ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: THIẾT KẾ TRỊ CHƠI TÂM VẬN ĐỘNG NHẰM
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TRI GIÁC THỊ GIÁC CHO TRẺ
5 – 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
GVHD: Th.S Phan Thị Nga
SVTH :Ngụy Như Mỹ Duyên
Lớp:
15SMN
Đà Nẵng, tháng 1 năm 2019
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng và chân thành cảm ơn cô giáo - Thạc sĩ Phan Thị Nga, người đã đã
đi cùng tôi trong suốt một khoảng thời gian dài. Cô là người đã định hướng con đường
nào là tốt nhất, hướng dẫn cho tơi những điều cịn vướn mắc để có thể hồn thành bài
nghiên cứu một cách tốt nhất.
Tôi cũng xin ghi nhớ công ơn của các thầy giáo, cô giáo giảng dạy tại khoa Giáo dục
mầm non thuộc Trường Đại học sư phạm- Đại học Đà Nẵng đã luôn tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu.
Và tơi xin ngỏ lời cảm ơn tập thể các cô giáo và các cháu ở trường Mầm non 20/10,
trường mầm non Hoa Ban trên địa bàn quận Hải Châu thuộc thành phố Đà Nẵng đã
nghiêm túc và tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tơi trong q trình làm khảo sát sư phạm tại hai
trường.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lịng biết ơn đến những thầy giáo, cơ giáo và ba mẹ, những
người đã hết lòng thương yêu và dạy dỗ để tơi có được sự trưởng thành như ngày hôm
nay.
Đà Nẵng, ngày 14 tháng 1 năm 2019
Tác giả nghiên cứu
Ngụy Như Mỹ Duyên
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 1
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................................... 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ ................................................................................. 6
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 7
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................. 7
2. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................................... 8
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu ................................................................................. 8
3.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................................... 8
3.2. Khách thể nghiên cứu ................................................................................................... 8
4. Giả thuyết khoa học ......................................................................................................... 8
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................................... 8
5.1. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận làm cơ sở cho đề tài ............................................... 8
5.2. Tìm hiểu thực trạng phát triển năng lực tri giác thị giác của trẻ 5 – 6 tuổi ở trường
mầm non .............................................................................................................................. 9
5.3. Thiết kế và thực nghiệm một số các trò chơi tâm vận động nhằm phát triển khả năng
tri giác thị giác cho trẻ 5 – 6 tuổi ......................................................................................... 9
6. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................. 9
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận .................................................................................. 9
6.2. Phương pháp nghiến cứu thực tiễn ............................................................................... 9
6.2.1. Phương pháp đàm thoại ............................................................................................. 9
6.2.2. Phương pháp điều tra viết ........................................................................................ 10
6.2.3. Phương pháp thực nghiệm ....................................................................................... 10
6.2.4. Phương pháp thống kê toán học .............................................................................. 11
7. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................................... 12
8. Cấu trúc của đề tài ......................................................................................................... 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THIẾT KẾ TRÒ CHƠI TÂM VẬN ĐỘNG
NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TRI GIÁC THỊ GIÁC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
Ở TRƯỜNG MẦM NON ................................................................................................ 14
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề .................................................................................... 14
1.1.1. Các nghiên cứu nước ngoài ..................................................................................... 14
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước...................................................................................... 16
1.2. Các khái niệm chính ................................................................................................... 17
1.2.1. Khái niệm tri giác thị giác ....................................................................................... 17
1.2.2. Khái niệm phát triển năng lực tri giác thị giác cho trẻ 5 – 6 tuổi ............................ 17
1.2.3. Khái niệm trò chơi tâm vận động ............................................................................ 19
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 2
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
1.2.4. Khái niệm thiết kế trò chơi tâm vận động nhằm phát triển năng lực tri giác thị giác
cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non ................................................................................. 21
1.3. Lý luận về tri giác thị giác của trẻ 5 – 6 tuổi ............................................................. 21
1.3.1. Đặc điểm tri giác thị giác của trẻ 5 – 6 tuổi ............................................................ 21
1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển năng lực tri giác thị giác của trẻ 5 – 6 tuổi ..
........................................................................................................................................... 29
1.4. Lý luận về trò chơi tâm vận động của trẻ ................................................................... 32
1.4.1. Những đặc trưng của trò chơi tâm vận động ........................................................... 33
1.4.2. Vai trò của trò chơi tâm vận động đối với sự phát triển năng lực tri giác thị giác của
trẻ ....................................................................................................................................... 34
1.5. Lý luận về thiết kế trò chơi tâm vận động .................................................................. 37
1.5.1. Cơ sở khoa học xây dựng các trò chơi tâm vận động phát triển khả năng tri giác thị
giác cho trẻ 5 – 6 tuổi ........................................................................................................ 37
1.5.2. Quy trình thiết kế trị chơi tâm vận động nhằm phát triển năng lực tri giác thị giác
cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non ................................................................................. 39
Tiểu kết chương 1 .............................................................................................................. 39
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THIẾT KẾ TRÒ CHƠI TÂM VẬN ĐỘNG NHẰM
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TRI GIÁC THỊ GIÁC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI Ở
TRƯỜNG MẦM NON .................................................................................................... 41
2.1. Mục đích nghiên cứu. ................................................................................................. 41
2.2. Đối tượng khảo sát...................................................................................................... 41
2.3. Thời gian khảo sát ...................................................................................................... 41
2. 4. Các nguyên tắc xây dựng bài tập thực nghiệm phát hiện. ......................................... 41
2.5. Nội dung của các bài tập ............................................................................................ 41
2. 6. Cách đánh giá ............................................................................................................ 42
2.7. Kết quả khảo sát ......................................................................................................... 43
2.7.1. Kết quả đánh giá của giáo viên về tầm quan trọng của việc thiết kế trò chơi học tâm
vận động nhằm phát triển năng lực tri giác thị giác cho trẻ trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm
non. .................................................................................................................................... 43
2.7.2. Kết quả mức độ khả năng tri giác thị giác của trẻ 5 – 6 tuổi theo 3 bài tập……..... 47
2.8. Nguyên nhân thực trạng ............................................................................................. 50
2.8.1. Nguyên nhân chủ quan ............................................................................................ 50
2.8.2. Nguyên nhân khách quan ........................................................................................ 50
Tiểu kết chương 2 .............................................................................................................. 50
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ VÀ THỰC NGHIỆM MỘT SỐ TRÒ CHƠI TÂM VẬN
ĐỘNG NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TRI GIÁC THỊ GIÁC CHO TRẺ 5 – 6
TUỔI ................................................................................................................................. 52
