Tải bản đầy đủ (.pdf) (76 trang)

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN PHAN THỊ VÀNG ANH QUA HAI TẬP KHI NGƯỜI TA TRẺ VÀ HỘI CHỢ 10600949

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 76 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN

TRẦN MAI PHƯƠNG

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN
PHAN THỊ VÀNG ANH QUA HAI TẬP
KHI NGƯỜI TA TRẺ VÀ HỘI CHỢ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Đà Nẵng, tháng 4 / 2016


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN
PHAN THỊ VÀNG ANH QUA HAI TẬP
KHI NGƯỜI TA TRẺ VÀ HỘI CHỢ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC
Người hướng dẫn:
TS. Ngô Minh Hiền
Người thực hiện:
Trần Mai Phương
(Khóa 2012 - 2016)



Đà Nẵng, tháng 4 / 2016


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU…………………………………………………………….………..1
1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………….……..1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề…………………………………………….…....2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………………………….5
4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………...5
5. Bố cục khóa luận…………………………………………………………...6
CHƯƠNG 1…………………………………………………………….…......7
TRUYỆN NGẮN PHAN THỊ VÀNG ANH…………………………………7
TRONG DÒNG CHẢY TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI...7
1.1. Một số đặc điểm nổi bật của truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại………7
1.1.1. Quan niệm nghệ thuật mới mẻ…………………………………………7
1.1.2. Nhân vật độc đáo…………………………………………………..…11
1.1.3. Cốt truyện đa dạng……………………………………………...…....15
1.1.4. Ngôn ngữ văn chương mang hơi thở đời sống đương đại……………17
1.2. Ấn tượng truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh trong dòng chảy truyện ngắn
nữ đương đại…………………………………………………………………19
1.2.1. Con đường văn chương của Phan Thị Vàng Anh…………………….19
1.2.2. Truyện ngắn - điểm sáng đặc biệt trong sáng tác của Phan Thị Vàng
Anh……………………………………………………………………….…..21
CHƯƠNG 2………………………………………………………………….23
NHỮNG KHUÔN MẶT CUỘC ĐỜI……………………………………….23
TRONG TRUYỆN NGẮN PHAN THỊ VÀNG ANH………………………23
QUA HAI TẬP KHI NGƯỜI TA TRẺ VÀ HỘI CHỢ………………………23
2.1. Chân dung những người trẻ tuổi………………………………………...23
2.1.1. Những tâm hồn yêu sống……………………………………………...23



2.1.2. Những tâm thế hoài nghi……………………………………………...25
2.1.3. Những khát kháo phục thiện………………………………………….26
2. Những khn hình cuộc đời rạn vỡ………………………………………29
2.1.1. Rạn vỡ niềm tin, lý tưởng……………………………………………..29
2.2.2. Hoang mang về các giá trị truyền thống……………………………..34
CHƯƠNG 3…………………………………………………………………38
MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT ………………………………38
TRONG TRUYỆN NGẮN PHAN THỊ VÀNG ANH ……………………..38
QUA HAI TẬP KHI NGƯỜI TA TRẺ VÀ HỘI CHỢ………………………38
3.1. Nhân vật………………………………………………………………...38
3.1.1. Các dạng nhân vật tiêu biểu…………………………………………..38
3.1.2. Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật……………………………...46
3.2. Ngôn ngữ nghệ thuật…………………………………………………....52
3.2.1. Ngôn ngữ đậm chất trữ tình…………………………………………...52
3.2.2. Ngơn ngữ đậm chất đời thường……………………………………….54
3.3. Giọng điệu nghệ thuật…………………………………………………..56
3.3.1. Giọng triết lý………………………………………………………….56
3.3.2. Giọng hoài nghi, bất lực………………………………………………59
3.3.3. Giọng hóm hỉnh, giễu cợt……………………………………………..61
KẾT LUẬN………………………………………………………………….66
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………...68


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin cảm ơn qúy thầy, cô giáo, cán bộ Khoa Ngữ Văn và các cán bộ
thư viện trường Đại học Sư Phạm đã tạo điều kiện thuận lợi cho tơi trong suốt
khóa học.
Đặc biệt, tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Ngơ Minh Hiền,

người đã tận tình hướng dẫn tơi thực hiện và hoàn thành luận văn.
Xin được gửi lời cảm ơn đến những người thân, bạn bè đã giúp đỡ, động
viên tôi trong thời gian học tập và thực hiện luận văn.

