ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA LỊCH SỬ
-----------------------------------------------
TRẦN THỊ THU UYÊN
GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN
TỘC CO Ở BẮC VÀ NAM TRÀ MY
CHUYÊN NGHÀNH: Sư phạm Lịch sử
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đà Nẵng – Năm 2018
1. Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu văn hóa như là việc ngược dịng tìm về cái nơi sinh ra loài người. Một câu
chuyện, một lễ hội, một luật tục, thậm chí chỉ là một hoa văn nhỏ cũng đã ẩn chứa cả
ngàn năm lịch sử. Vì lẽ đó mà văn hóa chưa bao giờ là cũ đối với các nhà nghiên cứu. Xã
hội càng hiện đại thì con người lại càng có nhu cầu tìm hiểu về văn hóa khơng chỉ của
dân tộc mình mà cịn là văn hóa của cả nhân loại. Trong những thập niên gần đây, cái
nhìn về văn hóa của các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đã trở nên toàn diện và bao quát
hơn. Nếu trước đây các cơng trình nghiên cứu chỉ tập trung vào các dân tộc lớn như Kinh,
Mường, Thái,…thì giờ đây 54 dân tộc, hầu như dân tộc nào cũng được tìm hiểu, nghiên
cứu dù cho quy mơ chưa cân xứng.
Đây là một xu hướng tích cực, bởi lẽ nghiên cứu văn hóa tộc người là điều cần thiết.
Qua việc nghiên cứu văn hóa tộc người sẽ giúp chúng ta có được tri thức đầy đủ hơn về
nền văn hóa Việt Nam. Hơn nữa, vấn đề tri thức, tìm hiểu về văn hóa các dân tộc thiểu số
cịn là một cách bảo tồn những giá trị độc đáo của nó: thế giới tâm linh, ý nghĩa ẩn sau
những hoa văn, những điệu nhảy truyền thống,… Tôi cho rằng nền văn hóa của các dân
tộc trên thế giới ít nhiều đều có mối liên hệ với nhau, đặc biệt là các dân tộc thiểu số.
Xu hướng phổ biến khi tìm hiểu một nền văn hóa là đi vào phong tục, tập qn, luật
tục, lễ hội... Văn hóa khơng chỉ nằm trong phương diện đời sống vật chất mà còn ở đời
sống tinh thần thông qua những bài ca dao, những câu truyện cổ. Nghiên cứu những giá
trị văn hóa của các dân tộc anh em trên đất nước ta được tiến hành hầu hết với phạm vi và
quy mô khác nhau ở mỗi dân tộc riêng biệt. Tuy nhiên, phần lớn trong số đó có xu hướng
thiên về các tộc người lớn, một số dân tộc ít người chưa hoặc ít được khai thác, nghiên
cứu một cách đầy đủ, trong đó có dân tộc Co. Khơng phải là chưa có báo cáo khoa học
nào về tộc người này, tuy nhiên như đã nói, hầu hết các cơng trình nghiên cứu về người
Co chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu với quy mơ nhỏ, phạm vi chủ yếu là Quảng Ngãi, cịn ở
các huyện vùng núi phía Tây của tỉnh Quảng Nam như Bắc Trà My và Nam Trà My thì
vẫn chưa được nghiên cứu sâu rộng. Chính vì vậy, tơi tập trung nghiên cứu tộc người Co
dưới cái nhìn văn hóa vật chất và đời sống tinh thần ở hai huyện Băc và Nam Trà My. Từ
góc nhìn này sẽ khám phá được phong tục tập quán, cách suy nghĩ, lí giải bản tính và
cuộc sống hàng ngày của người Co. Văn hóa truyền thống dân tộc Co ln là di sản q
giá, góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng và thống nhất của nền văn hóa Việt Nam,
nhưng trong bối cảnh cuộc sống hiện đại, thì giá trị văn hóa của dân tộc Co đang dần bị
mai một. Bắc Trà My, Nam Trà Myiệc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa đồng bào các
dân tộc Co là nhiệm vụ cấp thiết để phát triển bền vững đất nước.
