Tải bản đầy đủ (.pdf) (76 trang)

ĐẶC ĐIỂM TỰ TRUYỆN KHÔNG GỤC NGÃ CỦA NGUYỄN BÍCH LAN 10600959

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (964.12 KB, 76 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
----------------

NGUYỄN THỊ MỸ

ĐẶC ĐIỂM TỰ TRUYỆN KHƠNG GỤC NGÃ
CỦA NGUYỄN BÍCH LAN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Đà Nẵng, tháng 05/2014


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
----------------

ĐẶC ĐIỂM TỰ TRUYỆN KHƠNG GỤC NGÃ
CỦA NGUYỄN BÍCH LAN

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Người hướng dẫn:
TS. Nguyễn Thanh Trường

Người thực hiện:


NGUYỄN THỊ MỸ
(Khóa 2010 -2014)

Đà Nẵng, tháng 05/2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi, Nguyễn Thị Mỹ xin cam đoan: Những nội dung trong khóa
luận tốt nghiệp này là do tơi thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của
TS. Nguyễn Thanh Trường.
Nếu có bất kỳ sự sao chép nào khơng hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo,
tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Đà Nẵng, ngày 30 tháng 05 năm 2014
Người thực hiện

Nguyễn Thị Mỹ


LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Thanh Trường đã
tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho em trong suốt thời gian nghiên
cứu và hồn thành khóa luận tốt nghiệp.
Nhân dịp này, em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các
thầy cơ giáo khoa Ngữ Văn cùng gia đình, người thân, bạn bè đã quan tâm,
động viên, khích lệ, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và làm khóa luận.
Mặc dù đã nỗ lực cố gắng, song do khả năng nghiên cứu có hạn nên
khóa luận chắc chắn khơng tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong nhận
được sự góp ý của các thầy cơ để khóa luận có thể hồn thiện hơn. Em xin
chân thành cảm ơn.


Đà Nẵng, ngày 30 tháng 05 năm 2014
Sinh viên

Nguyễn Thị Mỹ


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ............................................................................ 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 3
4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 3
5. Bố cục khóa luận ........................................................................................... 4
NỘI DUNG....................................................................................................... 5
Chương 1. Những vấn đề lí luận chung ........................................................ 5
1.1. Khái niệm tự truyện.................................................................................... 5
1.2. Đặc trưng của tự truyện.............................................................................. 7
1.3. Thể loại tự truyện trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại ............ 9
Chương 2. Tự truyện Không gục ngã – Bản tình ca về những chân giá trị
của cuộc sống ................................................................................................. 15
2.1. Không gục ngã – Một nghị lực phi thường và sự cống hiến ............... 15
2.1.1. “Chuyện đời tơi” – Hành trình đi “Tìm ánh sáng trong đường hầm tối” .... 15
2.1.2. Khát khao sống – Mong muốn tri ân với cuộc đời ............................... 18
2.1.3. Nghị lực phi thường – Giá trị sống tồn đọng nơi bề sâu bản thể .......... 21
2.2. Không gục ngã – Những chiêm nghiệm về cuộc sống ......................... 24
2.2.1. Chấp nhận những nghiệt ngã “không đổ lỗi” cho đời........................... 24
2.2.2. Biết đứng lên và bắt đầu cuộc sống “từ những gì còn lại” ................... 26
2.2.3. Cho và nhận – “Dám sống với đam mê để gieo mầm hy vọng”........... 29
Chương 3. Tự truyện Khơng gục ngã - Nhìn từ một số phương thức nghệ

thuật ................................................................................................................ 33
3.1. Điểm nhìn trần thuật ............................................................................. 33
3.1.1. Trần thuật theo điểm nhìn ngơi thứ nhất ............................................... 33


3.1.2. Sự đan xen luân chuyển giữa các điểm nhìn......................................... 38
3.2. Kết cấu văn bản ...................................................................................... 41
3.2.1. Kết cấu truyện theo những mảnh ghép kí ức ........................................ 41
3.2.2. Kết cấu truyện song hành quá khứ - hiện tại ........................................ 44
3.3. Không gian nghệ thuật .......................................................................... 46
3.3.1. Không gian song trùng - những lằn ranh xâm lấn đường biên sáng tối ..... 47
3.3.2. Khơng gian “Từ căn phịng nhỏ đến bảo tàng lớn” .............................. 50
3.4. Thời gian nghệ thuật .............................................................................. 53
3.4.1. Thời gian ngưng đọng trong kí ức của hai mảng màu tối sáng ............ 54
3.4.2. Thời gian nghiêm ngặt trong hành trình tìm nguồn sống mới .............. 56
3.5. Ngơn ngữ và giọng điệu ........................................................................ 59
3.5.1. Ngôn ngữ hàm súc mang tính biểu cảm cao ......................................... 59
3.5.2. Giọng điệu suy tư, trăn trở, triết lí, chiêm nghiệm................................ 62
KẾT LUẬN .................................................................................................... 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 68


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khi con người ta đã bước qua những chặng đường của cuộc đời, với biết
bao thăng trầm trong cuộc sống, đến một lúc nào đó, họ có đủ độ lùi để nhìn
lại mọi thứ thì cũng là lúc thời gian đã đi khá xa. Thể loại tự truyện được chọn
để họ gửi gắm những suy nghĩ, trăn trở của một thời. Ngày nay, tự truyện là

