Tải bản đầy đủ (.pdf) (52 trang)

ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ NGHỀ DỆT CHIẾU BÀN THẠCH – DUY XUYÊN – QUẢNG NAM 10600999-mo-dau.htm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (774.61 KB, 52 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
----------------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀ NH CỬ NHÂN VĂN HỌC
Đề tài:

ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ NGHỀ DỆT CHIẾU BÀN THẠCH –
DUY XUYÊN – QUẢNG NAM
Người hướng dẫn:
TS. Trương Thi Diễ
̣ m
Người thực hiện:
Đă ̣ng Tường Vy

Đà Nẵng, tháng 5/2013


1

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu .......................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.............................................................. 3
3.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................... 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................. 3
4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................ 3
5. Bố cục đề tài ................................................................................................. 3


Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ........................................................ 4
1.1. Từ ngữ ....................................................................................................... 4
1.1.1. Khái niệm từ, ngữ .................................................................................. 4
1.1.2. Đặc điểm cơ bản của từ, ngữ ................................................................. 6
1.2. Từ ngữ nghề nghiệp ................................................................................. 7
1.2.1. Định nghĩa .............................................................................................. 7
1.2.2. Đặc trưng của từ nghề nghiệp ............................................................... 7
1.3. Vài nét về nghề dệt chiếu và làng chiếu Bàn Thạch – Duy Vinh – Duy
Xuyên – Quảng Nam ....................................................................................... 9
1.3.1. Lịch sử hình thành và phát triển nghề dệt chiếu ................................ 9
1.3.2. Vài nét về làng chiếu Bàn Thạch ........................................................ 11
1.3.2. Các bước dệt chiếu ............................................................................... 13
1.4. Nguyên tắc thu thập và tiêu chí phân loại hệ thống từ ngữ nghề dệt
chiếu Bàn Thạch ............................................................................................ 15
1.4.1. Nguyên tắc thu thập ............................................................................. 15
1.4.2. Tiêu chí phân loại ................................................................................ 16


Chương 2. ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA LỚP TỪ NGỮ NGHỀ DỆT
CHIẾU BÀN THẠCH..................................................................................... 17
2.1. Đặc điểm cấu tạo của lớp từ ngữ nghề dệt chiếu Bàn Thạch............. 17
2.1.1. Từ đơn ................................................................................................... 20
2.1.2. Từ phức................................................................................................. 22
2.1.3. Ngữ định danh ..................................................................................... 24
2.2. Đặc điểm từ loại của lớp từ ngữ nghề dệt chiếu Bàn Thạch .............. 27
2.2.1. Danh từ, cụm danh từ .......................................................................... 27
2.2.2. Động từ, cụm động từ .......................................................................... 29
2.2.3. Tính từ .................................................................................................. 33
Chương 3. ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA CỦA LỚP TỪ NGỮ
NGHỀ DỆT CHIẾU BÀN THẠCH ............................................................ 34

3.1. Từ ngữ nghề dệt chiếu Bàn Thạch trong mối quan hệ với từ toàn dân.... 34
3.2. Các phạm trù ngữ nghĩa của lớp từ ngữ nghề dệt chiếu Bàn Thạch ...... 35
3.2.1. Phạm trù biểu thị nguyên vật liệu và công cụ sản xuất ..................... 36
3.2.2. Phạm trù biểu thị động tác và quy trình sản xuất .............................. 40
3.2.3. Phạm trù biểu thị sản phẩm ................................................................ 42
KẾT LUẬN .................................................................................................... 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 48


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quảng Nam được biết đến như một tỉnh cịn nghèo, nhưng chính cái
nơi khắc nghiệt ấy lại mang một bề dày lịch sử và giàu những giá trị văn hóa
kết tinh từ nắng, gió cùng với con người ở đây. Về Quảng Nam mà khơng tìm
hiểu con người, khơng đi đây đó tham quan các làng nghề thì coi như chưa
đặt chân đến mảnh đất này bởi vì các làng nghề đã trở thành một bộ phận
không thể tách rời của lịch sử mỗi làng q thơn xóm của vùng đất này.
Làng chiếu Bàn Thạch thuộc thôn Vĩnh Nam, xã Duy Vinh, huyện Duy
Xuyên là một làng nghề truyền thống nổi tiếng với sản phẩm chiếu các loại.
Ngày nay, Bàn Thạch còn là một điểm du lịch hấp dẫn với du khách trong và
ngoài nước muốn tìm hiểu về văn hóa đặc sắc của một làng nghề. Tuy nhiên,
sự xuất hiện tràn lan của chiếu Trung Quốc khiến cho đầu ra của chiếu thủ
công bị thu hẹp. Lớp trẻ hầu như khơng có nhu cầu học nghề này mà chuyển
sang những ngành nghề khác có thu nhập cao và hợp thời hơn khiến cho làng
nghề dệt chiếu đang đi vào tình trạng suy thối. Vì vậy, việc sưu tầm và
nghiên cứu về nhóm từ vựng này là cơng việc cần thiết, góp phần lưu giữ một
giá trị văn hóa truyền thống của cha ơng.
Làng dệt chiếu Bàn Thạch, thuộc thôn Vĩnh Nam, xã Duy Vinh, huyện

Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam, là một địa danh làm chiếu nổi tiếng và có bề
dày lịch sử lâu đời. Vì vậy, khảo sát vốn từ vựng nghề dệt chiếu Bàn Thạch,
chúng tơi nhằm mục đích chỉ ra những đặc điểm cấu tạo cũng như đặc trưng
của vốn từ vựng này để từ đó có thể tìm ra những nét tương đồng và dị biệt
trong cách sử dụng từ vựng nghề nghiệp so với ngơn ngữ tồn dân; những
sáng tạo của họ trong quá trình định danh các sự vật và các hoạt động trong


