Tải bản đầy đủ (.pdf) (67 trang)

ĐẠI TỪ XƯNG HÔ TRONG HÁT PHƯỜNG VẢI NGHỆ TĨNH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC 10600983

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (681.67 KB, 67 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
----------------

NGUYỄN THỊ DUNG

ĐẠI TỪ XƯNG HƠ
TRONG HÁT PHƯỜNG VẢI NGHỆ TĨNH

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Đà Nẵng, tháng 05/2014


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
----------------

ĐẠI TỪ XƯNG HƠ
TRONG HÁT PHƯỜNG VẢI NGHỆ TĨNH

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học:
ThS. Nguyễn Trí Tân

Người thực hiện


NGUYỄN THỊ DUNG

Đà Nẵng, tháng 05/2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Nguyễn Thị Dung, sinh viên lớp 10CVH1, Khoa Ngữ Văn,
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng xin cam đoan rằng: Cơng trình
này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thạc Sĩ Nguyễn Trí Tân.
Tơi xin chịu trách nhiệm về nội dung khoa học trong cơng trình này.

Đà Nẵng, ngày...tháng...năm 2014
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Dung


LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành ngoài sự cố gắng, nỗ lực của cá nhân, tơi
cịn nhận được sự chỉ bảo, hướng dẫn nghiêm túc, khoa học của thầy giáo
Nguyễn Trí Tân và sự góp ý, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cơ trong khoa
Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng. Ngoài ra cịn có sự
khích lệ động viên của gia đình, bạn bè.
Qua đây, tơi xin được bày tỏ lịng biết ơn tới thầy hướng dẫn Nguyễn
Trí Tân, các thầy cơ trong khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm, các thầy
cô trong thư viện trường Đại học Sư phạm, các cô chú trong thư viện tỉnh Hà
Tĩnh cũng như gia đình và bạn bè đã giúp đỡ tơi trong q trình hồn thành
khóa luận tốt nghiệp này.
Đà Nẵng, ngày...tháng...năm 2014
Người thực hiện


Nguyễn Thị Dung


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 1
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 5
4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 5
5. Bố cục của khóa luận .................................................................................... 6
NỘI DUNG....................................................................................................... 7
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ................... 7
1.1. Giới thuyết thuật ngữ ................................................................................. 7
1.1.1. Đại từ ....................................................................................................... 7
1.1.2. Đại từ xưng hô......................................................................................... 7
1.1.3. Các tiểu loại của đại từ xưng hô.............................................................. 8
1.2. Nghệ Tĩnh - vùng đất của những làn điệu dân ca .................................... 11
1.2.1. Giới thiệu về vùng đất Nghệ Tĩnh......................................................... 11
1.2.2. Nghệ Tĩnh - cái nôi của những làn điệu dân ca .................................... 13
1.3. Hát phường vải ......................................................................................... 14
1.3.1. Quá trình hình thành và phát triển của hát phường vải......................... 14
1.3.2. Nội dung của hát phường vải ................................................................ 17
1.3.3. Quá trình của một hội hát phường vải .................................................. 19
CHƯƠNG 2. KHẢO SÁT ĐẠI TỪ XƯNG HÔ TRONG HÁT PHƯỜNG
VẢI NGHỆ TĨNH ........................................................................................ 24
2.1. Khảo sát tần số xuất hiện của các đại từ trong hát phường vải................ 24
2.1.1. Đại từ xưng hơ gốc chỉ người nói ......................................................... 24
2.1.2. Đại từ xưng gốc chỉ người nghe............................................................ 24



2.1.3. Đại từ xưng hô gốc chỉ người, vật được nói tới .................................... 24
2.1.4. Tiểu kết.................................................................................................. 25
2.2. Khảo sát tần số đại từ lâm thời trong hát phường vải .............................. 26
2.2.1. Đại từ xưng hơ chỉ người nói ................................................................ 26
2.2.2. Đại từ xưng hô chỉ người nghe ............................................................. 26
2.2.3. Đại từ xưng hơ lâm thời chỉ người, vật được nói đến .......................... 27
2.2.4. Tiểu kết.................................................................................................. 27
CHƯƠNG 3. GIÁ TRỊ VÀ TÁC DỤNG CỦA ĐẠI TỪ XƯNG HÔ
TRONG HÁT PHƯỜNG VẢI NGHỆ TĨNH ............................................. 30
3.1. Giá trị của việc sử dụng đại từ xưng hô trong hát phường vải Nghệ Tĩnh .... 30
3.1.1. Đại từ xưng hô gốc ................................................................................ 30
3.1.2. Đại từ xưng hô lâm thời ........................................................................ 36
3.2. Tác dụng của các đại từ xưng hô trong hát phường vải Nghệ Tĩnh ........ 45
3.2.1. Sự thay đổi cách xưng hô ...................................................................... 45
3.2.2. Sử dụng cách xưng hơ mang tính địa phương ...................................... 48
3.3. So sánh việc sử dụng đại từ xưng hô trong hát phường vải với các làn
điệu dân ca Nghệ Tĩnh khác ............................................................................ 51
3.3.1. Đại từ xưng hô trong hát phường vải với hát giặm............................... 51
3.3.2. Đại từ xưng hô trong hát phường vải với vè ......................................... 55
KẾT LUẬN .................................................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 60


1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, dù hợp nhất hay tách ra thì Nghệ Tĩnh
vẫn được gọi với cái tên hết sức thân mật “Xứ Nghệ”, có chung dãy Thiên