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 3
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
3.1. Nguyên tắc thiết kế trò chơi tâm vận động nhằm phát triển năng lực tri giác thị giác
cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non ................................................................................. 52
3.2. Thiết kế một số trò chơi tâm vận động nhằm phát triển năng lực tri giác thị giác cho
trẻ 5 – 6 tuổi ....................................................................................................................... 52
3.3. Một số yêu cầu khi tổ chức các trò chơi tâm vận động phát triển năng lực tri giác thị
giác cho trẻ 5 – 6 tuổi. ....................................................................................................... 53
3.4. Điều kiện tiến hành thực nghiệm................................................................................ 53
3.4.1. Nhà trường: .............................................................................................................. 53
3.4.2. Đối với trẻ: ............................................................................................................... 54
3.4.3. Đối với gia đình: ...................................................................................................... 54
3.4.4. Sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường: ............................................................... 55
3.5 Thực nghiệm sư phạm ................................................................................................. 55
3.5.1. Mục đích thực nghiệm ............................................................................................. 55
3.5.2. Nội dung thực nghiệm ............................................................................................. 55
3.5.3. Đối tượng, phạm vi thực nghiệm ............................................................................. 55
3.5.4. Thời gian thực nghiệm ............................................................................................ 55
3.6. Cách đánh giá hiệu quả của thực nghiệm tác động .................................................... 56
3.7. Tiến hành thực nghiệm ............................................................................................... 56
3.8. Kết quả thực nghiệm một số trò chơi tâm vận động phát triển năng lực tri giác thị
giác cho trẻ 5 – 6 tuổi ........................................................................................................ 56
3.8.1. Kết quả khảo sát trước thực nghiệm ........................................................................ 56
3.8.2. Kết quả sau thực nghiệm ......................................................................................... 58
3.8.3. So sánh năng lực tri giác thị giác của nhóm thực nghiệm trước và sau tác động sư
phạm .................................................................................................................................. 60
3.8.4. So sánh kết quả năng lực tri giác thị giác trước và sau tác động sư phạm của hai
nhóm thực nghiệm và đối chứng ....................................................................................... 62
3.8.5. So sánh kết quả 3 bài tập của nhóm thực nghiệm và đối chứng trước và sau thực
nghiệm ............................................................................................................................... 64
Tiểu kết chương 3: ............................................................................................................. 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM ..................................................................... 67
1. KẾT LUẬN ................................................................................................................... 67
2. KIẾN NGHỊ ................................................................................................................... 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................... 69
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 4
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BT
: Bài tập
ĐC
: Đối chứng
SL
: Số lượng
TN
: Thực nghiệm
TGTG : Tri giác thị giác
TVĐ : Tâm vận động
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 5
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 1: Kết quả nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của việc phát triển năng lực
tri giác thị giác cho trẻ 5- 6 tuổi ở trường mầm non. ...................................................... 43
Bảng 2: Quan niệm của giáo viên về trò chơi tâm vận động ............................................ 44
Bảng 3: Kết quả đánh giá của giáo viên về các loại trò chơi phát triển năng lực tri giác thị
giác cho trẻ 5 – 6 tuổi ........................................................................................................ 45
Bảng 4: Kết quả đánh giá của giáo viên về việc thiết kế trò chơi tâm vận động nhằm phát
triển năng lực tri giác thị giác cho trẻ 5- 6 tuổi ở trường mầm non .................................. 46
Bảng 5: Kết quả mức độ khả năng tri giác thị giác của trẻ 5 – 6 tuổi. .............................. 47
Bảng 6: Kết quả khả năng tri giác thị giác của hai nhóm đối chứng và thực nghiệm trước
thực nghiệm ....................................................................................................................... 57
Bảng 7: Kết quả tri giác thị giác của hai nhóm thực nghiệm và đối chứng sau thực
nghiệm ............................................................................................................................... 58
Bảng 8: So sánh khả năng tri giác thị giác của nhóm thực nghiệm trước và sau tác động ...
........................................................................................................................................... 61
Bảng 9: Kết quả khả năng tri giác thị giác trước và sau tác động sư phạm của hai nhóm
thực nghiệm và đối chứng. ................................................................................................ 62
Bảng 12: Kết quả thực hiện 3 bài tập khảo sát khả năng tri giác thị giác trước và sau thực
nghiệm của hai nhóm đối chứng và thực nghiệm.............................................................. 64
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 6
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giai đoạn từ 0 – 6 tuổi là giai đoạn quan trọng trong cuộc đời của mỗi con người.
Ở lứa tuổi đầu tiên này, trẻ có nhu cầu được nhận biết tất cả những điều mới mẻ và hấp
dẫn, mong muốn tìm ra những đặc điểm, công dụng, những mối quan hệ phức tạp của sự
vật xung quanh,… Để phát triển, trẻ em cần thực hiện quá trình nhận biết, lĩnh hội những
kiến thức, kinh nghiệm của lồi người. Tri giác đóng một vai trị vơ cùng to lớn trong q
trình này. Nhờ tri giác, trẻ không những nhận biết được những điều xảy ra quanh trẻ mà
còn phát triển đời sống tâm lý và trí tuệ của mình. Vì vậy, việc rèn luyện, phát triển khả
năng tri giác là rất quan trọng và cần thiết.
Tri giác có ý nghĩa đặc biệt với sự phát triển của trẻ nói chung và sự học của trẻ
nói riêng. Những hiểu biết đầu tiên mà trẻ có được là do tri giác mang lại. Trong các loại
tri giác, tri giác nhìn (tri giác thị giác / tri giác bằng mắt) có vai trị đặc biệt quan trọng,
bởi mắt là cơ quan tiếp nhận đến 90% thông tin từ bên ngồi. Những thơng tin đó có ý
nghĩa rất lớn đối với trẻ em, vì như L.N. Tơnxtơi đã nói “Tất cả những gì mà đứa trẻ sẽ
có sau này khi trở thành người lớn đều thu nhận được trong thời thơ ấu”. Đôi mắt là “cửa
sổ tâm hồn”, hơn thế nữa nó cịn là cánh cửa để chúng ta nhìn ra thế giới và cuộc sống
xung quanh mình. Vì vậy, việc phát triển khả năng tri giác bằng mắt cho trẻ mầm non là
một nhiệm vụ quan trọng của ngành học mầm non.
Tri giác thị giác có tác động lớn tới nhiều khả năng của trẻ. Nó cũng chi phối khả
năng học tập của các em. Học đọc, học viết, học tính tốn đều cần sự chính xác của tri
giác thị giác. Cần phải rèn luyện khả năng tri giác thị giác cho trẻ ngay từ khi còn học ở
trường mầm non, có như vậy trẻ sẽ thuận lợi hơn khi thực hiện nhiệm vụ học tập ở trường
phổ thông sau này.
Để phát triển khả năng tri giác thị giác cho trẻ, có thể thực hiện bằng nhiều cách,
trong đó khơng thể khơng kể đến trị chơi. Việc phát triển khả năng tri giác bằng mắt cho
trẻ thông qua trò chơi rất phù hợp với những đặc điểm tâm – sinh lý của trẻ, tạo ra hiệu
quả giáo dục cao trong quá trình giáo dục trẻ.
Thực tế việc phát triển khả năng tri giác thị giác cho trẻ ở trường mầm non hiện
nay cũng đã được quan tâm thực hiện. Có nhiều hình thức để rèn luyện tri giác thị giác
cho trẻ, tuy nhiên, chủ yếu vẫn thông qua hoạt động chung. Việc tổ chức các trò chơi phát
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 7
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
triển khả năng tri giác thị giác cho trẻ chưa thực sự được quan tâm. Phần nhiều các trò
chơi được sử dụng trong các hoạt động chung của trẻ. Hơn nữa, chưa có sự đa dạng trong
việc sử dụng các trị chơi, thường là sử dụng lặp lại một số trò chơi quen thuộc với trẻ. Vì
vậy, hiệu quả của các trò chơi được tổ chức phần nào bị giảm sút. Bên cạnh đó, một
mảng trị chơi rất phù hợp với trẻ là trò chơi tâm vận động đang bị bỏ ngỏ. Việc chưa
khai thác và đưa vào sử dụng loại trị chơi này là rất đáng tiếc bởi nó có nhiều tác dụng
đối với trẻ.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn, chúng tôi thấy rằng đề tài về các trò chơi tâm
vận động phát triển khả năng tri giác thị giác cho trẻ là rất cần thiết. Chính vì vậy, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thiết kế trò chơi tâm vận động nhằm phát triển năng
lực tri giác thị giác cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non” với hy vọng rằng đề tài sẽ góp
phần nhỏ bé làm phong phú thêm lý luận và thực tiễn cho vấn đề này.