2

lao động sản xuất. Ngồi ra, đề tài cịn góp phần hệ thống hóa tri thức nghề
dệt chiếu bằng ngơn từ, tìm hiểu về đời sống tinh thần của người dân nơi đây.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Cho đến nay, vốn từ chỉ nghề nghiệp đã được nhiều người quan tâm
nghiên cứu như: Nguyễn Văn Tu (Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại – 1976),
Đỗ Hữu Châu (Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt – 1981), Nguyễn Thiện Giáp
(Từ vựng học tiếng Việt - 1985) và một số tác giả khác như: Mai Ngọc Chừ,
Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến… Tuy nhiên, những khái niệm lí thuyết
liên quan đến từ ngữ nghề nghiệp trong Việt ngữ học còn khá khiêm tốn, mới
được đa số các tác giả trên đề cập một cách chung chung. Đề cập đến từ nghề
nghiệp một cách riêng rẽ dường như mới chỉ có luận văn Thạc sĩ khoa học với
đề tài Cấu tạo và nghĩa của từ ngữ nghề nghiệp trong tiếng Việt của Trương
Thị Thuyết (1996).
Nghề dệt chiếu ở nước ta đã có một lịch sử phát triển hàng ngàn năm
nhưng các công trình nghiên cứu về nghề dệt chiếu lại rất ít và chỉ dừng lại ở
việc giới thiệu sự ra đời, một số về đặc điểm của nghề dệt chiếu. Trong số này
có thể kể đến cơng trình nghiên cứu Nghề cổ nước Việt của Vũ Từ Trang,
Nxb Văn hóa dân tộc (2011).
Gần đây, xuất hiện nhiều cơng trình nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp,
tập trung vào các nghề như: nghề mộc, nghề thêu, nghề làm bánh, nghề gốm...

Các công trình này đã đi vào nghiên cứu vốn từ chỉ một nghề cụ thể, tuy
nhiên theo sự tìm hiểu của chúng tơi vẫn chưa có cơng trình nào nghiên cứu
về từ ngữ nghề dệt chiếu.


3

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng khảo sát của đề tài là tất cả các từ ngữ được sử dụng trong
hoạt động sản xuất có liên quan đến nghề dệt chiếu dưới dạng truyền miệng
lẫn dạng viết.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện và khả năng có hạn nên chúng tơi chỉ tiến hành khảo sát,
thống kê từ nghề nghiệp trong nghề dệt chiếu ở một làng nghề cụ thể, đó là
làng dệt chiếu Bàn Thạch, Duy Vinh, Duy Xuyên, Quảng Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, miêu tả: Đây là đề tài đi vào nghiên cứu một
lớp từ vựng cụ thể ở một địa phương cụ thể nên cần phải tiến hành khảo sát
thực tế để thu thập ngữ liệu sau đó tiến hành thống kê, miêu tả ngữ liệu.
- Phương pháp phân loại: Tập trung vào việc hệ thống hóa, phân định
hệ thống đối tượng nghiên cứu thành các cấp độ. Để tiến hành quá trình phân
loại này, chúng tôi chủ yếu sử dụng thủ pháp thống kê.
- Phương pháp tổng hợp, khái quát: Từ việc xử lí ngữ liệu chúng tơi
tiến hành phân tích tổng hợp để rút ra những nhận xét khái quát và những đặc
trưng về từ nghề nghiệp trong nghề dệt chiếu.
5. Bố cục đề tài
Luận văn này ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung gồm
có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp của lớp từ ngữ nghề chiếu Bàn Thạch
Chương 3: Đặc điểm từ vựng ngữ nghĩa của lớp từ ngữ nghề chiếu
Bàn Thạch


4

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Từ ngữ
1.1.1. Khái niệm từ, ngữ
Từ là một đơn vị tồn tại hiển nhiên sẵn có của ngơn ngữ mà ai cũng có
thể nhận ra. Từ được xem là vật liệu để cấu thành ngôn ngữ, vì vậy thiếu nó
thì khơng thể có ngơn ngữ. Xuất phát từ vai trò quan trọng của từ đối với
ngơn ngữ nên đã có rất nhiều nhà ngơn ngữ học đi vào nghiên cứu và tìm hiểu
về khái niệm từ. Mỗi nhà nghiên cứu đều đã đưa ra cho mình một cách hiểu
khác nhau về khái niệm của từ nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định
nghĩa chính thức nào về từ, mỗi cách định nghĩa lại nảy sinh hàng loạt vấn đề
gây tranh luận. Như F.de.Sausure đã viết: “…Từ là một đơn vị luôn luôn ám
ảnh chúng ta như một cái gì đó trung tâm trong tồn bộ cơ cấu của ngôn ngữ,
mặc dù khái niệm này khó định nghĩa” [15, tr.111].
Sở dĩ người ta khơng thể đưa ra một định nghĩa mang tính phổ quát về
từ là do “sự khác nhau về cách định hình, về chức năng và những đặc điểm ý
nghĩa của từ trong các ngôn ngữ khác nhau cũng như trong cùng một ngôn
ngữ”. Trong các ngôn ngữ khác nhau, bản thân từ khơng phải trường hợp nào
cũng giống nhau.
Chính sự phức tạp trên đã dẫn đến khó khăn trong việc thống nhất khi
định nghĩa về từ. Trên thực tế, theo sự thống kê hiện nay có khoảng 300 định
nghĩa về từ. Có thể kể đến một số định nghĩa tiêu biểu như L. Blum-phin, một
nhà ngôn ngữ thuộc trường phái cấu trúc, cho rằng: từ là “hình thái tự do nhỏ

nhất”, mà hình thái tự do là “bất kì hình thái nào có thể xuất hiện với tính
cách một phát ngơn”. A. Mây–yê nghiêng về mặt ngữ pháp: “Từ là sự kết