Đà Nẵng, ngày 20 tháng 4 năm 2016
Ký tên

Trần Mai Phương


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được cơng bố trong
bất kỳ một cơng trình nào khác.
Tơi xin chịu trách nhiệm về những nội dung khoa học trong cơng trình
này.
Đà Nẵng, ngày 20 tháng 4 năm 2016
Ký tên

Trần Mai Phương


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau 1986, truyện ngắn Việt Nam phát triển một cách toàn diện, sâu sắc,
gây được sự chú ý của đông đảo độc giả bởi sự xuất hiện của hàng loạt những
cây bút với phong cách nghệ thuật rất riêng. Truyện ngắn thời kỳ đổi mới có
khả năng nắm bắt sự vận động của cuộc sống một cách nhanh nhạy, kịp thời

nhưng vẫn khái quát được những vấn đề sâu sắc trong đời sống. Cùng với
những ưu thế của thể loại tự sự cỡ nhỏ có khả năng miêu tả đời sống phức tạp
của con người trong thời kỳ đổi mới. Truyện ngắn đã có những chuyển đổi rõ
rệt, không chỉ ở đề tài, quan niệm về nghệ thuật con người mà còn ở cách viết
với những thể nghiệm táo bạo. Đặc biệt, sự góp mặt của các cây bút nữ đã
mang đến những âm sắc mới cho đời sống văn học. Truyện ngắn của Võ Thị
Hảo, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phạm Thị Hồi,… là những thành cơng
đáng ghi nhận trong việc thể hiện lối viết mới mẻ đầy sáng tạo. Và một trong
những tên tuổi nổi bật phải kể đến Phan Thị Vàng Anh.
Có thể nói, Phan Thị Vàng Anh đã tạo được một giọng điệu riêng khá ấn
tượng, khẳng định được tài năng của mình trong lĩnh vực truyện ngắn hiện
đại. Các tác phẩm của Phan Thị Vàng Anh rất độc đáo, thể hiện được những
tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm. Vì vậy, tác phẩm của nhà văn có khả năng
thu hút được nhiều tầng lớp độc giả, ngay từ tập truyện ngắn đầu tay Khi
người ta trẻ (1993) và sau đó là Hội chợ (1995). Hầu hết các nhà nghiên cứu,
phê bình đều cơng nhận thế giới truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh rất riêng
và lạ. Đó là một thế giới nghệ thuật mang hơi thở của sự sống nhiều nghĩa ẩn.
Các ý tưởng, các mối quan hệ đời sống thể hiện một cái nhìn mới mẻ, vừa ngộ


2

nghĩnh vừa thực tế, vừa sợ sệt vừa khát khao, thấm đẫm chiều sâu của một
khát khao sống, luôn tha thiết đi tìm những giá trị nhân bản mới.
Chọn nghiên cứu đề tài Đặc điểm truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh qua
hai tập Khi người ta trẻ và Hội chợ, chúng tơi mong muốn góp phần tìm hiểu
sâu hơn những đặc điểm nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Phan Thị
Vàng Anh. Qua đó, khám phá thêm về phong cách nghệ thuật của nhà văn.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh đã được nhiều nhà nghiên cứu phê

bình chú ý.
Khi nhận xét về con người, tính cách, sáng tác của Phan Thị Vàng Anh,
Mai Khanh nhận xét: “Chị luôn là thế, rắn rỏi, cực đoan, quyết liệt, nhiệt
thành và cương nghị, song luôn “giấu và nén” tất cả trong vẻ ngồi hơi lạnh.
Khơng kêu ca than vãn, Vàng Anh của đời thường là thế. Sức nén ấy khiến
cho chị, dù cơng bố ít, vẫn gây chú ý và được tìm đọc” [20].
Tác giả Huỳnh Phan Anh trong cuốn Không gian và khoảnh khắc văn
chương viết: “Hai tập truyện ra đời trong khoảng cách hai năm, mỏng manh
như nhau, bao gồm những truyện thường ngắn, có khi rất ngắn, bấy nhiêu cho
một thế giới đang hình thành, sinh sơi nảy nở, một thế giới khơng ngớt trở về
trên những trang giấy đang kêu gọi, bổ sung cho nhau, vẫn là nó nhưng khơng
đơn giản là nó, bởi nó ln được vén mở, soi rọi thêm, nó ln tìm kiếm
những bến bờ và những chiều sâu mới” [1, tr. 18].
Với Tứ tử trình làng giới thiệu trong cuốn Truyện ngắn bốn cây bút nữ,
Bùi Viết Thắng nhận định sâu sắc hơn: “Vàng Anh là một cây bút biến ảo, lúc
thì nghiêm trang (Cha tơi), lúc thì sắc ngọt (Kịch câm), lúc đắm đuối (Hoa
muộn)… Văn Phan Thị Vàng Anh là lối văn tung phá mang dấu ấn của kẻ
trưởng thành không tránh khỏi sự bất thường… Sự tìm tịi của người viết


3

dường như là bằng bất cứ cách nào diễn đạt được hết ý tưởng của mình…
Đọc Phan Thị Vàng Anh ta biết được một lối nhìn đời đơn giản, một chiều,
thêm một lần nữa ta tới được cái thế giới bí ẩn của đời sống và con người vốn
khơng thơi làm ta ngạc nhiên” [13, tr.6].
Nhà phê bình Bùi Việt Thắng trong bài Khi người ta trẻ (Tản mạn về
truyện ngắn của những cây bút trẻ), nhận xét: “Phan Thị Vàng Anh có lối kể
chơi vơi của trẻ con nhưng rất hóm hỉnh và trí tuệ. Cây bút trẻ này luôn muốn
đem đến cho người đọc những cái lạ và bản thân cũng bị cái lạ thơi miên” [29,

