TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA ĐỊA LÝ
***
ĐÁNH GIÁ TÍNH TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI
NGÀNH DU LỊCH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: ĐỊA LÝ HỌC
(CHUYÊN NGÀNH ĐỊA LÝ DU LỊCH)
Họ và tên :
Giáo viên hướng dẫn:
ĐOÀN HẢI NAM
TRẦN THỊ ÂN
Đà Nẵng, 2021
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA ĐỊA LÝ
***
ĐÁNH GIÁ TÍNH TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI
NGÀNH DU LỊCH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: ĐỊA LÝ HỌC
(CHUYÊN NGÀNH ĐỊA LÝ DU LỊCH)
Họ và tên :
Giáo viên hướng dẫn:
ĐOÀN HẢI NAM
TRẦN THỊ ÂN
Đà Nẵng, 2021
LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành khóa luận này, ngồi sư nổ lực cố gắng từ bản thân, tơi cịn được
sự giúp đỡ nhiệt tình từ các tập thể và cá nhân trong và ngoài trường Đại học Sư phạm –
Đại học Đà Nẵng.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo Trần Thị Ân – Trường Đại học sư
phạm – Đại học Đà Nẵng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ trong suốt q trình lập đề cương
và hồn thành khóa luận.
Xin chân thành cảm ơn q thầy cơ trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
đã tận tình giảng dạy trong suốt khóa học. Đặc biệt là q thầy cơ trong Khoa Địa lý đã
góp ý chỉnh sửa trong q trình bảo vệ đề cương khóa luận.
Cảm ơn sự ủng hộ, giúp đỡ của gia đình và bạn bè để tơi có thể có những điều
kiện tốt nhất để hoàn thành đề tài.
Mặc dù bản thân đã cố gắng, nổ lực trong quá trình thực hiện đề tài nhưng chắc
chắn vẫn cịn nhiều thiếu sót. Vì vậy, tơi kính mong nhận được sự góp ý chân thành của
thầy cơ, bạn bè để đề tài được hồn thiện hơn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 01 năm 2021
Sinh viên thực hiện
Đoàn Hải Nam
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH
Biến đổi khí hậu
TP
Thành phố
LHQ
Liên hợp quốc
KT – XH
Kinh tế - xã hội
DBTT
Dễ bị tổn thương
HST
Hệ sinh thái
GRDP
Tổng sản phẩm trên địa bàn
GDP
Tổng sản phẩm nội địa
ĐDSH
Đa dạng sinh học
KBTTN
Khu bảo tổn tự nhiên
ATNĐ
Áp thấp nhiệt đới
CSHT
Cơ sở hạ tầng
KDL
Khu du lịch
KCN
Khu công nghiệp
CSVCKT
Cơ sở vật chất kỹ thuật
DL
Du lịch
CSDL
Cơ sở du lịch
NBD
Nước biển dâng
AHP
Analytic Hierarchy Process
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Số trang
Bảng 1.1
Các khái niệm về tính tổn thương do biến đổi khí hậu của IPCC
10
Bảng 1.2
Cơ cấu GDP Đà Nẵng
19
Bảng 1.3
Cơ cấu lao động trong giai đoạn 2013-2016-2019
23
Bảng 1.4
Tổng số lượt khách du lịch từ năm 2009 đến năm 2019 tạị
25
thành phố Đà Nẵng
Bảng 2.1
Tương quan mức độ phơi nhiễm (E)
33
Bảng 2.2
Tương quan mức độ nhạy cảm (S)
35
Bảng 2.3
Tương quan chỉ số khả năng thích ứng (AC)
36
Bảng 2.4
Giá trị so sánh giữa các yếu tố trong độ phơi nhiễm (E)
39
Bảng 2.5
Giá trị quy đổi và trọng số của các yếu tố trong độ phơi nhiễm
39
Bảng 2.6
Giá trị so sánh giữa các yếu tố trong độ nhạy cảm (S)
40
Bảng 2.7
Giá trị quy đổi và trọng số của các yếu tố trong độ nhạy cảm (S)
40
Bảng 2.8
Giá trị so sánh giữa các yếu tố trong độ thích ứng (AC)
41
Bảng 2.9
Giá trị quy đổi và trọng số của các yếu tố trong độ thích ứng (AC)
42
Bảng 2.10
Giá trị mức độ phơi nhiễm theo từng quận huyện
46
Bảng 2.11
Mức độ phơi nhiễm phân theo từng quận huyện
47
Bảng 2.12
Giá trị mức độ nhạy cảm phân theo từng quận huyện
49
Bảng 2.13
Mức độ nhạy cảm phân theo từng quận huyện
49
Bảng 2.14
Giá trị khả năng thích ứng phân theo từng quận huyện
51
Bảng 2.15
Mức độ khả năng thích ứng phân theo từng quận huyện
52
Bảng 2.16
Tính tổn thương theo từng quận huyện
57
Bảng 3.1
Một số hoạt động định hướng ứng phó với BĐKH trong lĩnh vực du
59
lịch theo từng khu vực trên địa bàn TP. Đà Nẵng
Bảng 3.2
Phân tích các hoạt động ứng phó với BĐKH trong lĩnh vực du lịch ở
Tp. Đà Nẵng theo các khu vực
61
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Số hiệu hình
Tên hình vẽ
vẽ
Số
Trang
Hình 1.1
Sơ đồ tính tổn thương trong biến đổi khí hậu
12
Hình 1.2
Bản đồ hành chính Đà Nẵng
15
Hình 2.1
Tiêu chí đánh giá mức độ tổn thương của du lịch TP.Đà
37
Nẵng
Hình 2.2
Nhập số liệu các tiêu chí, chuyển đổi qua tỷ lệ 0-1
43
Hình 2.3
Cập nhật dữ liệu vào Q GIS
44
Hình 2.4
Hồn thành cập nhập dữ liệu vào Q GiS
45
Hình 2.5
Chuyển đổi dữ liệu sang GRASS GIS
45
Hình 2.6
Các tiêu chí đánh giá biến đổi khí hậu thành phố Đà Nẵng
46
Hình 2.7
Biểu đồ thể hiện mức độ phơi nhiễm (E) của thành phố Đà
47
Nẵng
Hình 2.8
Tỷ lệ mức độ phơi nhiễm của thành phố Đà Nẵng
48
Hình 2.9
Biểu đồ thể hiện mức độ nhạy cảm (S) của thành phố Đà
50
Nẵng
Hình 2.10
Tỷ lệ mức độ nhạy cảm của thành phố Đà Nẵng
50
Hình 2.11
Biểu đồ thể hiện mức độ thích ứng (AC) của thành phố Đà
52
Nẵng
Hình 2.12
Mức độ thích ứng của thành phố Đà Nẵng
53
Hình 2.13
Biểu đồ thể hiện mức độ tổn thương (V) của thành phố Đà
55
Nẵng
Hình 2.14
Mức độ tổn thương do biến đổi khí hậu tới hoạt động du
lịch tại thành phố Đà Nẵng
55
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Danh mục bảng, Danh mục hình vẽ
Mục lục
A. PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài. .............................................................................................. 1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................... 2
2.1. Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................................ 2