Với những lí do đó chúng tơi chọn đề tài Giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
Co ở Bắc và Nam Trà My nhằm góp thêm một cách tiếp cận mới đối với nghiên cứu
văn hóa một tộc người, đồng thời mong muốn qua đề tài này sẽ góp phần cung cấp nguồn
tư liệu phong phú cho những ai muốn tìm hiểu về dân tộc này.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu các giá trị văn hóa truyền thống như trang
phục, nhà ở, ẩm thực, ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật… của dân tộc Co ở hai huyện Bắc
và Nam Trà My ở phía tây tỉnh Quảng Nam. Từ đó, đề xuất các giải pháp giữ gìn, phát
huy bản sắc văn hóa đồng bào dân tộc Co trong giai đoạn hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành nghiên cứu đề tài trên, chúng tôi cần thực hiện một số nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, tìm hiểu tổng quan về vùng đất Bắc và Nam Trà My và cộng đồng người
Co ở đây.
Thứ hai, nghiên cứu các giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc Co.
Thứ ba, tìm hiểu thực trạng biến đổi tích cực và tiêu cực của những giá trịvăn hóa
truyền thống của dân tộc Co, từ đó đề ra các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa
truyền thống của đồng bào dân tộc Co nơi đây.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Co ở
hai huyện Bắc và Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam.
5. Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các giá trị văn hóa truyền thống được truyền
lưu trong cộng đồng người Co từ trước cho đến nay.
Không gian nghiên cứu của đề tài là địa bàn sinh sống của người Co ở hai huyện Bắc
và Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam.
6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điền dã thực tế
Phỏng vấn sâu
Phương pháp lịch sử
Phương pháp lơgic
7. Bố cục của khóa luận
Ngồi phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận được chia làm ba chương:
Chương 1: Tổng quan về cộng đồng nguời Co ở vùng đất Bắc và Nam Trà My,
Quảng Nam
Chương 2: Giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của dân tộc Co ở Bắc và Nam Trà
My, Quảng Nam
Chương 3: Thực trạng và giải pháp bảo tồn giá trị văn hóa của người dân tộc Co ở
Bắc và Nam Trà My, Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay
NỘI DUNG
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI CO Ở VÙNG ĐẤT BẮC
VÀ NAM TRÀ MY, QUẢNG NAM
1.1. Giới thiệu vùng đất Bắc và Nam Trà My
1.2. Nguồn gốc nhân chủng
1.3. Tình hình dân cư
Về dân số, người Co đứng thứ 30 trong thành phần các dân tộc Việt Nam. Năm 1979,
theo tổng điều tra dân số toàn quốc, người Co có 16.000 người, trong đó ở Quảng Ngãi có
13.500 người và Trà My (Quảng Nam) có 2.500 người. Năm 1999, ở Quảng Ngãi có
22.760 người, ở Quảng Nam có 4.607 người. Năm 2009, ở Quảng Ngãi có 28.110 người,
chiếm 83,1% tổng số người Co), Quảng Nam (5.361 người), Kon Tum (118 người). Họ
sống ở nơi địa hình hiểm trở, đi lại khó khăn, chỉ có con đường mịn nối liền giữa các
điểm dân cư tới huyện lỵ, cư trú xen kẽ với người Cadong, Hrê, Kinh,…tạo ra quá trình
giao lưu tiếp biến văn hóa giữa các dân tộc. Hiện nay, tại Quảng Nam, dân tộc Cor có dân
số hơn 4.000 người, cư trú ở phía Đơng Nam vùng xã Trà Nú, Trà Kót, Trà Giang, Trà
Giáp, thị trấn Trà My thuộc huyện Bắc Trà My và ở huyện Nam Trà My thì hay cư trú tại
các xã Trà Vinh, xã Trà Vân, xã Trà Don và một số ít ở xã Trà Mai.
1.4. Đời sống kinh tế
Kinh tế rẫy là nguồn sống chủ yếu của người Co, lúa rẫy là nguồn lương thực chính.
Canh tác theo hình thức phát rừng, đốt, chọc lỗ tra hạt giống, tuốt lúa bằng tay. Kỹ thuật
xen canh - đa canh trên từng đám rẫy và luân canh giữa các đám rẫy. Trầu không và quế
của người Co nổi tiếng lâu đời. Ðặc biệt quế quý và nhiều là một nguồn lợi lớn, ngồi ra
cịn có chăn nuôi gia súc, hia cầm, nghề đan lát, nghề dệt.