tr.169].
Nguyễn Chí Hoan trong bài viết “Bơ vơ trong cái đời thường” cho rằng:
“Phan Thị Vàng Anh đã “cố gắng bóc đi những lớp vỏ sự kiện đời sống để
trực tiếp qua các mối quan hệ giản đơn và vơ hình giữa con người” [17,
tr.30].
Trong khi đó, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn lại cho rằng: “Từ những
trang viết của Phan Thị Vàng Anh, người ta bắt gặp một lớp trẻ có diện mạo
khác, mà nét căn bản là một đời sống tinh thần sâu sắc, tinh tế, được ánh sáng
của văn hóa hướng dẫn. Họ là hình ảnh đảo ngược của lớp trẻ thực dụng trên
kia vừa nói. Song đây cũng không phải là lớp trẻ bồng bột, non nớt, như
người ta quen nghĩ vì thế mà nhiều người cứ thấy lo lo về họ. Có điều, nếu có
dịp nhìn rộng ra một chút thôi, người ta sẽ thấy ở nhiều nước trên thế giới,
thanh niên thời nay đều chung một tình cảnh như vậy. Khơng giống cha anh,
nhưng các nhân vật của Phan Thị Vàng Anh, lại giống cái thời đại mà họ đang
sống, và đây là lý do chính mà người ta phải thông cảm và bàn bạc với họ,
hơn là xét đoán và chê trách họ” [24].
Nhà nghiên cứu Đỗ Duy đánh giá truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh
là “Những truyện rất ngắn không thể cô đọng hơn, sắc nét đến được coi là
“lạnh” - mỗi vấn đề được nói đến như một nét cọ đậm màu, làm thay đổi cục


4

diện, cung cấp cách nhìn khác về những bức tranh vốn lòa nhòa màu sắc, vẽ
cuộc sống của người trẻ với những nỗi buồn nhàn nhạt, những con đường
sống lơ mơ, những thái độ yêu ghét nửa vời... Những nét cọ đậm màu ấy qua
mỗi truyện ngắn, dần hiện lên một cách tự nhiên trong lòng người đọc - trên
một bức tường vững chãi mà họ xây dựng, ẩn chân dung của một con người
sống đâu đó giữa những tác phẩm của Vàng Anh: sống quyết liệt, tự trọng,
kiêu hãnh và tràn đầy tình cảm” [10].

Trên báo Văn nghệ Trẻ, số 8 năm 2001, Tuyết Ngân đã chỉ ra điều làm
nên một Phan Thị Vàng Anh chính là “chi tiết”. Tác giả viết: “Phan Thị Vàng
Anh vô cùng tinh tế trong những chi tiết nghệ thuật. Tác giả tìm thấy đời sống
chỉ trong một cử chỉ tưởng như đơn giản. Nhưng cử chỉ đó dường như là tốt
lên tồn bộ số phận của nhân vật” [23, tr.4].
Nhà phê bình Huỳnh Như Phương đã nhận xét tập truyện ngắn Khi
người ta trẻ của Phan Thị Vàng Anh: “Bước vào thế giới nghệ thuật của Phan
Thị Vàng Anh như bước vào một sân chơi. Trong vng sân đó, các nhân vật
của Phan Thị Vàng Anh chơi đủ thứ trò, từ những trò “ấm ớ”, “vớ va vớ vẩn”
– như tác giả viết – cho đến những trị “điên rồ”, “ngơng cuồng” nhất” [2,
tr.5]
Khi khẳng định đóng góp của các nhà văn trẻ trong tiến trình đổi mới
văn học, nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình nhận ra một điều: “Nhìn chung ưu
thế và tốc độ ngôn ngữ cũng như trong sinh hoạt thuộc về lớn trẻ. Vàng Anh
viết cứ “như chơi” mà lột tả thật chính xác cái nhịp điệu cuộc sống, nhịp điệu
tâm lý của bao nhiêu hạng người, bao nhiêu lứa tuổi” [5, tr.17].
Lê Dục Tú đã đánh giá cao Phan Thị Vàng Anh khi khẳng định: “Thuộc
thế hệ lớp sau, Phan Thị Vàng Anh ngay khi xuất hiện đã trở thành một hiện
tượng văn học. Tập truyện ngắn Khi người ta trẻ của chị ra đời đã khuấy động
bầu không khí phê bình văn học. Nhà văn Nguyễn Khải đã gọi chị là “Nguyễn


5

Huy Thiệp mặc váy”. Tuy chỉ mới xuất bản hai tập truyện ngắn Khi người ta
trẻ và Hội chợ nhưng Phan Thị Vàng Anh đã sớm định hình một cá tính khó
lẫn: ngắn gọn, sắc sảo, thâm thúy, trí tuệ. Cái độc đáo của Phan Thị Vàng Anh
là chị đã “biết cách lạ hóa những điều quen thuộc, biết làm cho da diết những
điều tưởng chừng nhạt nhẽo”. Nhiều truyện của chị chỉ là những truyện mini
nhưng đã làm cho người đọc phải bất ngờ về ý tưởng mới lạ cũng như giọng