2. Mục đích nghiên cứu
Chúng tơi nghiên cứu đề tài này với mục đích thiết kế một số trò chơi tâm vận
động nhằm phát triển khả năng tri giác thị giác cho trẻ 5 – 6 tuổi, giúp trẻ thuận lợi hơn
khi đi học ở trường phổ thông.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Thiết kế trò chơi tâm vận động phát triển khả năng tri giác thị giác cho trẻ 5 – 6
tuổi.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Trò chơi tâm vận động phát triển khả năng tri giác thị giác cho trẻ 5 – 6 tuổi.
4. Giả thuyết khoa học
Trò chơi tâm vận động có thể phát triển năng lực tri giác thị giác cho trẻ. Nếu thiết
kế được những trò chơi tâm vận động phù hợp và sử dụng vào quá trình tổ chức hoạt
động cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non thì có thể giúp năng lực tri giác thị giác của trẻ
tốt hơn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận làm cơ sở cho đề tài
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 8
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
5.2. Tìm hiểu thực trạng phát triển năng lực tri giác thị giác của trẻ 5 – 6 tuổi ở trường
mầm non
5.3. Thiết kế và thực nghiệm một số các trò chơi tâm vận động nhằm phát triển khả
năng tri giác thị giác cho trẻ 5 – 6 tuổi
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Sưu tầm, đọc và phân tích các tài liệu, sách, tạp chí, các cơng trình nghiên cứu có
liên quan đến đề tài nhằm hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tâm vận động, trò chơi
tâm vận động, khả năng tri giác thị giác của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
- Nghiên cứu chương trình chăm sóc giáo dục trẻ 5 – 6 tuổi theo hướng đổi mới để
tìm hiểu về các trị chơi có trong chương trình, đặc biệt là các trị chơi tâm vận động, từ
đó có cơ sở xây dựng những trò chơi tâm vận động nhằm phát triển năng lực tri giác thị
giác của trẻ 5 – 6 tuổi, giúp trẻ thuận lợi hơn khi học đọc ở trường phổ thông.
- Nghiên cứu một số quan điểm, phương pháp luận để có cơ sở xây dựng các bài
tập tác động tới trẻ trong phần thực nghiệm.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp đàm thoại
Tiên hành đàm thoại với các giáo viên giảng dạy ở các lớp mẫu giáo lớn để tìm
hiểu nhằm bổ sung, làm chính xác hơn các kết quả thu được bằng phương pháp thực
nghiệm. Chúng tôi trao đổi, hỏi các giáo viên về các vấn đề sau:
- Khả năng nhận thức của trẻ (trong đó chú trọng tới khả năng tri giác thị giác):
Chúng tôi xin ý kiến nhận xét của các cô giáo về khả năng nhận thức của trẻ nói chung và
cả một số khả năng khác có liên quan đến nội dung nghiên cứu. Những thông tin thu
được giúp chúng tơi đánh giá chính xác hơn về khả năng của trẻ mà chúng tơi nghiên
cứu.
- Trao đổi, tìm hiểu nhiều hơn về một số cháu nổi trội (cả tốt và kém) để có những
nghiên cứu sâu hơn về những cháu này.
Chúng tôi thường tiến hành trao đổi với giáo viên ở những thời điểm phù hợp để
không làm ảnh hướng đến tiến trình giảng dạy, chăm sóc của các cô giáo. Đồng thời,
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 9
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
chúng tôi không chỉ trao đổi với 1 cô giáo dạy chính mà trao đổi với tất cả các cơ giáo
phụ trách lớp để có sự đánh giá chính xác và khách quan nhất.
6.2.2. Phương pháp điều tra viết
Thu thập các ý kiến đánh giá của giáo viên mầm non đã và đang dạy lớp mẫu giáo
5 – 6 tuổi ở trường mầm non Hoan Ban và trường mầm non 20 - 10 về khả năng tri giác
thị giác của trẻ, về việc sử dụng, thiết kế một số trò chơi tâm vận động nhằm phát triển
khả năng tri giác thị giác của trẻ mẫu giáo lớn.
6.2.3. Phương pháp thực nghiệm
a. Phương pháp thực nghiệm phát hiện
Chúng tôi sử dụng phương pháp thực nghiệm phát hiện nhằm đánh giá khả năng
tri giác thị giác của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, từ đó làm cơ sở để xây dựng các trò chơi tâm
vận động nhằm phát triển khả năng này ở trẻ.
Đối tượng thực nghiệm là 100 trẻ thuộc 2 trường mầm non: trường Mầm non
Hoa Ban và Trường Mầm non 20 – 10 Quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng.
Nội dung bài tập thực nghiệm phát hiện: Chúng tôi xây dựng 3 bài tập nhằm đánh
giá khả năng tri giác thị giác của trẻ. Đó là các hình vẽ về các đồ vật quen thuộc quanh
trẻ, các hình hình học cơ bản…
Cách tiến hành: Chúng tôi tiến hành thực nghiệm phát hiện trên 100 trẻ theo từng
nhóm nhỏ, mỗi nhóm 5 - 7 trẻ, mỗi trẻ ngồi một bàn trong phòng riêng. Phòng cho trẻ
ngồi phải đảm bảo yên tĩnh để trẻ không bị phân tán tư tưởng.
Cách đánh giá: Chúng tơi xin trình bày cụ thể cách đánh giá tại mục 6.2.4
b. Phương pháp thực nghiệm tác động
Mục đích của thực nghiệm tác động: Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu. Cụ thể:
thử nghiệm một số bài tập tác động sư phạm và đánh giá hiệu quả của chúng đối với sự
phát triển năng lực tri giác thị giác của trẻ 5 – 6 tuổi.
Nội dung thực nghiệm: Bao gồm 15 trò chơi tâm vận động phát triển năng lực tri
giác thị giác cho trẻ 5 – 6 tuổi.
Tiến trình thực nghiệm tác động: Gồm 3 bước sau đây:
a. Đo trước tác động
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 10
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
Mục đích: xác định khả năng tri giác thị giác của trẻ em 5 – 6 tuổi.
Chúng tôi đo khả năng tri giác thị giác của trẻ bằng bài tập tác động do chúng tơi
xây dựng, Sau khi có kết quả, chúng tôi chọn 60 trẻ ở các mức độ khác nhau và chia
thành 2 nhóm, mỗi nhóm 30 trẻ, 1 nhóm thực nghiệm và 1 nhóm đối chứng.
b. Tác động
Mục đích: Thử nghiệm biện pháp tác động sư phạm nhằm nâng cao khả năng tri
giác thị giác cho trẻ 5 – 6 tuổi.
Đối tượng thử nghiệm được triển khai trên 36 trẻ thuộc trường mầm non 20 – 10 (
Hải Châu, Đà Nẵng).
Nội dung tác động: Một hệ thống các bài tập được tổ chức dưới dạng trị chơi do
tơi thiết kế, có sự giúp đỡ của cơ giáo Liên – giáo viên trường mầm non 20 – 10
c. Đo sau tác động
Mục đích: Khẳng định tính đúng đắn và khả thi của các tác động thử nghiệm sư
phạm.
