ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
------------------
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC MÔN
GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 11 TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Sinh viên thực hiện : Bùi Thị Tường Vi
Lớp
: 15SGC
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Hương
Đà Nẵng, tháng 01 năm 2019
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
------------------
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC MÔN
GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 11 TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Sinh viên thực hiện : Bùi Thị Tường Vi
Lớp
: 15SGC
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Hương
Đà Nẵng, tháng 01 năm 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi trên cơ sở tham khảo
tài liệu có chọn lọc và đầu tư cẩn thận, dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị
Hương và chưa từng cơng bố trong bất kì cơng trình nào khác.
Tơi xin chịu mọi trách nhiệm về nội dung khoa học của cơng trình này.
Đà Nẵng, tháng 01 năm 2019
Tác giả
Bùi Thị Tường Vi
LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành đề tài này, tơi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy, cô giáo,
các bạn trong khoa giáo dục chính trị - trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng đã
tạo điều kiện, giúp đỡ tơi trong suốt q trình tìm kiếm thơng tin và nghiên cứu đề tài.
Bên cạnh đó tơi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Thạc sĩ Nguyễn Thị
Hương, người đã tận tình hướng dẫn, động viên, khích lệ, dành thời gian trao đổi về
nội dung, hình thức của đề tài, định hướng tồn bộ q trình nghiên cứu cho tơi trong
suốt q trình thực hiện đề tài. Tơi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý thầy, cô
giáo và các em học sinh ở trường THPT Phan Châu Trinh, THPT Nguyễn Thượng
Hiền, THPT Nguyễn Trãi, THPT Thanh Khê, Đà Nẵng đã hợp tác, tạo điều kiện để tôi
thực hiện được q trình thực nghiệm sư phạm và có thể hồn thành được đề tài này
đúng thời hạn. Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lịng tri ân tới gia đình, người thân, bạn bè
của tôi là nguồn động viên lớn giúp tơi hồn thành.
Đề tài chắc chắn sẽ khơng thể tránh khỏi những sai sót và hạn chế. Tơi rất mong
nhận được ý kiến đóng góp từ q thầy cơ, các anh chị, em và những người có kinh
nghiệm để đề tài được hồn thiện hơn.
Tơi xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC VIẾT TẮT
Trung học phổ thông
THPT
Giáo dục công dân
GDCD
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU ..................................................................................................................01
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................................01
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................03
2.1. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................... 03
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................... 03
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .............................................................................03
3.1. Đối tượng nghiên cứu ......................................................................................... 03
3.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................. 03
4. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu .................................................................04
4.1. Về cơ sở lí luận: ..................................................................................................04
4.2. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................04
5. Bố cục của đề tài ........................................................................................................04
6. Tổng quan đề tài nghiên cứu .....................................................................................04
6.1. Tài liệu nước ngoài ............................................................................................. 04
6.2. Tài liệu trong nước.............................................................................................. 06
B. NỘI DUNG ..............................................................................................................09
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG TRẢI
NGHIỆM TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 11 .............09
1.1. Cơ sở lí luận............................................................................................................09
1.1.1. Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan ............................................................. 09
1.1.2. Đặc điểm và các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong trường phổ
thông ........................................................................................................................... 11
1.1.2.1. Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm ......................................................... 11
1.1.2.2. Các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong trường phổ thơng .....13
1.1.3. Vai trị của hoạt động trải nghiệm trong trường phổ thông ............................. 18
1.1.4. Sự cần thiết của việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn
Giáo dục công dân lớp 11 hiện nay ............................................................................20
1.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................................23
1.2.1. Đặc thù tri thức môn Giáo dục công dân lớp 11 .............................................23
1.2.2. Cấu trúc, mục tiêu, nội dung chương trình GDCD 11 .....................................25
1.2.2.1. Cấu trúc chương trình GDCD 11 ............................................................... 25
1.2.2.2. Mục tiêu chương trình GDCD 11 .............................................................. 26
1.2.2.3. Nội dung chương trình GDCD 11 ............................................................. 27
1.2.3. Thực trạng của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn GDCD
lớp 11 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng .....................................................................30
1.2.4. Những thuận lợi và khó khăn khi tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học
môn GDCD lớp 11 .....................................................................................................35
1.2.5. Đánh giá chung ................................................................................................ 38
CHƯƠNG 2. MỘT SỐ HÌNH THỨC VÀ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 11 ..................................38
2.1. Những yêu cầu khi tổ chức hoạt động trải nghiệm ................................................38
2.2. Một số định hướng chung khi tổ chức hoạt động dạy học trải nghiệm môn GDCD
.......................................................................................................................................40
2.3. Đề xuất một số biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn
GDCD lớp 11 .................................................................................................................44
2.3.1. Phân tích chương trình, sách giáo khoa GDCD lớp 11, xác định kiến thức cốt
lõi, mạch nội dung gần nhau để xây dựng các chủ đề dạy học trải nghiệm ..............44
2.3.2. Xây dựng nhóm chủ đề dạy học trải nghiệm ...................................................46
2.3.3. Lựa chọn các hình thức phù hợp để sử dụng dạy học trải nghiệm ..................51
2.3.3.1. Chủ đề “Thanh niên học tập, rèn luyện vì sự nghiệp Cơng nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước” ............................................................................................ 56
2.3.3.2. Chủ đề “Thanh niên với ý tưởng kinh doanh”...........................................59
2.3.3.3. Chủ đề “Lập kế hoạch tài chính cá nhân” .................................................60
2.3.3.4. Chủ đề “Thanh niên với tiêu dùng và văn hoá tiêu dùng ở Việt Nam” .....61
2.3.3.5. Chủ đề “Tìm hiểu thực tế một số trường Đại học (hoặc Cao đẳng, trung
cấp chuyên nghiệp, dạy nghề) tại địa phương.” .....................................................63
2.3.3.6. Chủ đề “Thanh niên với vấn đề lập thân, lập nghiệp” ............................... 63
2.3.3.7. Chủ đề “Thế hệ trẻ vì một hành tinh xanh” ...............................................65
2.3.4. Lựa chọn hình thức kiểm tra, đánh giá chủ đề dạy học trải nghiệm trong