điệu - những ý tưởng và giọng điệu chỉ có thể có được “khi người ta trẻ” [27].
Nguyễn Trương Quý khi xem xét về ngôn từ nghệ thuật trong truyện
ngắn Phan Thị Vàng Anh đã nhận xét: “Vàng Anh không khoan nhượng,
Vàng Anh khe khắt, Vàng Anh đanh đá, nhưng vấn đề mấu chốt là Vàng Anh
ý thức cao độ về ngơn từ” [26].
Nhìn chung các cơng trình nghiên cứu và các bài viết trên đều đã làm
sáng tỏ một số khía cạnh cụ thể trong truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh.
Tuy nhiên, vẫn chưa có một cơng trình nào nghiên cứu một cách chun sâu
hệ thống về đặc điểm truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh cụ thể là trong hai tập
Khi người ta trẻ và Hội chợ. Đây có thể được coi là “mảnh đất” hấp dẫn để
chúng tơi có thể nghiên cứu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật
của truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh qua hai tập Khi người ta trẻ và Hội chợ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Hai tập truyện ngắn Khi người ta trẻ, NXB
Hội nhà văn Việt Nam năm 1994 và Hội chợ, NXB Trẻ năm 1995.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp hệ thống-cấu trúc


6

Cấu trúc lại truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh thành một hệ thống theo
các tiêu chí nghiên cứu. Xem xét các đặc điểm truyện ngắn của Phan Thị
Vàng Anh trong hệ thống đó.
4.2. Phương pháp phân tích-tổng hợp
Xem xét, đánh giá các đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong truyện
ngắn Phan Thị Vàng Anh. Khái quát các đặc điểm đó để làm nổi bật giá trị, sự
độc đáo của truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh
4.3. Phương pháp so sánh-đối chiếu

Đặt truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh trong mối tương quan với
truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Thị Thu Huệ chỉ ra nét tương
đồng và khác biệt của truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh. Qua đó, có thể đánh
giá sự độc đáo của truyện ngắn của nhà văn này.

5. Bố cục khóa luận
Ngồi phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung
của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh trong dòng chảy truyện
ngắn nữ Việt Nam đương đại.
Chương 2: Những khuôn mặt cuộc đời trong truyện ngắn Phan Thị
Vàng Anh qua hai tập Khi người ta trẻ và Hội chợ.
Chương 3: Một số phương thức nghệ thuật trong truyện ngắn Phan Thị
Vàng Anh qua hai tập Khi người ta trẻ và Hội chợ.


7

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
TRUYỆN NGẮN PHAN THỊ VÀNG ANH
TRONG DÒNG CHẢY TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1. Một số đặc điểm nổi bật của truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại
1.1.1. Quan niệm nghệ thuật mới mẻ
Sau 1986, nhu cầu về tiếp nhận, về sáng tạo văn học, về lý luận phê
bình… của độc giả đã thay đổi. Cùng với sự vận động theo hướng đổi mới
của các thể loại văn học, truyện ngắn đã phát triển năng động, có nhiều thành
tựu. Các nhà văn dưới tác động của làn gió đổi mới đã có sự nhập cuộc tốt với
đời sống và đã có những chuyển biến lớn trong quan niệm nghệ thuật của
mình. Các cây bút như Bùi Hiền, Ma Văn Kháng, Đỗ Chu, Nguyễn Quang

Sáng… hướng ngòi bút vào đề tài hậu chiến, cuộc sống của người lính từ
chiến tranh, xung đột giữa cái cũ và cái mới… làm cho truyện ngắn mang
đậm những sắc thái mới. Các tác phẩm Tâm tưởng, Ngơ ngẩn mùa xuân của
Bùi Hiền; Ngày đẹp trời, Trăng soi sân nhỏ của Ma Văn Kháng; Mảnh vườn
xưa hoang vắng, Một lồi chim trên sóng của Đỗ Chu; Tướng về hưu của
Nguyễn Huy Thiệp; Hai người đàn bà xóm Trại của Nguyễn Quang Thiều…
là những tác phẩm truyện ngắn góp phần quan trọng làm nên những thành tựu
của văn học thời kỳ đổi mới.
Có thể thấy trong dòng chảy truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại,
những sáng tác của Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo,
Y Ban,… đã sớm tạo được dư luận, gây được sự chú ý của khơng ít bạn đọc
bởi những quan niệm mới mẻ và táo bạo. Truyện ngắn của họ thể hiện những
quan niệm nghệ thuật mới mẻ. Phạm vi hiện thực phản ánh được mở rộng và
thể hiện bằng những cách thức rất riêng. Sự chuyển hướng hệ đề tài, chủ đề