Tôi sử dụng bài tập đo trước tác động để đo kiểm tra sau tác động.
6.2.4. Phương pháp thống kê toán học
Mục đích: Sử dụng một số cơng thức tốn học để xử lý các số liệu thu thập được
nhằm giúp cho đề tài có được kết quả chính xác nhất.
Các cơng thức thống kê tốn học:
-
Tính tỷ lệ %: T =
P
n
Trong đó:
T: Số % trẻ đạt được ở từng mức độ
P: Số trẻ đạt được ở từng mức độ.
N: Tổng số trẻ tham gia.
- Số trung bình cộng =
Xi
n
Trong đó:
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 11
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
: Số trung bình cộng.
Xi : Tổng số điểm đạt được của trẻ tham gia.
n: Tổng số trẻ tham gia.
Tóm lại, để thực hiện các nội dung nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn đã đặt ra,
tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu khác nhau ứng với từng nội dung. Cụ thể:
Ở nội dung nghiên cứu lý luận: Tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận để
xây dựng những cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài: tri giác thị giác, trò chơi tâm vận
động và những vấn đề có liên quan đến những nội dung này.
Với nội dung nghiên cứu thực trạng: Sử dụng hệ thống các phương pháp phù hợp,
đó là: phương pháp đàm thoại, phương pháp điều tra viết, phương pháp thực nghiệm phát
hiện để phát hiện thực trạng khả năng tri giác thị giác của trẻ 5 – 6 tuổi. Trong hệ thống
phương pháp này, phương pháp thực nghiệm phát hiện là phương pháp chính.
Với nội dung thực nghiệm tác động: Tôi thiết kế một hệ thống bài tập tác động
hình thành (thực chất là những trị chơi tâm vận động) để áp dụng vào trẻ.
Để lượng hóa các kết quả thu được, tôi sử dụng phương pháp thống kê tốn học.
Tơi mong muốn rằng, với việc sử dụng đồng bộ các phương pháp nghiên cứ như
trên sẽ giải quyết tốt các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra.
7. Phạm vi nghiên cứu
- Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tơi chỉ nghiên cứu một số trị chơi tâm vận
động nhằm phát triển khả năng tri giác thị giác của trẻ 5 – 6 tuổi ở 2 trường mà non trên
địa bàn Thành Phố Đà Nẵng là Trường Mầm non Hoa Ban và Trường Mầm non 20 - 10
8. Cấu trúc của đề tài
Phần mở đầu
Phần nội dung
+ Chương 1: Cơ sở lý luận về thiết kế một số trò chơi tâm vận động nhằm phát
triển năng lực tri giác thị giác cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
+ Chương 2: Thực trạng thiết kế trò chơi tâm vận động nhằm phát triển năng lực
tri giác thị giác của trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 12
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
+ Chương 3: Thiết kế và thực nghiệm một số trò chơi tâm vận động nhằm phát
triển năng lực tri giác thị giác cho trẻ 5 – 6 tuổi
Phần kết luận chung và kiến nghị sư phạm
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 13
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THIẾT KẾ TRÒ CHƠI TÂM VẬN ĐỘNG
NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TRI GIÁC THỊ GIÁC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu nước ngoài
Khái niệm “tâm vận động” chỉ được xuất hiện một cách chính thức trong một bài
diễn văn của Dupré ở đầu thế kỷ XX. Như vậy, lịch sử của vấn đề này khơng phải là dài.
Trước đó người ta cũng có nhắc đến vấn đề cơ thể, tâm lý và mối quan hệ giữa cơ thể và
tâm lý, nhưng đó chưa phải là tâm vận động đầy đủ, trọn vẹn. Theo tổng kết của TS.
Nguyễn Thị Như Mai trong luận án tiến sĩ “Nghiên cứu tâm vận động ở trẻ em 5 – 6
tuổi” đã có nhiều nhà triết học, tâm lý học đề cập đến vấn đề cơ thể, tâm hồn và mối
quan hệ giữa cơ thể và tâm hồn. Có thể điểm qua những nghiên cứu sau:
Từ thời cổ đại, trong những quan điểm của Platon, Aristote đã có bàn đến vấn đề
cơ thể và tâm hồn. Tuy nhiên, quan điểm của các nhà triết học này còn sơ khai.
Đến thế kỷ XVII, nhà triết học nổi tiếng R. Descartes với câu nói bất hủ: “Tơi tư
duy tức là tơi tồn tại” đã chỉ ra vai trị của tư duy. Ông cho rằng con người là “một vật
biết suy nghĩ”, nhưng ông lại không cho rằng sự suy nghĩ thuộc về con người, cơ thể
không biết suy nghĩ. Ơng cịn phân tích cơ chế sinh lý của sự hợp nhất giữa tâm hồn và
cơ thể của sự quan hệ qua lại giữa tâm hồn và cơ thể. Về mặt vận động, Descartes cho
rằng vận động của con người tn theo ý thức có ý chí có được do các khớp, các cơ bắp
và những đường thần kinh.
Đến đầu thế kỷ XIX, Maine de Biran có lý thuyết “Tâm lý học hoạt động”. Ông là
người đầu tiên coi vận động là một thành phần cơ bản của cấu trúc tâm lý về cái Tôi.
Theo quan điểm của Maine de Biran vận động cũng chính là một phần của nhân cách.
Nửa đầu thế kỷ XX, khái niệm tâm vận động có liên quan đến lịch sử thần kinh
bệnh học và thần kinh học. Thuật ngữ “tâm vận động” được ra đời từ những phát minh
lớn của khoa sinh lý thần kinh và thần kinh bệnh lý gắn với những nhà thần kinh bình
thường và thần kinh bệnh lý như Dupré, Charcot, Shilder. Head…
J. Piagiet cho rằng thông minh là từ cảm giác vận động. Nhờ có sự xây dựng các
sơ cấu về cảm giác vận động và sự phối hợp giữa chúng mà cơ thể, không gian và thời
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 14
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
gian được xây dựng đồng thời do kinh nghiệm lặp đi lặp lại. Ơng cũng cho rằng con
người tồn thể thể hiện bằng hành động của mình.
S. Freud cho rằng cơ thể có một tầm quan trọng đặc biệt trong sự hình thành vơ
thức – thành phần chủ yếu của đời sống tâm lý con người. Cơ thể chính là nguồn của mọi
xung động. Theo S. Freud, cái tơi có ngun nhân từ cơ thể.
Vào những năm 60 của thế kỷ XX, những nghiên cứu về tâm vận động đã trở nên
có ý nghĩa. J. de Ajuriaguerra cho rằng có một sự phụ thuộc lẫn nhau giữa tâm lý và vận
động chứ không chỉ là sự song hành giữa chúng. Cùng với những nghiên cứu của H.
Wallon, Ajuriaguerra đã đặt nền móng về lý thuyết cho những vấn đề về rối loạn tâm vận
động và cách chữa trị tâm vận động.
Đến những năm 70 của thế kỷ XX, các nhà tâm lý học ngày càng quan tâm đến vai
trò của cơ thể thực, đặc biệt là trong chữa trị về tâm lý. Vấn đề giáo dục tâm vận động và
trị liệu tâm vận động cũng được ưu tiên nghiên cứu trong thời kỳ này.