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu....................................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 3
3.1. Đối tượng nghiên cứu: .................................................................................... 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu......................................................................................... 3
4. Lịch sử nghiên cứu đề tài ................................................................................... 3
5. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 6
5.1. Phương pháp thu thập, phân tích số liệu thống kê ........................................... 6
5.2. Phương pháp GIS............................................................................................ 6
5.3. Phương pháp đánh giá theo chỉ số .................................................................. 6
5.4. Phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) ........................................................... 7
PHẦN B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ............................................................... 8
Chương 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI. ............................ 8
1.1. Cơ sở lý luận ................................................................................................... 8
1.2. Cơ sở thực tiễn ...............................................................................................15
Chương 2: ĐÁNH GIÁ TÍNH TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI
VỚI NGÀNH DU LỊCH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ..........................................32
2.1. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá ........................................................................32
2.2. Xác định trọng số cho các tiêu chí .................................................................37
2.3. Xây dựng cơ sở dữ liệu GIS phục vụ đánh giá ................................................42
2.4. Đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH đối với ngành du lịch ....................46
Chương 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHĨ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ...............................58
3.1. Đề xuất các giải pháp ứng phó với BĐKH trong lĩnh vực du lịch thành phố Đà
Nẵng. ....................................................................................................................58
3.2. Phân tích các giải pháp ứng phó với BĐKH trong lĩnh vực du lịch thành phố
Đà Nẵng. ..............................................................................................................60
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ .................................................................................65
TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................67
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Du lịch ngày nay đã trở thành một ngành kinh tế trọng điểm của nhiều nước trên
thế giới. Với đặc trưng là một ngành kinh tế tổng hợp, phát triển du lịch sẽ lôi kéo
nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh cùng phát triển. Trên thế giới nói chung và
Việt Nam nói riêng, du lịch đã đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân, thậm chí là một trong những lựa chọn chính để chống lại đói
nghèo. Tuy nhiên, lĩnh vực ngày càng quan trọng này đang rất dễ bị tổn thương trước
tác động của những thay đổi do biến đổi khí hậu gây ra. Do đó biến đổi khí hậu sẽ
có những tác động trực tiếp, gián tiếp hay tích cực và tiêu cực đến ngành du lịch. Tác
động trực tiếp dễ thấy nhất là khí hậu giúp xác định sự phù hợp của địa điểm du lịch
với các hoạt động khai thác du lịch, có thể tác động đáng kể đối với các mối quan hệ
cạnh tranh giữa các địa điểm du lịch. Điều kiện mơi trường có vai trị rất quan trọng
đối với ngành du lịch, một sự thay đổi của môi trường do biến đổi khí hậu cũng có
thể tác động sâu sắc đến các điểm, khu vực du lịch. Cụ thể là những thay đổi về môi
trường như đất, nước, không khí hay đa dạng sinh học bị suy thối ảnh hưởng đến
thẩm mỹ cảnh quan, sản xuất nông nghiệp bị biến đổi, thiên tai, xói mịn bờ biển,
nước biển dâng…thường có những tác động tiêu cực đến sự ổn định và phát triển
của môi trường du lịch. Yếu tố thứ ba quyết định chính trong việc lựa chọn điểm đến
của du khách đó là việc đảm bảo an tồn cá nhân. Khách du lịch, đặc biệt là du khách
quốc tế sẽ khơng chọn những nơi có bất ổn chính trị hay những nơi tiềm ẩn nguy cơ
về thiên tai. Chẳng hạn chúng ta sẽ không chọn điểm đến là nơi mà đang được dự
báo sẽ có một cơn bão đi qua, hay một nơi hồn tồn có khả năng xảy ra lũ, sạt lỡ
đất núi do mưa lớn. Mà những điều này hồn tồn có liên quan đến những những
thay đổi của khí hậu, và biến đổi khí hậu ngày càng thể hiện rõ tác động lên sự bất
1
thường, cường độ và phạm vi của những hiện tượng thiên tai. Cùng với sự biến động
ngày càng phức tạp và nguy hiểm của điều kiện thời tiết, khí hậu do biến đổi khí hậu
gây ra, sự tác động của nó trực tiếp hay gián tiếp lên ngành du lịch ngày càng quan
trọng. Vì vậy, để ổn định, thích nghi và phát triển ngành du lịch trong tương lai việc
nâng cao ý thức, hiểu biết về ảnh hưởng của BĐKH đến ngành du lịch là rất cần thiết
và vô cùng quan trọng.
