Tải bản đầy đủ (.pdf) (16 trang)

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN TRUYỀN KỲ VIỆT NAM QUA NHÓM TRUYỆN TRUYỀN KỲ MẠN LỤC, TRUYỆN KỲ TÂN PHẢ VÀ TÂN TRUYỀN KỲ MẠN LỤC 10600954

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (545.38 KB, 16 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẲNG

HỒ ĐỨC KỲ

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN TRUYỀN KỲ VIỆT NAM QUA
NHÓM TRUYỆN TRUYỀN KỲ MẠN LỤC, TRUYỆN
KỲ TÂN PHẢ VÀ TÂN TRUYỀN KỲ MẠN LỤC

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số:

60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN PHONG NAM

Đà Nẵng, Năm 2012


MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Trong kho tàng văn học viết trung đại Việt Nam, có thể có nhiều tác
phẩm thuộc loại hình truyền kỳ, tuy nhiên gắn với tên gọi “truyền kỳ” thì hiện
nay chỉ có ba tác phẩm trên (Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả, Tân
truyền kỳ lục). Rõ ràng, có thể coi đây như một “mã khóa” để tìm hiểu, khám
phá nội dung, tư tưởng, cũng như nghệ thuật của văn bản và nhà văn.
Đặt lại “vấn đề” về đặc điểm truyện truyền kỳ Việt Nam dựa trên nhóm


tác phẩm sẽ là một cánh cửa mở để chúng ta khám phá được nhiều điều hơn
về bản chất, vẻ đẹp, sức sống của loại hình truyện truyền kỳ dân tộc cũng như
tâm hồn, truyền thống con người Việt Nam.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Tình hình nghiên cứu về truyện truyền kỳ việt Nam
Tập trung vào các hướng nghiên cứu chính như:
- Vấn đề về nguồn gốc, đặc điểm thể loại; xác định loại hình của truyện
truyền kỳ; so sánh mối quan hệ, tác động giữa truyện truyện truyền kỳ Việt
Nam với truyện truyền kỳ trong khu vực; hướng nghiên cứu mở rộng phạm vi
ra ngoài thể loại truyền kỳ như: tìm hiểu các dạng truyện kỳ ảo trong văn học
cổ trung đại và cận đại Đông Tây, tiếp cận truyện truyền kỳ Việt Nam ở góc
độ văn hóa, tâm linh v.v…
- Nghiên cứu truyện truyền kỳ Việt Nam để tìm hiểu dấu ấn, ảnh hưởng
của truyện truyền kỳ thời trung đại đến nền văn học hiện đại Việt Nam.
2.2. Tình hình nghiên cứu về nhóm các tác phẩm, tác giả trong phạm vi
nghiên cứu của đề tài


Đối với Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Truyền kỳ tân phả của Đoàn
Thị Điểm và Tân truyền kỳ lục của Phạm Quý Thích, việc nghiên cứu, khảo
sát được các nhà nghiên cứu quan tâm trên bình diện, khía cạnh, góc độ khác
nhau. Điểm nổi bật nhất trong hướng nghiên cứu này là so sánh tác phẩm
truyền kỳ Việt Nam với văn học truyền kỳ trong khu vực, tiếp đến là các cơng
trình ở góc độ chi tiết hơn, đánh giá sâu vào từng tác phẩm, tác giả riêng lẻ,
tìm ra căn cứ để phân loại đối tượng, phong cách các tác giả và giá trị tư
tưởng, nghệ thuật tác phẩm trong tính hệ thống truyện truyền kỳ trung đại
Việt Nam.
Trong đề tài của mình, chúng tơi muốn có một cái nhìn cụ thể hơn về loại
hình truyện truyền kỳ , đồng thời giới thiệu tới mọi người những giá trị, sức
hấp dẫn của nhóm các tác phẩm, làm rõ hơn vai trị, vị trí của đối tượng trong

tiến trình văn học sử dân tộc và khu vực nói chung.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những đặc điểm của truyện truyền kỳ
Việt Nam qua nhóm truyện Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả và Tân
truyền kỳ lục, về các phương diện như: tiêu chí loại hình, nguồn gốc thể loại,
phong cách tác giả, các giá trị nội dung và tư tưởng nghệ thuật…
Phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi giới hạn trong ba tác phẩm:
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm và
Tân truyền kỳ lục của Phạm Quý Thích, thuộc nền văn học trung đại Việt
Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau:
- Phương pháp “chọn mẫu”: dùng để xác định phạm vi tư liệu nghiên
cứu của đề tài.