Nhẫn, Giăng Màn, uống chung dịng sơng Lam, chung giọng nói và có chung
những câu hị, điệu ví mang đặc trưng của q hương đất Lam Hồng. Nghệ
Tĩnh là cái nôi của nhiều làn điệu dân ca như hị, ví, giặm, đồng dao, hát ru,
hát xẩm, hát ca trù...
Cùng với hát giặm, hát phường vải là một trong những làn điệu đặc
trưng, một trong những hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần của con người
Nghệ Tĩnh. Hát phường vải là những câu hát giao dun, đối đáp, là tiếng nói
đầy tình cảm trong quá trình lao động sản xuất của con người nơi đây; một
trong những nét cơ bản của hát phường vải là đại từ xưng hơ. Vì vậy chúng
tơi chọn: “Đại từ xưng hô trong hát phường vải Nghệ Tĩnh” làm đề tài
nghiên cứu của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về đại từ xưng hơ đã có nhiều cơng trình nghiên cứu như:
Lê Biên trong Từ loại tiếng Việt hiện đại, NXB Giáo dục, 2001,
chương ba bàn về các từ loại ông đã khái quát các từ loại trong đó có đại từ.
Trong phần này ơng nói rõ về các đặc trưng của đại từ và phân ra các tiểu loại
đại từ. Theo Lê Biên đại từ bao gồm đại từ xưng hô, đại từ chỉ định, đại từ để
hỏi, đại từ chỉ khối lượng tổng thể, đại từ phiếm chỉ, đại từ “thế, vậy”.
Ông cho rằng: “Đại từ tiếng Việt khơng có phạm trù ngơi như các ngơn
ngữ Âu châu; có những đại từ xưng hơ ở tiếng Việt không đơn thuần chỉ một
ngôi xác định (ta, chúng ta, chúng mình, mình...)”[3.Tr.123]. Khi viết về đại
từ xưng hô, ông chia làm hai lớp: các đại từ xưng hô gốc và các từ lâm thời


2
làm đại từ xưng hô. Các đại từ xưng hô gốc thường rất ít: tao, ta, mày, nó,
hắn...chỉ xuất hiện ở những sắc thái biểu cảm không lịch sự; những từ lâm
thời làm đại từ xưng hô là những từ ngun là danh từ như: tơi, tớ, mình,
chàng, nàng, thiếp, người, ngài, người ta..., hay từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc
như cụ, ơng, bà, cơ, dì...

Ngồi ra, những từ dâu, rể, vợ, chồng, từ chỉ học hàm, học vị, chức
danh nghề nghiệp, tên riêng của người...cũng không được dùng làm từ xưng
hơ. Khi lập bảng tóm tắt đại từ xưng hô Lê Biên chia đại từ xưng hô theo ngơi
thứ nhất (người nói), ngơi thứ hai (người nghe), ngơi thứ ba (người,vật được
nói đến). Các đại từ bao gồm đại từ số ít, ngơi gộp hỗn số, số nhiều, các biến
thể.
Nguyễn Hữu Quỳnh trong Ngữ pháp tiếng Việt NXB Từ điển bách
khoa, 2001 đã chia đại từ ra nhiều nhóm nhỏ theo ý nghĩa và đặc điểm ngữ
pháp. Theo Nguyễn Hữu Quỳnh đại từ bao gồm: đại từ xưng hô, đại từ chỉ
định sự vật, đại từ chỉ định không gian, thời gian, đại từ chỉ trạng thái, đại từ
chỉ số lượng, đại từ để hỏi. Ông cũng chia đại từ xưng hô thành đại từ chuyên
dùng để xưng hô và đại từ xưng hô lâm thời, mượn các danh từ biểu thị quan
hệ thân thuộc hay quan hệ xã hội.
Nguyễn Chí Hịa trong Ngữ pháp tiếng Việt thực hành, NXB ĐHQG
Hà Nội, 2006 đã có phần nói về đại từ; ông nêu ra các đặc điểm của đại từ và
các loại đại từ gồm: đại từ chỉ ngôi, đại từ chỉ định, đại từ nghi vấn, đại từ
nghi vấn phiếm chỉ, đại từ thế, vậy... Trong phần nói về đại từ chỉ ngôi - đại từ
xưng hô, tác giả đưa ra nhận xét “Đại từ xưng hô dùng để thay thế và biểu thị
các đối tượng tham gia q trình giao tiếp. Đại từ chỉ ngơi có thể dùng ở ngôi
xác định hoặc ở nhiều ngôi khác nhau [12.tr.85]. Ơng chỉ rõ đại từ chỉ ngơi
bao gồm: ngơi thứ nhất (người nói) tơi, tao, tớ, chúng tơi, chúng tao...; ngôi
thứ hai (người nghe) mày, mi, cậu, chúng mày, chúng bay...; ngôi thứ ba


3
(người vật được đề cập đến) hắn, y, nó, chúng nó, họ, chúng...Theo Nguyễn
Chí Hịa ngồi những đại từ chỉ người trên thì tiếng Việt cịn hệ thống đại từ
lâm thời được mượn danh từ như: tớ, mình, anh, chị, ông, bà, ông ấy, bà ấy...
Cũng trong cuốn này ông đã cho rằng có những đại từ xưng hơ được dùng ở
nhiều ngơi như: mình, ta, chúng ta, chúng mình..., đại từ tương hỗ nhau.

Trong Ngữ pháp tiếng Việt do Bùi Minh Tốn (chủ biên) NXB Sư
phạm 2007, ơng chia các tiểu loại đại từ căn cứ vào chức năng thay thế và
mục đích sử dụng. Theo Bùi Minh Tốn các đại từ xưng hơ bao gồm người
nói tự xưng (tơi, tao, chúng tơi, chúng ta, chúng mình, mình, chúng tớ), người
nói gọi người nghe (mày, chúng mày, mi, người...), hoặc chỉ người được nói
tới (nó, hắn, y, thị, chúng nó, họ, chúng...). Ơng cũng phân biệt các đại từ
xưng hơ theo ngơi và số, cịn các danh từ thân tộc dùng để xưng hơ trong gia
đình và trong xã hội thì khơng phân biệt theo ngơi.
Diệp Quang Ban, Hồng Văn Thung trong Ngữ pháp tiếng Việt tập 1,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2012 cho rằng: “Đại từ xưng hô dùng thay thế và
biểu thị các đối tượng tham gia vào q trình giao tiếp”[1.tr.127]. Có thể phân
biệt đại từ dùng ở một ngơi xác định và đại từ có thể dùng ở nhiều ngơi khác
nhau. Ơng cũng chia ra các cương vị ngơi của người nói, người nghe, người
được nói tới theo số ít và số nhiều. Nhóm đại từ có thể dùng nhiều ngơi linh
hoạt bao gồm: đại từ thường dùng nhiều ngơi (mình), đại từ dùng chỉ gộp
nhiều ngơi (ta, chúng ta, mình, chúng mình...), đại từ dùng với ý nghĩa “phản
thân” (mình), đại từ dùng chỉ ngôi gộp “tương hỗ” (nhau) đại từ dùng chỉ
ngôi “phiếm chỉ” (ai, ai ai).
Qua một số cơng trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, chúng tôi nhận
thấy rằng đa số các nhà nghiên cứu đều có chung quan niệm về đại từ xưng
hô: Đại từ xưng hô là đại từ được dùng để xưng hô hoặc thay thế, chỉ trỏ đối
tượng tham gia giao tiếp. Dù mỗi người đều có một cách đưa ra khái niệm và