Đà Nẵng không chỉ là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của miền Trung và
Tây Ngun, mà còn là điểm hấp dẫn trên con đường di sản miền Trung và có nhiều
bãi biển đẹp . Vì thế, nó có lợi thế du lịch so với các địa phương khác trên cả nước,
do đó phát triển Đà Nẵng thành trung tâm du lịch là nhiệm vụ quan trọng hiện nay.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây Đà Nẵng trở thành nơi hứng chịu nhiều ảnh
hưởng của BĐKH làm tăng mức độ trầm trọng của các hiện tượng thời tiết nguy
hiểm, mực nước biển dâng cao, chế độ thời tiết bình thường thay đổi , kéo theo các
ảnh hưởng đến các cơng trình , cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, làm mất đi hoặc tổn
hại các giá trị tài nguyên du lịch, giảm khả năng cung cấp các sản vật tự nhiên cũng
như gia tăng các dịch bệnh từ đó ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động du lich. Nhận
thấy rõ tầm quan trọng của BĐKH đối với sự phát triển du lịch, tôi đã lựa chọn đề
tài “Đánh giá tính tổn thương do BĐKH đối với ngành du lịch TP Đà Nẵng” để
nghiên cứu.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của đề tài là đánh giá tính tổn thương do BĐKH đối với ngành
du lịch thành phố Đà Nẵng bằng phương pháp GIS.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thu thập số liệu về BĐKH và thiên tai thành phố Đà Nẵng.
2
Đánh giá mức độ tổn thương do BĐKH đối với ngành du lịch TP Đà Nẵng theo
các quận, huyện.
Trên cơ sở đó, đưa ra những định hướng và đề xuất một số giải pháp để phát
triển du lịch của thành phố Đà Nẵng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là tính tổn thương do biến đổi khí hậu đối
với ngành du lịch TP Đà Nẵng, được đánh giá trên ba phương diện: độ phơi nhiễm,
tính nhạy cảm và khả năng thích ứng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tồn bộ diện tích phần đất liền của thành phố
Đà Nẵng bao gồm 6 quận nội thành và huyện Hòa Vang.
4. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về BĐKH ở Việt Nam đã được tiến hành từ những thập niên 90 của
thế kỷ trước bởi các nhà khoa học đầu ngành như Nguyễn Đức Ngữ, Trần Thục,
Nguyễn Trọng Hiệu. Tuy nhiên, vấn đề này chỉ thực sự được quan tâm chú ý từ sau
năm 2000, đặc biệt từ năm 2008 đến nay. Các công trình nghiên cứu cũng đã dần
dần đi vào chiều sâu về bản chất, nguyên nhân, cơ chế vật lý và những bằng chứng
này cho thấy khí hậu Việt Nam đã có những dấu hiện biến đổi rõ rệt (Nguyễn Đức
Ngữ, 2008; Nguyễn Văn Thắng và cộng sự, 2010; Trần Thanh Xuân và cộng sự, 2011;
Phan Văn Tân và Ngô Đức Thành, 2013). Việt Nam là nước dễ bị tổn thương trước
tác động của BĐKH. Theo đánh giá hàng năm về những nước chịu ảnh hưởng nặng
nhất bởi các hiện tượng thời tiết cực đoạn giai đoạn 1997-2016, Việt Nam đứng thứ
5 về chỉ số rủi ro khí hậu tồn cầu năm 2018 và thứ 8 về chỉ số rủi ro khí hậu dài hạn
(Open Development Mekong, 2019).
3
Tại Việt Nam, Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID, 2018) đã thực hiện
nghiên cứu đánh giá tính DBTT do BĐKH trên hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu
Hai. Nghiên cứu này cũng dựa theo khung lý thuyết đã được Ủy ban Liên chính phủ
về Biến đổi Khí hậu (IPCC, 2014) sử dụng kết hợp với phỏng vấn cộng đồng và
phân tích đa chỉ tiêu. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 48 chỉ số chính và phụ
của các hợp phần Độ phơi nhiễm (Exposure), độ nhạy cảm (Sensitivity), khả năng
thích ứng (Adaptive Capacity) và phân vùng được mức độ DBTT do BĐKH cho 20
làng chài phân bố trên 18 xã thuộc 5 huyện khác nhau xung quanh khu vực đầm phá
Tam Giang – Cầu Hai. Ngồi ra, nghiên cứu đánh giá tính DBTT do BĐKH tại thành
phố Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh… được thực hiện cho các mốc thời gian hiện
tại, 2020, 2050 và 2100, tập trung vào các lĩnh vực như dân cư, nông nghiệp, công
nghiệp và dịch vụ, cơ sở hạ tầng và vấn đề vệ sinh môi trường… Gần đây, N.V.Q.
