể biểu hiện rất nhiều liên tưởng tự do, và đến lượt chúng, những
liên tưởng tự do này sẽ dẫn tới những ý tưởng hoàn toàn khác, dù rằng chúng
thường chồng lên nhau trong nội dung tiềm ẩn.
Dời chuyển: Đây là một q trình mà nhờ đó gánh tải xúc cảm được tách
khỏi đối tượng của nó hay một nội dung hiện thực và được gắn với một đối
tượng hay một nội dung khác hẳn. Chính sự di chuyển cho phép một giấc mơ
có nội dung biểu hiện rõ ràng là nhàm chán nhưng lại kèm theo những tình
cảm lo hãi hoặc kích thích mãnh liệt, trong khi ngược lại, một giấc mơ mang
những chuyện rõ ràng thật khủng khiếp hoặc quan trọng lại có thể được nhớ
tới mà khơng hề có một xúc cảm có ý thức nào. Nhờ cách thức dời chuyển, sự
ước muốn tự cho mình những cái tương đương có tính biểu tượng, nó tự
chuyển đổi trong những hình tượng, phát biểu bằng những lời ám chỉ, ln
ln để thốt khỏi sự canh chừng của sự kiểm duyệt.
Hình tượng hóa: là cách thức quan trọng nhất trong việc xây dựng giấc
mơ. Hình tượng hóa là biến đổi những ý tưởng hình tượng cho thị giác. Và
điều gây ấn tượng mạnh nhất mà Freud dùng để nói tới những hình ảnh thị
giác trong một giấc mơ, muốn kịch hóa một mong muốn tiềm ẩn để nó tránh
bị dồn nén. Ví dụ về một người từng mơ thấy người anh mình cứ đào đi đào
lại cả khu vườn của mình, hết lần này đến lần khác. Liên tưởng đầu tiên của
người nằm mơ nói tới những cái hào sâu dùng để trồng rau; liên tưởng thứ hai
thì mang lại ý nghĩa của giấc mơ. Người anh cứ xén bớt (xén bớt những chi
tiêu của anh ta, hạn chế chúng lại). Nhưng thật ra, người anh ấy chẳng làm gì
cả. Nội dung tiềm ẩn của giấc mơ là vì người nằm mơ muốn người anh mình
hạn chế chi tiêu đi, vì người nằm mơ lo lắng về những trách nhiệm có thể đổ
lên đầu mình nếu một tai họa tài chính ập xuống người anh. Đó là một ý nghĩa
mà chỉ có liên tưởng tự do mới có thể thấy rõ, và liên tưởng ấy cũng chỉ cá
nhân người nằm mơ mới có được. Tượng trưng hóa là một loại bóp méo khác,
nhưng gắn liền với nội dung tiềm ẩn theo một cách giống thế.
“Phân tâm học tiết lộ cho chúng ta nhiều điều về con người chúng ta, nó
làm sáng tỏ những sự kiện mà chúng ta có thể quan sát trong đời sống hàng
ngày như những giấc mơ. Và giấc mơ là cửa sổ cho kí ức vơ thức, là vương
quốc mà ở đó vơ thức tìm cách thỏa mãn những ham muốn của mình” [12,
tr.15]. Vì vậy, giấc mơ mang trong mình một ý nghĩa vơ cùng quan trọng, một
vai trị khơng thể thiếu trong hoạt động tinh thần của mỗi con người. Đi sâu
vào tìm hiểu giấc mơ là con đường gần nhất để chúng ta hiểu thế giới nội tâm
của con người một cách chính xác và sâu sắc.
1.2. Những biểu hiện của giấc mơ trong văn học Việt Nam sau 1986
1.2.1. Giấc mơ - những nỗi niềm ám ảnh và những ước nguyện
S. Freud quan niệm tác phẩm văn học trước hết là một giấc mơ. Nó phản
ánh những ham muốn vô thức, những mặc cảm, đặc biệt là mặc cảm Oedipe.