* Vấn đề giáo dục tâm vận động và trò chơi tâm vận động:
Vấn đề giáo dục tâm vận động được nhiều quốc gia, nhiều nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu. Cụ thể:
B. Aucouturier là người đầu tiên xây dựng nên các nội dung thực hành giáo dục
tâm vận động. Ông đã tạo ra những nội dung thực hành độc đáo sử dụng một môi trường
chuyên biệt, những khái niệm đặc trưng và những cách thức hành động riêng. Những nội
dung này được sử dụng như là phương tiện để giáo dục trẻ ở giai đoạn phát triển ban đầu
và đã được thực hiện ở Châu Âu với trẻ mầm non. Những thực hành của ơng hướng tới
tính thống nhất của con người, như là một cấu trúc tâm lý hợp lý khơng thể chia cắt có
nguồn gốc cơ thể. Ông cho rằng sự thoải mái về tâm lý – vận động là tâm điểm, nó là yếu
tố thống nhất giữa có thể và tâm lý… Ơng viết: “Trẻ em chế ngự thế giới từ một nền tảng
mang tính xúc cảm thường xun, có liên hệ chặt chẽ với nền tảng tình cảm của nó, ngay
cả cái sâu kín nhất.”
Từ năm 1974, Chính phủ Pháp đã đào tạo các nhà tâm vận động. Việc đào tạo này
là việc làm cần thiết, khởi đầu cho việc nghiên cứu và ứng dụng giáo dục tâm vận động
vào cuộc sống.
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 15
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
Ngày nay, ở nhiều nước Châu Âu như Pháp, Đức, Áo, Tây Ba Nha, Bồ Đào Nha,
Bỉ… những ứng dụng tâm vận động vào giáo dục và y tế rất thịnh hành. Ở Canada, Nam
Phi, Mỹ, những nghiên cứu và ứng dụng về tâm vận động cũng rất phát triển. Có thể nói,
tâm vận động và vấn đề giáo dục tâm vận động ngày càng được quan tâm. Những ứng
dụng của nó có sức lan tỏa lớn, trong nhiều lĩnh vực khác nhau, điển hình là lĩnh vực giáo
dục và y tế.
Về trò chơi tâm vận động, nhiều nhà khoa học cũng đã rất thành cơng khi xây
dựng các trị chơi nhằm mục đích phát triển tâm vận động cho trẻ em. Có thể kể ra những
tên tuổi như:
A.De Meur, Ph. Navet (Bỉ, 1979), J. Dubosson (Pháp, 1968) đã có những nghiên
cứu và xây dựng những bài tập về tri giác, cảm giác – vận động, nghiên cứu và ứng dụng
những phương pháp thực hành về tâm vận động cho trẻ em. Đặc biệt, A.De Meur là
người có cơng rất lớn khi đưa ra hệ thống những trò chơi tâm vận động cho trẻ. Những
trị chơi mà ơng xây dựng được sử dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả giáo dục tâm vận
động cao.
J. le Boulch (Pháp) xây dựng những bài luyện tập tâm vận động cho trẻ từ tuổi
mầm non cho đến tuổi học sinh tiểu học (1984).
Tóm lại, đến thế kỷ XX khái niệm tâm vận động được hình thành và phát triển
một cách rõ nét và ngày càng đầy đủ. Tâm vận động và các vấn đề giáo dục tâm vận động
đã trở nên quen thuộc ở nhiều nước trên thế giới. Những ứng dụng của nó mang lại hiệu
quả giáo dục cao. Chính những quan điểm của các nhà nghiên cứu trong những năm 60,
70 của thế kỷ XX đã tạo cơ sở cho sự phát triển mạnh mẽ của tâm vận động ngày nay.
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước
Những nghiên cứu về tâm vận động ở Việt Nam có thể kể đến: Cơng trình vận
dụng thang phát triển tâm vận động Brunet – Lézin trên trẻ em Việt Nam của bác sĩ Vũ
Thị Chính và các cộng sự; Cơng trình của bác sỹ Lê Đức Hinh và các cộng sự đã sử dụng
test Denver trong chuẩn đoán sự phát triển tâm lý – vận động trẻ em;…
Ngồi ra cịn có một số tác giả cũng đề cập đến tâm vận động và sự phát triển tâm
vận động của trẻ em như: Nguyễn Khắc Viện trong cuốn “Từ điển tâm lý” đã giải thích
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 16
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
về khái niệm “tâm vận động”; Nguyễn Thị Nhất trong biên soạn và dịch cuốn “6 tuổi,
vào lớp một”; Ngô Công Hoàn trong cuốn “Tâm lý học trẻ em”…
Tác giả Nguyễn Thị Như Mai trong Luận án tiến sĩ của mình cũng có những
nghiên cứu chuyên sâu về tâm vận động của trẻ em. Ngoài ra, từ năm 1998 đến nay, Tiến
sĩ Nguyễn Thị Như Mai cịn có nhiều bài báo và sách về tâm vận động và sự pt tâm vận
động ở trẻ em như: Tạp chí Tâm lý học, tạp chí Giáo dục, giáo trình “Tâm lý học trẻ em
tuổi mầm non”…
Tóm lại, vấn đề tâm vận động, giáo dục tâm vận động và trò chơi tâm vận động đã
được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu và đưa ra những quan điểm của mình. Nó
đã đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển của phạm trù tâm vận động thế kỷ này.
1.2. Các khái niệm chính
1.2.1. Khái niệm tri giác thị giác
Tri giác thị giác là một quá trình tri giác những sự vật, hiện tượng bằng cơ quan
phân tích thị giác, thơng qua cơ quan phân tích thị giác để tổ chức có ý thức những dữ
kiện thông tin trong mối liên quan với những đối tượng bên ngồi và tổ chức có ý thức
những thông tin thuộc về cơ thể bản thân.
Khái niệm tri giác thị giác trên bao gồm những nội hàm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, tri giác thị giác là một loại tri giác, nó cũng có những đặc trưng của tri
giác thơng thường. Tức là, đó là một q trình kiến tạo phức tạp. Tri giác thị giác vừa là
sản phẩm của q trình sinh lý (các thơng tin về đối tượng được cơ quan phân tích thị
giác tiếp nhận và truyền tới trung khu thần kinh dưới vỏ, sau đó đến vỏ não), vừa là sản
phẩm của quá trình tâm lý (thơng tin tới vỏ não được kết hợp với các cảm giác, cảm xúc,
ký ức, kinh nghiệm… để tạo thành thông tin trọn vẹn, đầy đủ về đối tượng).
Trong quá trình tri giác thị giác, sự phối hợp giữa cảm giác và vận động có một
vai trị quan trọng. Vận động làm cho các tín hiệu của cảm giác trở nên chính xác hơn, rõ
ràng hơn và đầy đủ hơn.
Tri giác thị giác không chỉ cần đến những khả năng của cơ thể mà còn giúp cho
con người có hiểu biết về cơ thể bản thân, đồng thời thích nghi được với mơi trường xung
quanh. Những thơng tin mà tri giác thị giác mang lại làm phong phú thêm những vốn
sống, kinh nghiệm. Nhờ đó mà con người dễ dàng thích ứng với hồn cảnh, có những
cách xử lý thông tin phù hợp.
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 17
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
Thứ hai, những thông tin mà tri giác thị giác mang lại được tiếp nhận qua cơ quan
thị giác.