một trong những thể loại đang dần phổ biến, gần gũi với mọi người, là chiếc
cầu nối để chuyển tải những kinh nghiệm, bài học thực tế của tác giả đến với
bạn đọc. Một trong những cuốn tự truyện xúc động – Không gục ngã, được
viết nên bằng một con người đặc biệt – dịch giả, nhà văn Nguyễn Bích Lan.
Tự truyện Khơng gục ngã được Nguyễn Bích Lan chắt lọc trong hơn hai
mươi năm sống chung với bạo bệnh. Đây là cuốn tự truyện đầu tay trong cuộc
đời chị, tác phẩm đã làm xúc động bao người. Độc giả có thể tìm được trên
những trang viết ấy một nội lực sống mãnh liệt, cả những bài học đầy kinh
nghiệm, để bản thân mỗi người để tự vượt qua những trở ngại vơ thường mà
ai cũng có thể gặp phải trong đời. Nguyễn Bích Lan đã đưa vào tác phẩm cả
không – thời gian đan xen giữa hiện tại và quá khứ, với một kết cấu tương
ứng, điểm nhìn tương thích, kết hợp với ngơn ngữ, giọng điệu đa dạng là
những nét đặc sắc nghệ thuật tạo nên sự thành công cho tác phẩm.
Chọn đề tài “Đặc điểm tự truyện Khơng gục ngã của Nguyễn Bích Lan”
giúp chúng tơi tìm hiểu sâu hơn nội dung tư tưởng cũng như nghệ thuật viết
tự truyện của tác giả, từ đó hiểu thêm sức mạnh của những “hạt giống tâm
hồn” mà Nguyễn Bích Lan đã gieo trên nền cuộc sống bằng sự miệt mài, lặng
lẽ. Đồng thời, khẳng định thêm những đóng góp của tác giả đối với thể loại tự
truyện trong nền văn học đương đại Việt Nam.


2
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Tự truyện Không gục ngã của Nguyễn Bích Lan mới được xuất bản năm
2013 nhưng đã gây ảnh hưởng khá nhiều đến độc giả về mặt nội dung. Hiện
nay, người nghiên cứu về tác phẩm này khơng nhiều. Chỉ có ở những dạng bài
giới thiệu, phỏng vấn nhỏ trên các báo, web. Nhìn chung, các bài viết chỉ
dừng lại ở mức độ nhận xét một cách khái lược về tác giả, tác phẩm cũng như
q trình hồn thành của nó. Tiêu biểu là:
Tác giả Trà Giang với bài viết: “Khơng gục ngã: Khích lệ niềm vui

sống”. Ở bài viết này, tác giả đã đưa ra những chia sẻ, chiêm nghiệm về cuộc
sống của Nguyễn Bích Lan: “hãy đọc nhiều sách, khi buồn hãy nghĩ đến
những người buồn hơn mình, hãy dám sống với đam mê, khơng sợ khó” [4].
Cũng giống như bài viết của tác giả Trà Giang, tác giả Thu Huệ với bài
viết: “Cô gái "không gục ngã": Cuộc sống của tôi là may mắn”, cũng đã ghi
lại những chia sẻ của Nguyễn Bích Lan về cuốn tự truyện: “Viết tự truyện
như là một cuộc giải phẫu tinh thần, thật không dễ dàng với tơi (…), cuộc
sống của tơi là may mắn. Chính những khó khăn đã cho tơi những cơ hội,
những cú bật và mình bật lên được, và nhận thấy cuộc đời vô cùng ý nghĩa”.
Từ những chia sẻ mà bài viết mang lại, độc giả sẽ hiểu rõ mục đích chính mà
Nguyễn Bích Lan mong muốn mang đến cho tất cả mọi người rằng: “Tôi nghĩ
tôi không truyền đến cho họ một bài học mà muốn chứng minh cho họ là
đừng đánh mất đi lòng yêu đời. Trong những lúc mình chưa đánh mất nó thì
làm thế nào để làm cho nó giàu lên, đầy lên, để như một phép phịng ngừa vì
cuộc sống có rất nhiều thử thách khơng nói trước được...” [6].
Bên cạnh những đánh giá của các tác giả về mặt nội dung của tác phẩm,
bài viết: “Dịch giả Nguyễn Bích Lan – Một hiện tượng văn học như Nguyễn
Ngọc Tư?”, tác giả Thanh Kiều đã viết về phương diện tài năng của Nguyễn
Bích Lan. Thơng qua việc trích dẫn lại lời của nhà văn Dạ Ngân, bài viết đã


3
phần nào nhìn nhận, đánh giá về vai trị của dịch giả, nhà văn Nguyễn Bích
Lan trong dịng chảy văn học Việt Nam đương đại: “"Tơi nghĩ Bích Lan là
một tài năng. Cũng rất nhiều người bị tàn tật, khiếm khuyết nhưng phải nói
rằng trời đã cho Bích Lan một tài năng lớn. Đây là một hiện tượng kiểu như
Nguyễn Ngọc Tư vậy. Bích Lan vừa viết văn vừa làm thơ như Nguyễn Ngọc
Tư và cịn có các tác phẩm dịch thuật đồ sộ. Tôi nghĩ cuốn sách này của Bích
Lan là một trong những hiện tượng văn học năm nay"” [11].
Như vậy, các bài viết đã trình bày sơ lược về hồn cảnh sống cũng như

những khó khăn mà Nguyễn Bích Lan đã trải qua trong suốt những năm chị
mắc phải bạo bệnh và cả q trình chị hồn thành cuốn tự truyện Khơng gục
ngã. Các cơng trình chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu, chưa có cơng trình nào
đi sâu vào phân tích nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm. Chính vì
vậy, ở khóa luận này, chúng tôi đi vào nghiên cứu “Đặc điểm tự truyện Khơng
gục ngã của Nguyễn Bích Lan”.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là “Đặc điểm tự truyện Không gục ngã của
Nguyễn Bích Lan” được thể hiện qua: Tự truyện Khơng gục ngã - Bản tình ca
về những chân giá trị của cuộc sống và Tự truyện Khơng gục ngã - Nhìn từ
một số phương thức nghệ thuật.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào khảo sát tự truyện Khơng
gục ngã của Nguyễn Bích Lan (2013), Nxb Hội nhà văn và một số tự truyện
của các tác giả khác.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã sử dụng một số
phương pháp sau:


4
Phương pháp hệ thống: Thống kê lại những chi tiết quan trọng trong tự
truyện có liên quan đến vấn đề nghiên cứu theo những nhóm khác nhau
nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài một cách khái quát, cụ thể hơn.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Dùng để xử lý dữ liệu thu thập được
từ phương pháp hệ thống, tiến hành chia nhỏ vấn đề để phân tích, từ đó làm
cơ sở đánh giá tự truyện Khơng gục ngã.
Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trong q trình phân tích, chúng tôi
liên hệ với một số tác phẩm cùng thể loại, để so sánh, đối chiếu nhằm làm

cho bài viết phong phú hơn, có cái nhìn đa chiều hơn.
5. Bố cục khóa luận
Ngồi phần Mở đầu, phần Kết luận và thư mục Tài liệu tham khảo thì
phần Nội dung của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lí luận chung
Chương 2. Tự truyện Không gục ngã - Bản tình ca về những chân giá trị
của cuộc sống
Chương 3. Tự truyện Khơng gục ngã - Nhìn từ một số phương thức nghệ
thuật