8

được thể hiện ngay ở tên nhan đề của tác phẩm, tên tác phẩm thường có xu
hướng đi vào những vấn đề của đời thường như: Hậu thiên đường của
Nguyễn Thị Huệ, Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo, Con chó và vụ
ly hơn của Dạ Ngân, Kịch câm của Phan Thị Vàng Anh… Các nhan đề khơng
chỉ bao hàm chức năng dự báo mà cịn hàm chứa sự gợi mở, hấp dẫn, đưa
người đọc vào tình thế suy đoán, tư duy nhiều hơn khi tiếp xúc với tên tác
phẩm.
Quan niệm nghệ thuật mới mẻ được thể hiện rõ trong việc lựa chọn đề
tài sáng tác của nhà văn. Đề tài mà các cây bút nữ thường đề cập đến trong tác
phẩm của mình chính là tình u, hạnh phúc, hơn nhân. Đó có thể là các cung
bậc cảm xúc của một cô gái trẻ trước ngưỡng cửa của tình u; có thể là
những khao khát, băn khoăn của một người đàn bà trước cuộc hôn nhân và

cuộc sống gia đình. Đó cũng có thể là thái độ chủ động, đấu tranh quyết liệt
để vươn tới tình yêu, hạnh phúc của con người. Các tác phẩm như Cánh đồng
bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu viết về mảng đề
tài gây nhiều tranh cãi nhất trong giai đoạn này chính là vấn đề tình dục. Ngay
từ khi xuất hiện, đã được bạn đọc cùng với các nhà phê bình nghiên cứu hết
sức quan tâm vì cách viết táo bạo, những nỗi đau, bất hạnh của con người
cũng như thực trạng đời sống lúc bấy giờ. Đề tài này được coi là đề tài cấm kị
trong văn học và hầu như vắng bóng trong các sáng tác. Nhưng giờ đây, các
nhà văn nữ bắt đầu đi sâu vào tìm hiểu và khơng ngần ngại thể hiện những
điều đó trong các trang viết của mình. Nhà văn Đỗ Hồng Diệu đã thẳng thắn
chia sẻ: “Có thể trong q trình viết, tơi đề cập đến sex. Nhưng đó là mượn
sex như một ẩn dụ để nói về vấn đề khác” [10]. Đỗ Hoàng Diệu viết nhiều về
phụ nữ với dục tính, nhưng quan trọng hơn, nhà văn sử dụng nó như một bộ
mã để gửi đi một thơng điệp cho mình và cho cuộc sống. Với tập truyện ngắn
Bóng đè, có thể nói, Đỗ Hồng Diệu là một số ít nhà văn dám thể hiện và khai


9

thác đến vấn đề sex một cách sâu sắc, quyết liệt. Chị để cho nhân vật của
mình cơng khai bày tỏ những khao khát tình dục, thể hiện những ham muốn
mang tính bản năng. Nhân vật trong truyện ngắn Đỗ Hoàng Diệu sống hiện
đại tới mức thản nhiên đi ngoại tình, coi ngoại tình là một trị chơi và đơi khi
hơi lạm dụng quá đà. Đối với họ, sex như là một nhu cầu thuộc về bản năng,
thể hiện tình yêu và những khao khát hết sức đàn bà. Với Bóng đè, Đỗ Hồng
Diệu đã bước đầu khẳng định bản lĩnh sáng tạo và cái tơi của mình, góp phần
tạo nên sự đa dạng của các cây bút nữ trong dòng chảy của văn học đương đại
Việt Nam. Và Nguyễn Ngọc Tư cùng với truyện ngắn Cánh đồng bất tận đã
thể hiện những khao khát tình dục của con người. Đó là câu chuyện của cơ gái
điếm tên Sương, là số phận của những người đàn bà trên sông nước. Có

những trang văn được viết khá táo bạo, gây ấn tượng mạnh mẽ với bạn đọc.
Hay năm 2006, Y Ban cho ra đời tập truyện ngắn I am đàn bà lại một lần nữa
khẳng định tính dục đã trở thành một trong những chủ đề nóng trong văn
chương hiện đại. Y Ban đã không ngần ngại để nhân vật của mình phơ bày,
thổ lộ những ham muốn tình dục một cách tự nhiên. Vấn đề tình dục trở đi trở
lại nhiều lần và được nhiều tác giả nữ lựa chọn đã khẳng định được phần nào
sự ảnh hưởng của dòng văn học nữ quyền trong văn chương Việt Nam đương
đại. Các nhà văn nữ đã không ngần ngại đề cập đến mảng đề tài được coi là
cấm kị, thể hiện những khao khát và mơ ước cháy bỏng của người phụ nữ.
Thơng qua đó, các nhà văn có thể biểu đạt những vấn đề nhân sinh một cách
có nghệ thuật. Hơn nữa thơng qua tình dục, các tác giả muốn khẳng định, tình
u là sự hịa quyện giữa thể xác và tâm hồn, thể hiện những khao khát hạnh
phúc của con người. Sâu xa hơn, nó cịn là sự phản ánh hiện thực văn hóa của
một giai đoạn, một dân tộc, một đất nước. Hiện thực cuộc sống vì thế không
chỉ hiện lên ở chiều rộng, bề nổi mà là ở chiều sâu, ở những hiện tượng, số
phận… Và qua đó, người viết nói lên được rất nhiều điều về một xã hội mới hôm nay.