Bơi và Đ.T.T. Kiều (2012) tính tốn chỉ số tổn thương do BĐKH đến sinh kế - nghiên
cứu tại xã đảo Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Cùng lĩnh vực nghiên
cứu, T.T. Đạt, V.T.H. Thu (2012) thực hiện đánh giá khả năng DBTT của sinh kế
ven biển Việt Nam trước tác động của BĐKH. Đối với đánh giá tính DBTT do
BĐKH trong lĩnh vực nơng nghiệp, có các nghiên cứu của V.T. Danh (2014), H.H.
Dương (2014); đối với lĩnh vực du lịch có nghiên cứu của H.L.T. Thủy và T.T. Mùi
(2018), Võ Văn Minh (2014); đối với lĩnh vực thủy sản có các nghiên cứu của
Nguyễn Xuân Trịnh và Trần Văn Tam (2015), Dư Văn Toán và cộng sự (2017).
M.T. Nhuận và cộng sự (2002 và 2015) đã nghiên cứu và đánh giá mức độ tổn
thương của đới duyên hải miền Trung và Nam Trung Bộ, đề xuất mơ hình giải pháp
sử dụng bền vững tài ngun địa chất đới bờ duyên hải - điển hình là dải bờ Phan
Thiết – Vũng Tàu. L.T.T. Hiền và cộng sự (2006) nghiên cứu về tính DBTT tại đới
ven biển Hải Phòng, thành lập bản đồ TDBTT. Trong nghiên cứu này, khu vực có
tính DBTT cao tập trung ở khu nội thành cũ, khu ni trồng thủy hải sản, rừng phịng
4
hộ ven biển và khu bảo tồn san hô. Kết quả nghiên cứu góp phần vào việc quản lý
tổng hợp và phát triển bền vững đới ven biển Hải Phịng.
Nhìn chung, đánh giá tính DBTT do BĐKH ở Việt Nam còn là một lĩnh vực
mới, các nghiên cứu chỉ xuất hiện từ năm 2000 trở lại đây. Các số liệu sử dụng trong
các nghiên cứu này cũng chưa được cập nhật và cần phải điều tra thực tế nhiều. Mặc
dù, các đề tài nghiên cứu rất đa dạng, tuy nhiên khơng có một khung nghiên cứu
thống nhất nào về đánh giá tính DBTT do BĐKH cho tất cả các địa phương, vì đánh
giá này phụ thuộc rất nhiều vào đặc thù về tự nhiên, kinh tế - xã hội và khả năng
chống chịu của từng địa phương trong lĩnh vực BĐKH.
Thành phố Đà Nẵng đã thực hiện một số dự án nghiên cứu về BĐKH và đánh
giá tính DBTT do BĐKH. Viện nước, Tưới tiêu và Môi trường (2009) đã thực hiện
dự án “Đánh giá tác động của BĐKH và tính dễ bị tổn thương tại Đà Nẵng” trong
khn khổ của chương trình “Mạng lưới các Thành phố Châu Á có khả năng chống
chịu với Biến đổi Khí hậu” – Hợp phần Việt Nam. Báo cáo này đã phân tích, đánh
giá thực trạng BĐKH ở Đà Nẵng và tính DBTT dựa trên phương pháp thu thập số
liệu thống kê và điều tra thực địa. Văn phòng Ban chỉ đạo ứng phó với BĐKH và
nước biển dâng TP Đà Nẵng năm 2014 cũng đã thực hiện đánh giá tính DBTT do
BĐKH đối với hoạt động du lịch TP Đà Nẵng trong đó cũng dựa trên đánh giá các
hợp phần về độ phơi nhiễm, nhạy cảm và khả năng thích ứng. Mai Trọng Nhuận và
cộng sự (2015) đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng mơ hình đơ thị ven biển
có khả năng thích ứng với BĐKH” nằm trong khn khổ chương trình KHCN phục
vụ Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH trong đó TP Đà Nẵng được
chọn là trọng tâm của khu vực nghiên cứu. Tuy nhiên, các đánh giá này đều được
thực hiện ở quy mô cấp thành phố hoặc cấp vùng, chưa có đánh giá nào thực hiện
đến cấp xã, phường. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa trên số liệu thống kê và
điều tra xã hội học, rất ít các nghiên cứu sử dụng phương pháp viễn thám và GIS.
5
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu từ các đề tài, các cơng trình này cho đến nay đã khơng
cịn tính cập nhật và cần thiết phải được bổ sung để đánh giá chính xác hiện trạng
tính DBTT do BĐKH tại TP Đà Nẵng.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thu thập, phân tích số liệu thống kê
Là phương pháp thu thập tất cả những số liệu, thơng tin có liên quan đến đề tài,
sau đó sẽ tiến hành tiến hành xử lý, đánh giá các số liệu, thông tin thu thập được.
Những số liệu và các thông tin này chúng tôi thu thập ở các cơ quan như: Trung tâm
kỹ thuật phòng chống thiên tai – chi cục phòng chống thiên tai miền Trung và Tây
Nguyên, sở Tài nguyên môi trường Thành phố Đà Nẵng, Đài Khí tượng thủy văn
Trung Trung Bộ, Bộ Tài ngun và Mơi trường... Ngồi các số liệu thu thập ở các
cơ quan, chúng tơi cịn khai khác những thông tin từ các website của các tổ chức,
các nhóm nghiên cứu trong và ngồi nước. Các số liệu liên quan đến BĐKH trong
ngành du lịch sau khi thu thập sẽ được chúng tơi xử lí, phân tích và hệ thống hóa để
xây dựng cơ sở dữ liệu về BĐKH cho TP Đà Nẵng
5.2. Phương pháp GIS
Phương pháp này được sử dụng trong đề tài, từ việc xây dựng, trình bày, sử dụng
để biểu diễn kết quả và hiển thị thơng tin. Kết quả của q trình phân tích số liệu
thống kê sẽ được chuẩn hóa để đưa vào trong môi trường GIS để xây dựng các bản
đồ liên quan đến tính dễ bị tổn thương do BĐKH ở thành phố Đà Nẵng.