1.5. Tổ chức xã hội của dân tộc Co
Với thiết chế xã hội cổ truyền, làng của người Co là một đơn vị tự quản. Người đứng
đầu làng phải là người có uy tín cao, giàu kinh nghiệm làm ăn và giỏi xử thế, thông thuộc
phong tục tập quán của dân tộc. Ngoài vị Đầu làng và người chỉ huy chiến đấu, mỗi làng
Co đều có một vài bà đỡ đẻ có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Họ là những người
chăm lo cho sự ra đời và lớn khôn của các thể hệ người Co.
Chương 2: GIÁ TRỊ VĂN HÓA VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN
TỘC CO Ở BẮC VÀ NAM TRÀ MY, QUẢNG NAM
2.1. Cơ sở lý luận về văn hóa
2.1.1. Khái niệm văn hố
2.1.2. Khái niệm giá trị văn hóa truyền thống
2.1.3. Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
2.2. Giá trị văn hóa vật chất của người dân tộc Co
2.2.1. Ẩm thực
Trên cơ sở của một cơ cấu kinh tế mà nông nghiệp trồng lúa, đi rẫy đóng vai trị chủ
đạo, cây lúa là thứ cây trồng chiếm tỷ lệ lớn, nên người Co ở hai huyện Bắc và Nam Trà
My coi thóc gạo là lương thực chính, trong đó có gạo ba lốp – loại gạo đỏ, hạt cứng được
đồng bào sử dụng nấu ăn hằng ngày. Tuy nhiên, trên mâm cơm của mỗi gia đình, chúng
ta cịn thấy nhiều thành phần lương thực khác như ngô, sắn, khoai…. Thực phẩm trong
bữa ăn hàng ngày là măng tươi, rau má, rau tầm phục, rau tàu bay, uống nước chè rừng
hoặc nấu từ lá rừng. Người Co ở Bắc và Nam Trà My rất phổ biến với tục trồng và ăn
trầu. Cũng chính vì tục ăn trầu và thường xun trao đổi buôn bán trầu, nên người Kinh
gọi đồng bào Co là “mọi Trầu”.
2.2.2. Trang phục
Xưa trang phục dành cho phụ nữ Co thì có váy. Váy của phụ nữ thường là một tấm
vải thổ cẩm có màu chàm đen. Đi kèm váy là áo cộc tay màu trắng bạc.
Về trang phục đàn ơng, nam giới Co đóng khố, ở trần. Khố đàn ơng có hai loại: khố
thường (tanon) và khố lễ (tanon nhau. Khố đàn ông Co được dệt trên nền chàm đen, dọc
theo thân khố là những dãy hoa văn như đỏ, vàng, xanh và hai bên chân khố được kết nối
với những tua màu vàng. Khi đàn ơng Co mặc vào có dáng hình chữ T.
2.2.3. Nhà cửa, nông cụ sản xuất
Điểm ấn tượng của tộc người Co trước hết là những ngôi nhà sàn dài - người Co gọi
tên cho nơi cư trú của mình là “plei- Jớt”. Đây là kết quả của sự góp sức xây dựng làng
(nóc) của mỗi người dân trong cộng đồng. Ở một số làng có dân cư đơng đúc mà dân làng
không muốn chia ra để đi lập làng mới và việc nối dài nhà cũng không thuận tiện, bị hạn
chế bởi địa hình..., người ta thường làm thêm một ngôi nhà nữa bên cạnh ngôi nhà cũ,
theo kiểu nhà kép. Trong trường hợp này họ đặt phần gưl của hai ngôi nhà nằm giáp
nhau, tạo ra một không gian rộng ở giữa gồm hai phần gưl và hai đường hành lang, còn
hai dãy tum nằm về hai bên. Vào những năm cuối thế kỷ XX, các làng Co chỉ với một
hoặc vài ngôi nhà ở cheo leo bên sườn núi đã hồn tồn khơng cịn lại trên thực tế. Người
Co đã dẫn tìm xuống cư trú ở những vị trí gần sơng, suối, nơi có địa hình tương đối bằng
phẳng. Ở đó, xu thế mỗi gia đình hạt nhân với bố mẹ và con cái làm và sống trong một
ngôi nhà đất, nhà ngắn đã trở thành phổ biến.