4
giải thích riêng, phân loại riêng về đại từ cũng như đại từ xưng hô nhưng họ
đều cho rằng bên cạnh những đại từ xưng hơ gốc thì trong tiếng Việt cịn có
các lớp từ lâm thời được sử dụng để xưng hô.
Nghiên cứu về Hát phường vải Nghệ Tĩnh đã có một số cơng trình:
Ninh Viết Giao, (1993), Hát phường vải, NXB Nghệ An, trong quyển này tác

giả phát triển thành hai phần: phần một là bài tiểu luận về hát phường vải,
phần hai là hơn 1000 câu hát phường vải được tác giả sưu tầm và biên soạn.
Hát phường vải ở Trường Lưu của Vi Phong đã giới thiệu về hát
phường vải làng Trường Lưu, Can Lộc; cùng với đó là những bài hát phường
vải được sưu tập như: Thác lời gái phường vải, Thác lời trai phường nón, Ví
phường vải Can Lộc, Ví phường vải Đức Thọ...
Trong Dân ca Nghệ Tĩnh của Vi Phong, Thu Hiền, Đức Duy các tác giả
đã giới thiệu về các loại hình dân ca Nghệ Tĩnh trong đó có hát ví, cụ thể là ví
phường vải “Ví phường vải là một điệu ví của phường quay xe, dệt vải; nói
chính xác hơn là điệu ví của những người kéo sợi”[21.tr.45].
Từ địa phương Nghệ Tĩnh về một khía cạnh ngơn ngữ - văn hóa của
Hồng Trọng Canh, (2009) NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; trong chương ba,
chương bốn tác giả đã bàn về những dấu ấn văn hóa của người Nghệ Tĩnh qua
tên gọi và cách gọi tên, xét trên một số nhóm từ; từ địa phương trong hoạt
động sáng tạo thơ dân gian Nghệ Tĩnh. Trong quyển này tác giả đã đề cập đến
nhóm từ xưng hơ trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, cách xưng hô trong tiếng địa
phương Nghệ Tĩnh. Tác giả cũng đã khảo sát những đại xưng hô địa phương
trong các tác phẩm thơ dân gian Nghệ Tĩnh trong đó có hát phường vải. Theo
Hồng Trọng Canh “Cách xưng gọi trong gia đình cũng như ngồi xã hội ở
Nghệ Tĩnh có sự kết hợp của hai cách xưng gọi: trân trọng nghi thức và mộc
mạc bình dân, song nhìn chung rất đậm tình cảm. Dấu ấn về một thói quen
trong xưng gọi chú ý nhiều đến yếu tố giới tính, đề cao tính tiếp nối, đề cao


5
gia đình và quan hệ gắn bó giữa các thế hệ trong gia đình, duy trì yếu tố
truyền thống trong xưng gọi – đó là những nét sắc thái văn hóa riêng của
người xứ Nghệ trong xưng hơ”[4.tr.257]
Nguyễn Thị Mai Hoa với đề tài Đặc điểm ngơn ngữ giới tính trong hát
phường vải Nghệ Tĩnh (2010), trong Luận văn tiến sĩ này tác giả tập trung

nghiên cứu về hát phường vải qua ngơn ngữ giới tính thể hiện qua từ xưng hơ,
hành động nói giới tính vai giao tiếp thể hiện qua cách sử dụng ngôn từ. Theo
Nguyễn Thị Mai Hoa “Việc phân định vị thế vai giao tiếp vẫn bị chi phối khá
nhiều bởi yếu tố giới tính. Là môi trường tương tác phi quy thức, trong hoạt
động giao tiếp của hát phường vải, cách xưng hô của các vai nam/nữ khá
phong phú, đa dạng, thể hiện sự chi phối của đặc trưng giới tính”[11.tr.194]
Những cơng trình nghiên cứu về hát phường vải Nghệ Tĩnh trước đây
chủ yếu là nói về từ địa phương nếu có nói về đại từ trong hát phường vải thì
cũng chỉ mang tính chung chung chưa có cơng trình nào nghiên cứu về đại từ
một cách hệ thống.
Việc nghiên cứu “Đại từ xưng hô trong hát phường vải Nghệ Tĩnh" sẽ
đưa lại một cái nhìn hệ thống về cách xưng hơ trong hát phường vải, đồng
thời góp phần gìn giữ và lưu truyền một làn điệu dân ca đặc sắc của vùng quê
Nghệ Tĩnh. Ngoài ra việc nghiên cứu sẽ mở ra những cách nhìn nhận, hướng
nghiên cứu mới cho các nhà nghiên cứu về loại hình dân ca độc đáo này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đại từ xưng hô trong hát phường vải
Nghệ Tĩnh.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: “Hát phường vải” do Ninh Viết Giao
sưu tầm và biên soạn, NXB Nghệ An, 1993.
4. Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài “Đại từ xưng hô trong hát phường vải Nghệ Tĩnh” chúng


6
tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp khảo sát thống kê: thống kê tần số xuất hiện của các đại
từ xưng hô trong hát phường vải Nghệ Tĩnh. Từ việc thống kê chúng tôi đưa
ra một số nhận xét về việc sử dụng đại từ xưng hô trong hát phương vải Nghệ
Tĩnh.

Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh việc sử dụng đại từ xưng hô
trong hát phường vải với các làn điệu dân ca Nghệ Tĩnh khác như hát giặm,
vè...
Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích từng đại từ xưng hơ được
xuất hiện trong hát phương vải, từ việc phân tích đưa ra những nhận xét về giá
trị của việc sử dụng các đại từ xưng hơ ấy.
5. Bố cục của khóa luận
Ngồi phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của bài khóa luận gồm các
chương sau:
Chương 1: Một số vấn đề liên quan đến đề tài
Chương 2: Khảo sát đại từ xưng hô trong hát phường vải Nghệ Tĩnh
Chương 3: Giá trị và tác dụng của đại từ xưng hô trong hát phường vải
Nghệ Tĩnh


7

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Giới thuyết thuật ngữ
1.1.1. Đại từ
Theo Từ điển tiếng Việt Nguyễn Như Ý chủ biên, đại từ là từ dùng để
xưng gọi hoặc dùng để thay thế cho thực từ.
Trong Ngữ pháp tiếng Việt Nguyễn Tài Cẩn cho rằng: “Đại từ không
phải là từ loại dùng để nêu lên một khái niệm chung về sự vật, về hành động,
về tính chất như danh từ, động từ, tính từ mà là một loại dùng để chỉ trỏ vào
một sự vật, một hành động hay một tính chất nào đó, đã được xác định rõ ràng
bằng cách này hay cách khác ở trước đó”.[5.tr.339]
Bùi Minh Tốn trong Ngữ pháp tiếng Việt cho rằng đại từ có chức năng
để xưng hơ, để trỏ hoặc để thay thế (thay thế cho các từ loại danh từ, động từ,

tính từ, số từ). Khi thay thế cho từ loại nào thì đại từ đó mang đặc điểm cơ
bản của loại từ loại đó.
Nguyễn Hữu Quỳnh trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt đưa ra khái niệm
về đại từ “Đại từ là những từ dùng để chỉ sự vật, để xưng hô, để thay thế cho
danh từ, động từ, tính từ, số từ và cụm từ trong câu.” [23.tr.150]
Trong Ngữ pháp tiếng Việt, của Diệp Quang Ban, Hồng Văn Thung
nói: Đại từ là lớp từ dùng để thay thế và chỉ trỏ. Đại từ không trực tiếp biểu
hiện thực thể, quá trình hoặc đặc trưng như danh từ, động từ, tính từ. Đại từ
chỉ biểu thị các ý nghĩa một cách gián tiếp. Đại từ không chỉ thay thế cho thực
từ mà còn dùng để thay thế cho cụm từ, câu, đoạn văn. Đại từ có thể đảm
nhận các chức năng cú pháp của từ loại mà nó thay thế.
1.1.2. Đại từ xưng hơ
Trong các giáo trình về ngữ pháp tiếng Việt nhiều tác giả đưa ra một số


8
nhận định về đại từ xưng hô, mỗi người lại đưa ra những nhận xét và đưa ra
những cách lí giải khác nhau. Tuy nhiên đa số các tác giả đều cho rằng đại từ
xưng hô bao gồm đại từ xưng hô gốc và đại từ xưng hô lâm thời.
Trong Ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (tập
1) 2012, NXB Giáo dục Việt Nam “Đại từ xưng hô dùng biểu thị và thay thế
các đối tượng tham gia quá trình giao tiếp (được phản ánh trong nội dung ý
nghĩa của thực từ hay tổ hợp thực từ tương ứng). [1.Tr.127]
Ngữ pháp tiếng Việt, 2001, Nguyễn Hữu Quỳnh NXB Từ điển bách
khoa “Đại từ xưng hô là đại từ được dùng để xưng hô hoặc thay thế và chỉ
người. Đại từ xưng hô trong tiếng Việt gồm các đại từ chuyên dùng để xưng
hô và các đại từ xưng hô lâm thời mượn các danh từ biểu thị quan hệ thân
thuộc hay quan hệ xã hội”[23.tr.151].
Trong Từ loại tiếng Việt hiện đại, Lê Biên chia đại từ xưng hô thành
hai lớp là đại từ xưng hô gốc và yếu tố được đại từ hóa làm đại từ xưng hơ.

Trong luận văn của mình, chúng tơi theo quan điểm của Diệp Quang
Ban, Hoàng Văn Thung về những đặc điểm của đại từ xưng hô về ngôi. Đại từ
xưng hô bao gồm đại từ gốc là những đại từ xưng hô và những đại từ xưng hô
lâm thời (gốc là danh từ, đại từ chỉ định..). nhưng được sử dụng như đại từ;
đại từ xưng hô bao gồm đại từ ở những ngôi cố định và đại từ dùng ở những
ngơi linh hoạt, tùy vào hồn cảnh giao tiếp. Tuy nhiên, dù dùng ở ngơi xác
định hay linh hoạt thì đại từ xưng hô cũng được chia theo vai người nói,
người nghe, người, vật được nói tới.
1.1.3. Các tiểu loại của đại từ xưng hơ
Giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt của Bùi Minh Tốn, đại từ xưng hơ
gồm: người nói tự xưng (tơi, tao, chúng tơi, chúng mình, mình, chúng tớ),
người nói gọi người nghe (mày, chúng mày, mi, ngươi...), hoặc chỉ người
được nói tới (nó, hắn, y, thị, chúng nó, họ, chúng...). Ngồi ra trong tiếng Việt