5

hợp giữa một ý nghĩa nhất định với một tổ hợp âm nhất định, có khả năng
đảm nhận một chức năng ngữ pháp nhất định”. Ê.Xêpia nghiêng về mặt ngữ
nghĩa: “Từ là một đoạn nhỏ nhất có ý nghĩa, hồn tồn có khả năng độc lập
và bản thân có thể làm thành câu tối giản”…[13, tr.37]
Vì vậy người ta chấp nhận một quan niệm tương đối về từ để làm việc
và tiếp tục định nghĩa về nó. Riêng tiếng Việt chúng ta cũng có hàng chục
định nghĩa khác nhau về từ. Theo Hồ Lê thì “Từ là đơn vị ngơn ngữ có chức
năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mơ phỏng tiếng động,
có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý
nghĩa” [13, tr.104]. Đỗ Hữu Châu cũng đưa ra định nghĩa về từ như sau: “Từ
của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc
điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để cấu tạo
câu” [4, tr.122]. Giáo sư Nguyễn Thiện Giáp thì cho rằng: “Từ là đơn vị nhỏ
nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức” [8, tr.61]. Các định
nghĩa trên dường như vẫn chưa có một định nghĩa nào thuyết phục được tất cả
mọi người. Ở đây, chúng tôi lấy định nghĩa về từ của Giáo sư Đỗ Hữu Châu
làm cơ sở của đề tài nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong khi làm luận văn.
Tương tự “từ”, ngữ cũng là khái niệm gây ra khơng ít những vấn đề
tranh luận. Sự khác nhau giữa từ và ngữ được Cao Xuân Hạo quan niệm khá
đơn giản:
Ngữ (đoạn) là một đơn vị cú pháp gồm một từ trở lên, và khơng thể nói
rõ số từ tối đa mà một ngữ có thể bao gồm là bao nhiêu… Dù sao thì ngữ
cũng có một số lượng thành tố bất kỳ, khác với từ hay hình vị vốn có một số
thành tố xác định… Nói chung một đơn vị ngơn ngữ thường có thể gồm nhiều

đơn vị ở bậc dưới, nhưng một tổ hợp của nhiều đơn vị bậc dưới chỉ có thể có
được tư cách của một đơn vị bậc trên khi nào nó có một hệ thống thuộc tính


6

ngữ pháp gì khác với cái tổng số đơn thuần của những đơn vị tạo thành nó,
cho nên một từ tổ (hay cụm từ), dù là tổ cố định, thì dù gồm nhiều từ, cũng
không làm thành một đơn vị ngơn ngữ cao hơn từ, vì nó khơng có một thuộc
tính gì khác hơn là cái khả năng làm ngữ vốn là một thuộc tính ngữ pháp của
từ. Từ tổ chẳng qua chỉ là một tổng số, một tập hợp của những từ có quan hệ
ngữ pháp nhất định với nhau [11, tr.175].
1.1.2. Đặc điểm cơ bản của từ, ngữ
Từ là đơn vị ngơn ngữ gồm có một hoặc một số âm tiết cố định và bất
biến. Từ không nhất thiết phải có một âm tiết mà từ có thể có hai, ba hay
nhiều âm tiết hơn nữa. Như hợp tác xã, thủ cơng nghiệp là những từ có ba âm
tiết, xã hội chủ nghĩa, cổ sinh vật học là những từ có bốn âm tiết…
Từ có tính hồn chỉnh về nghĩa. Tuy rằng, từ có thể là một, hai, ba hoặc
nhiều âm tiết hơn nữa nhưng mỗi từ đều thể hiện một ý nghĩa nhất định mà
không bị chia tách hoặc phá vỡ khi giao tiếp.
Từ có tính cố định hay vững chắc về cấu tạo. Bất kì một từ nào cũng
được xem là một khối chặt chẽ về cả nội dung lẫn hình thức cấu tạo. Chúng ta
khơng thể chia tách hoặc chêm xen bất cứ một yếu tố nào vào giữa từ. Nếu cố
tình chêm xen yếu tố nào vào giữa từ thì ý nghĩa và cấu tạo của từ sẽ thay đổi,
từ đó sẽ chuyển sang cụm từ.
Từ có tính độc lập về cú pháp, mỗi từ là một đơn vị của ngơn ngữ. Do
đó, các từ có khả năng kết hợp tự do với nhau để tạo câu và mỗi từ đều có thể
đứng độc lập mà vẫn có nghĩa.



7

1.2. Từ ngữ nghề nghiệp
1.2.1. Định nghĩa
Từ nghề nghiệp là một bộ phận trong hệ thống từ vựng tiếng Việt. Từ
nghề nghiệp tuy chỉ là một bộ phận nhỏ trong tồn bộ hệ thống từ tiếng Việt
nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong việc làm phong phú vốn từ vựng tiếng
Việt. Trong cách hiểu thông thường nhất, từ ngữ nghề nghiệp là từ ngữ được
sử dụng phổ biến giữa những người cùng làm trong một nghề nào đó. Từ ngữ
nghề nghiệp, trong nhiều trường hợp, có thể thay thế bằng: thuật ngữ nghề
nghiệp, từ nghề nghiệp, ngôn ngữ nghề nghiệp.
Ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra khá nhiều định nghĩa
khác nhau về từ ngữ nghề nghiệp.
- Từ nghề nghiệp đứng từ góc độ các nhà từ vựng học:
Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Từ vựng nghề nghiệp bao gồm những
đơn vị từ vựng được sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề
của các nghành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nơng nghiệp và các ngành lao
động trí óc (nghề thuốc, nghề văn thư…)” [3, tr. 253]
Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp: “Từ nghề nghiệp là những từ ngữ
biểu thị những cơng cụ, sản phẩm lao động và q trình sản xuất của một
nghề nào đó trong xã hội” [7, tr. 303]
- Từ nghề nghiệp đứng từ góc độ nhà phong cách học:
Tác giả Đinh Trọng Lạc: “Từ nghề nghiệp là những từ biểu thị công cụ
lao động, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó,
thường chỉ được những người trong ngành nghề đó biết sử dụng.” [12, tr.200]
1.2.2. Đặc trưng của từ nghề nghiệp