Về công cụ lao động sản xuất, gắn liền với nền kinh tế nương rẫy, người dân luôn
luôn sáng tạo ra những vật dụng, công cụ lao động để tăng tiến độ sản xuất và nhằm giảm
bớt sức lao động. Hầu hết các công cụ sản xuất đều do người dân tự sáng chế và làm nên,
nguyên liệu để làm nên công cụ hầu hết là từ thiên nhiên, được chế tác dưới bàn tay khéo
léo của con người nơi đây. Mỗi công cụ như là thước đo để khẳng định trình độ sáng tạo
của đồng bào, mỗi dụng cụ sẽ có một chức năng riêng và ứng với một công đoạn cụ thể
trong sản xuất. Các công cụ sản xuất của dân tộc Co vô cùng đa dạng và phong phú. Với
số lượng khá đồ sộ và đa dạng như: rìu, dao phát, cuốc, gậy chọc lỗ, cào cỏ, gùi tuốt lúa,
gùi (a teo), gùi ba ngăn (túi tilét),… Về dụng cụ săn bắt và hái lượm, nỏ (pa năn) là công
cụ dùng để bắt các loại thú, gồm thân nỏ, cánh nỏ và lẫy nỏ cùng với các loại tên. Được
sử dụng phổ biến trong cộng đồng dân tộc. Các phương tiện và đồ dùng sinh hoạt trong
gia đình người Co ở Bắc và Nam Trà My khá phong phú và đa dạng, có thể kể tên một số
loại như: bộ cối giã gạo, nong, nia, dần, sàng,… Đi bộ chính là phương thức di chuyển
chủ yếu của người Co và vật dụng dùng để vận chuyển đồ đạc, hàng hóa chủ yếu của họ
là những chiếc gùi được cõng sau lưng.
2.3. Giá trị văn hóa tinh thần của người dân tộc Co
2.3.1. Tín ngưỡng, tơn giáo
Tín ngưỡng của tộc người Co ở Quảng Nam là tín ngưỡng đa thần, với các lễ thức đặc
trưng của tộc người. Cũng bắt nguồn từ quan niệm vạn vật hữu linh,nhưng khác với
người Cadong ở chỗ người Co quan niệm vũ trụ bao gồm “ba tầng”: tầng trời, tầng đất,
tầng nước, mỗi tầng thế giới có một vị cai quản. Các vị thần linh có thể trợ giúp, phù hộ
cho con người và cũng có thể gây hại cho con người. Họ tưởng tượng ra trên núi cao, bên
các vách đá cũng đầy các thế lực huyền bí khiến họ khơng dám phá chặt cây cối để làm
rẫy quanh khu vực đó. Họ nhân cách hóa, thần thánh hóa những đỉnh núi thành núi Ơng,
núi Bà. Người Co lại quan niệm rằng, “mỗi đàn ơng có 18 hồn và 18 vía, đàn bà có 19
hồn và 19 vía”. Ma là lực lượng vơ hình tồn tại phổ biến ở mọi nơi và mọi lúc. Trong
quan niệm của đồng bào, ma được phân thành hai loại: ma lành và ma dữ.
2.3.2. Phong tục tập quán
Về tập tục cưới xin, chàng trai người Co có rất nhiều cách tỏ tình khác nhau với cơ gái
mà họ đem lịng u mến. Nếu cô gái nhận miếng trầu cau của chàng trai thì có nghĩa cơ
đã đồng ý cho chàng trai tìm hiểu mình. Khi đơi trai gái ưng thuận nhau thì chàng trai về
báo cho gia đình và sau đó mời ơng mai sang nhà dị hỏi ý kiến của gia đình nhà gái, hỏi
xem cơ gái có đồng ý lấy chàng trai ấy làm chồng hay không? Nếu chưa ông mối sẽ nhờ
một người trong làng tìm gặp cơ gái đó để đặt vấn đề, người này cũng chính thức trở
thành ơng mối của gia đình nhà gái. Lễ cưới của đồng bào bắt buộc phải trải qua ba bước
như sau:
Lễ đi hỏi (hoi pốt kji) thành phần tham gia gồm có: ông mai, chàng rể, cùng những
người thân họ hàng của chàng rể. Lễ vật gồm có: rượi, thuốc, trầu cau,…
Lễ đạp nhà: Hai bên gia đình bàn bạc cụ thể ngày, giờ tổ chức lễ cưới, lễ vật,…
Lễ cưới: Thường diễn ra trong 2 hoặc 3 ngày.