10

Điểm gặp gỡ của nhiều cây bút truyện ngắn đương đại là hướng tới việc
tìm kiếm những khả năng mới cho văn chương bằng những thể nghiệm. Bên
cạnh việc đề cập những đề tài mà trước đây không dám viết như những đề tài
về giới tính, tình dục, cảnh ngộ éo le, những trắc trở trong tình u và hơn
nhân, những xung đột trong đời sống gia đình… Đó là đi sâu vào những số
phận, cuộc sống, tâm hồn của những con người rất bình dị, nhỏ bé (thậm chí
là cá biệt) xung quanh ta, đặc biệt là những người phụ nữ. Truyện của các nhà
văn nữ chỉ là những “lát cắt” cuộc đời, nhưng đó là một “lát cắt” rất sâu,
nhiều trắc ẩn và dư âm của riêng mỗi truyện ngắn mà họ mang lại cho người
đọc. Từ đó, có rất nhiều bài viết lựa chọn truyện ngắn nữ làm đối tượng để

nhìn nhận và đánh giá đã khẳng định sự tiếp nối về đội ngũ cũng như những
đặc điểm của giới tính bộc lộ qua cách nhìn hiện thực và con người. Truyện
ngắn của các nhà văn nữ còn quan tâm đến cuộc sống, tâm hồn của người phụ
nữ. Trong truyện ngắn của họ, người phụ nữ dần thốt khỏi cái bóng của gia
đình, trở thành những người độc lập không chịu ràng buộc bởi những qui định
khắt khe như trước đây. Đây cũng là một bước tiến khá mới mẻ trong văn
chương của các cây bút nữ.
Hiện thực phản ánh trong truyện ngắn có khi chỉ là những chuyện
tưởng chẳng có gì, chỉ là những tình huống ta có thể gặp trong cuộc sống,
nhưng qua đó cho ta hiểu nhiều về cách cảm, cách nghĩ của con người mới
hôm nay. Như Tách cà phê số 8 của Dạ Ngân, Có con của Phan Thị Vàng
Anh,… đã nói lên được hiện thực chỉ là phương tiện để nhà văn thể hiện cái
nhìn, sự chiêm nghiệm của mình về cuộc đời này, từ đó tốt lên những giá trị
tinh thần mà nhà văn muốn gửi gắm. Các cây bút nữ khai phá muôn mặt phức
tạp của hiện thực đa đoan, đầy cái lỉnh kỉnh của đời sống thường nhật. Trong
đó dư âm niềm vui ít hơn nỗi buồn, bi kịch nhiều hơn hạnh phúc. Nhưng
người đọc chúng ta thì không mất niềm tin bởi các nhà văn nữ đã giữ rất bền


11

chặt tinh thần nhân văn trong mỗi trang viết. Đa phần các nhà văn nữ thường
viết về tình yêu và tình u của họ thường có sự bao dung vị tha như tác phẩm
Cuối mùa nhan sắc của Nguyễn Ngọc Tư, Con sóng Đồng Tháp Mười của
Nguyễn Thị Phước, Mùa đông ấm áp của Nguyễn Thị Thu Huệ, Sau chớp là
giông bão của Y Ban… Những trang viết của họ chứa đựng tinh thần nhân
văn cao cả, giúp cho cuộc đời vốn nhiều xơ lệch cân bằng hơn. Ngồi ra cịn
có các tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ, Lý Lan và nhiều tác giả khác. Ở
mỗi tác phẩm của họ người đọc bắt gặp đa dạng các trạng thái đời sống của
con người hơm nay, sự tha hóa nhân cách vì đồng tiền, những cách thức mưu

sinh và tồn tại, những thay đổi quan niệm và lối sống của mỗi cá nhân, tiếp
thu văn hóa mới… Mn mặt đời sống đã được tái hiện đầy đủ, sinh động
trên từng trang viết. Với sự đổi mới quan niệm thể loại, quan niệm nghệ thuật
về và con người, về sự đổi mới bút pháp, truyện ngắn đã chứng tỏ được tính
linh hoạt trên hành trình đổi mới văn học.
Từ quan niệm nghệ thuật mới mẻ, các nhà văn đã cùng với việc thay
đổi đề tài, khơng ngừng tìm tịi trong cách viết, đa dạng trong cảm hứng,
truyện ngắn lúc này đã linh hoạt hơn trong bút pháp sáng tạo. Với Chơi Hạ
Long, Biển trong mưa, Con ma … Lý Lan đã cho thấy sự thay đổi đáng kể
trong tư duy nghệ thuật. Tương tự, những tác phẩm truyện ngắn Bức thư gửi
mẹ Âu Cơ, Bản lý lịch tự thuật, Điều ấy bây giờ con mới hiểu ra,… Y Ban
khiến trở thành hiện tượng nổi bật của văn học thời kỳ đổi mới, làm dậy sóng
văn đàn và khơi mở một cách viết mới.
1.1.2.Nhân vật độc đáo
“Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ”
[12, tr.126] và “thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mĩ của nhà
văn về con người. Vì thế, nhân vật luôn gắn chặt với chủ đề của tác phẩm”