- Phương pháp so sánh và phân tích loại hình: dùng để tìm hiểu, đánh
giá về đối tượng nghiên cứu trong đề tài, trên cơ sở đó để rút ra các đánh giá,
nhận định, kết luận của mình.
5. Đóng góp của đề tài
- Nêu lên các đặc điểm truyện truyền kỳ Việt Nam từ đối tượng và phạm
vi nghiên cứu của đề tài;
- Đánh giá toàn diện, sâu hơn về các tác giả, tác phẩm nghiên cứu;
- Nhận thức đầy đủ hơn về một hiện tượng văn học qua nhóm tác phẩm
nghiên cứu, để thấy được quy luật vận động cũng như phát triển của thể loại.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung gồm
ba chương chính sau:
Chương 1. Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả và Tân truyền kỳ lục
trong tiến trình vận động của loại hình truyện truyền kỳ Việt Nam thời trung

đại
Chương 2. Thế giới truyện truyền kỳ và diện mạo lịch sử - xã hội Việt
Nam thời trung đại qua Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả và Tân truyền
kỳ lục
Chương 3. Các đặc điểm nghệ thuật nổi bật trong Truyền kỳ mạn lục,
Truyền kỳ tân phả và Tân truyền kỳ lục


Chương 1
TRUYỀN KỲ MẠN LỤC, TRUYỀN KỲ TÂN PHẢ
VÀ TÂN TRUYỀN KỲ LỤC TRONG TIẾN TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA
LOẠI HÌNH TRUYỆN TRUYỀN KỲ VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI

1.1. Truyện truyền kỳ và loại hình truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam
1.1.1. Khái niệm truyện truyền kỳ
Từ những điều khái quát nêu từ các tài liệu, quan điểm nghiên cứu,
chúng tôi đưa ra một cách hiểu chung cho khái niệm “truyện truyền kỳ” như
sau. Truyện truyền kỳ là loại hình văn học có tính chất kỳ ảo, hoang đường,
khơng có thực trong đời sống. Bắt nguồn từ văn học cổ Trung Quốc, truyện
truyền kỳ gồm những tác phẩm tự sự có dung lượng ngắn, thịnh hành vào thời
trung đại và ảnh hưởng lớn đến các nước sử dụng chữ Hán, trong đó có Việt
Nam.
1.1.2. Loại hình truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam
Thuật ngữ “Loại hình truyền kỳ trung đại Việt Nam” được cấu thành bởi
các thành tố sau:
LOẠI HÌNH + TRUYỆN TRUYỀN KỲ + TRUNG ĐẠI + VIỆT NAM
Được định hình bởi các nét nghĩa:
- Là một hình thái nghệ thuật (một đơn vị trong loại hình văn học nghệ
thuật);
- Chỉ nói đến các tác phẩm văn học thuộc loại hình truyện truyền kỳ;

- Các phẩm văn học thuộc loại hình truyền kỳ này tồn tại trong giai đoạn
trung đại (thời kỳ phong kiến ở nước ta);