Khi đi sâu vào nghiên cứu tác phẩm buộc ta phải nắm bắt được con người ở
cội nguồn tác phẩm. Sự tác động giữa con người và tác phẩm được chi phối
trong những động cơ vơ thức. Đó cũng là cách thức mà tâm lí có thể hiểu
được con người, khám phá những nỗi niềm, những khát vọng hay những ước
nguyện thầm kín, những xúc cảm dằn vặt bên trong con người.
S.Freud đã từng nói: “Mơ là hành vi ta nói ra tâm nguyện”. Khi con
người cảm thấy bất lực trước cuộc đời, những nỗi niềm chưa được giãi bày
trong cuộc sống thường được phản ánh vào trong giấc mơ. Những thứ mà con
người cố chôn vùi vào trong quá khứ bị đẩy vào vịng vơ thức bất chợt lên
tiếng trong mơ. Viết về những nỗi niềm ám ảnh của các nhân vật thực chất
các nhà văn muốn diễn tả những sự kiện, những nỗi đau hằn dấu trong tâm
khản con người mà thời gian khơng thể nào xóa nhịa được. Đó là những mất
mát quá lớn trong chiến tranh, những hiện thực nghèo khổ khơng thể thốt ra
được và cũng có thể là những tội lỗi do mình gây ra.
Viết về nỗi ám ảnh sau chiến tranh ta không thể bỏ qua hai nhà văn xuất
sắc trong giai đoạn sau 1986 đó là Bảo Ninh và Võ Thị Hảo. Họ đã rất thành
công khi xây dựng những nỗi ám ảnh trong chiến tranh qua các tác phẩm của
mình. Tiêu biểu như trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” (Bảo Ninh) đã
có đến 11 lần tác giả viết về nỗi ám ảnh cứ quanh quẩn trong Kiên qua những
giấc mơ liên tiếp. Hay trong “Rửa tay gác kiếm”, “Lá thư Quỷ Sửu” Bảo Ninh
đã viết về những người lính vừa bước ra từ chiến tranh đã phải bước vào một
cuộc chiến khác - đó là cuộc chiến trong kí ức thương đau, bạo diệt, dữ dội.
“Trong giấc ngủ, Khương mơ thấy lại những cảm giác đau của những lần bị
thương trước đây. Hằng đêm trong giấc ngủ, Khương như lần hồi duyệt lại
các vết thương, lần lượt, từ đầu, từng vết thương một, từng nỗi đau” [10,
tr.254]. Đó là những nỗi niềm ám ảnh khơn ngi vị xé tâm can, là những vết
thương khơng lành của người chiến sĩ trở về sau chiến tranh.
Số phận của những cô gái thanh niên xung phong sau chiến tranh lại
càng bi đát hơn nữa. Võ Thị Hảo đã tái hiện rõ nét những giấc mơ đầy đau
thương mất mát, đầy nỗi niềm ám ảnh và cả những nỗi lo sợ của các cô gái:
“giấc mơ tuổi thanh xn cơ chỉ thấy tóc rụng như trút, rụng đầy khuôn ngực
đã bị đâm nát của chị Thắm, và từ trong đám tóc rối ấy lẩy ra hai giọt nước
mắt trong veo và rắn căng như thủy tinh đập mãi khơng vỡ” [10, tr.255]
(Người sót lại của Rừng Cười). Và những nỗi niềm ám ảnh đó khơng chỉ
dừng lại ở những con người bước ra từ chiến tranh mà còn là những con
người mặc cảm về thân phận của mình, tự thấy mình thấp kém… cứ âm ỉ
cháy và xé nát lòng người được thể hiện bằng giấc mơ.