Tri giác thị giác thực chất là sử dụng cơ quan thị giác để tiếp nhận thơng tin, từ đó
truyền những thơng tin đó đến não bộ để xử lý thơng tin. Như vậy, để có sản phẩm của tri
giác thị giác trước hết chúng ta phải sử dụng chính cơ thể, xuất phát từ cơ thể của mình
để nhận thức bản thân mình và những sự vật, hiện tượng xung quanh.
Tóm lại, tri giác thị giác là một loại tri giác đặc biệt, nó sử dụng cơ quan phân tích
thị giác để tiếp nhận những tín hiệu, thơng tin từ thế giới khách quan tác động đến con
người. Những thơng tin đó được xử lý để tạo thành những thơng tin chính xác, đầy đủ về
các đối tượng đang tác động trực tiếp tới chủ thể tri giác.
Điểm nổi bật của loại tri giác này là thơng qua cơ quan phân tích thị giác mà con
người có những biểu tượng về hình dạng, kích thước, màu sắc, hướng, vị trí và tính chất
của sự vật, hiện tượng. Nói cách khác, đó là sự tri giác những thuộc tính của sự vật, hiện
tượng tác động trực tiếp vào mắt chúng ta và được mắt phản ánh theo các mức độ đầy đủ,
trọn vẹn khác nhau.
Theo Louise Doyon:“Sự phân biệt về mặt thị giác là khả năng nhận biết những sự
khác biệt và tương đồng giữa các yếu tố khác nhau”
Sự khác biệt và tương đồng giữa các yếu tố này về những mặt sau:
- Hình dáng.
- Phương hướng.
- Kích thước.
- Vận động.
- Màu sắc.
Chất lượng của tri giác thị giác là ở sự chính xác. Khi tiếp xúc với các đối tượng,
con người phải nhận ra chúng, phải phân biệt được chúng trong số nhiều những đối tượng
giống hoặc tương đối giống nhau… Nếu các đối tượng tri giác có sự khác biệt rõ ràng thì
sẽ thuận lợi cho sự tri giác nhìn. Ngược lại, nếu các đối tượng chỉ có sự khác biệt nhỏ và
sự tương đồng lớn sẽ gây cho người tri giác sự nhầm lẫn, khó khăn.
1.2.2. Khái niệm phát triển năng lực tri giác thị giác cho trẻ 5 – 6 tuổi
Trẻ 5 – 6 tuổi là giai đoạn cuối cùng của tuổi mẫu giáo với những đặc điểm tâm sinh lí
khác nhiều so với lứa tuổi trước chính vì vậy các biện pháp phát triển giác quan cho trẻ
lứa tuổi này phải đáp ứng được yêu cầu về sự phát triển đồng thời chuẩn bị tốt cho trẻ
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 18
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
những điều kiện cần thiết để bước vào môi trường học tập. Biện pháp phát triển năng lực
tri giác thị giác cho trẻ 5 – 6 tuổi được thiết kế xuất phát từ cơ sở sinh lí của trẻ và hướng
đến việc tích cực hóa vai trị của đứa trẻ trong hoạt động mới có thể kích thích sự phát triển
các giác quan một cách tự nhiên.
Có thể nói biện pháp phát triển năng lực tri giác thị giác cho trẻ 5 – 6 tuổi là những
cách thức cụ thể, là thủ thuật của giáo viên tác động vào quá trình luyện tập thị giác của
trẻ 5 – 6 tuổi một cách khoa học và hợp lí nhằm giúp trẻ đạt được hiệu quả khi giải quyết
các nhiệm vụ, tình huống khác nhau bằng thị giác, giúp phát triển năng lực tri giác thị
giác cho trẻ tốt nhất trong những điều kiện giáo dục nhất định.
1.2.3. Khái niệm trò chơi tâm vận động
Tâm vận động là một lĩnh vực đang được thế giới quan tâm nghiên cứu và ứng
dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có giáo dục. Các nhà tâm lý – giáo dục ngày
càng chú ý tới sự phát triển tâm vận động của trẻ. Giáo dục tâm vận động ngày nay được
coi như một lĩnh vực cần thiết và hiệu quả.
Trước đây, trong một thời gian dài người ta coi cơ thể và tâm lý là hai phần tách
rời nhau. Ngày nay, với những nghiên cứu tiến bộ của ngành tâm lý học, chúng ta biết
rằng sự phát triển tâm lý của con người phải thông qua hoạt động, nhờ hoạt động mà tâm
lý phát triển. Muốn hoạt động thì cần sự kết hợp của cả hai yếu tố: tâm lý và vận động
của cơ thể.
Tâm vận động là lĩnh vực quan tâm tới sự tác động qua lại giữa những chức năng
tâm lý và những chức năng vận động, nhìn nhận con người một cách tồn diện về cả 3
mặt: thể chất, tình cảm – xã hội và nhận thức, từ đó giúp cho con người hoạt động tâm lý
bình thường, thiết lập được quan hệ với người khác và với mơi trường. Có thể nói, tâm
vận động là quan niệm tổng thể về con người.
Tâm vận động là một cách tiếp cận con người một cách toàn diện. Theo quan niệm
của Yernaux Jean – Pierre: “Những khái niệm cơ bản được tồn tại một cách cảm xúc bởi
cơ thể trong vận động và hành động”; “Tâm vận động là cơ sở cần thiết, là nguồn để từ
đó trẻ có thể rút ra cái nó cần để tạo nên những kinh nghiệm và thu được những khả
năng có cơ sở là cơ thể, rồi đến lời nói, chữ viết, âm nhạc, tốn… cho phép trẻ giải quyết
những vấn đề khác nhau nó gặp phải”. Theo quan điểm này, tâm vận động dùng cơ thể
làm gốc, nhờ cơ thể, thông qua cơ thể mà con người tích lũy được những kinh nghiệm,
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 19
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
những khả năng… để hoạt động một cách thoải mái trong chính cơ thể đó và trong thế
giới xung quanh. Nhận thức được vai trò của tâm vận động đối với đời sống con người,
nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu vào vấn đề giáo dục tâm vận động.
Giáo dục tâm vận động là hệ thống những tác động giáo dục nhằm phát triển chức
năng tâm vận động của trẻ em, thơng qua đó phát triển tồn diện tâm lý – nhân cách trẻ.
Bằng cách sử dụng những khả năng của trẻ, thông qua sự tác động qua lại với môi trường
con người, thông qua những trải nghiệm và luyện tập về vận động, giúp trẻ phát triển về
nhận thức, tình cảm, có được những khả năng cần thiết để học tập ở trường phổ thơng, có
khả năng thích ứng với xã hội. Những tác động về tâm vận động cho phép thống hợp tốt
nhất về giác quan và tâm vận động, giúp trẻ dễ dàng hoạt động, làm phát triển toàn bộ
nhân cách trẻ.
Giáo dục tâm vận động nhấn mạnh vai trò của hoạt động của cơ thể trẻ, coi nó là
phương tiện trung gian. Kinh nghiệm cơ thể giữ vị trí trung tâm trong sự phát triển. Xúc
cảm đến từ cơ thể, trí tuệ được hình thành bởi những kinh nghiệm có từ cơ thể. Một đứa
trẻ cảm nhận tốt về cơ thể, hoạt động thoải mái và có hiệu quả bằng cơ thể sẽ dễ dàng và
cân bằng hơn trong tiếp xúc với người khác. Hiểu biết tốt về cơ thể giúp trẻ nhận biết
được về không gian, thời gian, giúp tư duy của trẻ phát triển… Có thể nói giáo dục tâm
vận động giữ vai trị cơ bản đối với việc chuẩn bị cho trẻ bước vào đời sống và học tập.