- Thuộc phạm vi quốc gia dân tộc Việt Nam, liên quan đến sự ra đời tác
phẩm và là quê hương các tác giả.
1.2. Quá trình hình thành, phát triển loại hình truyện truyền kỳ trung
đại Việt Nam
1.2.1. Truyện truyền kỳ với nền văn học dân gian và văn học viết trung đại
Căn cứ trên những đánh giá, nhận định của các tác giả nghiên cứu và các
tài liệu, văn bản hiện cịn, chúng ta có thể phác thảo ra một tiến trình phát
triển chung của loại hình truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam qua các giai
đoạn như sau:
- Từ thế kỉ XIV trở về trước, chịu tác động thụ động từ văn học dân gian,
với các thể loại “tiền thân” cho truyền kỳ như: Lĩnh Nam chích quái lục (dân
gian; Sau được Vũ Quỳnh, Kiều Phú sưu tầm, chỉnh lí thành “Lĩnh Nam chích
quái liệt truyện”, 2 quyển - cuối thế kỉ XV), Việt điện u linh tập (Lí Tế
Xuyên), Thiền uyển tập anh ngữ lục (chưa rõ), Lĩnh Nam chích quái (Trần
Thế Pháp)…
- Từ thế kỉ XV đến XVI thời kì đỉnh cao với sự xuất hiện hai tác phẩm
tiêu biểu cho loại hình văn học truyền kỳ là Thánh Tông di thảo (Lê Thánh
Tông) và Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ). Văn học truyền kỳ lúc này chịu sự
chi phối và ảnh hưởng sâu sắc từ văn học truyền kỳ Trung Quốc và khu vực.
- Từ thế kỉ XVIII đến đầu XIX, với xu hướng cách tân thể loại truyền kỳ
rồi dần đi vào con đường suy thoái. Các tác phẩm tiêu biểu như: Truyền kỳ
tân phả (Đoàn Thị Điểm), Tân truyền kỳ lục (Phạm Quý Thích), Lan Trì kiến
văn lục (Vũ Trinh)…


1.2.2. Mối quan hệ giữa truyện truyền kỳ trung đại với yếu tố lịch sử

Đặc điểm nổi bật nhất trong mối quan hệ với văn xi lịch sử là tính chất
“vận dụng” theo hướng “cố sự tân biên” chứ không lệ thuộc hoàn toàn vào
các số liệu sử học ở các truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam.
1.3. Khái quát về tác giả, văn bản nhóm truyện truyền kỳ
1.3.1. Nguyễn Dữ và tác phẩm Truyền kỳ mạn lục
.3.2. Đoàn Thị Điểm và tác phẩm Truyền kỳ tân phả
1.3.3. Phạm Quý Thích và tác phẩm Tân truyền kỳ lục
Tiểu kết:
Truyện truyền kỳ là loại hình văn học có nguồn gốc từ văn học Trung
Quốc, có ảnh hưởng lớn đến các nền văn học các nước có sử dụng chữ Hán
trong đó có Việt Nam.
Truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam có một lịch sử phát triển của mình.
Xuất phát và vận dụng những tiền đề từ văn học dân gian, văn học viết có tính
chất “kì ảo” trong nền văn học viết dân tộc, truyện truyền kỳ có những thành
tựu nổi bật đóng góp tích cự vào sự phát triển của văn học trung đại Việt
Nam.
Nhóm truyện truyền kỳ với bộ tác phẩm Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ
tân phả và Tân truyền kỳ lục, nằm trong hệ thống các tác phẩm truyền kỳ
thuộc nền văn học trung đại Việt Nam, thể hiện được những đặc điểm, đặc
trưng của loại hình truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam.


Chương 2
THẾ GIỚI TRUYỀN KỲ VÀ DIỆN MẠO LỊCH SỬ - XÃ HỘI VIỆT NAM
QUA TRUYỀN KỲ MẠN LỤC, TRUYỀN KỲ TÂN PHẢ
VÀ TÂN TRUYỀN KỲ LỤC

2.1. Hiện thực xã hội và tư tưởng thời đại qua Truyền kỳ mạn lục, Truyền
kỳ tân phả và Tân truyền kỳ lục
2.1.1. Dấu ấn lịch sử, xã hội