5.3. Phương pháp đánh giá theo chỉ số
Để việc đánh giá tính tổn thương do BĐKH được khoa học và tin cậy, đề tài
sở dụng cách tiếp cận định lượng bằng việc xây dựng bộ tham số đánh giá và chỉ
số dễ bị tổn thương do BĐKH đến du lịch theo công thức:
6
V = E + S - AC
Trong đó:
V: Chỉ số tổn thương tổng hợp;
E: chỉ số phơi nhiễm, chỉ số E càng cao thì mức độ tác động càng mạnh;
S: Chỉ số nhạy cảm, chỉ số S càng cao mức độ nhạy cảm càng lớn;
AC: chỉ số khả năng thích ứng, chỉ số AC càng cao thì khả năng thích ứng càng
lớn.
Thang đánh giá nguy cơ tổn thương được xác định trong khoảng từ 0 đến 1, chỉ
ra mức độ tổn thương theo 4 cấp: Thấp – Trung bình – Cao – Rất cao. Tuy nhiên đối
với các khu vực khác nhau, dựa vào chỉ số tổn thương cụ thể tại khu vực đó, thang
đánh giá có thể chia theo các cấp khác nhau.
5.4. Phương pháp phân tích thứ bậc (AHP)
Phương pháp phân tích thứ bậc (Analytic Hierarchy Process, AHP) là một mơ
hình tốn học thuộc lớp mơ hình tốn ra quyết định đa mục tiêu được đề xuất bởi
Saaty (1980). AHP kết hợp được cả hai mặt tư duy của con người: về định tính (qua
sự sắp xếp thứ bậc) và định lượng (qua sự mô tả đánh giá dưới dạng các con số).
Q trình phân tích ban đầu xác định được mục tiêu, tiêu chí và các phương án lựa
chọn sắp xếp theo cấu trúc thứ bậc . Quá trình đánh giá sử dụng ma trận so sách cặp
Saaty với thang điểm từ 1 đến 9, xác định trọng số dựa trên vector riêng ứng với giá
trị riêng lớn nhất, sau đó kiểm tra hệ số nhất quán. Cuối cùng, tất cả các trọng số
được tổng hợp lại để đưa ra quyết định tốt nhất.
7
PHẦN B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về khí hậu, BĐKH và du lịch.
1.1.1.1. Khái niệm khí hậu và thời tiết.
Khí hậu là trạng thái trung bình của thời tiết tại một khu vực nào đó (tỉnh, quốc
gia, châu lục, toàn cầu) trên cơ sở chuồi số liệu dài nhất là 30 năm trở lên. Thời tiết
là thời điểm trạng thái khí quyển nhất định tại một điểm nhất định được xác định
bằng tổ hợp riêng lẽ các yếu tố nhiệt độ, áp suất, tốc độ gió, mưa,...
Thời tiết thưởng thay đổi trong một ngày, từ ngày qua ngày khác, từ năn này
qua năm khác nhưng khí hậu thì ít thay đổi. (Trần Thị Ân, 2020)
1.1.1.2. Khái niệm BĐKH
Theo công ước khung của LHQ đã đặc biệt nhấn mạnh sự ảnh hưởng của BĐKH
đến HST tự nhiên, đến các hoạt động KT - XH, đến sức khỏe và phúc lợi của con
người: "BĐKH là những ảnh hưởng có hại của BĐKH, là những biển đối trong môi
trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần,
khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các HST tự nhiên hoặc đến hoạt động của các
hệ thống KT- XH hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người".
Đối với Hiệp hội Khí tượng Mỹ (American Meteorological Society- AMS) chỉ
tập trung để cập đến nguyên nhân dẫn đến BĐKH. "Bất kỳ sự thay đổi có hệ thống
của các nhân tố KH trong một thời gian dài (nhiệt độ, áp suất, gió) qua hàng chục
năm hoặc lâu hơn. BĐKH có thể do các q trình tự nhiên, như các thay đổi trong
quả trình phát năng lượng của Mặt trời, hoặc các thay đổi chậm chạp của trục quay
Trái đất, hoặc do các quá trình tự nhiên nội tại của hệ thống khoa học; hoặc do tác
động từ các hoạt động của con người".
8
Định nghĩa của Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam: “BÐKH xác định sự
khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay hệ thống khoa học.
Trong đó, trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường là
vài thập kỷ. Sự thay đổi của KH được quy định trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt
động của con người làm thay đổi thành phần khí quyền tồn cầu và đóng góp thêm
vào sự biến động KH tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được’’
GS.TSKH Lê Huy Bá cho rằng: “BÐKH là sự thay đổi đáng kể, lâu dài các thành
phần KH. "khung" thời tiết từ bình thường vốn có lâu đời này của một vùng cụ thể,
sang một trạng thái thời tiết mới, đạt các tiêu chí sinh thái KH một cách khác hån,
để rồi sau đó dần dần di chuyển đi vào ổn định mới".
"BÐKH Trái đất là sự thay đổi của hệ thống KH gồm khí quyền, thủy quyền,
sinh quyền, thạch quyền hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và
nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm. Sự
thay đổi biển có thể là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự
kiện thời tiết quanh năm một mức trung bình. Sự kiện BĐKH có thể giới hạn trong
một vùng nhất định hay có thể xuất hiện trên toàn địa cầu." (Wikipedia).