12

[16, tr.236]. Như vậy, nhân vật chính là cầu nối giữa tác phẩm và bạn đọc, vì
thế, nhân vật đóng vai trị vơ cùng quan trọng trong tác phẩm của mỗi tác giả.
Trong truyện ngắn đương đại, thế giới nhân vật ngày càng trở nên
phong phú, đa dạng hơn, mỗi nhân vật là một tính cách, một hồn cảnh và thái
độ ứng xử độc lập, khác biệt. Đó là những nhân vật mới của thời đại văn minh
đô thị, tâm điểm sáng tạo của nhà văn. Với quan niệm hướng tới mọi vấn đề
của con người trong đời sống các nhà văn đã bộc lộ một cách nhìn mới về con
người. Đó là con người đời thường, con người cá nhân, với những khát khao,
cả dục vọng và ham muốn, cao cả và thấp hèn…, ở đó “từng cá thể, từng

mảnh đời riêng biệt âm thầm lặng lẽ hay ồn ào, sơi động được nhìn nhận
trong những mơi trường đời sống bình thường, làm nên thế giới nhân vật đa
dạng và phức tạp. Bằng nhiều cách khai thác và tiếp cận khác nhau, các nhà
văn đã hướng vào thế giới nội tâm, khám phá chiều sâu tâm linh, thấy được ở
mỗi cá nhân những cung bậc tình cảm: vui buồn, hạnh phúc, đau khổ, những
hy vọng, khát khao, đam mê” [30, tr.34].
Với sự thay đổi quan niệm về nhân vật, truyện ngắn đương đại nói
chung, truyện ngắn nữ nói riêng đã tạo ra được những sắc thái nghệ thuật mới
mẻ. Số phận con người với những bi kịch giữa khát vọng và thực trạng, giữa
cái muốn vươn lên và cái kìm hãm đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của
nhà văn. Đó là những nhân vật cơ đơn trong đời sống đơ thị hiện đại trong
chính ngơi nhà của mình, trong cuộc sống hàng ngày mà khơng có gì để giải
tỏa, đặc biệt không thể chia sẻ cùng ai, như Người đàn bà và những giấc mơ
của Y Ban; Một nửa cuộc đời, Biển ấm của Nguyễn Thị Thu Huệ. Đó cũng là
con người với những mảng khuất của thế giới tâm linh với sự tha hóa về nhân
cách trong Xóm nhỏ, bi kịch nhỏ, Nhiệt đới gió mùa của Lê Minh Khuê…
Quan niệm về con người cá nhân đã được chuyển hóa thành thế giới nhân vật
phong phú, đa tính cách, đa bình diện. Con người được soi chiếu ở nhiều tầng


13

bậc, cả ý thức và vô thức, chân thực, sinh động, phong phú và không kém
phần phức tạp.
Trong nhiều truyện ngắn của Y Ban, số phận nhân vật không phải là
điểm nhấn mà là những cảm xúc mà nhân vật đã từng trải. Điển hình như
Người đàn bà có ma lực. Trong tác phẩm này, tựa vào cảm giác của nhân vật
trong thời khắc cơ đơn và trống trải, ngịi bút Y Ban đã khơi sâu vào mạch
nguồn xúc cảm của nhân vật. Hay trong truyện ngắn Phạm Thị Hoài, nhân vật
thường được tạo dựng như một trạng thái tồn tại hoặc một ý niệm về đời

sống. Nhân vật trong truyện ngắn Trong cơn mưa, không hiện diện với đầy đủ
ngoại hình và đặc điểm tính cách mà chỉ là trạng thái của nhân vật tôi trong
lúc ngồi đợi một người bạn trong mưa. Người bạn đã không đến, trời vẫn mưa
triền miên, anh ta ngồi quan sát những vị khách vào quán rồi suy ngẫm về con
người và cuộc đời. Nguyễn Ngọc Tư lại rất nhạy bén thể hiện những ưu tư
trong nhân vật nữ về mối tình đơn phương trong truyện ngắn Hiu hiu gió bấc.
Nhân vật Hảo đã quyết định giữ trọn tình cảm của mình dành cho anh Hết
mặc cho mấy mùa gió bấc tiếp tục qua đi. Có thể thấy, Nguyễn Ngọc Tư đã
viết lên câu chuyện tình đơn phương đầy cảm động, thể hiện rất thật những
khao khát thầm kín của người phụ nữ về tình yêu, hạnh phúc.
Trong nhiều truyện ngắn đương đại, nhân vật có thể bị xóa mờ quá khứ,
ngay cả tên nhân vật cũng bị viết tắt. Nhiều nhân vật trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư khơng có lý lịch, tên tuổi. Việc khơng có tên nhân vật như
vậy phù hợp với hoàn cảnh sống và biểu hiện số phận lẻ loi, nhỏ bé, không
biết từ đâu đến của con người. Đó có thể là cơ bé Câm, anh Tìm Nội ở trong
truyện ngắn Gió lẻ, những nhân vật thậm chí khơng có một cái tên để định
danh, cũng có thể là những nhân vật không tên mà được gắn vào ông, bà, mẹ để gọi.
Ngoài ra kiểu nhân vật với những đặc điểm của con người tự nhiên vốn
dĩ ít được nhà văn trước đây thể hiện thì đến nay thường được khai thác và