chương trình GDCD lớp 11........................................................................................ 66
Tiểu kết chương 2 .........................................................................................................69
CHƯƠNG 3. THIẾT KỀ GIÁO ÁN VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ................69
3.1. Thiết kế giáo án ......................................................................................................69
3.1.1. Mục đích của việc thiết kế giáo án ...................................................................69
3.1.2. Giáo án của chủ đề dạy học trải nghiệm trong chương trình GDCD lớp 11 sử
dụng để thực nghiệm sư phạm tại một số trường THPT trên địa bàn Đà Nẵng ........71
3.2. Thực nghiệm sư phạm ............................................................................................ 75
3.2.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm .......................................................................75
3.2.2. Đặc điểm của đối tượng thực nghiệm và đối tượng đối chứng ........................ 76
3.2.3. Tiến hành thực nghiệm.....................................................................................77
3.3. Nhận xét và đánh giá kết quả dạy học thực nghiệm ...............................................78
3.3.1. Thái độ của học sinh khi được dạy học trải nghiệm chủ đề “Thanh niên với
tiêu dùng và văn hóa tiêu dùng ở Việt Nam” ............................................................. 78
3.3.2. Kết quả lĩnh hội tri thức của học sinh .............................................................. 79
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................83
1. Kết luận......................................................................................................................83
2. Kiến nghị ...................................................................................................................83
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................... 85
PHẦN PHỤ LỤC .........................................................................................................87
PHỤ LỤC 1 ...................................................................................................................87
PHỤ LỤC 2 ...................................................................................................................90
PHỤ LỤC 3 ...................................................................................................................94
PHỤ LỤC 4 ...................................................................................................................98
PHỤ LỤC 5 ...................................................................................................................99
A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thế kỷ XXI là thế kỷ của kinh tế tri thức, của khoa học công nghệ hiện đại, của
xã hội thông tin gắn liền với thời đại tồn cầu hóa. Bối cảnh đó đã làm thay đổi tất cả
các lĩnh vực, trong đó đặc biệt là khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo…dẫn
đến sự chuyển biến nhanh chóng về cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực của nhiều
quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng. Điều này địi hỏi giáo dục và đào tạo phải
có những đường lối thay đổi một cách căn bản, toàn diện từ triết lí, mục tiêu đến nội
dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy – học, phải xây dựng nguồn nhân lực vừa
hồng, vừa chuyên về mọi mặt nhằm phát triển cho người học hệ thống năng lực cần
thiết để có thể tham gia hiệu quả vào thị trường lao động trong nước và quốc tế. Trong
thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương lớn góp phần tạo ra những
chuyển biến tích cực của ngành giáo dục và đào tạo nước ta, trong đó có Nghị quyết số
29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng u cầu cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế”. Đây là một chủ trương lớn của Đảng, vừa mang tính cấp
bách trong bối cảnh tình hình hiện nay, vừa có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp phát
triển của đất nước. Trường phổ thông ở các địa phương cũng cần đặt ra những chuyển
biến tích cực đáp ứng u cầu của cơng cuộc đổi mới tồn diện Giáo dục Việt Nam
hiện nay. Vì vậy, phát triển chương trình giáo dục phổ thơng dựa trên tiếp cận năng
lực là một lựa chọn tất yếu khách quan và phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội.
Theo đó, việc dạy học khơng phải là “tạo ra kiến thức”, “truyền đạt kiến thức” hay
“chuyển giao kiến thức” mà phải làm cho người học học cách đáp ứng hiệu quả các
đòi hỏi cơ bản liên quan đến mơn học và có khả năng vượt ra ngồi phạm vi mơn học
để chủ động thích ứng với cuộc sống lao động sau này.
Trong giai đoạn hiện nay, đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học là
nhiệm vụ chung, trọng tâm của toàn ngành giáo dục. Nghị quyết 88/2014/QH13 của
Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông đã xác định tiếp
tục đổi mới phương pháp giáo dục phổ thông “theo hướng phát triển toàn diện năng
lực và phẩm chất người học; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng
phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm và khả năng tư
duy độc lập: đa dạng hóa hình thức tổ chức học tập, tăng cường hiệu quả sử dụng các
phương tiện dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông”. Vì vậy, việc
01
đổi mới phương pháp dạy học là vô cùng cần thiết, bởi nếu khơng có một cách dạy
sinh động, hấp dẫn thì tiết dạy sẽ vơ cùng nặng nề cho cả người học và người dạy.
Một trong những hình thức dạy học nhằm phát triển năng lực, tư duy sáng tạo
cho người học cần phải chú ý đến dạy học trải nghiệm. Hoạt động trải nghiệm là một
trong những hoạt động được đề cập đến trong chương trình giáo dục phổ thông tổng
thể. Đây là hoạt động giáo dục bắt buộc, trong đó học sinh được kinh qua thực tế, tham
gia hoặc tiếp xúc trực tiếp vào một sự kiện cụ thể và qua đó tạo nên những giá trị mới
về vật chất, tinh thần, lĩnh hội cái mới, cách tiếp cận mới để giải quyết vấn đề không
phụ thuộc vào những khn mẫu đã tồn tại trước đó. Đồng thời, học sinh dựa trên sự
huy động tổng hợp kiến thức và kĩ năng từ nhiều lĩnh vực giáo dục khác nhau để trải
nghiệm thực tiễn đời sống gia đình, nhà trường, xã hội, tham gia hoạt động hướng
nghiệp và hoạt động phục vụ cộng đồng dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo
dục.
ua đó, người học hình thành những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và một
số năng lực thành phần đặc thù của hoạt động này như: năng lực thiết kế và tổ chức
hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp, năng lực thích ứng với những biến động
trong cuộc sống và các kỹ năng sống khác. Điều này có nghĩa là chính học sinh sẽ tự
học qua trải nghiệm của bản thân để hình thành năng lực cho chính mình. Ngồi ra,
học sinh học tập qua sự trải nghiệm sẽ gắn kết nhà trường với cuộc sống.
hi môi
trường học tập không tách khỏi xã hội thực tế thì sẽ tạo cơ hội học tập suốt đời cho học
sinh và thông qua hoạt động trải nghiệm học sinh sẽ có cơ hội khám phá cuộc sống
ngồi nhà trường, giải quyết các tình huống thực tiễn bằng chính kinh nghiệm cá nhân
của mình và hiểu được bản chất hoạt động của những đối tượng xung quanh cuộc sống
của mình.
Trong chương trình giáo dục phổ thơng hiện nay và trong hệ thống các môn học,
môn GDCD giữ vai trò quan trọng và trực tiếp trong việc giáo dục học sinh ý thức và
hành vi người công dân, phát triển tâm lực và nhân cách con người. Ngoài mục tiêu
trang bị cho học sinh về kiến thức, môn GDCD truyền tải cho người học những giá trị,
chuẩn mực của xã hội để họ trở thành những con người tồn diện, biết sống và biết tơn
trọng người khác, thành cơng dân có ích cho cộng đồng và xã hội. Trong bối cảnh hiện
nay khi đất nước ta còn nghèo, còn tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế
giới, việc giáo dục ý thức cho con người trong lao động, trong quan hệ giao tiếp, ứng
xử hàng ngày của mỗi người, ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là
việc làm cần thiết. Điều đó khẳng định tầm quan trọng của mơn GDCD góp phần hình
thành và phát triển ở các em những phẩm chất và năng lực cần thiết của cơng dân, góp
02
phần xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp đẩy mạnh cơng nghiệp hóa,
hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức của nước ta. Mặt khác, với đặc thù tri
thức mang tính tổng hợp các kiến thức liên quan đến nhiều lĩnh vực như văn học, lịch
sử, sinh học,… việc dạy học môn GDCD theo hình thức trải nghiệm là một việc làm
cần thiết, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục Việt Nam.