Khái niệm BĐKH của IPCC, 2007: BĐKH là sự biến đổi trạng thái của hệ thống
khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các
thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ
hoặc dài hơn. Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là
điều kiện thời tiết trung bình và những biến động của nó trong khoảng vài thập kỷ
hoặc dài hơn, thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân
bằng khác của hệ thống khí hậu.
1.1.1.3. Tính dễ bị tổn thương do BĐKH
Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc đã tóm tắt ba hướng định nghĩa tính
DBTT (Vulnerability) do thảm họa thiên nhiên và dịch bệnh, do đói nghèo và do
9
BĐKH. Do tính chất phức tạp và ảnh hưởng mạnh mẽ của BĐKH đổi với môi
trường, sinh thái, xã hội, đã có rất nhiều nghiên cứu lượng hóa những ảnh hưởng của
BĐKH làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro, tồn thất do
BĐKH Thuật ngữ tính DBTT do BĐKH theo đó ra đời. Tính DBTT do BĐKH là
mức độ mà một hệ thống (tự nhiên xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH
hoặc khơng có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH.
Tính DBTT do BĐKH được xác định phụ thuộc vào sự phơi nhiễm, độ nhạy cảm
của hệ thống và khả năng thích ứng của cộng đồng với các tác động của BĐKH, nói
cách khác là những tác động còn lại của BĐKH sau khi thực hiện các biện pháp thích
ứng. Các định nghĩa này phản ánh sự phát triển về quan điểm nghiên cứu tổn thương
thể hiện một cái nhìn tồn diện của xã hội liên quan đến lĩnh vực kinh tế, xã hội và
mơi trường. Nhìn chung, khái niệm tính DBTT được sử dụng phổ biến hiện nay do
IPCC đưa ra năm 2007. Theo đó, đánh giá tính DBTT do BĐKH là đánh giá mức độ
dễ bị ảnh hưởng của một đối tượng (các cộng đồng, khu vực, nhóm người hoặc hoạt
động KTXH) dưới tác động của BĐKH . Mức độ DBTT của một đối tượng không
chỉ phụ thuộc vào bản chất của BĐKH mà còn phụ thuộc vào mức độ nhạy cảm và
khả năng thích ứng của đối tượng đó. (Lê Ngọc Tuấn, 2017). Bảng 1.1 và hình 1.1
thể hiện các cách tiếp cận của IPCC trong đánh giá tính tổn thương do BĐKH.
Bảng 1.1 Các khái niệm về tính tổn thương do biến đổi khí hậu của IPCC
Các báo cáo của IPCC
Năm 1992
Khái niệm về tính tổn thương do biến đổi khí hậu
Mức độ mà một hệ thống khơng có khả năng đối phó
với những hậu quả của BĐKH và nước biển đâng
(Nước biển dâng).
10
Năm 1996 báo cáo lần 2 Mức độ mà BĐKH có thể gây tổn hại hay bất lợi cho
hệ thống, không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy cảm của hệ
thống mà còn phụ thuộc vào năng lực của cộng đồng
với điều kiện khí hậu mới.
Định nghĩa này bao gồm sợ phơi nhiễm, độ nhạy cảm,
khả năng phục hồi của hệ thống để chống lại các mối
nguy hiển do ảnh hưởng của BĐKH.
Năm 2001 báo cáo lần 3 Mức độ một hệ thống tự nhiên hoặc xã hội bị nhạy cảm
với các thiệt hại do BĐKH gây ra. Tính DBTT là một
hàm mức độ nhạy cảm của một hệ thống đối với những
thay đổi của khí hậu mức độ mà một hệ thống chịu tác
động trực tiếp hoặc dán tiếp có lợi cũng như bất lợi bởi
các yếu tố liên quan đến khí hậu, năng lực thích ứng
(khả năng mà một hệ thống điều chỉnh sự BĐKH – bao
gồm các thay đổi khí hậu và các hiện tượng cực đoan –
để hạn chế các thiệt hại tiềm ẩn, tận dụng các cơ hội
hoặc để đối phó với các hậu quả), và mức độ phơi nhiễm
của hệ thống với các nguy cơ khí hậu (các đặc tính,
cường độ và mức độ (phạm vi) của các biến đổi và dao
động khí hậu).
Năm 2007 báo cáo lần 4 Là mức độ hệ thống (sinh thái, kinh tế - xã hội, sản
xuất,…) dễ bị ảnh hưởng và không thể chống chịu trước
các tác động tiêu cực của BĐKH, bao gồm dao động
khí hậu và các hiện tượng khí hậu cực đoan.
Tính dễ bị tổn thương là một hàm của mức độ phơi
nhiễm, mức độ nhạy cảm và năng lực thích ứng của hệ
11
thống đó. Theo định nghĩa này, khi các biện pháp thích
ứng được tăng cường, tính DBTT theo đó sẽ giảm đi.
Exposure
(Phơi nhiễm)
Sensitivity
(Nhạy cảm)
Potential Impacts
(Những tác động tiềm ẩn)
Adaptive Capacity
(Khả năng thích ứng)
Vulnerability to Climate change
(Tổn thương do BĐKH)
(Nguyễn Vũ Kỳ, 2018)
Hình 1.1. Sơ đồ tính tổn thương trong biến đổi khí hậu
1.1.1.4. Khái niệm du lịch
Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã trở thành nhu cầu khơng thể thiếu
được trong đời sống văn hóa – xã hội, hoạt động du lịch đang được phát triển mạnh
mẽ và ngành cơng nghiệp khơng khói này đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng,
góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia.