Trò chơi tâm vận động là một hình thức giáo dục tâm vận động hiệu quả. Trị chơi
có một vai trị to lớn đối với sự phát triển của trẻ. Tác giả Boudart cho rằng: “Không phải
trẻ em chơi để học. Trái lại, chúng có khả năng học, vì chúng nó biết chơi”. [1; tr49].
Theo quan điểm này, chúng ta thấy tác giả đã nhấn mạnh rằng: thơng qua trị chơi đã phát
triển ở trẻ những khả năng học tập; chơi được thì sẽ học được.
Khái niệm “trị chơi tâm vận động” khơng phải là khái niệm phổ biến và được
nhiều người biết đến. Trên thực tế những trò chơi tâm vận động đã được sử dụng nhiều ở
các nước, song ở Việt Nam thì chưa nhiều.
Có thể hiểu: Trị chơi tâm vận động là những trị chơi sử dụng những khả năng
của trẻ, thơng qua sự tác động qua lại với môi trường con người, thông qua những trải
nghiệm và luyện tập về vận động, giúp trẻ phát triển về nhận thức, tình cảm, có được
những khả năng cần thiết để học tập ở trường phổ thơng, có khả năng thích ứng với xã
hội.
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 20
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
Tóm lại, tất cả những thành quả như khám phá mình, khám phá người khác, khám
phá thời gian, không gian và các sự vật… đều thu được từ trị chơi, có được nhờ trò chơi.
Những thành quả này sẽ giúp trẻ em càng ngày càng phát huy một hình ảnh tích cực về
mình. Đó cũng là những cơ hội để trẻ em từ từ phát huy đời sống tự lập, khả năng tiếp
xúc và sáng tạo. Trên cơ sở này, trẻ em có khả năng mở rộng mơi trường sinh hoạt,
hướng ra thế giới bên ngồi, sẵn sàng đón nhận và tiếp thu những hình thức học tập khác,
thuộc lĩnh vực học tập và xã hội.
1.2.4. Khái niệm thiết kế trò chơi tâm vận động nhằm phát triển năng lực tri giác thị
giác cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
Thiết kế trò chơi tâm vận động nhằm phát triển năng lực tri giác thị giác cho trẻ 5 – 6 tuổi
ở trường mầm non là tạo ra những trị chơi có nhiệm vụ chủ yếu là phát triển năng lực tri
giác thị giác và chủ thể tham gia những trị chơi đó là trẻ, khi tham gia trẻ sẽ được phát
triển khả năng tri giác thị giác của mình.
1.3. Lý luận về tri giác thị giác của trẻ 5 – 6 tuổi
1.3.1. Đặc điểm tri giác thị giác của trẻ 5 – 6 tuổi
Các giác quan của trẻ sơ sinh đã bắt đầu hoạt động ngay từ ngày đầu tiên nhưng
hoạt động của các bộ máy này không hoàn thiện. Đặc điểm quan trọng của trẻ sơ sinh là
thị giác, thính giác phát triển nhanh hơn các cử động của thân thể. Chỉ sau 2 tuần lễ diện
tích các miền thị giác trên vỏ các bán cầu đại não tăng lên 1,5 lần. [14; tr 86]. Theo Trần
Trọng Thủy (trong cuốn “Tâm lý học”) [18; tr 99], phần lớn các phát hiện về tri giác ở trẻ
sơ sinh tập trung vào thị giác, có lẽ do nó là một giác quan quan trọng của con người.
Đối với mắt, chỉ có ánh sáng mạnh trong miền khơng gian gần mới gây ra phản
ứng nhìn ở đứa trẻ. Việc nhìn được hồn thiện nhanh chóng trong những tuần lễ và
những tháng đầu tiên. Sự định hình về mắt của đứa trẻ được bắt đầu từ ngày thứ 10 cùng
với kích thích ánh sáng và khn mặt của người mẹ, cho đến cuối năm thứ nhất đã nhìn
theo một cách thích thú các đồ vật mà nó bng rơi. Đến khoảng 1 năm thì mắt của trẻ
mới xác định được chính xác vị trí của vật trong khơng gian và điều chỉnh cử động của
tay một cách tương đối chính xác. Khi trình độ nhìn bằng mắt của trẻ phát triển cao hơn,
trẻ chỉ cần nhìn là có thể điều chỉnh tay cầm cho phù hợp, có nghĩa là trẻ đã có tri giác
bằng mắt về hình dáng và kích thước của đồ vật một cách chính xác.
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 21
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
Hành động bằng mắt được phát triển mạnh tuổi lên 3. Kiểu tri giác mới hình
thành, trẻ dùng mắt để lựa chọn đối tượng phù hợp hành động. Hành động định hướng
bằng mắt giúp trẻ tích luỹ nhiều biểu tượng về các đối tượng và so sánh các vật khác.
Việc lựa chọn đối tượng bằng mắt là rất phức tạp và địi hỏi trẻ phải hiểu rằng có nhiều
những đối tượng có thuộc tính giống nhau. Nhờ có khả năng này mà trẻ dễ dàng nhận ra
người thân hoặc đồ vật quen thuộc… một cách dễ dàng. Hành động bằng mắt cũng cho
phép trẻ tích lũy được khá nhiều biểu tượng về các đối tượng trong hiện thực và ghi lại
trong đầu óc trẻ, biến chúng thành các mẫu để so sánh với các đồ vật khác trong khi tri
giác chúng. Chẳng hạn, khi tri giác hình trịn thì trẻ thấy giống quả bóng, giống quả cam,
hay giống cái bánh xe…
Việc tích lũy các biểu tượng về sự vật hiện tượng xung quanh trẻ tùy thuộc vào
mức độ trẻ định hướng bằng mắt trong quá trình trẻ hành động với đồ vật. Chính vì vậy,
cần cho trẻ được làm quen với các đồ vật, sự vật phong phú, đa dạng về chủng loại, hình
dáng, màu sắc… Các cơng trình nghiên cứu đã chứng minh rằng trẻ lên ba hồn tồn có
thể tiếp nhận được những biểu tượng của năm hình (trịn, bầu dục, vuông, chữ nhật, tam
giác) và tám màu (đỏ, da cam, vàng, lục, xanh, tím, trắng, và đen), tuy chưa biểu thị được
bằng ngơn ngữ một cách chính xác (V.X. Mukhina) [14; tr 188]
Tri giác thị giác của trẻ dưới 3 tuổi chủ yếu hướng đến hình dạng và màu sắc của
đối tượng. Trẻ dễ dàng tri giác những đối tượng thậm chí khơng màu và ngay cả đường
viền của đối tượng quen thuộc. Mắt thực hiện chức năng cơ bản là nhận thức đối tượng
[8; tr 214]. Theo nhà tâm lý học A.A.LiublinXkaia [9; tr215, 216…], những đối tượng
rực rỡ, đẹp đẽ đặc biệt thu hút trẻ. Tuy nhiên cũng có nhiều nhà nghiên cứu lại cho rằng
hình dạng mới là dấu hiệu quan trọng nhất đối với sự tri giác đối tượng của trẻ. Qua
những nghiên cứu và quan sát đặc biệt, các nhà tâm lý học Xơ Viết đã chỉ ra giữa màu
sắc và hình dạng trong tri giác đối tượng của trẻ có quan hệ rất phức tạp, có khi cịn mâu
thuẫn với nhau. Đó là những quan hệ khơng thường xun, có thể bị thay đổi và phụ
thuộc vào nhiều điều kiện khác nhau.