5

NỘI DUNG
Chương 1
Những vấn đề lí luận chung
1.1. Khái niệm tự truyện
Tự truyện là một trong những thể loại rất gần gũi với đời sống cá nhân
của mỗi con người. Thời gian gần đây, tự truyện đang dần nở rộ trên văn đàn,
có rất nhiều tự truyện được xuất bản đã gây tranh luận về việc phân định cái
tôi trong tự truyện. Thể loại tự truyện được bắt nguồn từ nền văn minh
phương Tây, nó có hai nguồn gốc chính: từ nền văn minh Hy Lạp qua câu
ngạn ngữ nổi tiếng “connais-toi toi-même” (kẻ thông thái phải biết về cá nhân
mình) và từ truyền thống Thiên chúa giáo qua lệ “tự vấn lương tâm”. Đây là
thể loại xuất hiện rất sớm ở các nước phương Tây, còn ở Việt Nam mãi cho
đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi nền văn hóa phương Tây có điều
kiện du nhập vào Việt Nam, thể loại tự truyện mới được du nhập vào. Hiện
nay, có nhiều khái niệm về tự truyện được đưa ra.
Theo định nghĩa của Philippe Lejeune, nhà lý thuyết Pháp về thể loại tự
truyện: “đó là «một câu chuyện mà một người có thật ngược dịng thời gian,

kể lại đời mình, nhấn mạnh tới cuộc sống cá nhân, đặc biệt tới sự hình thành
tính cách» (...) tự truyện bao giờ cũng có một hợp đồng ngầm giữa tác giả và
người đọc: tác giả cam kết sẽ chỉ kể sự thật. Dường như có một câu nói cất
lên ngay từ lúc mở đầu tác phẩm: «Tơi tên là X, tôi sẽ kể cho các bạn nghe sự
thật đời tôi…» (…) Những người viết tự truyện vào các thời điểm khác nhau
(…) thường đưa ra những lý giải khác nhau, thậm chí mâu thuẫn, về hành
trình của đời mình” [26].
Trong 150 thuật ngữ văn học, các tác giả đã đưa ra khái niệm tự truyện
là: “Tác phẩm văn học tự sự, thường được viết bằng văn xi trong đó tác giả
tự kể và miêu tả cuộc đời của bản thân mình (…) Tác phẩm tự truyện thường


6
lý giải cuộc sống đã qua (của tác giả) như một chỉnh thể, tạo ra những đường
nét mạch lạc cho cuộc sống kinh nghiệm của mình” [1, tr.378-379].
Theo Từ điển thuật ngữ văn học - Đỗ Đức Hiểu chủ biên, thể loại tự
truyện được hiểu là: “Một thể loại văn học, trong đó tác giả kể chuyện về
cuộc đời mình. Nhân vật chính của truyện, chính là tác giả. Theo Philip
Lơjơn, trong tác phẩm “Tự truyện ở Pháp” nó có nguồn gốc ở Thiên chúa
giáo, với “Thú tội”, “Tự vấn lương tâm”. Tự truyện thường là những câu
chuyện viết bằng văn xi, kể lại dĩ vãng của chính tác giả, có thể gần trọn
cuộc đời, có thể thời thơ ấu hoặc một thời phiêu lưu…” [5, tr.1905].
Còn với Từ điển thuật ngữ văn học – Trần Đình Sử cùng một số tác giả
khác đồng chủ biên, tự truyện là: “Tác phẩm văn học thuộc loại tự sự do tác
giả viết về cuộc đời mình (…) tự truyện yêu cầu nhà văn tái hiện đoạn đời đã
qua của mình trong tính tồn vẹn, cụ thể - cảm tính, phù hợp với một lí tưởng
xã hội – thẩm mỹ nhất định (…) tự truyện có chức năng làm cho quá khứ
được tái sinh. Nhà văn viết tự truyện như được sống lại một lần nữa đoạn đời
đã qua của mình (…) trong tự truyện các sự kiện tiểu sử của nhà văn chỉ đóng
vai trị cơ sở của sáng tạo nghệ thuật” [7, tr.389].

Có rất nhiều khái niệm, cách hiểu về tự truyện được đưa ra, song hầu
hết các ý kiến, khái niệm đều thống nhất về cách nhận diện nội dung cũng
như bản chất của thể loại này. Tổng hợp tất cả các khái niệm nêu trên, chúng
tôi xin đưa ra cách hiểu của mình về thể loại tự truyện như sau: Tự truyện là
một tác phẩm tự sự do nhà văn tự viết về cuộc đời mình. Tự truyện khơng phải
là một bản sao hồn hảo của chính cuộc đời nhà văn mà trong tác phẩm của
mình, nhà văn được quyền hư cấu, sắp xếp lại như một chỉnh thể. Thơng qua
đó, nhà văn có những cách nhìn nhận, đánh giá bằng sự chiêm nghiệm, từng
trải của chính mình nhằm làm cho sự trình bày về cuộc đời ấy trở nên hợp lí,
nhất quán và sinh động.


7
1.2. Đặc trưng của tự truyện
Mỗi thể loại văn học đều mang những đặc trưng riêng. Tuy nhiên,
không thể phân định ranh giới một cách rạch ròi giữa các thể loại văn học gần
như giống nhau. Lấy một minh chứng về các thể loại như: nhật kí, hồi kí, tự
truyện, ... các thể loại này đều là kiểu ghi chép lại, giữa chúng có những nét
tương đồng nhau. Để phân định rạch rịi những thể loại này là điều khơng thể,
song vẫn có thể phân biệt chúng bằng cách tìm ra những đặc trưng cơ bản.
Riêng về đặc trưng của thể loại tự truyện, bao gồm:
Thứ nhất, tự truyện bao gồm: các yếu tố truyện (hình thức, thể loại tự
sự) và yếu tố tự thân (nội dung, bản thân người viết). Tự truyện luôn luôn là
hành vi khắc phục cái thời gian đã lùi xa, để quay về thời tuổi thơ, trẻ em, làm
sống lại những đoạn đời quan trọng nhất, nhiều kỷ niệm nhất, như là: “sống
lại” cuộc đời mình từ đầu. Theo đó, tự truyện thường được viết vào thời điểm
tác giả đã trưởng thành, đã trải qua phần lớn các chặng đường trong cuộc đời
mình và nhìn nhận lại những gì đã qua như một sự chiêm nghiệm.
Thứ hai, tác giả tự truyện thường tập trung vào quá trình hình thành
lịch sử thế giới nội tâm của mình trong sự tương tác của nó với thế giới bên