Quan niệm về sinh đẻ, phụ nữ Co trong xã hội xưa có tục đẻ trong tư thế quỳ ngay
trong buồng ngủ hoặc ngay cạnh bếp lửa. Người đỡ đẻ là bà mụ trong làng. Đẻ xong
người sản phụ uống nước muối ấm và các loại rễ cây, hơ lửa, đốt lá nóng bọc vải đè lên
bụng cho ấm và nhỏ bụng lại.Trong trường hợp khó đẻ thì chủ nhà thường làm lễ cúng tổ
tiên, thần linh, ma nhà,… Ba ngày sau khi đẻ toàn vẹn, chủ nhà làm lễ để tạ ơn bà đỡ và
cúng trình báo cho ma nhà biết mặt đứa trẻ, rồi đặt đứa trẻ xuống sàn đặt chân chạm với
đất, nhằm báo cho thần linh biết đứa trẻ đó đã chào đời. Trẻ đầy một tháng thì làm Lễ đặt
tên.
Đối với tập tục tang ma,khi người chết vừa tắt thở, con cháu lập tức thông báo cho
mọi người đến giúp đỡ họ mai táng. Người chết bình thường để trong nhà với tư thế nằm
ngửa trên sàn, đầu quay về vách tiền của ngôi nhà, chân quay vào trong. Người chết được
mặc bộ đồ đẹp nhất (ơ man). Và người Co tiếp tục thực hiện nghi thức đưa hồn người
chết.
2.3.3. Lễ hội truyền thống
Bất cứ dân tộc nào cũng mang cho mình một sắc màu lễ hội riêng, đây là khoảng thời
gian mà sau những tháng ngày làm việc cực nhọc, họ có giây phút để nghỉ ngơi, giải trí
về tinh thần và tạ ơn thần linh. Người Co ở Bắc và Nam Trà My cũng có những lễ hội
riêng đậm sắc màu,trong đó phải kể đến như: Hội mùa (lễ ăn “ngó rạ”), lễ hội ăn trâu (xa
ố píu), lễ hội cầu mưa và lễ Tết cổ truyền như người Kinh trong vùng nhưng chỉ khác ở
thời gian, cách thức tổ chức.
2.3.5. Văn học dân gian
Các thể loại diễn xướng theo phương thức kể
Trong kho tàng văn nghệ dân gian của người Co không xuất hiện sử thi như các dân
tộc Tây Nguyên mà lưu giữ rất nhiều những mẩu truyện cổ. Truyện cổ tuy ngắn nhưng
nội dung của nó có thể xem là “sử thi” của đồng bào Co. Thể loại phổ biến ở đây là
truyện giải thích về nguồn gốc của đất – trời, các địa danh sông núi và truyện về các lồi
vật. Thể loại tuy khơng mới, nhưng đi sâu vào từng mẩu truyện cụ thể lại thấy những nét
khác biệt mới lạ trong đời sống tư tưởng của người Co.
Các thể loại diễn xướng theo phương thức hát hoặc nói
Dân ca như là nhịp cầu sống, thể hiện tất cả tâm tư mong ước của người dân gửi đến
thần linh, hay đây cũng là những giải bày, tâm sự mà người dân muốn gửi đến nhau để
nhận được sự đồng cảm của mọi người. Điệu Xàru gắn liền với sinh hoạt hàng ngày của
đồng bào, thể hiện tinh thần Cách Mạng, kháng chiến của dân tộc, tình u đơi lứa, trong
hát ru con, trong các lễ cúng tế. Agiới thường được dùng trong đám cưới và chỉ dành cho
những người đã trưởng thành thể hiện. Điệu Kalu chỉ hát trong đám ma, lúc tiễn đưa
người chết. Klu là lối hát tế thần, khấn tổ tiên trong các lễ như lễ gieo hạt, lễ thu hoạch,
lễ cúng hội mùa mừng nhà mới. Điệu Alác là điệu hát cổ, thường được dùng trong các lễ
hội lớn như lễ hội ăn trâu.