Đến độ tuổi mẫu giáo, khả năng tri giác thị giác của trẻ đã phát triển. Trẻ có thể
dùng mắt để nhận biết, phân biệt các thuộc tính của sự vật, hiện tượng như màu sắc, hình
dạng, kích thước, hướng, vị trí, tính chất… một cách đầy đủ, trọn vẹn và chính xác. Cụ
thể:
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 22
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
* Tri giác hình dạng và màu sắc
Tri giác hình dạng của các sự vật thường được thực hiện bằng các cơ quan phân
tích thị giác, va chạm và vận động. Dấu hiệu quan trọng nhất khi tri giác hình dạng là
đường biên của sự vật. Đó chính là ranh giới của hình ảnh sự vật và nền xung quanh sự
vật. Nhờ những cử động nhỏ của mắt mà ta có thể tách được ranh giới của các sự vật,
không những thế mà ta còn học được cách dõi theo ranh giới đó. Điều này được thực hiện
nhờ sự vận động của mắt. Những vận động này làm ta nhận ra và làm tách bạch đường
biên của sự vật và là điều kiện cần thiết để tạo ra ảnh về hình dạng của sự vật ở trong đầu
ta. Khi tri giác hình dạng ta thường thăm dị hình dạng bằng cách di chuyển cái nhìn một
cách tương đối có hệ thống vào những điểm cố định (tập trung) của nó.
Sự tri giác nhìn đối với hình dáng sự vật được quy định bởi nhiều điều kiện quan
sát, như: độ lớn của sự vật, khoảng cách từ sự vật đến mắt người quan sát, độ chiếu sáng,
độ tương phản giữa sự vật và nền…
Các nhà nghiên cứu Xô Viết đã chỉ ra: hình dạng có vai trị chủ chốt khi đứa trẻ tri
giác đối tượng, đồng thời cũng nêu lên tính chất phức tạp của tương quan giữa hình dạng
và màu sắc của đối tượng. Họ xác nhận rằng màu sắc của đối tượng là dấu hiệu nhận thức
chỉ khi dấu hiệu khác thường (hình dạng) mạnh hơn. Lý luận này được biểu lộ rõ ràng
nhất trong tri giác của trẻ với những đối tượng quen biết. S.N. Sabalin chỉ ra rằng trẻ mẫu
giáo bé đã tri giác đúng hồn tồn hình dạng của đối tượng ngay cả khi nó tồn tại dưới
dạng hình lờ mờ.
Đến giai đoạn 5 – 6 tuổi trẻ đã có thể tách bạch chính hình dạng theo sự giống
nhau của nó với đối tượng nhất định. Chẳng hạn, trẻ nói vịng trịn giống như cái bánh xe,
tam giác giống như cái nón… Khi đã nhận ra và gọi tên được các hình hình học, trẻ có
thể tìm thấy các hình đó ở những đồ vật quen thuộc, như cái cửa là hình chữ nhật, cái
bánh xe là hình trịn. Lúc này, hình dạng có ý nghĩa tín hiệu đối với trẻ và được trẻ phản
ánh khái quát dựa vào sự trừu tượng hóa gọi tên hình dạng bằng từ.
Cũng ở giai đoạn 5 – 6 tuổi, khả năng tri giác màu sắc của trẻ cũng có những bước
phát triển đáng kể. Ngoài những màu cơ bản, trẻ có thể nhận biết, phân biệt, gọi tên rất
nhiều màu sắc khác nhau. Ví dụ: màu xanh có màu xanh lá cây, màu xanh nước biển,
xanh da trời, xanh nõn chuối, … Khi thể hiện những tác phẩm tạo hình, trẻ đã biết phối
hợp các màu sắc phù hợp, lựa chọn các màu sắc giống tự nhiên. Nhiều trẻ đã có thể phối
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 23
Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Khóa luận tốt nghiệp
hợp các màu hợp lý. Điều đó chứng tỏ khả năng nhận biết, phân biệt các màu sắc của trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi đã tương đối tốt.
Những nghiên cứu của V.P. Zintsenko, A.G. Rudxkaia, M.N. Vôlôkichina… đã
chỉ ra sự phụ thuộc phức tạp giữa xúc giác và thị giác khi tri giác hình dạng: “Ở trẻ mẫu
giáo sự làm quen bằng thị giác với hình dạng đối tượng và sự lựa chọn sau đó đối với đối
tượng này trong số những cái khác tương tự cũng được tri giác bằng thị giác thì có hiệu
quả hơn so với sự nhận lại đối tượng được tri giác trước đây bằng xúc giác – vận động.
Nhưng nếu hình dạng được tách bạch bằng xúc giác thì sự chuyển hình dạng sang lĩnh
vực tri giác thị giác sẽ có hiệu quả hơn so với trong quá trình ngược lại: từ thị giác đến
xúc giác.” [9; tr 228]
Sự phối hợp hoạt động của tay với hoạt động của mắt làm cho sự tri giác hình
dạng ở trẻ mẫu giáo lớn tốt hơn rõ rệt. Tay với tư cách là bộ máy hành động thực tiễn,
còn mắt giúp nhận ra một số dấu hiệu đặc trưng của sự vật. Sự phối hợp nhịp nhàng của
tay và mắt là cho sự tri giác hình dạng trở nên chính xác hơn rất nhiều. Như vậy, đối với
trẻ mẫu giáo lớn thì sự phối hợp của tri giác xúc giác và tri giác thị giác có vai trị rất
quan trọng.[9; tr 228,229]
* Sự tri giác kích thước.
Độ lớn mà ta tri giác được của sự vật là do độ lớn của hình ảnh của nó trên võng
mạc mắt và độ xa của nó tới ta quyết định. Sự thích ứng của mắt đối với việc nhìn rõ các
vật ở độ xa khác nhau được thực hiện nhờ hai cơ chế: Điều tiết và hội tụ. Nhờ vậy, nếu sự
vật lớn thì hình ảnh của nó trên võng mạc cũng lớn, và ngược lại. Sự kết hợp hai kích
thích: độ lớn của ảnh sự vật trên võng mạc và sự căng của cơ mắt do sự điều tiết và hội tụ
gây nên là tín hiệu phản xạ về kích thước của sự vật được ta tri giác.
Ngay từ tuổi nhỏ, trẻ nhận thức được kích thước và hình dạng của đối tượng bằng
cách tác động tích cực lên đối tượng. Những thực nghiệm của N.L. Phigurin, M.P.
Đennhisôva, T.I. Đanhiusepxkaia, A.A. Prexman và những người nghiên cứu khác đã chỉ
ra rằng chỉ sau năm, sáu tuổi trẻ mới có thể định hướng về khoảng cách dựa vào tri giác
thị giác. Những thao tác với đồ vật và việc di chuyển có ảnh hưởng lớn tới trẻ. Trẻ có thể
dễ dàng phân biệt được đối tượng lớn khỏi đối tượng nhỏ.
Theo [6; tr52, 53], gọi tri giác về độ lớn hiện thực của một đối tượng có khoảng
cách, độc lập với sự thu nhỏ hiển nhiên của nó, là bất biến độ lớn. Bất biến của các độ lớn
SVTH: Ngụy Như Mỹ Duyên
Trang 24