Tình hình lịch sử, tư tưởng, xã hội giai đoạn thế kỉ XVI đến cuối thể kỉ
XVIII đầu XIX, có những xáo trộn lớn.
Trong văn học, ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo thể hiện ở việc đề cao
tinh thần bác ai yêu thương con người, còn Lão giáo hướng con người đến với
thiên nhiên, nhu cầu tự do giải phóng cá nhân. Hai luồng tư tưởng Phật và
Lão cộng với sự suy thoái trong tư tưởng Nho giáo đã làm thay đổi cơ bản
cách nghĩ, cách hành động của tầng lớp quan lại nói chung mà trong đó có các
tác giả Nguyễn Dữ, Đồn Thị Điểm và Phạm Quý Thích.
2.1.2. Hiện thực đời sống và tư tưởng thời đại qua nhóm truyện
Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả và Tân truyền kỳ lục phản ánh và
phê phán “bức tranh” tiêu cực của chế độ phong kiến, nói lên cảnh chiến tranh
chia cắt, tình trạng mua quan bán tước, ăn của đút lót chạy chọt để thốt tội,
vì tiền mà kẻ có tội có thể che được “mắt thánh”, vì tiền mà có thể bịt được
tội lỗi, “chiễm chệ” ngồi hưởng bổng lộc ở đời v.v…
Có một thực tế, là hình tượng người nơng dân khơng được các tác giả
xem như đối tượng chính, đi sâu vào khai thác trong nhóm ba tác phẩm.


Dường như cả Nguyễn Dữ, Đoàn Thị Điểm và Quý Thích chỉ hướng đến tầng
lớp “thị dân” hơn là những số phận “manh lệ” nhỏ bé trong xã hội.
Ở một góc độ khác, hiện thực xã hội, tư tưởng thời đại còn thể hiện qua
mơ ước hướng đến một xã hội lý tưởng hơn trong quan điểm của các tác giả.
Có thể khẳng định, cả Nguyễn Dữ, Đồn Thị Điểm và Phạm Q Thích đều
ấp ủ, hướng đến một mơ hình nhà nước lý tưởng cho riêng mình. Nhưng hiện
thực khắc nghiệt của xã hội đã làm “vỡ mộng” các nhà văn, và các tác phẩm
thường rơi vào bế tắc khi muốn biến ước mơ thành hiện thực.
2.2. Số phận con người và tư tưởng nhân văn qua Truyền kỳ mạn lục,
Truyền kỳ tân phả và Tân truyền kỳ lục
2.2.1. Hình tượng người phụ nữ và bi kịch nữ quyền
Số truyện xuất hiện nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục chiếm tỉ lệ

11/20 truyện, còn Truyền kỳ tân phả cả 4 truyện khảo sát đều xuất hiện nhân
vật nữ, giữ vai trị quan trọng là nhân vật chính trong truyện.
Hệ thống nhân vật nữ cho thấy đề tài, chủ đề sáng tác văn học trung đại
giai đoạn này có sự phong phú đa dạng, hướng đến số phận con người nhiều
hơn, họ đại diện cho số phận, khát vọng chung của người phụ nữ trong xã hội.
Tuy nhiên, lại có một điều trái ngược: phần lớn số phận, cuộc đời nhân
vật nữ đều rơi vào bi kịch, không được hưởng hạnh phúc như điều mà họ lẽ ra
phải có. Biểu hiện tập trung nhất cho bi kịch của người phụ nữ là cái chết.
Dường như Nguyễn Dữ và Đoàn Thị Điểm, đều lấy cái chết ra để phản ánh,
lên án xã hội, nhưng đấy còn là một cách để “giải thoát” cho số kiếp nhân vật.
2.2.2. Khát vọng hạnh phúc lứa đơi trong vịng lễ giáo phong kiến
Đặc điểm nổi bật trong tình u, đơi lứa ở các tác phẩm truyền kỳ là tư
tưởng tự do, khao khát được sống trong tình yêu của con người.