Qua tìm hiểu thực tế giảng dạy ở trường phổ thông, tôi nhận thấy nếu vận dụng
phương pháp dạy học truyền thống trong môn GDCD sẽ khơng gây hứng thú từ phía
học sinh, các em hiểu biết về kiến thức rất hời hợt mang tính lí thuyết, thiếu thực tế. Vì
vậy, để học sinh hiểu rõ hơn vấn đề trong chương trình mơn học, tơi đã tổ chức một số
hoạt động trải nghiệm trong quá thực tập dạy học nhằm nâng cao hứng thú của học
sinh trong quá trình tiếp thu kiến thức. Với tất cả những lí do trên, tơi đã chọn đề tài:
Tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 11 tại một
số trường Trung học phổ thơng ở thành phố Đà Nẵng.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số hình thức và biện pháp cơ bản để tổ chức hoạt động trải nghiệm
trong dạy học môn GDCD lớp 11.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm
trong dạy học môn GDCD ở trường phổ thông.
+ Đề xuất một số hình thức và biện pháp cơ bản để tổ chức hoạt động trải nghiệm
trong dạy học môn GDCD lớp 11.
+ Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của đề tài.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn GDCD lớp 11.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành tại 4 trường THPT trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng, gồm:
+ Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền
+ Trường THPT Nguyễn Trãi
+ Trường THPT Phan Châu Trinh
+ Trường THPT Thanh Khê
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 8 – 12/2018.
03
4. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Về cơ sở lí luận:
Nghị quyết số 29 NQ/TW của Bộ Giáo dục và Đào tạo về “Đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của Cơng nghiệp hóa, Hiện đại hóa trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” là cơ sở
lý luận chính của đề tài. Ngồi ra, đề tài cịn dựa vào cơ sở lý luận của Nghị quyết
88/2014/QH13 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ
thông và môn giáo dục học.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đề tài sử dụng
các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, khái qt
hố, hệ thống hố,…
- Phương pháp thực tiễn: điều tra xã hội học, phương pháp chuyên gia, phương
pháp thống kê và xử lý số liệu,…
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động trải nghiệm trong dạy học
môn Giáo dục công dân lớp 11.
- Chương 2: Một số hình thức và biện pháp cơ bản tổ chức hoạt động trải nghiệm
trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 11.
- Chương 3: Thiết kế giáo án và thực nghiệm sư phạm.
6. Tổng quan đề tài nghiên cứu
Vấn đề hoạt động học tập qua trải nghiệm không phải là vấn đề mới với nhiều
nước trên thế giới, nhưng với Việt Nam vấn đề này cịn khá mới mẻ. Đặc biệt chưa có
tài liệu nghiên cứu, tác phẩm, luận văn, luận án nào trình bày cụ thể chi tiết đến tổ
chức hoạt động học tập trải nghiệm trong dạy học mơn GDCD. Vì vậy trong q trình
nghiên cứu tơi đã tham khảo, tiếp cận các loại tài liệu đề cập đến những vấn đề chung
của hoạt động trải nghiệm như sau:
6.1. Tài liệu nước ngoài
Lý luận về giáo dục đã được nhiều các nhà tâm lí học, giáo dục học quan tâm
nghiên cứu và hoàn thiện từ khá sớm. Hệ thống lý luận về hoạt động trải nghiệm tuy
có nhiều nghiên cứu khác nhau song được trình bày thống nhất với hệ thống lý luận về
hoạt động dạy học.
04
Đầu tiên phải kể đến Lý thuyết Hoạt động nghiên cứu về bản chất quá trình hình
thành con người. Luận điểm cơ bản của Lý thuyết Hoạt động, đã trở thành nguyên tắc
nghiên cứu bản chất người và quá trình hình thành con người, đó là “Tâm lí hình thành
thơng qua hoạt động”. Điều này có nghĩa là, chỉ thơng qua hoạt động của chính bản
thân con người, thì bản chất người, nhân cách người đó mới được hình thành và phát
triển. Hoạt động là phương thức tồn tại của con người. Khơng có hoạt động, khơng có
con người, do vậy cũng khơng có xã hội lồi người. Ngun tắc “Tâm lí hình thành
thơng qua hoạt động” có ý nghĩa chỉ đạo, tổ chức các hoạt động giáo dục con ngƣ ời
trong nhà trường trong học tập và giáo dục, rèn luyện, việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ
xảo…là hoạt động của chính người học. Con người có tự lực hoạt động mới biến kiến
thức, kinh nghiệm mà xã hội tích lũy được thành tri thức của bản thân.
Cùng với Lý thuyết Hoạt động, Lý thuyết tương tác xã hội đã chỉ ra rằng môi
trường xã hội – lịch sử không chỉ là đối tượng, là điều kiện, phương tiện mà cịn là mơi
trường hình thành tâm lý mỗi cá nhân. Con người tương tác với những người xung
quanh, tương tác trong mơi trường xã hội, đã giúp hình thành tâm lý người. Vận dụng
nguyên lý trên trong giáo dục, L.X. Vưgơtxki, nhà Tâm lí học Hoạt động nổi tiếng
trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng: “trong giáo dục, trong một lớp học, cần coi
trọng sự khám phá có trợ giúp (assisted discovery) hơn là sự tự khám phá. Ơng cho
rằng sự khuyến khích bằng ngơn ngữ của giáo viên và sự cộng tác của các bạn cùng
tuổi trong học tập là rất quan trọng”. Điều này cho thấy để hình thành tri thức, kỹ năng,
kĩ xảo có hiệu quả cao, khơng chỉ coi trọng sự chỉ dẫn, hướng dẫn của giáo viên mà
phải coi trọng hoạt động cùng nhau, coi trọng sự hợp tác, làm việc cùng nhau giữa
những người học.
Mơ hình học tập trải nghiệm của Kurt Lewin (1890-1947) về nghiên cứu hành
động và đào tạo trong phịng thí nghiệm. Đóng góp trong nghiên cứu của Lewin về
học tập trải nghiệm là đưa ra mô hình trải nghiệm gồm 4 giai đoạn. Theo ơng, trong
nghiên cứu hành động và đào tạo trong phịng thí nghiệm, học tập là một q trình tích
hợp, được bắt đầu với kinh nghiệm cụ thể/kinh nghiệm rời rạc; tiếp theo người học sẽ
thu thập dữ liệu, quan sát và phản ánh về kinh nghiệm đó; các dữ liệu này sau đó được
phân tích, khái qt để hình thành các khái niệm trừu tượng và khái quát; cuối cùng là
thử nghiệm các ý nghĩa của khái niệm trong tình hình mới.
Mơ hình học tập qua kinh nghiệm của John Dewey (1859-1952). J. Dewey là
người đưa ra quan điểm “học qua làm, học bắt đầu từ làm”. Theo ơng, q trình sống
và q trình giáo dục khơng phải là hai q trình mà là một. Giáo dục tốt nhất phải là
05
sự học tập trong cuộc sống. Trong quá trình sống, con người không ngừng thu lượm
kinh nghiệm và cải tổ kinh nghiệm nên trẻ em phải học tập trong chính cuộc sống xã
hội. Theo tư tưởng này, dạy học phải giao việc cho học sinh làm, chứ không phải giao
vấn đề cho học sinh học. Những tri thức đạt được thơng qua làm mới là tri thức thật.