Thuật ngữ du lịch rất thông dụng, được bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa
là đi một vòng. Thuật ngữ này được La Tinh hóa thành Tonus và sau đó thành
“Tourisme” (Tiếng Pháp), “Tourism” (Tiếng Anh)
Trong tiếng việt, thuật ngữ du lịch được dịch thông qua tiếng Hán. Du lịch có
nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là sự từng trải. Tuy nhiên, người Trung Quốc gọi du
lịch là du lãm với ý nghĩa đi chơi để nhận thức.
12
Do hoàn cảnh (thời gian và khu vực) khác nhau, dưới góc độ nghiên cứu khác
nhau, mỗi người có cách hiểu khác nhau về du lịch.
Theo I.I pirôgionic, 1985: Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời
gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường
xuyên nhằm nghĩ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ
nhận thức văn hố hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên,
kinh tế và văn hoá.
Luật Du lịch Việt Nam 2017 đã đưa ra khái niệm như sau: “Du lịch là các hoạt
động liên quan đến chuyến đi của con người ngồi nơi cư trú thường xun của mình
nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng
thời gian nhất định”.
Theo liên hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of
Official Travel Oragnization: IUOTO): Du lịch được hiểu là hành động du hành đến
một nơi khác với điạ điểm cư trú thường xun cuả mình nhằm mục đích khơng phải
để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống...
Theo nhà kinh tế học người Áo Josep Stander nhìn từ góc độ du khách: khách
du lịch là loại khách đi theo ý thích ngồi nơi cư trú thường xuyên để thoả mãn sinh
họat cao cấp mà khơng theo đuổi mục đích kinh tế.
Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian cuả du khách: du lịch là một trong những
hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này
sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc.
Nhìn từ góc độ kinh tế thì du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục
vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghĩ ngơi, có hoặc khơng kết hợp với các hoạt
động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác. (Trần Ngọc
Hương, 2012)
13
1.1.1.5. Tác động của biến đổi khí hậu đối với ngành du lịch
Ngành du lịch và khí hậu có mối quan hệ rất chặt chẽ trong quá trình phát
triển, bắt đầu từ việc kiểm tra các ngưỡng khí hậu để xác định độ dài của mùa nhằm
chuẩn bị các hoạt động du lịch cho phù hợp. Khí hậu đóng vai trò quan trọng trong
việc lựa chọn địa điểm và chi tiêu du lịch vì nhiều điểm du lịch được liên kết chặt
chẽ với môi trường tự nhiên. Một số loại hình du lịch cần những điều kiện khí hậu
rất đặc biệt, ví dụ như du lịch bãi biển, thể thao mùa đơng hoặc du lịch y tế chăm
sóc sức khỏe. Do vậy, hiện tượng BĐKH sẽ gây những ảnh hưởng mạnh mẽ và đóng
vai trị quan trọng đến khả năng cạnh tranh, phát triển bền vững và sự phát triển của
ngành du lịch. Khí hậu là tiền đề quyết định cho các hoạt động du lịch, xác định sự
phù hợp của địa điểm và thời gian, chất lượng sản phẩm. Sức mua của du khách
trong mùa du lịch cũng phụ thuộc vào khí hậu và tác động đáng kể đối với các mối
quan hệ cạnh tranh giữa các địa điểm và lợi nhuận của các doanh nghiệp du lịch.
Ngoài ra, BĐKH gây ra một số hiện tượng thời tiết cực đoan bao gồm: nhiệt độ cao
hơn vào ban ngày ở gần như tất cả các vùng, cường độ cơn bão nhiệt đới và gió lớn,
lượng mưa cao và hạn hán kéo dài… Từ đó, ngành cơng nghiệp du lịch sẽ tăng thiệt
hại về cơ sở hạ tầng, các yêu cầu khẩn cấp, chi phí điều hành cao hơn (ví dụ như bảo
hiểm, nước dự phịng, cơng tác sơ tán…) và gián đoạn cơng việc kinh doanh.
Ngồi ra, ảnh hưởng của BĐKH gây tác động gián tiếp lên hoạt động du lịch
qua các lĩnh vực khác liên quan như giao thông, năng lượng, quản lý nước, sử dụng
đất (cho dịch vụ du lịch), an ninh quốc phòng. BĐKH diễn ra trong phạm vi rộng sẽ
gián tiếp gây ra các tác động tiêu cực và sâu sắc đến du lịch ở những mức độ khác
nhau như chất lượng nguồn nước giảm, mất đa dạng sinh học, giảm thẩm mỹ cảnh
quan, thay đổi trong sản xuất nơng nghiệp, tăng thiên tai, xói mịn bờ biển và ngập
lụt, thiệt hại cho cơ sở hạ tầng và dịch bệnh. Núi, hải đảo, vùng ven biển là các điểm
đến đặc biệt nhạy cảm, dễ bị tổn thương với BĐKH. Ngồi ra, tình trạng thiếu nước
14
ngọt do xâm nhập mặn bởi BĐKH cũng dẫn đến việc hạn chế về điều kiện để phục
vụ khách hàng, làm giảm độ hấp dẫn của điểm du lịch, giảm lượng khách và khả
năng tiêu dùng, ảnh hưởng đến doanh thu của các dịch vụ phục vụ cho ngành du
lịch, từ đó ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế tồn cầu.