8


Từ nghề nghiệp là một lớp từ nằm trong vốn từ vựng tiếng Việt. Khác
với lớp từ toàn dân, nếu như từ tồn dân – từ ngữ văn hóa được sử dụng rộng
rãi trong tồn xã hội thì từ nghề nghiệp chỉ được sử dụng trong một ngành
nghề nào đó. Từ nghề nghiệp cũng như thuật ngữ khoa học, chủ yếu do những
người cùng một ngành chun mơn nào đó sử dụng. Và có thể nói bất cứ
nhóm nghề nghiệp nào cũng sử dụng từ ngữ nghề nghiệp.
Chức năng nổi bật của từ ngữ nghề nghiệp là giúp những người đồng
nghiệp có thể dễ dàng truyền đạt thơng điệp cho nhau khi cần sự cộng tác,
giúp đỡ, điều hành công việc hoặc truyền nghề.
Dùng từ ngữ nghề nghiệp sẽ không cần phải diễn đạt dài dòng mà vẫn
đạt được hiệu quả tiếp. Từ ngữ nghề nghiệp cũng là tập hợp tín hiệu giúp
nhận biết tư cách thành viên của một người hoạt động trong một nghề nghiệp
nào đó. Để tạo sự gắn kết và phối hợp nhịp nhàng trong lao động.
Nhìn chung, từ ngữ nghề nghiệp cũng chịu sự chi phối của quy luật ngữ
âm, cấu tạo từ và quy luật ngữ pháp của từng ngôn ngữ. Do được xây dựng
dựa trên bản ngữ nên từ ngữ nghề nghiệp phản ánh tư duy, văn hóa, đặc tính
của từng dân tộc. Đặc điểm này của từ nghề nghiệp không giống với thuật
ngữ, vốn được xây dựng dựa trên hai nguyên tắc: bản ngữ và sự giúp đỡ của
các ngôn ngữ khác. Sự khác nhau này đã dẫn đến những đặc trưng phân biệt
từ ngữ nghề nghiệp với thuật ngữ khoa học: Từ ngữ nghề nghiệp có tính dân
tộc – thuật ngữ khoa học có tính quốc tế; Từ ngữ nghề nghiệp có tính cụ thể,
gợi hình ảnh cao – thuật ngữ khoa học có tính khái qt cao.
Từ ngữ nghề nghiệp thường biểu thị cơng cụ, sản phẩm và q trình sản
xuất của một nghề nào đó trong xã hội. Do khơng có từ đồng nghĩa trong
ngơn ngữ tồn dân nên nó dễ dàng đi vào lớp ngơn ngữ khơng sử dụng hạn
chế về mặt xã hội. Nói cách khác, giới hạn sử dụng của từ ngữ nghề nghiệp có


9


thể đi từ một nhóm nhỏ đến một nhóm lớn hơn, kết quả là nó có thể kết thúc
địa vị đặc biệt của mình và đi vào cách sử dụng chính thức. Ví dụ: đục, bào,
cưa… (trong nghề mộc) đã đi vào ngơn ngữ tồn dân trong tiếng Việt. Một
đặc điểm quan trọng khác của từ ngữ nghề nghiệp, giống với thuật ngữ khoa
học là từ ngữ nghề nghiệp cũng là một tiểu hệ thống trong hệ thống của từng
ngôn ngữ. Về mặt hình thức, tính hệ thống của từ ngữ nghề nghiệp thể hiện ở
sự lệ thuộc lẫn nhau của các hình thái ngữ pháp phát sinh trong việc cấu tạo
và biến đổi từ.
1.3. Vài nét về nghề dệt chiếu và làng chiếu Bàn Thạch – Duy Vinh
– Duy Xuyên – Quảng Nam
1.3.1. Lịch sử hình thành và phát triển nghề dệt chiếu
Truyền thuyết về ông tổ nghề; Phạm Ðôn Lễ, tổ nghề dệt chiếu, ông là
người Hải Trào (Triều), tên nôm là làng Hới, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Ðỗ trạng nguyên niên hiệu Hồng Ðức thứ 12 (1481) đời vua Lê Thánh Tông.
Học giỏi, tài cao, từ thi hương đến thi đình đều đỗ đầu. Có người nhầm ông với
Phạm Ðôn làm quan bộ lễ thời tiền Lê, học được nghề dệt chiếu ở Quế Lâm
(Trung Quốc). Dân gian truyền rằng Hải Triều và những vùng lân cận rất hợp
với việc trồng cói, dân ở đây đã có nghề dệt chiếu từ lâu đời, nhưng dệt bằng
khung đứng, vừa chậm, chiếu lại khơng đẹp.
Phạm Ðơn Lễ (có tài liệu ghi sinh năm 1457 - không rõ năm mất) trong
một gia đình nghèo khó. Tương truyền bố ơng họ Phạm, quê ở huyện Tứ Kỳ,
sống bằng nghề chài lưới. Mẹ ông người làng Hải Triều (nay là xã Tân Lễ,
Hưng Hà, Thái Bình), dựng túp lều tranh đơn sơ làm quán hàng nước để bán
cho khách qua đò. Ngay từ khi Phạm Ðơn Lễ cịn rất nhỏ thì bố ông đột ngột
qua đời. Hai mẹ con đơn côi chỉ cịn biết trơng cậy vào qn hàng nước nghèo
nàn, dột nát. Càng lớn Phạm Ðôn Lễ càng khôi ngô, tuấn tú.