Trong Phiên chợ Giát, Nguyễn Minh Châu đã xây dựng rất thành cơng
hình ảnh người nơng dân nghèo khổ để rồi số phận nghèo khổ ấy cứ ám ảnh
và đeo bám họ vào tận trong giấc mơ: “Lão lại nằm mơ, nhưng khác với lần
trước, là chính lão bị đánh bằng búa tạ, chính lão là con bị. Lão tự nhìn mình
trong một cái thân hình nửa bị nửa người, máu me đầm đìa mà lão lại bình
thản như tuân thủ một điều đương nhiên” [1, tr.36]. Lão Khúng đã mơ một
giấc mơ thật khủng khiếp, giấc mơ ấy cũng chính là bộ mặt trần trụi của hiện
thực cuộc sống nghèo khổ, cuộc sống của họ không khác gì cuộc sống của
trâu ngựa, súc vật. Nhân vật Chương trong tác phẩm “Con gái thủy thần” của
Nguyễn Huy Thiệp cũng vậy: “có lần mơ thấy đi cày, cày hết chân ruộng Mả
Ngụy thì đến thị xã, cứ cày mãi, dân thị xã dắt nhau chạy. Có lần mơ thấy đào
đá ong, xắn phải chân cái, một lúc sau ngón chân lại tự mọc ra, lại xắn phải
lần nữa, cứ thế phải chục lần, lần nào cũng đau lắm. Lại có lần mơ thấy lột
giang, dao cứa đứt cả năm ngón tay, khi ăn cơm phải vục cả mặt xuống như
chó” [10, tr.264]. Cái nghèo truyền kiếp đã ám ảnh và hằn sâu vào trong tâm
trí Chương, nó đã phản ánh vào trong giấc mơ hằng đêm và làm cho anh cảm
thấy ngột ngạt, sợ hãi.
“Văn học là nhân học”, văn học ln là tiếng nói sâu thẳm vang vọng giá
trị nhân văn của người nghệ sĩ. Nó ln thể hiện nguyện vọng, ước mơ của
con người. Những điều mà cuộc sống thực tại khơng làm được thì các nhà văn
đã phán ánh và gửi gắm vào trong tác phẩm của mình. Giấc mơ là phương
thức khá phổ biến và hiệu quả nhất để các nhà văn thực hiện những ước
nguyện, những khát vọng của con người. Dù biết các giấc mơ đó khó có thể
trở thành hiện thực nhưng đơn giản chỉ là nơi gửi gắm những ước nguyện mà
họ ln mong chờ và khó tìm trong thực tế. Trong Tình yêu mây trắng của Võ
Thị Hảo, nhân vật “tôi” đã mơ một giấc mơ là lau khô nước mắt cho Dì bé
bỏng, cuộc sống khơng cịn đau khổ mà tràn ngập tiếng cười “Tơi mơ thấy tơi
vẫn cịn được chọn một trong sáu màu mây tím mà chọn đám mây đen để hóa
thân. Mây đen xấu xí nhưng chỉ mây đen mới đủ sức cõng những đám mây
khác, vì mây đen to khỏe. Và tơi cõng làn mây trắng bù xù Dì bé bỏng của
tơi…” [10, tr.265]. Giấc mơ cũng đã biến những thế giới mộng tưởng thành
Thiên đường của nhiều nhân vật. Ở đó các nhân vật thỏa sức mơ mộng những
điều mà hiện thực cuộc sống rất khó kiếm tìm (Những người thợ xẻ - Nguyễn
Huy Thiệp) “Trong giấc mơ, tôi thấy năm anh em thợ xẻ chúng tôi đi trên một
cái cầu vồng bảy sắc. Những thiên sứ chạy ra đón chúng tơi, áo xanh áo đỏ
tung bay phấp phới. Một thiên sứ có khuôn mặt rất giống Quy. Những người
thân thiết của tôi đứng hai bên đường… Chúng tôi cứ đi trên cái cầu vồng bảy
sắc. Bạt ngàn hoa lá ban trắng ven đường, màu trắng đến là khắc khoải, nao
lòng. Này hoa ban, đến một nghìn năm sau thì mây trắng có như thế không?
Chúng tôi cứ đi mãi… Tôi biết chắc chắn ở trước mặt tôi ấy là cổng trời, là
cổng Thiên đường.” [10, tr.265].
Trong văn học hiện đại, đặc biệt là văn học những năm 1986 trở về sau
thì giấc mơ càng là nơi thể hiện những khát khao, ước nguyện của con người.