Vì vậy, ơng chủ trương đưa các loại bài tập hoạt động như: nghề làm vườn, dệt, nghề
mộc... vào nhà trường. Đây là loại bài tập này có khả năng phát triển hứng thú và năng
lực của học sinh, vừa phản ánh được thực tiễn xã hội. Phân tích vai trị của kinh
nghiệm, ông đã chỉ ra: Đối với người học - trẻ em, khả năng học hỏi từ kinh nghiệm
hết sức có ý nghĩa, khả năng lưu giữ kinh nghiệm sẽ giúp giải quyết khó khăn trong
các tình huống mà trẻ sẽ gặp trong cuộc sống sau này; nghĩa là khả năng điều chỉnh
hành vi trên cơ sở các kinh nghiệm trước đó và hình thành kinh nghiệm mới của trẻ là
rất quan trọng.
Như vậy, các lý thuyết trên đều khẳng định vai trò, tầm quan trọng của hoạt động,
của sự tương tác, của kinh nghiệm đối với sự hình thành nhân cách con người. Năng
lực chỉ được hình thành khi chủ thể được hoạt động, được trải nghiệm. Những quan
điểm này chính là cơ sở lý thuyết cho việc xây dựng hoạt động trải nghiệm trong giáo
dục.
6.2. Tài liệu trong nước
Xác định tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm trong dạy học, Nghị quyết
Hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo có
đề cập đến vấn đề tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh như là một phương pháp
dạy học tích cực trong q trình dạy học. Hoạt động trải nghiệm bản chất là những
hoạt động giáo dục nhằm hình thành và phát triển cho học sinh phẩm chất tư tưởng, ý
chí tình cảm, giá trị và kĩ năng sống và những năng lực cần có của con người trong xã
hội hiện đại. Nội dung của hoạt động trải nghiệm được thiết kế theo hướng tích nhiều
lĩnh vực, mơn học thành các chủ điểm mang tính chất mở. Hình thức và phương pháp
tổ chức đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về không gian thời gian, quy mơ,
đối tượng và số lượng…để học sinh có nhiều cơ hội tự trải nghiệm và phát huy tối đa
khả năng sáng tạo của các em.
Ở Việt Nam, một số cơng trình nghiên cứu về lí luận dạy học cũng đề cập đến
vấn đề tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm. Người đầu tiên nghiên cứu phát triển
ứng dụng Lý thuyết Hoạt động vào nhà trường chính là GS.VS. Phạm Minh Hạc. Theo
ơng, thơng qua hoạt động của chính cá nhân, bản thân mới được hình thành và phát
triển. Như vậy, trong học tập và giáo dục, rèn luyện, việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ
06
xảo, lĩnh hội các giá trị xã hội là hoạt động của người học. Con người có tự hoạt động
mới biến kiến thức, kinh nghiệm mà xã hội tích lũy được thành tri thức của bản thân
“Hoạt động không chỉ rèn luyện trí thơng minh bằng hoạt động, mà cịn thu hẹp sự
cưỡng bức của nhà giáo thành sự hợp tác bậc cao”. Trong nước, thời gian qua cũng có
nhiều bài báo, bài nghiên cứu khoa học về tình hình học tập trải nghiệm sáng tạo như:
Kỉ yếu hội thảo: “Tổ chức hoạt đông trải nghiệm sáng tạo cho học sinh phổ
thơng và mơ hình phổ thơng gắn với sản xuất kinh doanh tại địa phương” của Bộ Giáo
dục và Đào tạo, đã thu hút rất nhiều bài viết của các tác giả trong cả nước. Đã có 19
bài của 21 tác giả gửi đến hội thảo, trong số đó có một số bài viết hay, đã đề cập ở mức
độ nóng vấn đề tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh như: tham quan,
thực địa, câu lạc bộ, hoạt động xã hội/tình nguyện, diễn đàn, giao lưu, hội thảo, trò
chơi, cắm trại, thực hành lao động. Điều này cho thấy tầm quan trọng của hoạt động
trải nghiệm sáng tạo cũng như định hướng đổi mới mạnh mẽ hoạt động này ở trường
phổ thông trong giai đoạn tới [10].
ThS. Bùi Ngọc Diệp trong bài viết “Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm
sáng tạo trong nhà trường phổ thông”, cũng đưa ra quan niệm về hoạt động trải
nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông. Theo đó “Các em được chủ động tham
gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động: từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị,
thực hiện và đánh giá kết quả hoạt động phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả năng
của bản thân; các em được trải nghiệm, được bày tỏ quan điểm, ý tưởng; được đánh
giá và lựa chọn ý tưởng hoạt động, được thể hiện, tự khẳng định bản thân, được tự
đánh giá và đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm mình và của bạn
bè,…”. Hoạt động trải nghiệm diễn ra với nhiều hình thức như: hoạt động câu lạc bộ,
tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, hội thi, tổ chức sự
kiện, hoạt động giao lưu hay hoạt động chiến dịch, hoạt động nhân đạo [13].
Bài viết của PGS.TS Đinh Thị
im Thoa, ĐHGD - ĐH GHN “Hoạt động trải
nghiệm sáng tạo góc nhìn từ lí thuyết và học từ trải nghiệm” có đề cập đến sự khác
biệt giữa học đi đôi với hành, học thông qua làm và học từ trải nghiệm. Trong đó, “học
từ trải nghiệm gần giống với học thông qua làm nhưng khác ở chỗ là nó gắn với kinh
nghiệm và cảm xúc cá nhân”. Tác giả cũng đưa ra mơ hình và chu trình học từ trải
nghiệm của David Kolb và vận dụng lý thuyết “Học từ trải nghiệm” của Kolb vào việc
dạy học và giáo dục trong trường học. Theo tác giả, để phát triển sự hiểu biết khoa học,
chúng ta có thể tác động vào nhận thức của người học; nhưng để phát triển và hình
thành năng lực (phẩm chất) thì người học phải trải nghiệm. Hoạt động trải nghiệm
07
sáng tạo là hoạt động giáo dục thông qua sự trải nghiệm và sáng tạo của cá nhân trong
việc kết nối kinh nghiệm học được trong nhà trường với thực tiễn cuộc sống, nhờ đó
các kinh nghiệm được tích lũy thêm và dần chuyển hóa thành năng lực [10].
Trong tài liệu tập huấn mới nhất của bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2015, “Kĩ năng
xây dựng và tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường trung học”, đã
tập hợp đầy đủ và hệ thống những nghiên cứu của các nhà giáo dục đầu ngành về hoạt
động trải nghiệm sáng tạo như: PGS. TS. Nguyễn Thúy Hồng, PGS.TS. Đinh Thị Kim
Thoa, TS. Ngô Thị Thu Dung, ThS. Bùi Ngọc Diệp, ThS. Nguyễn Thị Thu Anh. Tài
liệu đề cập những vấn đề chung của hoạt động trải nghiệm như khái niệm, đặc điểm;
xác định mục tiêu, yêu cầu, xây dựng nội dung và cách thức tổ chức hoạt động trải
nghiệm sáng tạo trong trường phổ thông; đánh giá hoạt động trải nghiệm với phương
pháp và công cụ cụ thể [9].