ngoài. Người kể chuyện trùng với tác giả và với nhân vật chính. Trong tác
phẩm tự truyện thường tồn tại hai nhân vật tôi, một tồn tại ở quá khứ và một
đang ở hiện tại. Tôi quá khứ thuộc về cái đã qua và được hiện lên qua dòng
hồi tưởng của tôi hiện tại. Tôi hiện tại thường là tôi trưởng thành, khi đã đứng
tuổi của nhà văn nhìn về quá khứ và chiêm nghiệm, suy tư hay trăn trở. Cùng
kể về quá khứ, kỷ niệm, tuy nhiên chúng đã bị xóa mờ với thời gian, vì tư duy
của nhà văn khi viết tự truyện đã trải qua biết bao cảnh đời và vì các sự kiện
được sắp xếp, bố cục lại, suy ngẫm lại, nên khó mà trùng hợp với sự thật. Đó
là chưa kể có khi nhà văn có ý thức muốn biến đổi câu chuyện, hoặc tơ điểm


8
thêm, hoặc làm xấu đi những sự thật, cho nên hình ảnh cuộc sống của tác giả
trong tự truyện có độ lệch nhất định với cuộc đời thật của tác giả.
Thứ ba, thiên hướng của thể loại tự truyện thường là để lý giải cuộc
sống đã qua của tác giả như một chỉnh thể, tạo nên những đường nét mạch lạc
cho cuộc sống kinh nghiệm của nhà văn. Những sự việc trong tự truyện là
những cái đã diễn ra trong quá khứ nhưng lại được viết theo thì hiện tại dưới
cái nhìn của nhân vật tơi trung tâm. Qua đây, tất cả những điều xảy ra trong
quá khứ, với những hồi ức về tuổi thơ, tuổi trưởng thành, những gì đã làm
được và chưa làm được trong quá trình nhận thức khám phá về con người và
xã hội đều được soi chiếu lại bởi chính tâm hồn của nhà văn.
Thứ tư, nếu như ở thể loại nhật kí, các sự kiện được sắp xếp theo một
trật tự của thời gian hiện tại. Nhiệm vụ của người viết nhật kí là trung thành
với sự thật, trình tự của sự việc. Thì tự truyện có thể sử dụng hư cấu hoặc sắp
xếp lại các sự kiện, chi tiết của cuộc đời mình. Tuy nhiên, hư cấu trong tự
truyện chính là sự tái tạo sự thật, đi vào nắm bắt bản chất của sự vật, hiện
tượng chứ không phải sự hoang tưởng bịa đặt. Và cái sự thật đó sẽ được bạn
đọc kiểm nghiệm qua chính cuộc đời nhà văn. Tự truyện và hồi kí được viết
theo chiều nghịch của thời gian, hướng về dĩ vãng một bên thiên về cá nhân

bằng con mắt nội quan và một bên thiên về thế giới bên ngoài, là cuộc sống
và con người trong một thời kì lịch sử. Cịn với thể loại nhật kí được viết theo
chiều thuận, ghị lại sự kiện và cảm xúc hằng ngày. Chính vì thế mà tự truyện
và hồi kí có tính tổng kết và lý giải một đoạn đời, một thời đại đã qua, cịn
nhật kí thường dang dở, khơng có tầm khái qt bởi người viết khơng biết
trước tương lai của mình. Do đặc tính của thể loại, tự truyện và hồi kí được
viết ra cho người khác đọc, nhật kí là một lối viết thầm kín mà người viết
đồng thời là độc giả duy nhất, đương nhiên khơng bao hàm một số nhật kí
được xuất bản. Nói tóm lại, tự truyện cho phép nhà văn hư cấu để tạo nên


9
những hình tượng hồn chỉnh cịn hồi kí và nhật kí địi hỏi sự chính xác các
sự kiện và những đánh giá khách quan của người viết.
Cuối cùng, tự truyện là một thể loại văn học mở, có thể bao gồm những
kỉ niệm, nhật kí, những truyện ngắn có nguồn gốc từ cuộc đời tác giả, gọi là
tiểu thuyết, tự truyện, có thể kể theo phương thức “dịng tư tưởng”.
1.3. Thể loại tự truyện trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại
Ở mỗi giai đoạn văn học thường có một hệ thống thể loại với tư cách
những mơ hình nghệ thuật tương ứng, phản ánh đặc điểm xã hội – văn hóa,
trình độ nhận thức và nhu cầu thẩm mỹ của người đọc. Nói như Bakhtin:
“Đằng sau cái mặt ngoài sặc sỡ và đầy tạp âm ồn ào của tiến trình văn học,
người ta khơng nhìn thấy vận mệnh to lớn và cơ bản của văn học và ngôn
ngữ, mà những nhân vật chính nơi đây trước hết là các thể loại, còn trào lưu,
trường phái chỉ là những nhân vật hạng nhì và hạng ba” [3, tr.460]. Có thể
thấy, việc tìm hiểu một thể loại văn học trong một giai đoạn, một thời kì là
điều rất quan trọng trong việc làm nổi bật “cái mặt ngoài sặc sỡ” của tiến trình
văn học. Giống như nhận định của Trần Đình Sử: “chân dung của một thời đại
văn học được soi chiếu khá rõ nét qua tấm gương thể loại” [3, tr.460].
Trong sự vận động không ngừng của xã hội, văn học Việt Nam cũng đã

hịa mình vào đó, phản ánh đầy đủ các sự kiện được diễn ra. Tùy thuộc vào
các giai đoạn, thời kỳ, các thể loại văn học được lựa chọn để phục vụ cho mục
đích chung theo yêu cầu của công chúng. Nếu như ở giai đoạn trước năm
1975 – tức là văn học giai đoạn (1945 – 1975), nhiệm vụ của những người
chiến sĩ trên “mặt trận văn hóa” khơng nằm ngồi cái nhiệm vụ tất yếu của
lịch sử. Với khuynh hướng sử thi, người ta hòa nhập vào cộng đồng, hòa nhập
vào cái ta – chung cho cả dân tộc đang sục sôi tinh thần kháng chiến chống
thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ. Kéo theo việc sử dụng các thể loại phù hợp