Nhưng thực hiện được ước nguyện đó ra sao lại tùy thuộc vào từng người và
khơng có sự trợ giúp của yếu tố thần kì như trong các giấc mơ của truyện cổ
tích. Ơng Xn Tư – một họa sĩ sống suốt cuộc đời để khát khao về một kiệt
tác nghệ thuật “Đã vài chục năm nay ơng sống bằng những cơn mơ. Ơng mơ
thấy mình vẽ nên một tấm vóc một bức tranh sơn mài chưa từng có để cho
người xem và chính ơng phải nghiêng mình trước cảnh huy hồng lộng lẫy…”
[1, tr.40]. Cịn lão Khúng trong Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu thì có
giấc mơ thay đổi số phận, khát khao thốt khỏi cuộc sống khổ cực, kiếp sống
trâu ngựa “Đất dưới chân lão Khúng bây giờ là một thứ đất đầy màu mỡ,
không khô khốc đỏ như sơn mài, mới được cày vỡ bằng máy, từng làn đất bột
hồng hồng bay là là theo những cánh rừng tốt tươi, lá cây cứ xanh biếc như
vẽ. Đêm tối sập xuống, nhẹ như bấc và đầy huyền ảo, con bị hóa thân của lão
Khúng bỗng chốc trở nên say sưa, ngây ngất trước hương vị của đất cày… Nó
chính là lồi thú hoang, hay đúng hơn, một con vật gia súc đã trở nên hoang
dã, đã tìm trở về được cái cuộc sống tự do muôn thủa của nó” [1, tr.38]. Hay
trong tiểu thuyết Đêm thánh nhân của nhà văn Nguyễn Đình Chính cũng có
những ước nguyện dù đó chỉ là ước nguyện nhỏ nhoi của cơ gái Thương Ơi
dành cho mọi người, cô “mơ thấy ông bác sĩ Trương Vĩnh Cần hớn hở cùng
cô Hà váy đỏ bà mẹ già điên dại, ba đứa trẻ con nhếch nhác châu chấu mà
cười ré lên, nắm tay nhau chơi trị đèn cù, đèn kéo qn, chạy tít mù quanh
nồi cơm to tướng ngào ngạt mùi gạo tám thơm, mùi hương quế ngây ngất cay
nồng” [5, tr.727]. Qua giấc mơ đó, cuộc sống hiện tại của con người hiện lên
thật nghèo khổ và đáng thương. Họ cũng chính là những số phận thấp hèn
trong xã hội. Dù đã tìm cách quẫy đạp để thốt qua khỏi cái vịng luẩn quẩn
của cái nghèo đói nhưng họ vẫn khơng sao thốt ra được, để rồi ước mơ đó
chỉ được thực hiện trong những giấc mơ của người khác mà thôi.
Như vậy ta thấy, chỉ có trong giấc mơ con người ta mới thỏa sức khát
khao, mơ mộng. Và cũng chỉ có trong mơ cuộc sống mới có phần tươi sáng,
tốt đẹp hơn.
1.2.2. Giấc mơ – sự khám phá chiều kích thứ ba của con người
Ngoài việc giãi bày những nỗi niềm ám ảnh, những ước nguyện của
con người thì giấc mơ cịn có vai trị vơ cùng to lớn trong việc khám phá và
giãi mã chiều kích thứ ba của con người. Như chúng ta đã biết “Con người là
một thực thể đa chiều. Ở đây chúng tơi chỉ nói đến ba kích thước cơ bản. Đó
là bản chất sinh học, bản chất xã hội và bản chất tâm linh. Ba bản chất này tạo
thành chiều sâu, chiều rộng và chiều cao của con người” [9, tr.7]. Bản chất
sinh học và bản chất xã hội từ lâu đã được quan tâm rất nhiều, đến nay chưa
có một kết luận chắc chắn nào nhưng dù sao chúng ta cũng đã hiểu khá rõ bản
chất của nó. Cịn với bản chất tâm linh thì quả thật cịn q trừu tượng, khơng
nói là xa lạ đối với chúng ta. Bởi nó chưa được các nhà khoa học xem xét và
quan tâm một cách thỏa đáng. Nhiều lúc bản chất tâm linh cịn được xem là
đối tượng của huyền mơn chứ không phải là đối tượng của khoa học.