Ở Việt Nam, trong những năm qua hầu hết các nhà trường đã triển khai các
Phương pháp, hình thức tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động,
tự học, phát triển năng lực học sinh. Trong đó, nhiều trường đã triển khai các mơ hình
trường học gắn với cộng đồng, tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm.
Như vây, các nguồn tài liệu trong nước và thế giới đều đề cập đến vai trò của
hoạt động trải nghiệm trong dạy học nhằm phát triển năng lực học sinh. Các tài liệu
này cũng làm rõ khái niệm, nội dung, hình thức tổ chức, …của hoạt động trải nghiệm
nhưng chưa có tài liệu nào đề cập cụ thể đến hoạt động học tập trải nghiệm trong môn
GDCD. Vì vậy, đây là lý do để tơi lựa chọn và cũng là động lực thúc đẩy tơi hồn
thành đề tài khóa luận này. Mơn học GDCD với những đặc trưng riêng, hình thành và
phát triển năng lực chuyên biệt của học sinh cần được nghiên cứu, tiếp cận theo những
đặc trưng riêng biệt… Mặc dù, chưa có tài liệu nào đề cập cụ thể đến việc tổ chức hoạt
động học tập trải nghiệm sáng tạo trong dạy học GDCD các cơng trình nghiên cứu trên
là nguồn tài liệu tham khảo q giá cho đề tài nghiên cứu của tơi.
08
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG TRẢI
NGHIỆM TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CƠNG DÂN LỚP 11
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan
* Trải nghiệm
Trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trải nghiệm là một trong những thuật
ngữ sử dụng khá phổ biến. Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về thuật ngữ này.
Theo nhà Triết học vĩ đại người Nga Solovyev V.S. quan niệm rằng Trải nghiệm
là kiến thức kinh nghiệm thực tế; là thể thống nhất bao gồm kiến thức và kĩ năng. Trải
nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người và thế giới, được truyền từ thế hệ
này sang thế hệ khác.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Trải có nghĩa là “đã từng qua, từng biết, từng chịu
đựng”, cịn nghiệm có nghĩa là “kinh qua thực tế nhận thấy điều đó đúng”. Như vậy,
trải nghiệm có nghĩa là quá trình chủ thể được trực tiếp tham gia hoạt động và rút ra
những kinh nghiệm cho bản thân .
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa Trải nghiệm hay kinh nghiệm là
tổng quan khái niệm bao gồm tri thức, kĩ năng trong quan sát sự vật hoặc sự kiện đạt
được thông qua tham gia vào hoặc tiếp xúc đến sự vật hoặc sự kiện đó. Lịch sử của từ
“trải nghiệm” gần nghĩa với khái niệm “thử nghiệm”. Thực tiễn cho thấy trải nghiệm
đạt được thường thông qua thử nghiệm. Trải nghiệm thường đi đến một tri thức về sự
hiểu biết đến sự vật, hiện tượng, sự kiện.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “trải nghiệm” được diễn dải theo hai nghĩa. Trải
nghiệm theo nghĩa chung nhất “là bất kì một trạng thái có màu sắc xúc cảm nào được
chủ thể cảm nhận, trải qua, đọng lại thành bộ phận (cùng với tri thức, ý thức…) trong
đời sống tâm lí của từng người”. Theo nghĩa hẹp trải nghiệm “ là những tín hiệu bên
trong, nhờ đó các sự kiện đang diễn ra đối với cá nhân được ý thức chuyển thành ý
kiến cá nhân, góp phần lựa chọn tự giác các động cơ cần thiết, điều chỉnh hành vi của
cá nhân”.
Về cơ bản, các khái niệm trải nghiệm đều có thể đưa đến một cách hiểu như sau:
Trải nghiệm là tự mình trải qua để có được hiểu biết, kinh nghiệm; tích lũy được nhiều
kiến thức và vốn sống.
* Hoạt động dạy học và hoạt động trải nghiệm
09
Theo quan điểm lý thuyết về dạy học hiện đại, hoạt động dạy học bao gồm hoạt
động của thầy và trò. Nhà tâm lý học
.Mentriskaia viết: “Hai hoạt động của thầy và
trò là hai mặt của một hoạt động” 1 .
Trong cuốn Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, các tác giả đã định nghĩa
hoạt động dạy học như sau: “Hoạt động dạy là hoạt động của người lớn tổ chức điều
khiển hoạt động của trẻ nhằm giúp chúng lĩnh hội nền văn hóa xã hội, tạo ra sự phát
triển tâm lý, hình thành nhân cách của chúng” 14 .
Theo Dự thảo chương trình giáo dục tổng thể phổ thông, 2015, hoạt động dạy
học là quá trình người dạy tổ chức và hướng dẫn hoạt động học của người học nhằm
giúp học sinh lĩnh hội tri thức khoa học, kinh nghiệm của xã hội loài người để phát
triển trí tuệ và hồn thiện nhân cách người học. Như vậy, hoạt động dạy học chủ yếu
nhằm phát triển mặt trí tuệ, hoạt động giáo dục theo nghĩa hẹp chủ yếu nhằm phát triển
mặt phẩm chất đạo đức, đời sống tình cảm. Trong chương trình giáo dục phổ thông
hiện hành, hoạt động giáo dục (nghĩa hẹp) thực hiện các mục tiêu giáo dục thông qua
một loạt các hoạt động như hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động tập thể [7].
Về cơ bản, các khái niệm về hoạt động dạy học đều có thể đưa đến một cách hiểu
như sau: Hoạt động dạy học là hoạt động phối hợp tương tác và thống nhất giữa hoạt
động chủ đạo của giáo viên và hoạt động tự giác tích cực, chủ động của học sinh
nhắm thực hiện mục tiêu dạy học.
Hoạt động học tập trải nghiệm là các hoạt động giáo dục thực tiễn được tiến hành
song song với hoạt động dạy học trong nhà trường. Hoạt động trải nghiệm là một bộ
phận của quá trình giáo dục được tổ chức ngồi giờ học các mơn văn hóa ở trên lớp và
có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động dạy học nên có nhiều quan điểm khác
nhau về hoạt động trải nghiệm:
Theo Chương trình giáo dục phổ thơng - Chương trình tổng thể, hoạt động trải
nghiệm là hoạt động mà trong đó “học sinh dựa trên sự huy động tổng hợp kiến thức
và kĩ năng từ nhiều lĩnh vực giáo dục khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sống nhà
trường, gia đình, xã hội; tham gia hoạt động hướng nghiệp và hoạt động phục vụ cộng
đồng dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục; qua đó hình thành những phẩm
chất chủ yếu, năng lực chung và một số năng lực thành phần đặc thù của hoạt động
này như: năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp,
năng lực thích ứng với những biến động trong cuộc sống và các kĩ năng sống khác” 6 .
Từ khái niệm này cho thấy, so với các hoạt động ngoài giờ lên lớp đang được
tiến hành hiện nay trong trường phổ thơng thì hoạt động trải nghiệm sẽ phong phú hơn
10
cả về nội dung, phương pháp và hình thức hoạt động. Đặc biệt, mỗi hoạt động phải
phù hợp với mục tiêu phát triển những phẩm chất, năng lực nhất định của học sinh.