10
với xu thế thời đại lúc bấy giờ: tự sự (ký, truyện ngắn, truyện vừa, tiểu
thuyết), trữ tình (thơ, trường ca) và kịch.
Thì sau năm 1975, khi đất nước đã bước sang hồn cảnh mới, đất nước
được thống nhất, hịa bình. Người ta phải đối mặt với những tổn thất của
chiến tranh, gánh nặng cơm áo, gạo tiền đè lên vai, những viễn cảnh chia ly
sau cuộc chiến, tan thương, chết chóc. Những thể loại của giai đoạn trước,
nay được sử dụng để chuyển tải những sự thật này. Cho đến năm 1986, sau
Đại hội đại biểu lần thứ VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam, yêu cầu văn nghệ
sĩ “viết thẳng, viết thật”, hơn nữa vào lúc này, nhu cầu được bộc lộ ý thức cá
nhân con người trong xã hội mới được bùng phát mạnh mẽ. Điều này trở
thành xu hướng tất yếu của sự phát triển và tiến bộ, lại cũng vừa là sự thể hiện
tinh thần Đổi mới nhằm phát huy tối đa mọi tiềm năng của mỗi cá nhân và cả
cộng đồng. Người ta dám nhìn thẳng vào hiện thực cuộc sống với tất cả các
mặt của nó. Xin được nói riêng về một vài thể loại văn xuôi ở giai đoạn này.
Các tiểu thuyết về thế sự và đời tư nở rộ trên văn đàn. Điều đặc biệt ở giai
đoạn này là có sự xâm nhập của thể loại tự truyện trong tiểu thuyết, hồi kí: Tự
truyện (Tơ Hồi), Thời xa vắng (Lê Lựu), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh),
Và khi tro bụi (Đoàn Minh Phượng), Cát bụi chân ai, Chiều Chiều (Tơ Hồi),
… Đây là vấn đề có ý nghĩa đối với văn học đương đại bởi nó gắn với vấn đề

cái tơi tác giả - sự khẳng định cái tôi cá nhân mạnh mẽ trong thời đại bùng nổ
công nghệ thông tin, sự tương tác và dung nạp lẫn nhau giữa các thể loại.
Từ sau năm 2000, thể loại tự truyện được lựa chọn như một nhu cầu, có
rất nhiều cuốn tự truyện được xuất bản giai đoạn này: Lê Vân yêu và sống,
Những ngọn đèn trước gió, Thành phố khơng lạc loài, Ngày ấy đã qua rồi,
Những câu chuyện từ trái tim,… Trước hết, là để tác giả giải tỏa nhu cầu
được nói ra. Đó có thể là những kỷ niệm, những trăn trở của một thời, nhắc lại
để lưu giữ, để nhớ, hoặc để làm sáng tỏ những khúc mắc mà thời gian chưa


11
thể xóa nhịa. Sau đó là chia sẻ những kỷ niệm, những bài học kinh nghiệm
quý báu, để từ đó giữa tác giả và độc giả có sự đồng cảm với nhau, khơng cịn
khoảng cách về ngành nghề nữa.
Khơng chỉ riêng các nhà văn viết tự truyện mà có cả những nhạc sĩ,
doanh nhân, nghệ sĩ của các ngành sân khấu điện ảnh cũng tham gia, … hầu
như ai cũng có thể viết tự truyện. Tự truyện lúc này đang trở thành nhu cầu rất
lớn. Thời gian gần đây nhiều cuốn tự truyện của những người bình thường,
thậm chí có khiếm khuyết về cơ thể nhưng lại thu hút khá đông đối tượng
khán giả đến với thể loại này. Những câu chuyện “sống” của chính tác giả đã
đem đến những xúc động đặc biệt đối với độc giả. Những câu chuyện chân
thật về cuộc đời của họ đã làm thu hút rất nhiều độc giả, họ tìm ở đó những
cảm xúc, kinh nghiệm, ý chí vượt qua gian khổ, khắc nghiệt của cuộc sống,
bệnh tật của bản thân để đi đến thành công.
Nhà giáo ưu tú Nguyễn Ngọc Ký đã viết cuốn Tôi học đại học, đây là
cuốn tự truyện ông kể lại hành trình học đại học của mình. Cũng trong hoàn
cảnh bệnh tật, thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký đã mang đến cho độc giả ý chí
sống và học tập, dù trong hoàn cảnh nào chỉ cần con người có sự kiên nhẫn và
nghị lực đều có thể vượt qua. Gần đây nhất, cuốn Gian truân chỉ là thử thách
của doanh nhân Hoàng Văn Trung cũng đã chia sẻ những kinh nghiệm vượt

lên hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc sống để có được vị trí chủ tập đồn lớn,
chi nhánh khắp nơi trên giới.
Sức hấp dẫn ở thể loại tự truyện này chính là ở lối viết chân thật từ
trong những câu chuyện của chính tác giả. Có thể có những trau chuốt, thêm
thắt vào những cảm xúc cho câu chuyện được hấp dẫn với người đọc. Nhưng
trên hết, đó là những tâm sự đời thực mà bản thân họ đã từng trải qua. Người
đọc đồng cảm, chia sẻ những giai đoạn khó khăn với tác giả, đồng thời cũng
tìm thấy mình ở đâu đó trong câu chuyện của tác giả. Trong khi các tác phẩm