Như vậy, BĐKH được cho là tác nhân gây nguy hiểm cho sự tăng trưởng kinh
tế trong tương lai và sự ổn định chính trị của một số quốc gia. BĐKH gây thiệt hại
về doanh thu, do đó giảm khả năng phát triển kinh tế và có thể dẫn đến bất ổn về
chính trị và an ninh quốc gia. Đà Nẵng có đường bờ biển dài nên ảnh hưởng của
BĐKH tới hoạt động du lịch được thể hiện bởi các yếu tố sau đây:
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Khái quát chung về điều kiện tự nhiêm, kinh tế - xã hội của thành phố
Đà Nẵng.
Hình 1.2 Bản đồ hành chính thành phố Đà Nẵng
15
1.2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Đà Nẵng nằm ở trung độ của đất nước, cách Hà Nội 765km về phía Bắc và cách
thành phố Hồ Chí Minh 964km về phía Nam, nối vùng Tây Nguyên qua Quốc lộ
14B và là cửa ngõ ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan,
Myanma đến các nước Đông Bắc Á qua tuyến Hành lang kinh tế Đông - Tây.
a. Đặc điểm địa hình
Địa hình, địa mạo theo hướng từ tây sang đơng, địa hình Tp. Đà Nẵng có tính
phân dị từ núi, đồi, đồng bằng và biển. Tp. Đà Nẵng có vịnh Đà Nẵng và 93 km bờ
biển. Đồng bằng ven biển hẹp bắt đầu từ chân đèo Hải Vân đến Duy Xuyên. Các đồi
cao từ 10 -15 m đến 100 m xuất hiện với diện tích khơng lớn ở các vùng Hòa Nhơn,
Hòa Liên, Kim Liên. Núi phân bố thành dải hẹp thuộc ba kiểu chính: uốn nếp khối
tảng thuộc dãy Bạch Mã - Hải Vân có độ cao trên 1.000 m phát triển về phía tây,
cùng với cao nguyên Tà Ơi, có phương vĩ tuyến; núi đảo thuộc bán đảo Sơn Trà với
đỉnh Sơn Trà cao 696 m có phương vĩ tuyến; và núi sót trên đồng bằng tích tụ tạo
thành dãy Ngũ Hành Sơn với năm đỉnh có tên là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, độ cao
không vượt quá 150 m. Các núi sót khác dãy núi Phước Tường với một thung lũng
và đồi thấp kéo dài từ Túy Loan qua Hòa Nhơn đến Hòa Liên gồm nhiều khối nhỏ
liên kết với nhau với các đỉnh không vượt quá 350 m. Như vậy, Đà Nẵng là thành
phố sơn thuỷ điển hình.
b. Đặc điểm khí hậu
Theo chuổi số liệu quan trắc từ năm 1961 đến năm 2010 tại trạm Đà Nẵng, khí
hậu Đà Nẵng có những đặc điểm chính sau
Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít
biến động. Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và
miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam. Mỗi năm có 2
mùa rõ rệt. Đó là mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1
16
đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đơng nhưng khơng đậm và khơng
kéo dài.
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,9°C; cao nhất vào các tháng 6,7,8,
trung bình 28-30°C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình 18 - 23°C. Riêng
vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung bình khoảng 20°C.
Độ ẩm khơng khí trung bình là 83,4%; cao nhất vào các tháng 10,11, trung bình
85-88%; thấp nhất vào các tháng 6,7 trung bình 77-78%.
Lượng mưa trung bình hàng năm là trên 2.500 mm; lượng mưa cao nhất vào các
tháng 10,11 trung bình 550 - 1.000 mm/tháng; thấp nhất vào các tháng 1 - 6, trung
bình 23 – 40 mm/tháng
Số giờ nắng trung bình trong năm trên 2.150 giờ; nhiều nhất vào tháng 5,6 trung
bình từ 234 đến 277 giờ/tháng; ít nhất vào tháng 11,12 trung bình từ 69 đến 165
giờ/tháng. Số ngày nắng nóng mỗi năm phổ biến từ 35 đến 60 ngày, hạn hán thường
xảy ra vào các tháng cuối đông, nhiều nhất vào mùa xuân và mùa hè.
c. Đặc điểm thủy văn:
Sơng Cu Đê có lưu vực nhỏ với hai nhánh chính là nhánh bắc và nhánh nam có
hướng chảy tây - đơng và đổ vào vịnh Đà Nẵng ở cửa Nam Ô. Chế độ thủy văn của
sông biến động nhanh theo lưu lượng mưa. Sông Túy Loan gồm hai nhánh, nhánh
thứ nhất là sông Túy Loan với các chi lưu bắt nguồn từ núi Bà Nà, nhánh thứ hai là
sông Yên bắt nguồn từ Đại Lộc chảy theo phương tây bắc - đông nam đến Cẩm Nê
gặp sơng Túy Loan hình thành nên sơng Cầu Đỏ. Sơng n có chế độ thủy văn biến
động theo mùa, hoạt động xói lở khá mạnh. Sơng Cầu đỏ gặp sông Vĩnh Diện (một
nhánh của sông Vu Gia) ở Trung Lương - Hòa Quý, vừa nhận được nước của sông
Vu Gia, vừa nhận nước của sông Thu Bồn để tạo ra sông Hàn. Vu Gia và Thu Bồn
là hai con sơng chính tạo nên hệ thống Thu Bồn, đổ nước vào biển qua hai cửa là
Cửa Đại và cửa Sông Hàn. Tổng lượng nước sông và phù sa mang ra biển lần lượt
17