Hiệp hội “Giáo dục trải nghiệm” quốc tế định nghĩa về học qua trải nghiệm “là
một phạm trù bao hàm nhiều phương pháp trong đó người dạy khuyến khích người
học tham gia các trải nghiệm thực tế, sau đó phản ánh, tổng kết lại để tăng cường hiểu
biết, phát triển kĩ năng, định hình các giá trị sống và phát triển các năng lực bản thân,
tiến tới đóng góp tích cực cho cộng đồng và xã hội”.
Các khái niệm này đều khẳng định vai trò định hướng, hướng dẫn của nhà giáo
dục (không phải là hoạt động trải nghiệm tự phát). Nhà giáo dục không tổ chức, phân
công học sinh một cách trực tiếp mà chỉ hỗ trợ, giám sát. Học sinh được trực tiếp, chủ
động tham gia các hoạt động. Phạm vi các chủ đề hay nội dung hoạt động và kết quả
đầu ra là năng lực thực tiễn, phẩm chất và tiềm năng sáng tạo; và hoạt động là phương
thức cơ bản của sự hình thành và phát triển nhân cách con người.
Bản chất của hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục được tổ chức theo con
đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động,
hình thành và phát triển cho HS niềm tin, tình cảm, những năng lực cần có của người
cơng dân trong tương lai. Chính vì vậy, trong nội dung, phương pháp, hình thức tổ
chức của hoạt động có thể mang dáng dấp của hoạt động theo nghĩa hẹp. Tuy nhiên,
điểm khác biệt giữa chúng chính là cách làm, cách triển khai hoạt động
Từ những kết quả nghiên cứu các lí thuyết trên, tôi rút ra: Hoạt động trải nghiệm
là là hoạt động giáo dục trong trường phổ thông, tạo cơ hội cho học sinh huy động,
tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học, các lĩnh vực giáo dục để trải nghiệm
thực tiễn trong nhà trường, gia đình và xã hội. Dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo
viên, học sinh được chủ động khám phá, chiếm lĩnh kiến thức; qua đó, hình thành
những phẩm chất tốt đẹp và phát triển năng lực chung cũng như năng lực chuyên biệt
cho học sinh.
1.1.2. Đặc điểm và các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong trường phổ
thông
1.1.2.1. Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm
Hoạt động trải nghiệm là một loại hình hoạt động giáo dục nhằm phát triển toàn
diện nhân cách cho học sinh và mang những đặc điểm sau:
Thứ nhất, nội dung hoạt động trải nghiệm rất đa dạng và mang tính tích hợp, tổng
hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như:
giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục giá trị sống, giáo
11
dục thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục an tồn giao thơng, giáo
dục mơi trường, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòng chống HIV/AIDS và tệ
nạn xã hội, giáo dục các phẩm chất người lao động, nhà nghiên cứu… Điều này giúp
cho các nội dung giáo dục thiết thực hơn, gần gũi với cuộc sống thực tế hơn, đáp ứng
được nhu cầu hoạt động của học sinh, giúp các em vận dụng vào trong thực tiễn cuộc
sống một cách dễ dàng, thuận lợi hơn.
Thứ hai, hoạt động trải nghiệm tạo cơ hội cho học sinh: huy động tổng hợp kiến
thức, kĩ năng của các môn học và lĩnh vực giáo dục khác nhau để trải nghiệm thực tiễn
đời sống gia đình, nhà trường và xã hội; tham gia vào tất cả các khâu của quá trình
hoạt động, từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị, thực hiện và đánh giá kết quả hoạt động;
trải nghiệm, bày tỏ quan điểm, ý tưởng sáng tạo, lựa chọn ý tưởng hoạt động; thể hiện
và tự khẳng định bản thân, đánh giá và tự đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, của
nhóm và của các bạn... dưới sự hướng dẫn, tổ chức của nhà giáo dục, qua đó hình
thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi được tuyên bố trong
chương trình tổng thể và các năng lực đặc thù của hoạt động trải nghiệm [4].
Thứ ba, chương trình hoạt động trải nghiệm mang tính linh hoạt, mềm dẻo. Các
cơ sở giáo dục có thể căn cứ vào bốn nội dung hoạt động chính là Hoạt động phát triển
cá nhân, Hoạt động lao động, Hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng, Hoạt động giáo
dục hướng nghiệp để thiết kế thành các chủ đề hoạt động phù hợp với nhu cầu, đặc
điểm học sinh, điều kiện của nhà trường, địa phương. Một số nội dung sinh hoạt Sao
Nhi đồng, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam được tích hợp trong nội dung các hoạt
động trên.
Thứ tư, hoạt động trải nghiệm được thực hiện dưới bốn loại hoạt động chủ yếu:
Sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp, hoạt động giáo dục theo chủ đề và hoạt động câu lạc
bộ và thơng qua bốn nhóm hình thức tổ chức: Hình thức có tính khám phá; hình thức
có tính thể nghiệm, tương tác; hình thức có tính cống hiến; hình thức có tính nghiên
cứu, phân hố. Hoạt động trải nghiệm có thể được tổ chức trong và ngồi lớp học,
trong và ngồi trường học theo quy mơ cá nhân, nhóm, lớp học, khối lớp hoặc quy mơ
trường.
Thứ năm, hoạt động trải nghiệm huy động sự tham gia, phối hợp, liên kết của
nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: Giáo viên chủ nhiệm lớp,
giáo viên bộ mơn, Cán bộ Đồn, Tổng phụ trách Đội, Ban Giám hiệu nhà trường, cha
mẹ học sinh, chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân và đoàn thể trong xã hội.
12
Thứ sáu, hoạt động trải nghiệm trong chương trình giáo dục phổ thông được phân
chia theo hai giai đoạn:
– Giai đoạn giáo dục cơ bản:
Hoạt động trải nghiệm thực hiện mục tiêu hình thành các phẩm chất, thói quen,
kĩ năng sống,... thông qua việc tham gia sinh hoạt tập thể, câu lạc bộ, dự án học tập,
hoạt động lao động, hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng,... Bằng hoạt động trải
nghiệm của bản thân, mỗi học sinh vừa tham gia vừa thiết kế và tổ chức các hoạt động
cho chính mình, qua đó tự khám phá, điều chỉnh bản thân, điều chỉnh cách tổ chức
hoạt động để sống và làm việc hiệu quả. Ở giai đoạn này, mỗi học sinh bước đầu xác
định được sở trường và hình thành một số phẩm chất, năng lực của người lao động và
người cơng dân có trách nhiệm.
– Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp:
Đối với giáo dục trung học phổ thơng, chương trình hoạt động trải nghiệm,
hướng nghiệp tiếp tục phát triển những phẩm chất và năng lực đã hình thành từ giai
đoạn giáo dục cơ bản thơng qua hoạt động phát triển cá nhân, hoạt động lao động, hoạt
động xã hội và phục vụ cộng đồng và hoạt động giáo dục hướng nghiệp nhưng tập
trung cao hơn vào việc phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp. Thông qua các
chủ đề sinh hoạt tập thể, hoạt động lao động sản xuất, câu lạc bộ hướng nghiệp và các
hoạt động định hướng nghề nghiệp khác, học sinh được đánh giá và tự đánh giá về
năng lực, sở trường, hứng thú liên quan đến nghề nghiệp; có thể tự chọn cho mình
ngành nghề phù hợp; được rèn luyện phẩm chất và năng lực để thích ứng với nghề
nghiệp tương lai.