10


Theo các tài liệu lịch sử, năm Tân Sửu niên hiệu Hồng Ðức 12 - triều
vua Lê Thánh Tông, triều đình mở khoa thi kén chọn nhân tài cho đất nước.
Phạm Ðôn Lễ lên kinh thành dự thi. Cả ba khoa thi: thi hương, thi hội, thi
đình ơng đều đỗ thủ khoa. Sử chép: Vua ngự ở Ðiện kinh thiên, thảo ra văn
sách, hỏi về lý số, Phạm Ðôn Lễ đều trả lời rành mạch, lời lẽ phóng đạt trơi
chảy, vua cho đỗ trạng nguyên (tiến sĩ Cập Ðệ). Truyền thuyết kể rằng: Trong
thời gian về chịu tang mẹ, thấy dân làng Hải Triều có nghề dệt chiếu nhưng
chiếu làm ra không đẹp, hơn nữa khung dệt lại cao, đay rùi làm cho lá chiếu
không phẳng nên quan trạng đã suy nghĩ và tìm hiểu nguyên nhân. Trong một
chuyến đi công cán đến vùng Quảng Ðông (Trung Quốc), Phạm Ðôn Lễ thấy
dân ở vùng này sống bằng nghề dệt chiếu và trồng cói, ơng để tâm tìm hiểu kỹ
thuật của họ. Khi về nước ơng đem truyền lại những bí quyết đã học hỏi được
cho dân làng Hới.
Ðồng thời ông còn cải tiến khung dệt chiếu thấp xuống, lại làm thêm
ngựa đỡ đay ở trên khung, giúp cho sợi dây thêm căng, đồng thời dùng nêm
tre để nêm chèn ở phần cuối khung chiếu, giúp cho sợi đay trên khung khơng
bị chùng xuống. Từ đó chiếu của làng Hới làm ra vừa phẳng, vừa đẹp. Khơng
chỉ có vậy ơng cịn hướng dẫn cho dân làng cách dệt chiếu Ðậu (đay đơi, cỏ
đơi), chọn cỏ cói vừa đều, vừa hồng, vừa đẹp, đồng thời phổ biến cách dệt
chiếu cải chữ hoa và cách nhuộm cói. Khơng những thế ơng cịn hướng dẫn
dân trồng cói ở các vùng nội đồng giáp sơng. Cói trồng ở đây khi thu hoạch,
chẻ cói ra đem phơi được nắng thì cói vừa hồng, vừa bền, vừa đẹp, lại không
bị mốc. Kỹ thuật nhuộm màu tinh sảo, lá chiếu Ðậu được dệt ra trung bình
dùng được từ 5 - 7 năm mới phải thay chiếu khác. Xưa kia vẫn truyền câu ca:
“Ăn cơm hom
nằm giường hòm
đắp chiếu Hới”.


11


Hàng năm để tưởng nhớ đến ông vào ngày mùng sáu tháng Giêng
(ngày mất của tam nguyên Phạm Ðôn Lễ nhân dân làng Hải Triều, Bùi Xá,
Hà Xá, Thanh Triều, Kiều Thạch, Mỹ Ðại, Xuân Hải, Xuân Trúc… đều tổ
chức lễ hội để tưởng nhớ tới ông trạng chiếu - một con người hiếu học - tài
năng hết lịng vì dân và được coi là vị tổ nghề chiếu của quê hương, đất nước.
Dân gian gọi đền thờ ông là đền quan trạng chiếu. Tại đền còn lưu giữ đựơc
các đạo sắc phong, nhiều câu đối ca ngợi công lao của thị lang thượng thư
Phạm Ðôn Lễ với nghề chiếu của làng Hới. Thần phả triều Nguyễn còn ghi:
“Trạng nguyên khoa Tân Sửu Phạm Ðôn Lễ thi hương, thi hội, thi đình đều
đỗ đầu, làm quan tới chức thị lang, phụng mệnh sang sứ Bắc Quốc, học được
nghề dệt, về dạy người bản xã và trong tổng. Nhiều người nhờ nghề ấy làm kế
sinh nhai, sau khi chết dân nhớ cơng ơn lập đền thờ, bản triều (nhà Nguyễn)
có sắc phong tặng”.
Trải qua biết bao biến động của thời gian, nghề dệt chiếu của làng Hới
ngày càng phát triển mạnh mẽ và lan rộng ra các xã trong huyện, trong tỉnh và
cả các địa phương khác của tỉnh bạn như Bàn Thạch, Nga Sơn, Định Yên...
Ngày nay, chiếu ni lông, chiếu Trung Quốc tràn ngập thị trường. Nhưng mùa
hạ mà nằm chiếu ni lơng thì thật nóng, mùa đơng thì thật lạnh, chẳng như
chiếc chiếu cói, thế mới biết chiếu cói của mình sẽ cịn mn thưở.
1.3.2. Vài nét về làng chiếu Bàn Thạch
Tên tuổi làng chiếu Bàn Thạch (Duy Vinh, Duy Xuyên) từ lâu đã được
nhiều nơi biết đến. Những chiếc chiếu màu sắc hài hòa, mịn màng đã vượt ra
khỏi làng:
“Không chiếu nào đẹp bằng chiếu Bàn Thạch
Không lạch nào sâu bằng lạch Bùng Binh”


12


Tuy nhiên, để có được một tấm chiếu đẹp, người thợ đã phải bỏ ra rất
nhiều cơng sức. Có ai đó nặng lịng với chiếu Bàn Thạch đã từng viết:
“Q anh Tây Bắc Hòa Vang
Thuốc ngon khét tiếng, ruộng vườn phì nhiêu
Quê em Bàn Thạch chiếu nhiều
Canh đay chỉ lác dệt nghìn đắng cay”.
Và sau những thăng trầm, làng chiếu Bàn Thạch đang được chính
quyền và người dân đầu tư để khôi phục, phát triển.
“Anh về Bàn Thạch em trải chiếu cho anh nằm
Tình sâu nghĩa nặng mấy con trăng rằm khơng phai”
Câu ca dao ngày xưa ấy vẫn cịn vang vọng, sâu lắng trong mỗi người
dân Bàn Thạch. Với niềm tự hào về mãnh đất con người một thời vang bóng
trên bến dưới thuyền của làng. Với lợi thế giao thông cả đường bộ lẫn đường
thủy, đặc biệt là đường thủy với sông Thu Bồn, Trường Giang, Li Li thông
với Thương cảng Hội An xuôi về cửa Đại. Bàn Thạch đã hình thành nên trung
tâm bn bán sầm uất. Vào đầu thế kỷ XVI nguồn gốc các tộc họ ở Duy Vinh
bây giờ từ Thanh Hóa, Thái Nguyên, Nghệ Tĩnh đã vượt núi trèo đèo qua ải
Vân Nam đến địa hạt phủ Thăng Hoa (Quảng Nam - Đà Nẵng) nhận thấy
long thổ hợp lưu địa lợi nên dừng chân vùng đất này để xây dựng cơ nghiệp.
Với lòng quả cảm, tinh thần lao động cần cù thông minh sáng tạo. Các bậc
tiền nhân đã cải đất hoàn thành ruộng vườn, đất bải vời ven sơng thành những
cánh đồng cói. Gầy dựng nghề dệt chiếu và hình thành làng nghề dệt chiếu
Bàn Thạch. Tại nhà thờ tộc Võ Văn ở thơn Hà Thuận xã Duy Vinh có ghi hai
câu đối :