Người xưa quan niệm giữa tâm linh và tín ngưỡng, tơn giáo có sự đồng
nhất. Vì thế khi nói đến tâm linh là người ta nghĩ ngay đến tín ngưỡng, tơn
giáo. Nhưng sự thật lại khơng phải vậy, giữa chúng có những điểm gặp gỡ
nhưng cũng có những điểm riêng biệt, chỉ có thể thống nhất với nhau mà
khơng thể đồng nhất được. “Khái niệm tâm linh vừa hẹp hơn lại vừa rộng hơn
khái niệm tín ngưỡng tơn giáo. Hẹp hơn vì ở tín ngưỡng tơn giáo ngồi phần
tâm linh ra cịn có phần mê tín dị đoan và sự cuồng tín tơn giáo. Bởi đó vừa là
một lĩnh vực của đời sống tinh thần vừa là một thiết chế xã hội thì khơng
tránh khỏi sự thế tục hóa, sự tha hóa do việc lợi dụng của giai cấp thống trị.
Rộng hơn vì tâm linh gắn liền với những khái niệm cái thiêng liêng, cái cao
cả, cái siêu việt…khơng chỉ có ở đời sống tơn giáo, mà cịn có cả trong đời
sống tinh thần, đời sống xã hội. Khơng chỉ có Thượng đế, có Chúa trời, Thần,
Phật mới thiêng liêng, mà cả Tổ quốc, lịng u thương con người, sự thật,
cơng lý cũng thiêng liêng khơng kém” [9, tr.8]. Đó cũng chính là yếu tố để
con người đạt đến chiều cao nhân bản và để phân biệt con người với những
động vật khác.
Không được quan tâm nghiên cứu, không được nhận biết và bị hiểu
nhầm, ngộ nhận nhưng “tâm linh vẫn tồn tại và cùng với con người như là
một chiều kích, thậm chí là chiều kích quan trọng nhất của con người. Đó là
một giá trị cơ bản, bao trùm và vĩnh cửu của đời sống con người” [9, tr.8]. Xã
hội càng phát triển, đời sống vật chất của con người càng được nâng cao bao
nhiêu thì vấn để tâm linh lại càng là tiếng gọi thiết thực. Khi con người chạy
theo để làm giàu về vật chất thì họ cũng vơ tình làm nghèo đi thế giới nội tâm
của mình, và gần như đánh mất chính mình. Khai thác hiện thực đời sống tâm
linh khơng ngồi mục đích là chạm đến những ẩn khuất sâu thẳm trong thế
giới huyền hoặc và vi diệu của con người. Ngạn ngữ Trung Quốc có câu: “Cái
gì chất đống trong đáy con tim thì tự hắt hơi ra thành giấc mộng”. Đúng vậy,
“Giấc mơ chính là sản phẩm của tâm linh, là sự dồn nén của tình cảm khát
vọng, là sự thức dậy của vô thức con người” [12, tr.26]. Giấc mơ không chỉ là
biểu hiện ngụy trang của những khát vọng và thèm muốn mà còn là sự dồn
nén của những ước vọng. Phải chăng những gì thể hiện qua giấc mơ chính là
hiện thực, là bộ mặt được hóa trang đáp từ nguyện vọng vơ thức? Những hình
thức bị dồn nén ấy nếu khơng dùng hình thức để đạt đến sự thỏa mãn, nó sẽ bị
ý thức kiểm tra.
Trong văn học thời xa xưa thì giấc mơ mang chức năng điềm báo,
mang màu sắc tôn giáo, bộc lộ niềm tin, tín ngưỡng hay những lời gửi gắm
khát vọng cơng bằng hạnh phúc của người lao động. Và ở giai đoạn này giấc
mơ chưa phải là đời sống tinh thần của con người trong thế giới hiện thực.