1.1.2.2. Các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong trường phổ thông
Hoạt động trải nghiệm được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như hoạt
động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại,
các hội thi, hoạt động giao lưu, hoạt động nhân đạo, hoạt động tình nguyện, hoạt động
cộng đồng, sinh hoạt tập thể, lao động cơng ích, sân khấu hóa (kịch, thơ, hát, múa rối,
tiểu phẩm, kịch tham gia,…), thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội,… Mỗi hình thức
hoạt động trên đều mang ý nghĩa giáo dục nhất định. Dưới đây là một số hình thức tổ
chức của hoạt động trải nghiệm trong nhà trường phổ thơng:
* Hoạt động câu lạc bộ
Câu lạc bộ là hình thức sinh hoạt ngoại khóa của những nhóm học sinh cùng sở
thích, nhu cầu, năng khiếu,… dưới sự định hướng của những nhà giáo dục nhằm tạo
môi trường giao lưu thân thiện, tích cực giữa các học sinh với nhau và giữa học sinh
13
với thầy cô giáo, với những người lớn khác. Hoạt động của câu lạc bộ tạo cơ hội để
học sinh được chia sẻ những kiến thức, hiểu biết của mình về các lĩnh vực mà các em
quan tâm, qua đó phát triển các kĩ năng của học sinh như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng
lắng nghe và biểu đạt ý kiến, kĩ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng, kĩ năng viết bài, kĩ
năng chụp ảnh, kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm, kĩ năng ra quyết định và giải quyết
vấn đề,… câu lạc bộ là nơi để học sinh được thực hành các quyền trẻ em của mình như
quyền được học tập, quyền được vui chơi giải trí và tham gia các hoạt động văn hóa,
nghệ thuật; quyền được tự do biểu đạt; tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin,…
Thông qua hoạt động của các câu lạc bộ, nhà giáo dục hiểu và quan tâm hơn đến nhu
cầu, nguyện vọng mục đích chính đáng của các em. Câu lạc bộ hoạt động theo nguyên
tắc tự nguyện, thống nhất, có lịch sinh hoạt định kì và có thể được tổ chức với nhiều
lĩnh vực khác nhau như: câu lạc bộ học thuật, thể dục thể thao, văn hóa nghệ thuật, võ
thuật, hoạt động thực tế, trò chơi dân gian…
* Tổ chức trị chơi
Trị chơi là một loại hình hoạt động giải trí, thư giãn; là món ăn tinh thần nhiều
bổ ích và khơng thể thiếu được trong cuộc sống con người nói chung, đối với học sinh
nói riêng. Trị chơi là hình thức tổ chức các hoạt động vui chơi với nội dung kiến thức
thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có tác dụng giáo dục “chơi mà học, học mà chơi”.
Trị chơi có thể được sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau của hoạt động
trải nghiệm như làm quen, khởi động, dẫn nhập vào nội dung học tập, cung cấp và tiếp
nhận tri thức; đánh giá kết quả, rèn luyện các kĩ năng và củng cố những tri thức đã
được tiếp nhận,… Trò chơi giúp phát huy tính sáng tạo, hấp dẫn và gây hứng thú cho
học sinh; giúp học sinh dễ tiếp thu kiến thức mới; giúp chuyển tải nhiều tri thức của
nhiều lĩnh vực khác nhau; tạo được bầu khơng khí thân thiện; tạo cho các em tác
phong nhanh nhẹn,…
* Tổ chức diễn đàn
Diễn đàn là một hình thức tổ chức hoạt động được sử dụng để thúc đẩy sự tham
gia của học sinh thông qua việc các em trực tiếp, chủ động bày tỏ ý kiến của mình với
đơng đảo bạn bè, nhà trường, thầy cô giáo, cha mẹ và những người lớn khác có liên
quan. Diễn đàn là một trong những hình thức tổ chức mang lại hiệu quả giáo dục thiết
thực. Thông qua diễn đàn, học sinh có cơ hội bày tỏ suy nghĩ, ý kiến, quan niệm hay
những câu hỏi, đề xuất của mình về một vấn đề nào đó có liên quan đến nhu cầu, hứng
thú, nguyện vọng của các em. Đây cũng là dịp để các em biết lắng nghe ý kiến, học tập
lẫn nhau. Vì vậy, diễn đàn như một sân chơi tạo điều kiện để học sinh được biểu đạt ý
14
kiến của mình một cách trực tiếp với đơng đảo bạn bè và những người khác. Diễn đàn
thường được tổ chức rất linh hoạt, phong phú và đa dạng với những hình thức hoạt
động cụ thể, phù hợp với từng lứa tuổi học sinh.
Mục đích của việc tổ chức diễn đàn là để tạo cơ hội, môi trường cho học sinh
được bày tỏ ý kiến về những vấn đề các em quan tâm, giúp các em khẳng định vai trò
và tiếng nói của mình, đưa ra những suy nghĩ và hành vi tích cực để khẳng định vai trị
và tiếng nói của mình, đưa ra những suy nghĩ và hành vi tích cực để khẳng định mình.
Qua các diễn đàn, thầy cô giáo, cha mẹ học sinh và những người lớn có liên quan nắm
bắt được những băn khoăn, lo lắng và mong đợi của các em về bạn bè, thầy cơ, nhà
trường và gia đình,… tăng cường cơ hội giao lưu giữa người lớn và trẻ em, giữa trẻ em
với trẻ em và thúc đẩy quyền trẻ em trong trường học. Giúp học sinh thực hành quyền
được bày tỏ ý kiến, quyền được lắng nghe và quyền được tham gia,… đồng thời giúp
các nhà quản lí giáo dục và hoạch định chính sách nắm bắt, nhận biết được những vấn
đề mà học sinh quan tâm từ đó có những biện pháp giáo dục và xây dựng chính sách
phù hợp hơn với các em.
* Sân khấu tương tác
Sân khấu tương tác (hay sân khấu diễn đàn) là một hình thức nghệ thuật tương
tác dựa trên hoạt động diễn kịch, trong đó vở kịch chỉ có phần mở đầu đưa ra tình
huống, phần cịn lại được sáng tạo bởi những người tham gia. Phần trình diễn chính là
một cuộc chia sẻ, thảo luận giữa những người thực hiện và khán giả, trong đó đề cao
tính tương tác hay sự tham gia của khán giả. Mục đích của hoạt động này là nhằm tăng
cường nhận thức, thúc đẩy để học sinh đưa ra quan điểm, suy nghĩ và cách xử lí tình
huống thực tế gặp phải trong bất kì nội dung nào của cuộc sống. Thông qua sân khấu
tương tác, sự tham gia của học sinh được tăng cường và thúc đẩy, tạo cơ hội cho học
sinh rèn luyện những kĩ năng như: kĩ năng phát hiện vấn đề, kĩ năng phân tích vấn đề,
kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo khi giải quyết tình huống
và khả năng ứng phó với những thay đổi của cuộc sống,…
* Tham quan, dã ngoại
Tham quan, dã ngoại là một hình thức tổ chức học tập thực tế hấp dẫn đối với
học sinh. Mục đích của tham quan, dã ngoại là để các em học sinh được đi thăm, tìm
hiểu và học hỏi kiến thức, tiếp xúc với các di tích lịch sử, văn hóa, cơng trình, nhà
máy… ở xa nơi các em đang sống, học tập, giúp các em có được những kinh nghiệm
thực tế, từ đó có thể áp dụng vào cuộc sống của chính các em.