13

“Địa sanh cảnh trí giang sơn nhứt mạch thái nguyên lai.
Thiên khôi đường đàng cơ sở thiên thu Bàn Thạch điện ”

Sau ngày q hương hồn tồn giải phóng. Đảng bộ và nhân dân Duy
Vinh bắt tay vào khôi phục và phát triển nghề dệt chiếu truyền thống. Tính
đến nay diện tích đất trồng cói trên 80 ha, thu hoạch và chế biến gồm 1200 tấn
lác khô, hằng năm dệt gồm 400.000 đôi chiếu các loại giá trị 12 tỷ đồng. Tổ
chức OPEC đã tài trợ hơn 6,6 tỷ đồng cho dự án “Khôi phục và phát triển
làng nghề chiếu cói Bàn Thạch”. Và đây sẽ là động lực vững chắc để thứ có
giá trị văn hóa này khơng bị mai một.
Hiện nay trên thị trường tràn lan các loại chiếu nhựa, chiếu trúc Trung
Quốc, những tưởng chiếu lác Bàn Thạch khó có thể trụ vững. Nhưng thực ra
thứ sản phẩm ấy vẫn ln củng cố được vị trí của mình. Phải chăng vì trong
đó kết tinh bao giọt mồ hơi và cả tấm lịng của con người xứ Quảng gởi đến
mọi miền Tổ quốc…
Ta cất tiếng khóc chào đời trên chiếc chiếu đơn sơ mộc mạc. Những
chiếc chiếu đưa ta vào giấc ngủ êm đềm và cũng chính nó ôm ấp ta về với
lòng đất mẹ… Trong thâm tâm con người xứ Quảng sẽ mãi thơm thảo một
tấm lòng hướng về những giá trị truyền thống xưa - nay.
1.3.2. Các bước dệt chiếu
Để hoàn thành xong một sản phẩm chiếu, người thợ phải làm qua các
công đoạn sau:
Công đoạn 1: Mắc giàn sân
Cơng đoạn này quyết định kích cỡ của chiếc chiếu, loại chiếu mà người
thợ muốn làm. Kích cỡ phụ thuộc vào độ dài của khổ, khoảng cách giữa hai
đường đay dọc hai mé ngoài khi giăng đay.


14

Đay được cắt ra từ cuộn, chắp lại thành từng bó, độ dài khoảng 1,5 đến
2 mét. Bó đay được cắt ra đó gấp lại làm đơi, vắt qua địn đông nằm ngang ở
một đầu của giàn đay. Các đầu dây đay sau khi gấp lại sẽ đực luồn qua các lỗ

và khe go (mỗi dây được luồn qua thanh go là khe và lỗ của các thanh tre đặt
so le). Số lượng dây tuỳ thuộc vào kích cỡ của chiếu.
Thanh địn đơng ở đầu cịn lại của giàn dệt cũng được mắc đay theo
cách tương tự các đầu dây đay được căng ra, buộc vào những đầu dây ở đầu
thứ nhất (trước đó đã luồn qua khổ). Kéo căng các dây khi nối, tương tự cho
đến khi mắc xong sợi sân trên giàn.
Chống con ngựa nằm ngang, vào giữa giàn sân. Lúc này người thợ có
thể dệt.
Ghế ngồi của người dập khổ cũng được đặt vào giữa giàn đay, gần một
đầu của giàn (ghế ngồi của người dập khổ chỉ được đặt vào khi chiếu đã được
dệt một đoạn nhất định, khi mà người dập khổ ngồi ở bên ngồi khơng với tới
khổ). Ghế ngồi cách con ngựa 0,6 đến 0,8 mét.
Chiếu dệt tới đâu ghế và con ngựa di chuyển tới đó.
Cơng đoạn 2: Dệt
Dệt chiếu lúc nào cũng phải có 2 người. Một người dập khổ, bẻ bìa
chiếu, một người trơ.
Người dập khổ ngồi trên ghế đặt bên dưới giàn dệt, hai tay cầm khổ.
Khi lác được người thứ 2 trơ tới dường dệt thì khổ được dập lại. Dập khổ
xong, người dập đẩy khổ ra, úp khổ xuống (hoặc ngửa go) để tạo ra một kẽ (là
các đường dệt được tạo bởi những đường đay so le), để người thứ 2 tiếp tục
trô lác vào. Đồng thời với đẩy khổ ra, người dập bẻ bờ (những ngọn lác thừa