12
có yếu tố tự truyện trước đó, những trải nghiệm của bản thân nhà văn được tái
hiện qua từng mốc sự kiện trong đời gắn với những chuyển biến của thời đại
họ đang sống, phản ánh những gì đã và đang diễn ra. Tự truyện của Tơ Hồi
được chia ra nhiều phần, mỗi phần là một mảng đời của nhà văn. Đan xen vào
những câu chuyện về bản thân, nhà văn Tơ Hồi cịn hướng ngịi bút về cuộc
đời chung với những nỗi niềm thế sự phản ánh một số nét cơ bản của xã hội
Việt Nam lúc bấy giờ. Hay như nhân vật Giang Minh Sài được xem như là
hiện thân của nhà văn Lê Lựu trong tác phẩm Thời Xa Vắng, mặc dù đây là
cuốn tiểu thuyết nhưng nhân vật chính được độc giả nhìn nhận khơng ai khác
chính là tác giả. Những chuyển biến trong cuộc đời Giang Minh Sài gần như
giống với cuộc đời nhà văn Lê Lựu, tác phẩm cũng đã phản ánh sâu sắc một
thời đại con người ta “khơng dám sống cho mình”, sợ dư luận để rồi dẫn đến
những kết cục rất đáng tiếc.
Cuốn tự truyện Không gục ngã của dịch giả, nhà văn Nguyễn Bích Lan,
được xuất bản năm 2013. Cũng giống như những cuốn nhật ký về hành trình
như bao cuộc đời khác. Đó là những chặng đường dài mà mỗi con người đều
đã đi qua từ tuổi thơ cho đến lúc trưởng thành. Song cái thể loại được lựa
chọn lại là tự truyện, bởi chiều dài của ký ức được viết lại sau khi chủ thể đã
đi qua những chặng đường gấp khúc của cuộc đời trong tâm thế của một con

người “giàu có” về nghị lực sống. Cuốn tự truyện Khơng gục ngã của Bích
Lan đã nhanh chóng thu hút độc giả cả nước. Bằng những tâm sự chân thật,
cuộc đời và sự nỗ lực của cô gái trẻ, cuốn tự truyện này đã gây xúc động
mạnh mẽ. Cuốn tự truyện bao gồm 2 phần: Chuyện đời tôi và Những chiêm
nghiệm trong cuộc sống.
Trong phần thứ nhất: Chuyện đời tơi, kể về hành trình của tác giả trước,
trong và sau khi mắc phải căn bệnh quái ác. Tuổi thơ n bình của cơ gái
mang tên Nguyễn Bích Lan được kéo dài cho đến khi cô 14 tuổi. Giữa lúc


13
những mơ ước hồn nhiên của trẻ con chưa được thỏa thích, những dự định về
tương lai chưa kịp hình thành thì Bích Lan đã gặp phải tai ương lớn trong đời.
Từ việc nhận ra những thay đổi của cơ thể đang dần “phát triển ngược” như
vật cản vơ hình cho sự vận động của cơ thể. Bích Lan như gặp phải cú sốc về
tinh thần khi biết mình đang mang trong người căn bệnh mà y học đã phải bó
tay, khơng chữa được. Sự vận động của cơ thể trở nên vơ cùng khó khăn,
trong khi gia đình đã “Vái tứ phương” nhưng bệnh tình của Bích Lan vẫn
khơng thun giảm. Bích Lan lúc ấy đã khơng chấp nhận việc bản thân trở
thành gánh nặng cho gia đình. Với lịng kiên trì, nghị lực sống như muốn trỗi
dậy, đánh thức lại trong cô ước muốn được học. Mặc dù, việc học lúc ấy với
cô chỉ đơn giản để giết chết thời gian không hơn không kém. Bởi ngày đã trở
nên dài q với cơ, dẫu sao, có việc gì đó để làm thì thời gian khơng cịn là
nỗi lo nữa. Tự học tiếng Anh đã trở thành đam mê thực sự, cơ giam mình
trong thời khóa biểu kín mít do mình tự đưa ra. Từ những đấu tranh của bản
thân với nỗi đau đớn của cơ thể, cái lạnh cắt da của miền bắc, cộng thêm
những sở thích cá nhân xâm chiếm, … nhưng Bích Lan đã vượt qua tất cả
những trở ngại đó bằng nghị lực phi thường. Và số phận đã thực sự mỉm cười
với cô! Lớp học Cây táo ra đời, cô vui mừng nhận ra mình cịn có ích, được
gieo ước mơ đến với những học trị u thích ngoại ngữ. Chưa dừng lại ở đó,

số phận lại một lần nữa thử thách Bích Lan, khi bệnh tình ngày càng trầm
trọng, lớp học đã phải dang dở. Thêm một lần nữa, cô đã vượt qua được. Cơ
duyên đã bén rễ cho cô bước vào nghề dịch thuật và hôm nay, độc giả đã biết
đến tên tuổi dịch giả - nhà văn Nguyễn Bích Lan.
Phần thứ hai, tác phẩm nói về Những chiêm nghiệm trong cuộc sống
của Nguyễn Bích Lan. Sau khi đi qua những chặng đường đời với biết bao vật
cản, đối mặt với lằn ranh giữa sống và chết, Nguyễn Bích Lan đã vượt qua tất
cả để sống có ích và thành đạt. Cơ không ngần ngại để lại những chiêm


14
nghiệm quý giá mình học được khi đấu tranh với sự sống. Đó khơng chỉ là sự
chia sẻ, cịn là những bài học, những “cơng thức” có sẵn trong hàng ngàn
“công thức” mà đôi khi con người cần phải dùng đến khi đối mặt với những
“bài toán rủi ro” của cuộc đời.
Có thể nói, ngày nay tự truyện đang là mảnh đất màu mỡ cho những ai
muốn bộc bạch đời tư của mình. Nó khơng đơn thuần chỉ là những dịng nhật
kí ghi lại những năm tháng thăng trầm của tác giả. Mà ở trong đó, độc giả tìm
được sự đồng cảm, cảm xúc của mình từ những câu chuyện của tác giả. Hơn
hết, họ tìm được những giá trị, những ý chí và nghị lực để vượt qua những
khó khăn trong cuộc sống.