Còn trong trào lưu Chủ nghĩa Hiện Đại, Hậu Hiện Đại lại mang một ý nghĩa
hoàn toàn khác. Giấc mơ giờ đây đã trở thành đời sống tâm linh của con
người và cất lên tiếng nói thiết thực của nhân loại, của lịch sử, gửi gắm những
thơng điệp của lồi người. Ionesco – kịch gia lỗi lạc đã từng tâm sự: “Đối với
tôi, sân khấu là sự phản chiếu lên sân diễn cái thế giới nội tâm. Tơi dành cho
mình quyền được lấy tư liệu sân khấu từ những giấc mơ, từ những nỗi bất an,
những ước vọng u tối, từ những mâu thuẫn nội tâm của tơi. Vì tơi khơng phải
là người duy nhất trên thế gian…nên những giấc mơ của tôi cùng những ước
vọng, những nỗi bất an và những nỗi ám ảnh của tơi […] những xung đột
thầm kín này làm nguồn gốc của mọi sự kiện của chúng ta và của thực tại lịch
sử” [10, tr.249]. Quan niệm của Ionesco đã có những điểm gặp gỡ với các nhà
văn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Giấc mơ được các nhà văn sử dụng rất
khéo léo và linh hoạt như một phương thức để phản ánh thực tại và bóc trần
thế giới nội tâm nhân vật. Với việc khám phá bí ẩn từ những giấc mơ giúp ta
có thể nghe thấy được những tiếng nói chân thực và sâu sắc trong từng vi
mạch cảm xúc của con người. Đó là những bộc lộ thật nhất mà bình thường
con người ta ít thể hiện ra bởi ở đó đã bị ý thức kìm nén. Vì thế “nhờ giấc mơ
ta có thể biết được hiện thực tâm hồn là những khát khao và mơ ước, những
dục vọng, những ham muốn bản năng”. Bản năng một khi đã khơng kìm nén
được sẽ ẩn giấu đi vào bên trong và thể hiện ngay trong giấc mơ để giải tỏa
những ức chế bị dồn nén đó.
Trong tác phẩm Người đi tìm những giấc mơ của Nguyễn Thị Thu Huệ
đã thể hiện những hiện thực lừa dối. Nhân vật trong truyện đã sống với hai thế
giới hoàn toàn khác, họ sống ban ngày khơng khác gì một cái bóng, nhưng
ban đêm mới chính là cuộc sống thực của họ. Bởi “trong mơ tôi được yêu,
được đi ra khỏi gian nhà ảm đạm, không ánh sáng. Được làm những gì cuộc
sống thực tơi khơng có… Giấc mơ của tơi là những gì tơi muốn ban ngày
khơng thực hiện được” [10, tr. 261]. Chỉ có ban đêm, trong những giấc mơ thì
con người mới có khả năng thực hiện được cái mong muốn mà ở hiện thực rất
khó có thể làm được. Vì thế, nhà văn Tạ Duy Anh cũng có cái nhìn và đánh
giá khá tinh tế về điều này, ông từng tâm sự: “Với tơi, tiểu thuyết là một giấc
mơ dài, nó vừa thuộc thế giới này nhưng lại ở đâu đó xa xơi lắm. Tơi thường
ví nó như một giấc mơ mà khi tỉnh dậy người ta vừa mừng như thoát được
cơn ác mộng, lại vừa tiếc nuối vì phải chia tay với những điều đời thực khơng
thể có” [10, tr.276].
Trong cuốn tiểu thuyết Đêm thánh nhân, nhà văn Nguyễn Đình Chính
đã đi sâu vào khám phá và lý giải được những thế giới chiều kích thứ ba của
con người. Bằng việc sử dụng hàng loạt các giấc mơ của nhân vật, tác giả đã
đưa chúng ta đi từ đời sống bên ngoài vào tận trong ngõ ngách tâm hồn của
mỗi con người. Thế giới hiện thực được hiện ra rõ nét và chân thực. Những
khát khao cháy bỏng của một số nhân vật như bác sĩ Cần, bà Nhàn hay cha
Tạc…được miêu tả rất cụ thể và trần trụi nhằm bóc trần được thế giới thứ ba
của mỗi nhân vật.
Dù giấc mơ là thế giới vơ thức nhưng nó vẫn là những gì xảy ra trong
ngày, là sâu thẳm của hồn người, có quan hệ vơ cùng gần gũi và mật thiết với
đời sống thực tại. Ngoài chức năng là giải tỏa những ước muốn bản năng thì
giấc mơ cũng chính là một yếu tố quan trọng để đi sâu vào khám phá thế giới
thứ ba của con người.