Sự đề cao yếu tố trần tục trong Truyền kỳ mạn lục phản ánh một chiều
hướng phát triển của tư tưởng con người cá nhân trong văn học giai đoạn thế
kỉ XV – XVII, đó là một bước thay đổi lớn trong tư tưởng tầng lớp nhà Nho
và văn học nghệ thuật. Nó cho thấy hệ tư tưởng Nho giáo bắt đầu bộc lộ
những hạn chế, lạc hậu của mình, một sự bế tắc trước những vấn đề phức tạp
của thời đại đang đặt ra buộc con người phải đối mặt và giải quyết.
Xu hướng này cũng được kế thừa ở Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị
Điểm, nhưng mức độ khai thác và văn phong có sự khác nhau so với Truyền
kỳ mạn lục. Nếu nhân vật của Nguyễn Dữ có thể chìm đắm với sắc dục, lả lơi
trong biển tình thì nhân vật của Đồn Thị Điểm hướng đến sự thuần khiết,
thanh cao và thánh thiện.
Tiểu kết:
Truyện truyền kỳ thể hiện, phản ánh những giá trị hiện thực, thời đại sâu
rộng trong nội dung, chủ đề tư tưởng. Nhóm bộ ba tác phẩm Truyền kỳ mạn
lục, Truyền kỳ tân phả và Tân truyền kỳ lục chính là bức tranh toàn cảnh về

lịch sử, tư tưởng, xã hội Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX.
Hình tượng người phụ nữ, với khát vọng về hạnh phúc gia đình, tình u
đơi lứa, và bi kịch của số phận cho thấy cảm hứng nhân văn trong nhóm
truyện truyền kỳ và đó cũng là đặc trưng tiêu biểu của văn học trung đại Việt
Nam giai đoạn này.


Chương 3
CÁC ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT NỔI BẬT TRONG
TRUYỀN KỲ MẠN LỤC, TRUYỀN KỲ TÂN PHẢ VÀ TÂN TRUYỀN KỲ LỤC

3.1. Tổ chức, xây dựng văn bản truyện
3.1.1. Tổ chức văn bản
Các văn bản văn học là chữ viết, nhóm ba tác phẩm được xây dựng dựa
trên chất liệu chữ Hán.
Về bố cục văn bản truyện, nhóm truyện truyền kỳ được xây dựng theo
kiểu “tập truyện”. Đây là một kiểu bố cục văn bản truyện thường thấy trong
văn học trung đại Việt Nam.
Về dung lượng truyện, đa số các truyện có dung lượng ngắn gọn, các
biến cố, sự kiện, chi tiết có tính chất chọn lọc, cơ đúc. Ở đây, các truyện chú
trọng tới sự việc hơn là diễn biến tâm trạng, nội tâm, đời tư của nhân vật. Mỗi
truyện thường xoay quanh một vài sự kiện chính, từ đó mở rộng ra để triển
khai chủ đề tư tưởng.
3.1.2. Tổ chức lời văn
Sự “tích hợp” giữa văn xi với thơ ở mật độ cao và ngôn ngữ trần thuật
sáng tạo, kết hợp giữa chất nghệ thuật và miêu tả biểu cảm đã tạo ra một
“giọng điệu” riêng cho ngôn ngữ truyền kỳ ở các tác phẩm.
Ngôn ngữ tác giả cũng để lại dấu ấn với hai dạng chính được thể hiện
trong các văn bản truyện là: lời bình luận ngồi văn bản truyện và lời bình
trực tiếp trong văn bản truyện.