15

Chương 2
Tự truyện Khơng gục ngã – Bản tình ca về những chân giá trị
của cuộc sống
2.1. Không gục ngã – Một nghị lực phi thường và sự cống hiến
2.1.1. “Chuyện đời tơi” – Hành trình đi “Tìm ánh sáng trong đường hầm

tối”
Mỗi cuộc đời là một câu chuyện kể mà năm tháng dần tích cóp được. Ai
cũng biết một điều rằng, dịng đời khơng khác gì những con sóng, không phải
lúc nào cũng “lặng lẽ” và “dịu êm” trôi đi. Nói như tác giả Trần Văn Khê:
“Đời người như một bản đàn, có lúc dịu êm, thong thả, có lúc cao trào, nức
nở, trở trăn, rồi lại dặt dìu, yên ả. Cuộc đời là một bản đàn muôn điệu” [10,
tr.10]. Mỗi sinh linh bé nhỏ đã chấp nhận bước vào thế giới mới bằng cách
giãy đạp, vùng vẫy để được ra khỏi bụng mẹ tất sẽ phải tự học cách sống cho
riêng mình. Tuy nhiên, khơng phải ai cũng biết cách đứng lên sau những lần
vấp ngã mà dòng đời xơ đẩy. Khi ai đó đang sống n bình, bỗng phát hiện ra
mình mắc phải chứng ung thư mãn tính chẳng hạn. Thơng tin ấy, có khác gì
“sét đánh ngang tai” đâu! Được mấy ai bình tĩnh để suy nghĩ rằng mình phải
làm gì để đấu tranh, sống chung với bệnh tật? Hằng ngày, có biết bao nhiêu
người đã mất đi vì những căn bệnh quái ác, cũng như đâu đó ở những vùng
đất xa xơi, có rất nhiều người đang phải “trường kỳ” để vượt qua những đau
đớn về thể xác lẫn tinh thần do bệnh tật mang lại.
Khi bạn đối diện với bóng tối, điều bạn cần là gì nếu khơng phải là ánh
sáng. Và nếu như điều ước mong đó khơng đến với bạn thì bạn sẽ làm gì
ngồi việc học cách sống chung với bóng tối. Cuộc đời của Nguyễn Bích Lan
cũng vậy, khi đang ở giữa độ tuổi 14, trong khi mọi dự định về tương lai cịn
chưa kịp bắt đầu thì tai họa đã thực sự ập đến với cô. Trong khi y học còn


16
chưa biết phải làm thế nào với căn bệnh loạn dưỡng cơ tiến triển thì một cơ
gái bé nhỏ như Bích Lan biết phải làm gì?
Có thể, đối với một số người, khi biết được mình đang mắc phải căn
bệnh tương tự thì mọi ước mơ, dự định sẽ bị dập tắt, người ta khơng cịn sự
lựa chọn nào khác là buông xuôi tất cả, và nằm than trách số phận sao bạc đãi
họ. Tuy nhiên với Nguyễn Bích Lan thì khác, với cơ “đêm tối đến” tất sẽ “để

lại trong ta những vì sao”. Khi cơ hội được đi đứng, chạy nhảy bình thường
như bao người bị mất đi thì chính Bích Lan đã tự tạo ra cho mình cơ hội rèn
luyện ý chí. Căn bệnh bất ngờ ấy đến với cô khi trọng lượng cơ thể dần mất
đi, khả năng vận động trở nên khó khăn, mỗi ngày trên những đoạn đường
đến trường, cô liên tiếp bị ngã nhào xuống đường. Nếu như khơng có sự kiên
quyết, đấu tranh mạnh mẽ với bản năng sinh tồn, chắc có lẽ cô gái ấy đã
không vượt qua được khi đứng giữa ranh giới của hai lựa chọn: tuyệt vọng
hoặc vẫy vùng để bước tiếp. Lựa chọn sự tuyệt vọng, tức là Bích Lan tự mình
tước đoạt quyền được sống, sống có ích của bản thân tuy nhiên, cơ vẫn đủ
tỉnh táo để nhìn nhận và lựa chọn con đường sống khác tích cực hơn, đáng
sống hơn với hành trình “đi tìm ánh sáng trong đường hầm tối”. Những cú
ngã ban đầu dẫu có tác động lớn đến suy nghĩ tiêu cực của Bích Lan, song cơ
vẫn dùng tất cả những sức lực ở hai chân, hai tay và toàn bộ sự quyết tâm ở
cái đầu: “Từ tư thế nằm sóng sồi, tơi cố ngồi dậy. Rồi từ tư thế ngồi bệt, phải
cố gắng ngồi xổm. Từ tư thế ngồi xổm, phải chống tay vào đầu gối, cố gắng
nâng mình dậy trong tư thế cuối lom khom để rồi từ đó cố vươn người đứng
thẳng lên” [13, tr.54]. Tinh thần Bích Lan lúc ấy đã được phân ra làm hai nửa,
một nửa muốn từ bỏ, khơng muốn chịu đựng cịn một nửa, chấp nhận đối mặt
với bệnh tật. Cả hai “chiến tuyến” cùng tồn tại trong một cơ thể ấy đã đấu
tranh quyết liệt với nhau và một nửa đi sau đã giành chiến thắng. Đôi khi,
trong cuộc sống với những nhu cầu thiết yếu, con người ta cứ ước mong


17
những điều cao xa, viên mãn, trong khi đó, những con người nhỏ bé vơ tình bị
số phận cướp đi những quyền năng vốn có như Nguyễn Bích Lan, chỉ ước
mong được sống bình thường như bao con người khác. Bởi cuộc đời này, chỉ
có một lần để sống, phải làm sao để năm tháng trơi qua khơng hồi khơng phí.
Tình u cuộc sống đã kéo Bích Lan lại, cơ đã sống, đã vượt qua nghịch cảnh
như một nỗ lực sinh tồn của con người khi gặp phải khốn khó, có lẽ khát vọng

lớn nhất của con người khát vọng sống. Cô gái bé nhỏ ngày ấy đã làm được
những điều phi thường, để đến hôm nay, cuốn tự truyện này được truyền đến
tay độc giả khắp cả nước. Mọi người đã biết đến một cô gái bệnh tật, tự học
ngoại ngữ, hồn thành xong cả chương trình tiếng Anh đại học, dạy tiếng Anh
miễn phí cho hàng trăm em nhỏ. Ngồi ra, cơ cịn tự liên hệ với các tác giả
trên thế giới và các nhà xuất bản để dịch và in hơn 20 cuốn sách từ tiếng Anh
ra tiếng Việt. Đó là những thành quả xứng đáng mà Nguyễn Bích Lan đã đạt
được trong hơn hai mươi năm sống chung với bệnh tật.
Cuộc sống hiện hữu bên cạnh những cảm nhận của con người bằng
những điều lạ lùng, ngày hôm qua luôn là những điều được ghi nhận từ ngày
hôm nay, ngày mai sẽ lại là kết quả từ những điều mà hơm nay đã có, đã là
hiện thực... Những chuỗi mắt xích thời gian ln liên kết nối với nhau tạo
thành những đường tròn chạy vòng quanh dài đến bất tận, và không phải ai
cũng đều dễ dàng nhận ra cái cột mốc quan trọng nhất của một đời người vẫn
luôn là ngày hôm nay, với tất cả những điều đang đến và sẽ đến... Với
Nguyễn Bích Lan, phía trước ln có những khát vọng chân chính, đã không
ngừng thôi thúc, động viên, tiếp sức để cô có thêm sức mạnh bước tiếp về
cánh cửa tương lai vẫn dang tay đón đợi.