15

ra sau khi dập sẽ được quấn vào khe 2 dây đay mép ngồi cùng. Gốc lác thì
khơng phải quấn).
Dập khổ phải đều tay, lực phân bố đều cả hai bên tay.
Người đưa lác ngồi bên cạnh, phía tay phải của người dập khổ. Khi nào
thanh go được đẩy ra thì đưa lác (khổ úp thì trơ gốc lác vào trước, khổ ngửa

thì trơ ngọn vào trước).
Cơng đoạn 3: Ghim chiếu
Khi chiếu được dệt xong, đủ kích thước cần thiết, người thợ tháo chiếu
ra khỏi giàn, những đoạn đay thừa ra khoảng 10 – 15 cm được cắt ra từ hai
đầu địn đơng được ghim lại.
Dụng cụ để ghim chiếu là một que nhỏ, nhẵn, nhọn ở một đầu. Người
ghim túm 4 đến 5 dây đay thừa đó quấn lại; thanh ghim được chọc qua lớp lác
10cm; đặt mấy đay đã túm trước đó vào đi ghim rồi cầm đầu ghim kéo qua
lỗ được tạo bởi lớp chiếu.
1.4. Nguyên tắc thu thập và tiêu chí phân loại hệ thống từ ngữ nghề
dệt chiếu Bàn Thạch
1.4.1. Nguyên tắc thu thập
Nghề dệt chiếu thủ cơng đã được hình thành từ lâu đời và trải qua nhiều
giai đoạn phát triển và cho đến bây giờ đã bị mai một rất nhiều. Để có được
nguồn ngữ liệu cần thiết chúng tôi chủ yếu điều tra trên thực địa thơng qua
phỏng vấn những người có nhiều kinh nghiệm, đặc biệt là các bậc cao niên;
trực tiếp chỉ vào các sản phẩm, các công cụ và các động tác của họ và nhờ họ
gọi tên, giải thích.
Để hạn chế thấp nhất việc thiếu sót ngữ liệu, với từng đối tượng được
phỏng vấn, chúng tôi đưa ra những câu hỏi:


16

- Dệt chiếu cần những nguyên vật liệu gì?
- Dệt chiếu cần những cơng cụ gì?
- Dệt chiếu cần những thao tác và quy trình như thế nào?
- Bàn Thạch có những sản phẩm (chiếu) gì?
- Những kinh nghiệm để làm chiếu là gì?
1.4.2. Tiêu chí phân loại

Cùng với thu thập và thống kê, phân loại là thao tác tiếp theo cần phải
làm khi nghiên cứu một lớp từ vựng cụ thể. Ở đây chúng tôi tiến hành phân
loại theo tiêu chí chức năng ý nghĩa:
- Từ ngữ chỉ nguyên vật liệu sản xuất
- Từ ngữ chỉ công cụ sản xuất
- Từ ngữ chỉ động tác và quy trình sản xuất
- Từ ngữ chỉ sản phẩm.


17

Chương 2
ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA LỚP TỪ NGỮ
NGHỀ DỆT CHIẾU BÀN THẠCH
2.1. Đặc điểm cấu tạo của lớp từ ngữ nghề dệt chiếu Bàn Thạch
Ý nghĩa
chức

Từ đơn

Từ phức

Ngữ định danh

năng
Dầu

- Cây đay

- Bẹ đay


- Sợi đay

- Vỏ đay

- Sợi sân

- Cuộn sân

vật liệu

- Cây lác

- Mớ lác

sản xuất

- Gốc lác

- Én lác

- Ngọn lác

- Bao lác

Từ ngữ

Phẩm nhuộm

Củi


chỉ
nguyên

Trục

Dây néo

- Cái chêm

- Cái kẹo

Dao

Khung dệt

- Răng khổ

- Khe khổ

Liềm

Con ngựa

- Vỏ khổ

- Mặt khổ

chỉ cơng


Rựa

Lị hấp

- Khổ nhứt

- Khổ trung

cụ sản

Khổ

Nồi hấp

- Khổ chiếu chỏng

- Cây lao

Con quay

- Cây lụi

- Que ghim

Khn đồng

- Địn đơng trong

- Địn đơng ngồi


Bàn chiếu

- Ghế ngồi dệt

- Ống tre

Phơi phóng

- Chặt đay

- Đập đay

- Phơi đay

-Tước sợi

Từ ngữ

xuất

Từ ngữ



chỉ động

Giang

tác và



18

quy trình Se

- Xé đay

- Se đay

sản xuất

Chắp

- Sắp khổ

- Chắp sân

Dệt

- Mắc sân biên

- Mắc sân trong

Trô

- Mắc giàn sân

- Giăng sân

Cuốn


- Mắc sợi dọc

- Xén sân

Bung

- Cắt lác

- Phơi lác

Trổ

- Giũ lác

- Nhuộm lác

Cải

- Chắp lác

- Bôi dầu

In

- Đâm lao

- Bẻ bờ

Hấp


- Bẻ bìa

Ghim

- Dệt ngửa

- Cuốn chiếu

- Cải hai

- Cải ba

- Cải chữ thọ

- Cải hoa

- Dập khổ

- Mắc cửi đơn

- Mắc cửi kép

- Kết biên

- Ghim mép

- Đưa lác

- Kéo ngựa


- Bắt mép

- Cắt bìa

- Chép hình


Từ ngữ
chỉ sản
phẩm

- Dệt úp

- Nối sân

- Đứt sân

Chiếu đơn

- Mặt chính

- Mặt phụ

Chiếu kép

- Gáy chiếu

- Cuống chiếu


Chiếu trổ

- Đôi chiếu

Chiếu cải


19

Chiếu trơn
Chiếu trắng
Chiếu bông dâu
Chiếu bùa
Chiếu đốt
Chiếu cạp điều
Chiếu đậu
Chiếu nhát
Chiếu hoa
Lệch
Loang
Dày
Từ ngữ
chỉ tính
chất sản
phẩm

Mỏng
Méo
Đều
Bóng

Trơn
Chín


20

Từ thống kê trên, ta có bảng tổng hợp số liệu về đặc điểm cấu tạo của
từ ngữ nghề dệt chiếu Bàn Thạch sau:

Tiêu chí cấu tạo

Số lượng(128)

Tỷ lệ (100%)