9
nhiều danh từ chỉ quan hệ thân tộc được dùng như đại từ xưng hô: ông, bà,
anh, chị, em, cô, dì, chú, bác... (dùng rộng trong quan hệ xã hội). Theo ông
“Các danh từ thân tộc dùng để xưng hô trong gia đình và ngồi xã hội thì
khơng phân biệt theo ngơi, cũng một từ có thể dùng ở cả ba ngơi tùy theo tình
huống giao tiếp”.[25.tr.46]
Theo Lê Biên trong Từ loại tiếng Việt hiện đại, đại từ xưng hô tiếng
Việt có thể chia thành hai lớp:
Các đại từ xưng hơ gốc đích thực trong tiếng Việt rất ít: tao, ta, mày,
nó, hắn và chỉ xuất hiện ở những sắc thái biểu cảm khơng lịch sự .
Lớp đại từ hóa để xưng hô gồm những từ nguyên là danh từ đã trở
thành đại từ thực sự: tơi, tớ, mình, hoặc còn dấu ấn danh từ khá rõ: chàng,
nàng, thiếp, người, ngài, người ta...Danh từ lâm thời đảm nhận chức năng đại
từ đó là danh từ chỉ người thuộc quan hệ gia tộc thân thuộc như: cụ, ông, bà,
cha, mẹ, chú, bác, cậu, cơ, dì, mợ, thím, anh, chị, em, con, cháu

Theo Lê Biên đại từ xưng hơ có thể tóm tắt theo bảng sau:
Số
Ngơi

Số ít

Ngơi gộp hỗn
số
Ta

Ngơi thứ nhất
(người nói)

Tao, tơi, tớ,
mình, ta

Ngơi thứ hai
(người nghe)

Mày, mi

Ngơi thứ ba
(người, vật
được nói tới)

Nó, hắn, y,
thị

chúng ta


chúng mình

Số nhiều
chúng tao
chúng tơi
chúng tớ
chúng mình
chúng ta

Các biến thể
tau (tao)
tui (tơi)
tơi = choa,
min, qua

Chúng mày
chúng bay

mi (mày)
bây (bay)
mày: bậu

chúng nó
họ
chúng

(nó)= va,
nghỉ



10
Nguyễn Hữu Quỳnh trong Ngữ pháp tiếng Việt đã chia đại từ xưng hô
gồm đại từ chuyên dùng để xưng hơ như: ta, tơi, mình, chúng ta, chúng tơi...
Theo ơng các đại từ ta, mình, chúng ta, chúng mình... dùng ở ngơi thứ
nhất song bao hàm cả người nói lẫn người nghe.
Chúng ta là con một cha, nhà một nóc (Tố Hữu)
Đại từ nhau chỉ những người và vật có tác động qua lại trong một hoạt
động hay trạng thái.
Từ lúc yêu nhau hoa nở mãi,
Trong vườn thơm mát của hồn tơi. (Xn Diệu)
Đại từ mình có thể chỉ người nói, là đại từ tự xưng. Đại từ mình cũng có
thể dùng để chỉ người nghe trong sự đối xứng với đại từ ta, mình cịn có thể
chỉ để nói đến người đã được nói đến trước đó.
Các đại từ xưng hô lâm thời mượn danh từ gồm: anh, chị, em, ông, bà,
chú,....các đại từ xưng hô là các danh từ có thể được dùng ở nhiều ngơi khác
nhau.
Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung trong Ngữ pháp tiếng Việt đã phân
biệt đại từ xưng hô theo ngôi bao gồm đại từ xưng hô dùng ở một ngôi xác
định và đại từ xưng hô dùng ở những ngôi linh hoạt.
Đại từ xưng hô dùng ở ngôi xác định được thể hiện rõ qua bảng sau:
Cương vị ngôi của các đối tượng
trong quan hệ giao tiếp
Ngơi 1
Ngơi 2
Ngơi 3
người nói
Người nghe
Người, vật được
nói đến
Tơi, tao, tớ

mày, mi
nó, hắn, y
chúng tơi
chúng tao
chúng tớ

chúng mày
chúng bay
bay

chúng nó
chúng
họ

Ý nghĩa đối
tượng số lượng
giao tiếp theo
ngơi
Số ít (cá thể hay
đơn thể)
Số nhiều (tập thể
hay tổng thể)


11
Theo Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung, đại từ xưng hô dùng ở
những ngôi linh hoạt bao gồm:
- Đại từ dùng nhiều ngơi “mình”
Ví dụ: Hãy tin mình, mình khơng bao giờ để Sự phải khổ đâu.
Mình xem bức tranh này có đẹp khơng?

Đẹp lắm mình ạ.
- Đại từ dùng để chỉ gộp nhiều ngơi “ta, chúng ta, mình, chúng mình”
Ví dụ: Có thể các đồng chí củ chúng ta sẽ vào.
Vâng, nếu anh cho phép thì ta cứ đọc. Chúng mình cùng nghe rồi lúc
nào buồn ngủ thì ta ngủ.
- Đại từ dùng với ý nghĩa phản thân “mình”, (tự) mình
Ví dụ: Tơi trở về phịng mình.
Tơi tự động viên mình thế.
- Đại từ dùng để chỉ ngơi gộp tương hỗ “nhau”
Ví dụ: Như anh đã biết đấy...chúng ta phải dựa vào nhau mà sống.
Có ngày hai đứa chúng em nằm dài nhìn nhau.
- Đại từ chỉ ngơi phiếm định “ai, ai ai”.
Ví dụ: Ai ở gần cửa đạp kêu tụi nó coi.
Ai cịn lạ gì tài đi thúng của vợ chồng anh.
1.2. Nghệ Tĩnh - vùng đất của những làn điệu dân ca
1.2.1. Giới thiệu về vùng đất Nghệ Tĩnh
Nghệ Tĩnh - vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời, bao gồm hai tỉnh ven
biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam là Nghệ An và Hà Tĩnh. Từ khi nhà
Hán bành trướng xuống phía Nam lập nên bộ Giao Chỉ đứng đầu là một viên
thủ sứ đóng đơ ở Mê Linh (Mê Linh, Hà Nội) trơng coi 9 quận trong đó có 3
quận thuộc nước ta là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Lúc bấy giờ, Nghệ
Tĩnh có tên là Hàm Châu thuộc huyện Cửu Chân.