2.3.5. Các loại hình nghệ thuật
Điệu múa chiêng - trống được thể hiện tự do hơn bởi những động tác tự tạo của mỗi
người nhưng vẫn mang cảm xúc thẩm mĩ của tộc người. Tùy vào từng bài mà người múa
thay đổi điệu linh hoạt với nhau, ăn ý nhau cịn người nhạc cơng phải linh hoạt trong các
thao tác kĩ thuật để tạo cho tiếng chiêng có nhiều âm sắc khác nhau, làm cho bài diễn tấu
thêm sinh động.
Nói về nghệ thuật tạo hình của người Co có lẽ nổi bật nhất, vừa nhiều về số lượng, lại
vừa đạt tới những giá trị thẩm mỹ nhất định đó là: nghệ thuật chạm nổi trên cột đâm trâu
(cây nêu), nghệ thuật làm các Nêu Gu, nghệ thuật trang trí trên đồ đan, trên ống trỉa lúa
(lít thác). Nhằm tơn vinh các giá trị văn hóa vật thể phi vật thể đó, trong phiên họp lần
thứ VII tại Hà Nội vào ngày 12 tháng 8 năm 2014 vừa qua, Hội đồng Di sản Quốc gia đã
cơng nhận loại hình “Cây nêu và bộ Gu của người Cor” là Di sản văn hóa phi vật thể cấp
quốc gia. Đây là niềm tự hào của bà con dân tộc Cor, cũng là niềm tự hào chung của cộng
đồng các dân tộc cư trú dọc đại ngàn Trường Sơn.
2.4. Giá trị văn hóa truyền thống của tộc người Co ở Bắc và Nam Trà My
- Giá trị nhân văn
- Giá trị thẩm mỹ
- Giá trị kết nối cộng đồng
- Giá trị bảo tồn và phát triển vốn văn hóa vật thể và phi vật thể
- Giá trị phát triển kinh tế - xã hội
Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA
TRUYỀN THỐNG CỦA NGUỜI DÂN TỘC CO Ở BẮC VÀ NAM TRÀ MY
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1. Thực trạng văn hóa truyền thống của dân tộc Co ở Bắc và Nam Trà My
3.1.1. Thực trạng
- Về hoạt động kinh tế
- Trong văn hóa vật chất
- Về thiết chế xã hội
- Về ngôn ngữ
- Về lễ hội truyền thống
- Về phong tục tập quán
3.1.2. Nguyên nhân
- Nguyên nhân khách quan
- Nguyên nhân chủ quan
3.2. Giải pháp bảo tồn giá trị văn hóa của dân tộc Co ở Bắc và Nam Trà My
- Một số giải pháp chung
- Một số giải pháp cụ thể
KẾT LUẬN
Người Co là một tộc người thuộc ngữ hệ Môn-Khơme. Trải qua quá trình biến động
của tự nhiên, của lịch sử, tộc người Co bị phân tán đi nhiều nơi. Hiện nay, tộc người Co ở
Quảng Nam cư trú tập trung ở các 2 huyện Bắc và Nam Trà My. Dân tộc Co là cư dân
bản địa, có lịch sử văn hóa lâu đời. Trong q trình tồn tại và phát triển, họ đã tạo lập cho
mình vốn di sản văn hóa truyền thống, phong phú và đa dạng, chứa đựng nhiều hệ giá trị.
Để đối phó với mơi trường tự nhiên, có nhiều thuận lợi, nhưng cũng lắm thử thách,
người Co đã có những ứng xử phù hợp với mơi trường, hồn cảnh. Họ đã dùng vốn tri
thức bản địa, mà chủ yếu là thơng qua hình thức các nghi lễ để thực hiện công việc sản
xuất nông nghiệp, đất lập làng, dựng nhà, bảo vệ rừng…
Tín ngưỡng người Co có những quan niệm về thế giới tự nhiên mà ở đó nhiều hiện
tượng được nhìn nhận dưới góc độ thần thánh hóa. Nhận thức của họ về vấn đề này biểu
hiện rỏ nét ở niềm tin vào sự tồn tại của linh hồn trong vạn vật. Mỗi lễ thức là một thước
do giá trị của con người trong sự trường tốn nhiều thử thách.