15
Nội dung tham quan, dã ngoại có tính giáo dục tổng hợp đối với học sinh như:
giáo dục lòng yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước, giáo dục truyền thống cách mạng,
truyền thống lịch sử, truyền thống của Đảng, của Đồn, của Đội Thiếu niên Tiền
phong Hồ Chí Minh. Các lĩnh vực tham quan, dã ngoại có thể được tổ chức ở nhà
trường phổ thông là: Tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa;
Tham quan các cơng trình cơng cộng, nhà máy, xí nghiệp; Tham quan các cơ sở sản
xuất, làng nghề; Tham quan các Viện bảo tàng; Dã ngoại theo các chủ đề học tập; Dã
ngoại theo các hoạt động nhân đạọ.
* Hội thi - cuộc thi
Hội thi - cuộc thi là một trong những hình thức tổ chức hoạt động hấp dẫn, lơi
cuốn học sinh và đạt hiệu quả cao trong việc tập hợp, giáo dục, rèn luyện và định
hướng giá trị cho tuổi trẻ. Hội thi mang tính chất thi đua giữa các cá nhân, nhóm hoặc
tập thể ln hoạt động tích cực để vươn lên đạt được mục tiêu mong muốn thơng qua
việc tìm ra người/đội thắng cuộc. Chính vì vậy, tổ chức hội thi cho học sinh là một yêu
cầu quan trọng, cần thiết của nhà trường, của giáo viên trong q trình tổ chức hoạt
động trải nghiệm.
Mục đích tổ chức hội thi/cuộc thi nhằm lôi cuốn học sinh tham gia một cách chủ
động, tích cực vào các hoạt động giáo dục của nhà trường; đáp ứng nhu cầu về vui
chơi giải trí cho học sinh; thu hút tài năng và sự sáng tạo của học sinh; phát triển khả
năng hoạt động tích cực và tương tác của học sinh, góp phần bồi dưỡng cho các em
động cơ học tập tích cực, kích thích hứng thú trong q trình nhận thức. Hội thi/cuộc
thi có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: Thi vẽ, thi viết, thi tìm
hiểu, thi đố vui, thi giải ơ chữ, thi tiểu phẩm, thi thời trang, thi kể chuyện, thi chụp ảnh,
thi kể chuyện theo tranh, thi sáng tác bài hát, hội thi học tập, hội thi thời trang, hội thi
học sinh thanh lịch,… có nội dung giáo dục về một chủ đề nào đó. Nội dung của hội
thi rất phong phú, bất cứ nội dung giáo dục nào cũng có thể được tổ chức dưới hình
thức hội thi/cuộc thi. Điều quan trọng khi tổ chức hội thi là phải linh hoạt, sáng tạo khi
tổ chức thực hiện, tránh máy móc thì cuộc thi mới hấp dẫn.
* Tổ chức sự kiện
Tổ chức sự kiện trong nhà trường phổ thông là một hoạt động tạo cơ hội cho học
sinh được thể hiện những ý tưởng, khả năng sáng tạo của mình, thể hiện năng lực tổ
chức hoạt động, thực hiện và kiểm tra giám sát hoạt động. Thông qua hoạt động tổ
chức sự kiện học sinh được rèn luyện tính tỉ mỉ, chi tiết, đầu óc tổ chức, tính năng
động, nhanh nhẹn, kiên nhẫn, có khả năng thiết lập mối quan hệ tốt, có khả năng làm
16
việc theo nhóm, có sức khỏe và niềm đam mê.
hi tham gia tổ chức sự kiện học sinh
sẽ thể hiện được sức bền cũng như khả năng chịu được áp lực cao của mình. Ngồi ra,
các em cịn phải biết cách xoay xở và ứng phó trong mọi tình huống bất kì xảy đến.
Các sự kiện học sinh có thể tổ chức trong nhà trường như: Lễ khai mạc, lễ nhập học, lễ
tốt nghiệp, lễ kỉ niệm, lễ chúc mừng,…; Các buổi triển lãm, buổi giới thiệu, hội thảo
khoa học, hội diễn nghệ thuật; Các hoạt động đánh giá thể lực, kiểm tra thể hình, thể
chất của học sinh; Đại hội thể dục thể thao, hội thi đấu giao hữu; Hoạt động học tập
thực tế, du lịch khảo sát thực tế, điều tra học thuật; Hoạt động tìm hiểu về di sản văn
hóa, về phong tục tập quán; Chuyến đi khám phá đất nước, trải nghiệm văn hóa nước
ngồi…
* Hoạt động giao lưu
Giao lưu là một hình thức tổ chức giáo dục nhằm tạo ra các điều kiện cần thiết để
cho học sinh được tiếp xúc, trò chuyện và trao đổi thơng tin với những nhân vật điển
hình trong các lĩnh vực hoạt động nào đó.
ua đó, giúp các em có tình cảm và thái độ
phù hợp, có được những lời khuyên đúng đắn để vươn lên trong học tập, rèn luyện và
hoàn thiện nhân cách. Hoạt động giao lưu có một số đặc trưng sau:
Phải có đối tượng giao lưu. Đối tượng giao lưu là những người điển hình, có
những thành tích xuất sắc, thành đạt trong các lĩnh vực nào đó, thực sự là tấm gương
sáng để học sinh noi theo, phù hợp với nhu cầu hứng thú của học sinh.
Thu hút sự tham gia đông đảo và tự nguyện của học sinh, được học sinh quan
tâm và hào hứng.
Phải có sự trao đổi thơng tin, tình cảm hết sức trung thực, chân thành và sôi nổi
giữa học sinh với người được giao lưu. Những vấn đề trao đổi phải thiết thực, liên
quan đến lợi ích và hứng thú của học sinh, đáp ứng nhu cầu của các em.
Với những đặc trưng trên, hoạt động giao lưu rất phù hợp với các hoạt động trải
nghiệm theo chủ đề. Hoạt động giao lưu dễ dàng được tổ chức trong mọi điều kiện của
lớp, của trường.
* Hoạt động chiến dịch
Hoạt động chiến dịch là hình thức tổ chức khơng chỉ tác động đến học sinh mà
tới cả các thành viên cộng đồng. Nhờ các hoạt động này, học sinh có cơ hội khẳng
định mình trong cộng đồng, qua đó hình thành và phát triển ý thức “mình vì mọi người,
mọi người vì mình”. Việc học sinh tham gia các hoạt động chiến dịch nhằm tăng
cường sự hiểu biết và sự quan tâm của học sinh đối với các vấn đề xã hội như vấn đề
mơi trường, an tồn giao thơng, an tồn xã hội,… giúp học sinh có ý thức hành động vì
17