12
Năm 271 theo lời xin của thủ sứ Đào Hoàng nhà Ngơ tách hẳn bộ phận
phía nam Cửu Chân ngang với huyện Hàm Hoan cũ đặt thành quận Cửu Đức.
Dưới triều nhà Tấn, nhà Tống thì Nghệ Tĩnh vẫn được gọi là Cửu Đức. Năm
523 Lương Vũ Đế chia Giao Châu cũ ra nhiều châu huyện mới, đổi Cửu Chân
thành Ái Châu và Cửu Đức thành Đức Châu. Nhưng đến thời nhà Tùy lại đổi

Đức Châu thành Hoan Châu.
Đến năm 607, Tùy Dưỡng Đế bỏ các châu cũ và đặt lại các châu, quận.
Đến nhà Đường các quận được đổi lại các châu như cũ. Năm 628 châu Nam
Đức đổi thành Đức Châu sau đó lại được đổi tên thành Hoan Châu. Đến năm
679 nhà Đường đặt An Nam đô hộ phủ thống trị nước ta, tách Hoan Châu
thành hai châu là Diễn Châu và Hoan Châu. Diễn Châu tương đương với các
huyện bắc xứ Nghệ: Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành và vùng núi tây bắc
Nghệ Tĩnh, Hoan Châu bao gồm các huyện phía nam Nghệ An và bắc Hà
Tĩnh ngày nay.
Sang thời kì nhà nước Đại Việt, thời Tiền Lê, Nghệ Tĩnh vẫn còn gọi là
Hoan Châu và Diễn Châu. Đến thời Lý các khu vực hành chính được chia nhỏ
xuống cơ sở thành lộ, phủ, huyện, hương. Dưới thời nhà Lý năm 1010 chia
Nghệ Tĩnh thành hai lộ là Hoan Châu và Diễn Châu. Vào năm Thông Thụy
thứ 3 năm 1036, Lý Thái Tổ đổi tên Hoan Châu thành châu Nghệ An. Vào
năm 1428, Lệ Lợi chia nước ta thành năm lộ thì Nghệ An và Diễn Châu thuộc
đạo Hải Tây. Đến đời Lê Thánh Tông năm 1469, khi định lại bản đồ Nghệ
Tĩnh được gọi là Nghệ An thừa tuyên. Triều Nguyễn Quang Trung đổi Nghệ
An thành trấn Nghĩa An. Giai đoạn đầu nhà Nguyễn các đơn vị hành chính
trên đất Nghệ Tĩnh vẫn được giữ nguyên cho tới năm Minh Mạng thứ 12
(1831) nhà Nguyễn cắt hai phủ Đức Thọ và Hà Hoa của Nghệ An thành lập
tỉnh mới là Hà Tĩnh.
Sau hơn 20 năm sau (1852) Tự Đức lại bỏ Hà Tĩnh đem Đức Thọ nhập


13
vào Nghệ An và lấy phủ Hà Hoa làm thành đạo Hà Tĩnh gồm 3 huyện Kỳ
Anh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà. Đến năm 1875, Tự Đức lại bỏ đạo Hà Tĩnh, lập
lại tỉnh Hà Tĩnh gồm các phủ huyện như trước.
Ngày 27/12/1975 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa 5, kì họp thứ 2 Nghị quyết hợp nhất Nghệ An và Hà Tĩnh thành một tỉnh

mới gọi là Nghệ Tĩnh.
Ngày 18/12/1991 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa 8 kì họp thứ 9 Nghị quyết chia Nghệ Tĩnh thành hai tỉnh là Nghệ An và
Hà Tĩnh.
1.2.2. Nghệ Tĩnh - cái nôi của những làn điệu dân ca
Lịch sử phát triển của vùng đất Nghệ Tĩnh gắn với bao thăng trầm, biến
cố lịch sử của dân tộc Việt Nam. Nghệ Tĩnh là nơi khởi đầu cho cuộc khởi
nghĩa nông dân Xô Viết Nghệ Tĩnh, đánh dấu mốc son trong cuộc kháng
chiến chống ngoại xâm của nước ta, nơi đây tự hào là vùng đất của những con
người yêu nước, dũng cảm, gan dạ. Đặc biệt, đây là vùng đất có truyền thống
hiếu học, có các nhà khoa bảng văn chương danh tiếng và nhiều làng văn
nghệ nổi tiếng, nơi sản sinh cho đất nước nhiều danh tướng, danh nhân, nhiều
nhà văn hóa, nhà khoa học lớn.
Vùng đất Nghệ Tĩnh không chỉ biết đến với những cuộc đấu tranh nông
dân, vùng đất hiếu học, đó con là nơi sản sinh, cái nơi của nhiều làn điệu dân
ca. Nghệ Tĩnh là mảnh đất của nhiều làn điệu dân ca như: hị, ví, giặm, đồng
giao, hát ru, xẩm, ca trù...Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng sau một lần về thăm
Nghệ Tĩnh được nghe Đoàn dân ca Nghệ Tĩnh biểu diễn năm 1986 đã từng
nói: “Tơi đã đi nhiều nơi ở trong nước và trên thế giới, nghe nhiều dân ca,
nhưng dân ca Nghệ Tĩnh là hay nhất, hay nhất thế giới...”[21.tr.14].
Nghệ Tĩnh là vùng đất của nhiều làn điệu dân ca như: hát giặm, hát
phường vải, ca trù Cổ Đạm, hò...Mỗi làn điệu dân gian gắn với phong tục tập


14
quán, đấu tranh chống ngoại xâm cũng như đời sống tinh thần, gắn với quá
trình lao động của bà con nơi đây. Những câu hị điệu ví đã trở thành những
món ăn tinh thần khơng thể thiếu của người dân nơi đây, nó góp phần ni
dưỡng cốt cách, tâm hồn người Nghệ Tĩnh qua từng kỳ lịch sử.
Tuy nhiên, một trong những làn điệu đặc trưng nhất ở vùng quê xứ