3.1.3. Tổ chức cốt truyện
Hệ thống tổ chức, xây dựng cốt truyện của nhóm tác phẩm truyền kỳ cịn
tương đối đơn giản, sơ lược. Có thể nêu ra một “mơ hình” chung.
Tuy nhiên trong nhóm truyện (từ hai tác phẩm Truyền kỳ mạn lục và
Truyền kỳ tân phả) cũng đã có những cốt truyện có tính chất nghệ thuật, có
thể xem đó là những “phơi thai” ban đầu để sản sinh ra loại hình truyện ngắn
nghệ thuật đích thực cho văn học dân tộc sau này.
3.2. Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật
3.2.1. Nghệ thuật miêu tả
Ở nhóm truyện truyền kỳ, hình tượng nhân vật thường được các tác giả
tập trung miêu tả một cách đầy đủ, chi tiết về lai lịch, tên gọi, xuất thân, độ
tuổi, quê quán, chỗ ở… làm cho hệ thống nhân vật trong nhóm truyện truyền
kỳ trở nên cụ thể, rõ ràng, mang tính sáng tạo hơn những nhân vật trong
truyện cổ tích hoặc các truyện u linh, chí qi trước đó trong văn học trung
đại Việt Nam.
3.2.2. Thủ pháp nhân hóa
Thủ pháp nhân hóa tạo cho hệ thống nhân vật trong truyện truyền kỳ có
sự đa dạng và mang đặc trưng riêng của loại hình, đó là sự kỳ lạ, khác thường
so với nhân vật ở loại hình văn học khác.
3.2.3. Ngơn ngữ đối thoại
Ngôn ngữ đối thoại của nhân vật được sử dụng là nói tự nhiên hằng
ngày nhằm bộc lộ cảm xúc, tư tưởng, tình cảm, tuy nhiên có những trường
hợp tác giả dùng hình thức khác để nói lên quan điểm, hành động, suy nghĩ
của nhân vật như: dùng lời thơ hoặc hình thức độc thoại với bản thân, một
dạng thức của “đối thoại” nghệ thuật.


3.3. Hệ thống “mơtip” truyền kỳ

Chúng tơi tập trung nói về ba loại mơtíp sau:
3.3.1. Mơtip chủ đề
Gồm: mơtip “kỳ ngộ”, mơtip “tình dun đơi lứa”, mơtip “tín ngưỡng,
tơn giáo”, môtip “nhà Nho lánh đời, ẩn dật”.
3.3.2. Môtip nhân vật
Gồm: môtip “Nho sinh”, môtip “người phụ nữ”, môtip “nhân vật chính
nghĩa”, mơtip “nhân vật xấu xa”.
3.3.3. Mơtip tình huống
Gồm: mơtip “gặp gỡ kỳ lạ”, môtip “phán xử”, môtip “giấc mơ”.

Tiểu kết:
Nghệ thuật tổ chức, xây dựng tác phẩm thường được quy định bởi một
khn mẫu có sẵn, tuy nhiên các tác giả cũng có những thay đổi, sáng tạo
trong tổ chức lời văn, xây dựng hệ thống cốt truyện. Tạo ra tính chất “mới
mẻ”, “ hiện đại” cho nhóm truyện truyền kỳ.
Thủ pháp xây dựng hình tượng nhân vật đạt được thành công nhất định,
bước đầu đã tạo ra được những nhân vật mang tầm khái quát, điển hình cao,
là dấu hiệu của loại hình truyện ngắn nghệ thuật đầu tiên trong nền văn học
trung đại nước ta.
Hệ thống môtip truyền kỳ thể hiện đa dạng, phong phú cho thấy sự vận
dụng sáng tạo và linh hoạt chất liệu văn học dân gian, văn học viết và văn học
truyền kỳ bên ngồi vào các tác phẩm truyền kỳ, góp phần tạo ra tính hấp dẫn,
phong phú cả về nội dung và hình thức ở nhóm truyện truyền kỳ.


KẾT LUẬN

1. Nội dung tư tưởng, chủ đề, nhóm tác phẩm thể hiện được bức tranh
rộng lớn về hiện thực đời sống, thời đại lúc bấy giờ với những nét tiêu biểu
nhất. Trong đó có những khía cạnh, cảm hứng chính sau:

1.1. Phản ánh số phận người người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Hai
khía cạnh chính được đề cập về hình tượng người phụ nữ là khát vọng hạnh
phúc lứa đôi và bi kịch về số phận con người.
1.2. Hiện thực xã hội với những mặt trái, hạn chế của nó. Nhóm ba tác
phẩm đã vạch trần được bản chất của tầng lớp quan lại phong kiến, tình hình
chiến tranh liên miên, người dân khổ sở, sự lộng hành của đồng tiền đen trắng
lẫn lộn, tầng lớp nho sinh sa ngã, quan qn triều đình thay lịng đổi dạ chạy
theo danh lợi… tất cả là một “bức tranh vân cẩu” sinh động của xã hội, thời
đại lúc bấy giờ.
1.3. Hình tượng tác giả thể hiện sinh động dưới nhiều góc độ, sắc thái
khác nhau. Nếu Truyền kỳ mạn lục thể hiện mâu thuẫn giữa lý tưởng “chính
đạo” của một nhà nho cương trực, và một nhà nho “tài tử” có phần phóng
khống, tự do trong quan niệm về tình yêu, hạnh phúc gia đình; thì Truyền kỳ
tân phả thể hiện dòng cảm hứng nữ lưu với việc đề cao hình tượng nhân vật
nữ; đến Tân truyền kỳ lục lại cho thấy một cái tôi bế tắc, muốn về với chốn
lâm tuyền để “lánh đời”, “ẩn dật”.


2. Về đặc điểm nghệ thuật, nhóm truyện thể hiện được sự vượt trội về
phong cách và sự cách tân trong sáng tạo, để lại những đóng góp quan trọng
cho sự phát triển của loại hình truyền kỳ trung đại Việt Nam.
3. Nhìn vào tiến trình phát triển của loại hình văn học truyền kỳ trung đại
Việt Nam nói chung và mối quan hệ với văn học truyền kỳ khu vực Đơng Á,
nhóm các tác phẩm thể hiện được vai trị, vị trí khơng thể thiếu của mình. Đối
với văn học trung đại Việt Nam, chính các tác phẩm đã đánh những dấu mốc
quan trọng trên cả chặng đường phát triển của loại hình, từ Truyền kỳ mạn lục
là mẫu mực về nghệ thuật truyền kỳ, sang Truyền kỳ tân phả với sự đột khởi,
cách tân về thể loại, đến Tân truyền kỳ lục như một điểm nhấn, một “nốt
trầm” riêng biệt và đi vào giai đoạn thoái trào, kết thúc một chặng đường phát
triển để chuyển sang một giai đoạn khác. Thành công về mặt nội dung tư

tưởng, thi pháp nghệ thuật của các tác phẩm đã thực sự mở ra giai đoạn phát
triển mạnh mẽ cho các loại hình văn học khác trong nền văn học trung đại
nước ta như: truyện ngắn, ký, tùy bút, tiểu thuyết chương hồi…
4. So sánh ba tác phẩm với nhau cũng cho thấy những đặc điểm, phong
cách, dấu ấn sáng tạo của riêng từng tác giả. Ở Nguyễn Dữ là giọng văn của
một văn nhân tài tử vừa điềm đạm, nho nhã, vừa uyên bác, tài hoa, thường
chú trọng nhiều vào “lý” với sự khúc chiết, cô đọng, thâm thúy, chủ đề về
“thế sự” được tác giả tập trung khai thác triệt để. Ở Đoàn Thị Điểm thể hiện
một giọng văn nhẹ nhàng, tinh tế, xu hướng trọng “tình” trong các truyện
được chú trọng, bà thường tập trung khai thác chủ đề về hạnh phúc gia đình,
bổn phận trách nhiệm và vị trí của người phụ nữ trong xã hội. Với Phạm Q
Thích, giọng văn có sự mực thước, giàu chất hùng biện, tác giả chú trọng vào
“nghĩa”, đề cao lòng tấm lịng trung qn, khí tiết của con người khi thể hiện


tư tưởng, những chủ đề liên quan đến “thế thái nhân tình” là chủ âm mà Lập
Trai tiên sinh hướng đến.

--TÀI LIỆU THAM KHẢO
Chúng tôi sử dụng 46 tài liệu tham khảo chính cho đề tài này



×