1.3 Nhà văn Nguyễn Đình Chính và tiểu thuyết Đêm Thánh Nhân
Nguyễn Đình Chính sinh ngày 28 tháng 10 năm 1946 tại số nhà 14
Nguyễn Thái Học - Hà Nội. Ông là con trai thứ hai trong số ba người con của
nhà văn Nguyễn Đình Thi và bà Bùi Nữ Trâm Nguyệt Nga. Sau ngày 19
tháng 12 năm 1946 tức là ngày tồn quốc kháng chiến, Nguyễn Đình Chính
được mẹ bồng đi di tản lên Việt Bắc cùng với anh trai. Năm 1951, bà Nguyệt
Nga mất vì trọng bệnh tại khu di tản, vì vậy ơng qua sống với bà ngoại của
mình cho đến khi lớn lên. Đến năm 1955, Nguyễn Đình Chính về Hà Nội và
học hết phổ thơng. Năm 1965, đi bộ đội. Xuất ngũ vào năm 1976 và là thương
binh 2/4. Ơng từng cơng tác nhiều năm trong các lĩnh vực điện ảnh, sân khấu
và báo chí. Hiện ơng sống ở Hà Nội.
Nguyễn Đình Chính là một con người đa tài, ơng có thể viết tiểu thuyết,
làm thơ và viết kịch bản điện ảnh. Nhưng ông được đánh giá tốt nhất vẫn là
thể loại tiểu thuyết. Tiểu thuyết đầu tay của ông là “Xưởng máy nhỏ của tôi”
(1976), tiếp theo là “Nhớ để mà quên” (1998), “Con phù du cánh mỏng”
(1986),… Và đặc sắc nhất là tiểu thuyết Đêm thánh nhân dài gần 1000 trang.
Cuốn tiểu thuyết này lúc mới ra đời gặp khá nhiều sóng gió, được in tập I vào
năm 1998, dự định sẽ in tập II vào năm 2000 nhưng không được cấp giấy
phép. Đến năm 2006 NXB Văn Học đã in trọn bộ tiểu thuyết này dưới tên là
Ngày Hoàng Đạo và bán rất chạy. Năm 2008, cuốn tiểu thuyết lại trở về với
cái tên ban đầu của nó - Đêm thánh thân, bởi theo tác giả thì cái tên này phù
hợp với cuốn tiểu thuyết hơn.
Trong lời tựa của cuốn tiểu thuyết ông đã trình bày khá rõ về ý tưởng
của mình “Tơi viết tập sách này hình như là theo thể loại du ký chương hồi cũ
rích, tất cả các nhân vật trong truyện đều là những người dân bình thường có
cuộc đời vất vả, éo le, đầy những lầm lỗi ăn năn. Họ ở những bậc thang thấp
nhất của xã hội, cả đời chỉ xoay xở quần quật để kiếm sống. Họ rất đông, và
họ chưa bao giờ được gọi là thánh cả. Họa chăng chỉ có thể được gọi là thánh
trong sự bông phèng hài hước mà thôi.
Nhưng đối với tôi, trong nhiều đêm nằm ngủ tôi lại mơ thấy họ được
phong thánh. Vâng, đúng như vậy. Có thể trong giấc mơ của tôi, thánh chỉ là
những người nghèo khổ, bình thường thua thiệt. Chính vì vậy, tơi đã đặt tên
cho tập sách này là Đêm thánh nhân” [5, tr.6 - 7].