Nghệ đó là hát ví, hát giặm Nghệ Tĩnh. Hát ví Nghệ Tĩnh đa dạng về nội
dung, phong phú về thể loại, ví bao gồm ví phường vải, ví đị đưa sơng Lam,
ví đị đưa chuyển phường vải...Hát giặm là một loại hình sinh hoạt giữa hai
bên nam và nữ được tổ chức trong những ngày hội hè, đình đám. Hát giặm
khơng thành phường thành hội nhưng là một hình thức giao duyên trong mọi
sinh hoạt của người nông dân.
Gần đây, hát Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đã và đang được hồn thành hồ sơ để
trình lên UNESCO cơng nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại vào
năm 2014 này.
Ngồi hát ví, giặm thì Nghệ Tĩnh cịn là cái nơi của các làn điệu dân ca
như: hị, vè, hát ru, hát sắc bùa, hát nói...
1.3. Hát phường vải
1.3.1. Quá trình hình thành và phát triển của hát phường vải
Người xưa có câu “bn có hội, bán có phường”, đây cũng chính là
một trong những nét đặc trưng của con người Xứ Nghệ. Ở Nghệ Tĩnh, họ làm
việc có hội, có phường; đó là một trong những truyền thống lâu đời. Mỗi
nghề, mỗi việc lại có những hội, phường khác nhau: phường đan, phường
nón, phường bn, phường vàng, phường vải, phường cấy, phường gặt...
Trong quá trình lao động của từng phường hội lại xuất hiện những điệu ví
mang đặc trưng của từng nghề ví phường vải, ví phường cấy, ví phường củi,
ví đị đưa...
Hát phường vải cịn gọi là hát ví phường vải gắn với cơng việc của


15
những người dệt vải.
Tấn Tần rắp ranh
Vì chưng kéo vải mới sinh ra phường
Nguyệt dạ canh trường
Dăm ba o ngồi lại, dăm ba dì ngồi lại

Trước là nghề canh cửi – sau đàn hát vui cười.
Theo nhịp của con thoi, tay quay của chị em phường vải trong quá trình
làm việc là những câu ví, họ hát để động viên nhau cho quên sự mệt nhọc lúc
làm việc, những câu hát đối, hát tình với sự tham gia của nhóm nam (có thể là
trai phường vải hay phường củi, phường nón...).
Tuy nhiên khơng phải hễ nơi nào có nghề dệt vải là có hát phường vải.
Ở Thanh Hóa, nghề dệt vải cũng có lối hát giao duyên giữa nam và nữ nhưng
lại gọi là hát ghẹo. Hát phường vải Nghệ Tĩnh được biết đến với những vùng
như: Nghi Xuân, Đức Thọ, Thạch Hà, Can Lộc, Đô Lương, Thanh Chương,
Quỳnh Lưu...Hát phường vải được biết đến là một làn điệu dân ca độc đáo
của nhiều địa phương ở Nghệ Tĩnh mà đặc biệt là làng dệt vải ở Trường Lưu
và Nam Đàn, đây là hai địa chỉ mà hát phường vải phát triển và có lịch sử từ
lâu đời.
Người Nghệ Tĩnh có câu:
Thanh Chương là đất cày bừa,
Nam Đường bơng vải hát hò thâu canh.
Nam Đàn được biết đến là vùng đất của nhiều làng nghề như: nghề
nuôi tằm ở Long Mơn, nghề làm nón Làng Ngang, làng Thọ Tốn; nghề đan
lát ở Ngọc Đình, làng Sen; làng làm giấy ở Vân Sơn, Nghi Lễ...Tuy nhiên, có
thể nói rằng nghề phổ biến nhất ở nơi đây là nghề kéo vải. Cùng với Nam Đàn
thì làng Trường Lưu cũng là một địa chỉ nổi tiếng với nghề kéo vải.


16
Không thơm cũng thể hoa lài
Dẫu không lịch sự cũng ngài Tràng Lưu.
Làng Trường Lưu, xưa gọi là Tràng Lưu, có lúc gọi là Lam Kiều thuộc
huyện Can Lộc, Hà Tĩnh. Dân làng chủ yếu sống bằng nghề nông và nghề
bông vải. Sản phẩm phục vụ trong làng, trong tổng bao gồm các loại vải mộc,
vải thô may mặc gia đình, có cả tơ lụa cho các cơ gái. Trong quá tình lao

động, hoạt động kéo vải đã hình thành nên điệu ví phường vải, nó trở thành
sản phẩm nghệ thuật mang tính tinh thần giúp chị em trong phường lấy lại
tinh thần trong những giờ làm việc.
Hát phường vải không chỉ là những câu hát của các chị em trong khi
quay tơ, kéo vải mà còn là những câu hát đối đáp giữa các chị em kéo vải với
những chàng trai trong phường kéo vải hay những chàng trai đi qua. Hát
phường vải ngoài việc để trai gái thổ lộ tình cảm với nhau cịn là sự thử thách
trong cách nói, cách ví, cái cách đối đáp qua lại giữa bên nam và bên nữ. Hát
phường vải là cách mà đằng trai thể hiện sự hiểu biết, tài văn chương đối đáp
cũng như sự linh hoạt trong cách nói của mình, điều này giúp tạo ấn tượng
cho bên nữ. Đồng thời với bên nữ, có khi thể hiện sự mạnh bạo trong chuyện
tình cảm với câu đáp thơng minh. Bằng những câu đối đáp qua lại mà nhiều
đôi trai gái có điều kiện tìm hiểu và quen biết nhau. Buổi đầu, hát phường vải
chỉ là những câu hát đố, họ đố nhau về sự vật, sự việc; đố nhau về những hiểu
biết hằng ngày trong quá trình sản xuất, đấu tranh... nhưng về sau khi có sự
xuất hiện của các nhà Nho tham gia vào quá trình hát phường vải thì đã có
nhiều thay đổi.
Hiện tượng các nhà nho tham giao vào quá trình hát phường vải bắt đầu
từ khi các nhà nho chỉ cho đằng trai, sau một thời gian bên nữ cũng nhờ
những nhà nho khác giúp. Những người này được gọi là “thầy gà” “thầy bày”,
họ là những anh nho sĩ thi hỏng, một ông thầy đồ ngồi dạy học trong làng,