Người Co có một kho tàng văn hóa, văn nghệ dân gian hết sức độc đáo, phong phú và
đa dạng. Đó là một di sản vô cùng quý báu, hàm chứa giá trị và chuẩn mực xã hội, góp
phần làm nên cốt cách, tâm hồn người Co. Di sản này gồm hàng trăm truyện kể dân gian,
hàng nghìn làn điệu dân ca, hàng trăm loại nhạc cụ truyền thống và hàng chục các họa
tiết hoa văn trên cây nêu, nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt. Đó là một di sản văn học nghệ
thuật mang tính cộng đồng cao. Văn hóa truyền thống các tộc người Co là một nền văn
hóa phong phú và đa dạng, thể hiện trong hệ thông ứng xử với môi trường tự nhiên, mơi
trường gia đình, cộng đồng và xã hội, là một nền văn hóa giàu bản sắc.
Giá trị cốt lõi của văn hóa truyền thống dân tộc Co được biểu hiện trên nhiều phương
diện. Đầu tiên là giá trị nhân văn, thể hiện ở chỗ làm cho con người được cân bằng đời
sống tâm linh, đời sống tình cảm, trong sự thể hiện mọi thành viên trong cộng đồng được
hịa nhập, được bình đẳng, được tương trợ, người phụ nữ được tôn trọng, người giả được
đề cao, con trẻ được ưu ái... Thứ hai, là giá trị giáo dục đạo đức, thẩm mỹ được thể hiện
trong việc trao truyền bằng chính ý thức của người dân, hoặc tự nhận thức giá trị văn hóa
của tộc người qua các loại hình sinh hoạt văn hóa. Thứ ba là giá trị cố kết cộng đồng, nêu
cao tính cộng đồng được thể hiện trong sự cộng mệnh và công cảm qua các nghi lễ, qua
sự ý thức chung về nguồn gốc tộc người bằng những câu truyện cổ dân gian, qua sự coi
trọng những loại hình văn hóa nghệ thuật khác. Thứ tư là giá trị bảo tồn vốn văn hóa vật
thể lẫn phi vật thể là giá trị dựa trên những sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, gia đình và
cá nhân, mà những loại hình sinh hoạt văn hóa đó được củng cố, duy trì và tích hợp thêm
những yếu tố ngoại sinh để làm giàu thêm cho di sản văn hóa các tộc người Co. Cuối
cùng là giá trị phát triển kinh tế -xã hội, bởi tổng thể văn hóa truyền thống văn hóa dân
gian người Co là nền tảng văn hóa tộc người góp phần rất lớn trong việc thúc đẩy nền
kinh tế - xã hội phát triển nếu chúng ta biết bảo tồn và phát huy những giá trị của di sản
văn hóa này. Trước hết là trong cuộc bảo vệ môi trường sinh thái, tài nguyên rùng, bảo vệ
những loại hình văn hóa tín ngưỡng, lễ hội, vốn văn học nghệ thuật…
Trong nhiều năm qua các ngành các cấp bước đầu đã chú trọng đến cơng cuộc bảo tồn
và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống người Co song vẫn còn nhiều bất cập.
Nguy cơ mai một các loại hình văn hóa có giá trị ngày một trầm trọng, đặc biệt là mất
dần những nghệ nhân, những người am hiểu về di sản văn hóa này. Lớp trẻ thì ngày một
thờ ơ, chạy theo thị hiếu mới, chạy theo những loại hình văn hóa đã và đang du nhập
mạnh mẽ vào đời sống các tộc người Co mà chưa biết chọn lọc những yếu tố giá trị và
những yếu tố phản giá trị. Từ những thực trạng trên, trong khóa luận này, chúng tơi đã
mạnh dạn đề xuất một số giải pháp cơ bản để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền
thống của dân tộc Co ở Bắc và Nam Trà My (Quảng Nam).