18
2.1.2. Khát khao sống – Mong muốn tri ân với cuộc đời
Ai cũng biết đến loại dây leo với cái tên thường xuân rất phổ biến.
Nhưng mấy ai hiểu được ý nghĩa sâu xa của lồi dây leo ấy. Nhìn bên ngoài,
thường xuân mỏng manh, yếu ớt là thế nhưng sức sống bên trong lại dai dẳng
vô cùng. Cũng như hình ảnh nhỏ bé của cơ gái mang tên Nguyễn Bích Lan
trong cuốn tự truyện Khơng gục ngã lại đối lập với nghị lực, khát khao sống
như ngọn lửa đang cháy ngầm trong người cơ. Điều đáng nói ở đây là, cô gái
ấy đang sống chung với căn bệnh quái ác. Mỗi ngày với ai đó có thể “trọn
niềm vui” thì Nguyễn Bích Lan bắt đầu ngày mới bằng việc trở mình, đặt đơi

chân xuống khỏi giường, các ngón chân bám víu vào nền đất và tìm cách ngồi
dậy. Đương nhiên, công việc được cho là rất đơn giản với tất cả mọi người ấy
lại lấy đi tất cả sức lực mà Bích Lan có được. Thay vì chấp nhận nằm một chổ
Bích Lan đã khơng ngừng cố gắng, khơng ngừng đấu tranh để được sống,
sống có ích. Điều nhân văn hơn hết là cô gái bệnh tật đã đem chút sức lực cịn
lại để tri ân cuộc đời khơng một chút ốn trách. Được sống, được làm việc dù
hồn cảnh có khắc nghiệt nhưng với Nguyễn Bích Lan, việc tri ân cuộc đời
được coi là một nhu cầu sống. Bởi có niềm hạnh phúc nào hơn khi Bích Lan
dùng chính đơi tay của mình ươm mầm vào cuộc đời những hạt giống chắc
khỏe cho mai sau. Hơn hai mươi năm chờ đợi, nhưng khơng có một sự kì diệu
nào của y học giúp cho Bích Lan vượt qua được bệnh tật để sống như một
cuộc sống bình thường. Sự sa sút và đau đớn thân thể lúc nào cũng dồn đuổi
cơ. Nhưng nghị lực, trí thơng minh và nhất là tình yêu cuộc sống cùng sự say
mê học hỏi, sáng tác và làm việc chính là phép màu đã vực Bích Lan dậy và
chắp cho cơ đơi cánh để cơ làm được những điều kì diệu mà rất nhiều người
khỏe mạnh bình thường khơng làm được. “Hai tay nâng một viên phấn”,
Nguyễn Bích Lan đã gieo tri thức cho tất cả mọi người. Đó là những học trị
của lớp học Cây táo, đó là những độc giả ở trên khắp đất nước đón đọc những


19
cuốn sách do chính cơ dịch. Bích Lan cịn là tác giả của nhiều truyện ngắn,
thơ được đăng ở báo Tuổi trẻ, đến năm 2011, tác phẩm đầu tay của cô được
xuất bản, cuốn Sống trong chờ đợi, gồm 13 truyện ngắn và những bài thơ,
“đằng sau trang viết là một nhà văn trẻ bệnh tật bẩm sinh. Cô đã tìm thấy ở
chữ sự cứu chuộc văn chương. Tìm được phước hạnh cho mình, cùng lúc cơ
đã truyền lan, thơm thảo san sẻ cho mọi người” [12, tr.205]. Điều đáng nói
hơn hết là Nguyễn Bích Lan đã chia sẻ những kinh nghiệm quý báu, và là
người tiếp thêm nghị lực sống, nghị lực phấn đấu cho tất cả những ai đã và
đang đọc cuốn tự truyện này. Từ “Khát khao sống – Mong muốn tri ân với

cuộc đời” ở cô gái này sẽ là một tấm gương sáng để tất cả mọi người soi và
cùng nhìn nhận lại ý thức, trách nhiệm của mình đối với bản thân: Mình đã
làm được gì? Mình sẽ làm những gì cho gia đình và xã hội? Như trong bài thơ
Một khúc ca xuân, nhà thơ Tố Hữu đã từng viết:
“Nếu là con chim, chiếc lá
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà khơng có trả
Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”
Thế hệ trẻ hơm nay, đa phần đang coi nhẹ đạo đức, trách nhiệm của bản
thân mình. Hằng ngày, hàng tuần, hàng tháng, hàng năm có biết bao nhiêu
thiệt hại nặng nề chỉ vì một phút nơng nỗi của thanh thiếu niên đã dẫn đến
những hậu quả đáng tiếc. Trong khi, một cô gái nhỏ bé ở một vùng quê của
Thái Bình vừa phải vùng vẫy, đấu tranh, khát khao để được sống, sống có ích.
Bên cạnh việc để bản thân khơng là gánh nặng cho gia đình, cô vừa mở lớp
dạy học mang lại sự thành đạt cho rất nhiều ước mơ. Nếu như ngày đó, Bích
Lan khơng khao khát cuộc sống thì làm sao có đủ nghị lực để bắt đầu một lối
đi khác cho cuộc đời. Chính vì gặp phải ngõ cụt trên đường đời, Bích Lan đã
tự tạo cho mình con đường khác thay vì yên phận ngồi chờ với hi vọng: “Biết


×