17
một ông tú tài, cử nhân....Tuy nhiên, sau một thời gian quen với những cuộc
hát phường vải thì bản thân những chàng nho sĩ trực tiếp đứng ra hát. Phần
lớn những nho sĩ tham gia hát phường vải là những người long đong trên con
đường sự nghiệp hay những nhà nho bất mãn với thời cuộc, đồng thời dùng
những câu hát phường vải để thể hiện, khơi gợi, cổ vũ tinh thần yêu nước, ý
chí căm thù giặc trong nhân dân. Một trong những người như vậy là Nguyễn

Công Trứ, Phan Bội Châu.
Có thể nói rằng việc các nho sĩ tham gia vào tham gia sinh hoạt tại
những cuộc hát phường vải đã có những đóng góp khá đáng kể trong việc sử
dụng những câu từ trau chuốt, hát phường vải không đơn thuần là những câu
hát đối đáp trao duyên mà còn là nơi để các nghệ sĩ rèn luyện nghệ thuật văn
chương, để các sĩ phu yêu nước thể hiện tinh thần dân tộc, tuyên truyền hoạt
động cứu nước cứu dân.
Hiện nay, hát phường vải ngày càng bị mai một, tuy nhiên trong những
năm gần đây tại Nghệ An và Hà Tĩnh đã và đang có nhiều biện pháp nhằm
phát huy và gìn giữ những làn điệu dân ca đằm thắm mượt mà này. Đó là
những cuộc thi như Tiếng hát dân ca xứ Nghệ, Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, Ví
giặm – lung linh hồn quê xứ Nghệ...
1.3.2. Nội dung của hát phường vải
Hát phường vải là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo có
từ lâu đời của vùng quê Nghệ Tĩnh. Nội dung căn bản của hát phường vải
đậm đà tính chất trữ tình. Nó khơng phải là dân ca trong hội hè, đình đám mà
gắn liền với quá trình lao động, sản xuất, với nghề quay xa dệt vải. Một cuộc
hát phường vải thường kéo dài từ ba, bốn đêm có khi năm, sáu đêm mới đủ
qua mọi chặng, mọi bước: hát dạo, hát chào, hát mừng, hát mời, hát đối, hát
xe kết và hát tiễn. Hát phường vải là một loại hình sinh hoạt văn nghệ thu hút
đơng đảo sự tham gia của trai gái.


18
Hát phường vải thường là những câu hát trao duyên dưới hình thức đối
đáp của chị em phường vải với những chàng trai phường vải hay những
phường khác. Qua quá trình đối đáp giữa hai bên giúp họ thêm hiểu nhau về
cả danh tính, tài năng...từ đó nhiều cặp trai gái thành đôi, thành lứa.
Một trăm thứ dầu, dầu chi không ai thắp,
Một trăm thứ bắp, bắp chi không ai rang,

Một trăm thứ than, than chi không ai quạt,
Một trăm thứ bạc, bạc chi không ai mua,
Trai nam nhi đối được, gái bốn mùa xin theo?
- Một trăm thứ dầu, dầu xoa không ai thắp
Một trăm thứ bắp, bắp chuối chẳng ai rang
Một trăm thứ than, than thân không ai quạt,
Một trăm thứ bạc, bạc tình khơng ai mua,
Trai nam nhi đà đối đặng, gái bốn mùa tính răng.
Ngồi việc thể hiện tình cảm đơi lứa, nói về cuộc sống hằng ngày thì
hát phường vải cịn là phương tiện để các nhà nho yêu nước thể hiện tâm tư,
tình cảm của mình. Một trong số đó phải nói đến Phan Bộ Châu, ơng là người
đã thổi một luồng sinh khí mới vào hát phường vải, đánh dấu một cái mốc
mới khi đưa nội dung dân tộc và yêu nước vào hát phường vải. Dùng hát
phường vải để tuyên truyền động viên lòng yêu nước của quần chúng nhân
dân. Trong những lần Phan Bội Châu vận động công cuộc cứu nước, nhiều
trai gái đã tham gia nhiệt tình. Trong một lần biết ông sắp phải đi xa lo việc
cứu nước các o phường vải Nam Kim hát tiễn:
Nên chăng trống giục tranh hồi,
Thuyền tình ta sẽ ra vời rộng thênh.
Sau khi Phan Bội Châu trở về, các o hát phường vải hát mừng:
Mừng chàng nay đã phản hồi,


19
Mấy lâu góc bể chân trời ra sao.
Phan Bội Châu cũng hát mừng, đồng thời qua đó thể hiện chí khí của
mình:
Mừng nay ta được trùng phùng
Cánh bằng tiện gió vẫy vùng biển khơi.
Bằng sự tài hoa, thông minh nhanh nhẹn cùng với tinh thần yêu quê

hương, đất nước Phan Bội Châu đã để lại một dấu ấn khá đậm nét trong điệu
hát ví phường vải Nghệ Tĩnh, góp phần phát triển loại hình dân gian độc đáo
này.
1.3.3. Quá trình của một hội hát phường vải
Thủ tục sinh hoạt của hát phường vải khá chặt chẽ với ba chặng.
- Chặng thứ nhất gồm 3 bước: hát dạo, hát chào mừng, hát hỏi.
- Chặng thứ hai gồm 2 bước: hát đố, hát đối.
- Chặng thứ ba gồm 3 bước: hát mời, hát xe kết, hát tiễn.
Chặng thứ nhất: hát dạo, hát chào mừng, hát hỏi
Hát dạo là phần mở đầu cho một cuộc hát phường vải:
Nghe đây có giếng mới đào
Có chợ mới họp, anh tạt vào bán mua.
Cịn khơng ta đợi ta chờ,
Hay là như ruộng có bờ thì thơi.
Hay như :
Đi xa nghe tiếng em reo
Nghe xa em kéo muốn đeo em về
Hát chào mừng là những câu hát chào, hát mừng nhằm tăng tính chất
lịch sự cho người hát phường vải. Đó là những câu hát khá niềm nở, cung
kính, có khi e dè bóng gió; có khi mạnh dạn, thiết tha; khi thì trang trọng kiểu
cách.


×