Từ đơn

30

23,5%

Từ phức

23

18%

Ngữ định danh

75


58,5%

2.1.1. Từ đơn
Trong 30 từ đơn mà chúng tôi thu được chủ yếu là danh từ, động từ và
tính từ, trong đó có:
8 danh từ: dầu, củi, trục, dao, liềm, rựa, khổ, tô, chúng đều là những
danh từ chỉ nguyên vật liệu và công cụ sản xuất, chỉ có tơ là chỉ sản phẩm.
13 động từ: bó, giang, se, chắp, trổ, cải, in, hấp, ghim, cuốn, bung, trơ, dệt.
9 tính từ: loang, lệch, dày, mỏng, méo, đều, bóng, trơn, chín.
Do được tạo thành từ một tiếng/hình tiết nên từ đơn khơng có quan hệ
hình thái nội tại. Song một số từ lại là thành tố cấu tạo của nhiều từ phức
trong hệ thống từ ngữ nghề dệt chiếu Bàn Thạch, tạo nên sự lệ thuộc lẫn nhau
của các hình thái ngữ pháp phát sinh.
- khổ: khổ nhất, khổ trung, khổ chiếu chỏng, mặt khổ, răng khổ, dập
khổ, khe khổ, vỏ khổ…
- cải: cải hai, cải ba, cải hoa, cải chữ thọ…


21

- dệt: khung dệt, dệt chiếu
Khổ: Là thanh gỗ dài, dẹp, to bản. Ở phần rìa được gia cơng thành lỗ
hình răng lược. Các kẽ hở răng lược được tạo thành các khoảng cách đều
nhau, độ chênh lệch cao thấp giữa các lỗ tựa hình dích dắc.
Khổ nhất: là khổ kích thước 1m6.
Khổ trung: là khổ có kích thước 1m4.
Khổ chiếu chõng: là khổ ngắn nhất, trước kia thường dùng để dệt
những chiếc chiếu nhỏ bỏ trên võng, nằm cho êm.
Mặt khổ: hai mặt hai bên của khổ, được tạo thành bởi hai hàng răng khổ.

Răng khổ: là những thanh tre nhỏ được sắp đều nhau, chúng đều có
những lỗ nhỏ bên trong để sợi đay chạy qua, gọi là răng khổ.
Khe khổ: Giữa các răng khổ có một khoảng cách. Khoảng cách đó được
gọi là khe khổ.
Chính sự kết hợp đa dạng này của các từ đơn nên tạo nên tính hệ thống
của từ ngữ nghề dệt chiếu Bàn Thạch. Đây cũng là một đặc trưng của từ ngữ
nghề nghiệp. Ví dụ: từ “thêu” trong nghề thêu ren Huế có đến hàng chục kết
hợp: khung thêu, kim thêu, thêu nối đầu, thêu chăng chặn, thêu lướt vặn, thêu
bỏ bạt, thêu đâm xô, thêu sa hạt, thêu kim tuyến…hay từ “khn” trong nghề
đúc đồng Huế cũng có khả năng kết hợp tương tự: khn nặn, khn sống,
khn chín, khn bền, giáp khuôn, thét khuôn, chèn khuôn, bố khuôn, vỗ
khuôn…
Trong số những từ đơn này, có những từ đã trở nên quen thuộc đối với đời
sống của con người như: dao, liềm, rựa, dầu…nhưng cũng có những từ hồn
tồn xa lạ, chỉ được dùng trong nghề như: khổ, trổ, cải, trô…


22

Có những từ đã trở nên quen thuộc với con người vì chúng nằm trong
hệ thống ngơn ngữ tồn dân. Nước ta là một nước có nền văn hóa lúa nước từ
lâu đời các cơng cụ, sản phẩm, q trình của nghề nông dường như đã trở
thành quá quen thuộc đối với toàn xã hội. Nghề dệt chiếu cũng là một nghề rất
gần với nông nghiệp mà nhất là việc sử dụng các cơng cụ để sản xuất. Do đó
một số từ chỉ dụng cụ và nguyên vật liệu của nghề dệt chiếu đương nhiên trở
thành quen thuộc đối với mọi người và đó cũng chính là những từ bắt nguồn
từ ngơn ngữ tồn dân. Bên cạnh đó cũng có những từ bắt nguồn từ phương
ngữ của vùng, gắn liền với đời sống của người dân bản địa. Có thể kể đến các
từ: trô, giang, khổ.
2.1.2. Từ phức

Với 23 từ phức mà chúng tôi thu thập được đa số là những từ chỉ sản
phẩm và công cụ sản xuất. Ở đây từ ghép đẳng lập là rất ít, chỉ có 1/ 23 từ chiếm
4,5%, trong khi đó 22 từ cịn lại là từ ghép chính phụ, chiếm 93,5%. Điều này
khơng khó lí giải, theo tác giả Đỗ Hữu Châu: từ ghép phân nghĩa – từ ghép chính
phụ là những từ ghép được cấu tạo hai hoặc hơn hai hình vị theo quan hệ chính
phụ, trong đó có một hình vị chỉ loại lớn (sự vật, hiện tượng, tính chất) và một
hình vị có tác dụng phân hóa loại lớn đó thành nhưng loại nhỏ hơn cùng loại
nhưng độc lập với nhau, và độc lập với loại lớn. Còn các từ ghép hợp nghĩa – từ
ghép đẳng lập, là những từ ghép do hai hình vị tạo nên, trong đó khơng có hình
vị nào là hình vị chỉ loại lớn, khơng có hình vị nào là hình vị phân nghĩa. Như
vậy từ ghép đẳng lập là những từ ghép luôn biểu thị ý nghĩa bao quát, rộng lớn,
và từ ghép chính phụ thì ngược lại, biểu thị những ý nghĩa cụ thể, mang tính chất
giới hạn về sự vật, hiện tượng. Mà ở đây phần lớn các từ chỉ công cụ và sản
phẩm đều mang ý nghĩa cụ thể. Điều đó có thể lí giải tại sao từ trong nghề dệt
chiếu Bàn Thạch hay các từ chỉ nghề khác đa số là từ ghép chính phụ và ngữ
định danh.


×