Đêm thánh nhân là một cuốn tiểu thuyết dài kể về cuộc đời của một
ông bác sĩ già tên là Trương Vĩnh Cần, từng là một bác sĩ gây mê hồi sức
nhưng bị phát giác vì tội hủ hóa với một cơ bé dân tộc Tày chưa đủ tuổi vị
thành niên nên ông đã bị cắt chức rồi đẩy xuống trông coi nhà xác. Mất hết tất
cả những gì mình đang có: Bị khai trừ ra khỏi Đảng, mất việc, vợ bỏ, người
đời coi khinh… Nên ông đã bị mắc phải căn bệnh tâm thần phân lập thể nhẹ
và bỏ đi lang thang. Trên cuộc hành trình phiêu lưu đó, ơng đã gặp gỡ và nói
chuyện với rất nhiều người xa lạ, thậm chí cả những hồn ma chưa được siêu
thốt. Thơng thường, người bị bệnh tâm thần, dù thể nhẹ mà cứ bỏ đi vật vờ,
quàng xiên như thế thì bệnh càng nặng hơn. Nhưng với ơng bác sĩ Trương
Vĩnh Cần này thì khơng phải như vậy. Sau bao ngày tháng “phiêu bạt giang
hồ”, gặp gỡ chung sống với bao nhiêu người đời, cuối cùng thật may mắn ơng
lại khỏi bệnh. Vì sao lại như vậy? Chẳng lẽ tình thương yêu đồng loại cùng
với lòng đam mê muốn sống và sự thật thà sám hối lại chữa được bệnh tâm
hồn con người?
Toàn bộ cuốn tiểu thuyết là một chuỗi những giấc mơ liên tiếp của
nhân vật. Lấy bối cảnh là giấc mơ, ông đã để cho nhân vật của mình thoải mái
bộc lộ hết tất cả những suy nghĩ, trăn trở trong đáy lịng mà họ đã giấu kín từ
lâu. Và hơn hết, với kỹ thuật viết rất sắc bén và thông minh của mình, Nguyễn
Đình Chính đã đưa người đọc đi từ những bất ngờ này đến bất ngờ khác, cho
họ có cảm giác đắm chìm trong những chuyến phiêu lưu mà vẫn khơng sao
thốt ra khỏi được hiện thực trần trụi của xã hội. Lấy hư để tả thực, lấy những
hình ảnh chập chờn trong giấc mơ để soi chiếu hiện thực đời thường. Đó
chính là điều mà tác giả đã thể hiện rất thành công trong cuốn tiểu thuyết này.
CHƯƠNG 2
MƠTÍP GIẤC MƠ TRONG ĐÊM THÁNH NHÂN – NHỮNG
DẠNG THỨC BIỂU HIỆN
2.1. Giấc mơ - những “miền” ám ảnh
2.1.1. Ám ảnh về những tội lỗi của quá khứ
Cuộc sống con người ln gắn với những q khứ, những kí ức. Q khứ
cứ thế trơi đi theo dịng chảy của thời gian. Có những quá khứ đã ngủ quên
trong tâm thức sâu thẳm của tâm hồn con người. Tuy nhiên, cũng có những
quá khứ hiện hữu rõ nét trong tâm trí và hiện về qua những giấc mơ của họ.
Les Bown đã có một câu danh ngơn rất sâu sắc: “Nếu bạn có những cảm xúc
mãnh liệt về điều gì đó xảy ra trong quá khứ, chúng có thể gây trở ngại cho
khả năng sống trong hiện tại của bạn”. Đúng vậy! Những gì mà q khứ
khơng thể ngủ qn thì nó sẽ tìm cách đánh thức con người ở thực tại và được
thể hiện ngay trong giấc mơ.
Tiểu thuyết Đêm thánh nhân của nhà văn Nguyễn Đình Chính là một
chuỗi những giấc mơ dài triền miên của bác sĩ Cần – người bị bệnh tâm thần
phân liệt nhẹ. Các giấc mơ tưởng chừng như không bao giờ dứt, bởi ở đâu,
trong hồn cảnh nào bác sĩ Cần cũng có thể ngủ và mơ được. Qua giấc mơ ấy,
chúng ta hiểu thêm được rất nhiều điều trong đáy sâu tâm hồn con người, đó
là những điều mà cuộc sống thực tại của con người ít khi được biểu hiện, phơi
bày. Nguyễn Đình Chính đã thật tinh tế khi miêu tả những ám ảnh tội lỗi,
những day dứt khôn nguôi của nhân vật từ trong giấc mơ của bác sĩ Cần. Họ
là những con người ln mang trong mình những mặc cảm tội lỗi, để rồi khi
chết đi mà vẫn không thể nào nhắm mắt xi tay. Vì thế, trong giấc mơ của