14

biểu hiện trong các truyện ngắn. Như nhân vật Hoài trong Xin hãy tin em của
Nguyễn Thị Thu Huệ luôn sống với bản năng vốn có, với con người đích thực
của mình “Sau khi vào trường được một năm. Hồi đã chứng tỏ bản lĩnh của
cô gái thành Vinh: Ngang tàng bấp chấp tất cả. Cơ muốn mình làm được mọi
thứ không thua kém ai” [18, tr.31]. Trong cô luôn tồn tại một cái tôi muốn nổi
loạn. Khác với những người bạn cùng phịng, cùng lớp của mình. Cơ là một
con người độc lập, sống và hành xử theo ý thích cá nhân, những khn phép

khơng thể ngăn cản được mọi hành vi mà cô muốn làm “Đến năm thứ tư thì
Hồi trở thành một nhân vật nổi tiếng khắp trong trường và lan ra khu vực
xung quanh. Hồi có thể uống hàng lít rượu trắng khơng say, hút thuốc lào
không mệt mỏi, nhảy đầm thâu đêm và đánh đu với những người đàn ông nào
chịu được cô” [18, tr.33]. Ngay cả khi cô gặp được người cô yêu rồi thì cơ
vẫn muốn làm theo ý thích của mình, vẫn ham chơi, vẫn thức dậy khi tiếng
nhạc vang lên với men nồng từ những ly rượu trong bữa tiệc sinh nhật tại nhà
người yêu cô. Để rồi sau tất cả, khi cơ bừng tỉnh thì mọi việc đã khơng cứu
vãn được nữa.
Như vậy, sự hiện diện hay không hiện diện của nhân vật trong truyện
ngắn đương đại cũng được xem là một thủ pháp nghệ thuật nhằm biểu đạt
dụng ý nghệ thuật cho mỗi tác phẩm của nhà văn. Đó là cách nhà văn nhận
diện con người đích thực, nhận diện và suy tư về cuộc đời. Bởi vậy, truyện
ngắn đương đại khó có thể tìm thấy những kiểu dạng nhân vật được cho là
biểu trưng, đại diện cho một một tầng lớp người nào đó trong xã hội. Truyện
ngắn đương đại đã có những thay đổi về quan niệm con người cá nhân như
một nhân cách kiểu mới. Nhân vật trong truyện ngắn đương đại vẫn từ cuộc
sống, từ những con người đang tồn tại xung quanh chúng ta nhưng là những
con người cá nhân với mn hình vạn trạng được các nhà văn đương đại biểu
hiện qua trang viết của mình. Điều này có thể coi là một trong những thay đổi


15

trong tư duy nghệ thuật trong quan niệm nghệ thuật về con người của các cây
bút đương đại.
1.1.3.Cốt truyện đa dạng
Nếu trước đây, cốt truyện đóng vai trị chủ yếu trong truyện ngắn nói
riêng và loại hình tự sự nói chung thì hiện nay nó khơng cịn đóng vai trị độc
tơn, chủ đạo. Việc người viết khơng cịn quan tâm nhiều đến cốt truyện đã cho

thấy sự đổi mới tư duy sáng tạo nghệ thuật của người viết đồng thời đòi hỏi
một cách đọc mới đối với người đọc.
Với nhiều nhà văn, quan niệm về lối viết có đầu có cuối, truyện ngắn
phải có cốt truyện rành mạch khơng cịn là hình thức mặc định nữa, “Lối kết
cấu của cốt truyện rõ ràng có thể kể lại được, theo thứ tự, ngày càng ít đi. Cái
cách tác giả đứng ra giảng giải trong tác phẩm thưa vắng hẳn, nhiều tác giả có
khuynh hướng giấu mình, để nhân vật tự đi đứng, nói năng, tự suy nghĩ, tự
phán xét” [19, tr.14]. Nghĩa là, cốt truyện không thành vấn đề cho lắm, các
chi tiết, biến cố, sự kiện không đơn thuần là chất liệu kết dính dịng mạch của
chuyện kể mà đó còn là nguyên cớ để nhân vật bộc lộ thế giới nội cảm. Hiện
tượng thường gặp trong truyện ngắn thời kỳ đổi mới là lối viết theo dòng suy
tưởng, phân mảnh rời rạc có chủ ý, gia tăng kỳ ảo, huyền thoại vừa tạo chiều
sâu trong khám phá hiện thực, vừa tạo nên sức hấp dẫn đối với công chúng.
Sự thay đổi trong quan hệ nội tại của các thành phần cốt truyện đã phá
vỡ những cấu trúc của cốt truyện cổ điển. Nếu trong các truyện ngắn thời kỳ
trước, chuỗi sự kiện được sắp xếp theo logic nhân quả và người ta có thể dễ
dàng đốn được sơ đồ cốt truyện thì cốt truyện của truyện ngắn hiện nay vẫn
chú ý miêu tả tâm lý, song sự diễn biến của cốt truyện thường không gắn với
điều kiện của đời sống bên ngoài mà xuất phát từ nội tâm, từ suy nghĩ của
nhân vật. Vì vậy, sự phát triển cốt truyện thường bị cắt đứt, gián đoạn. Quan


16

hệ giữa các thành phần cấu trúc cốt truyện truyện ngắn hiện nay không định
vị theo một quy luật nào. Do đó, truyện ngắn khơng cần kết thúc có hậu, kết
cấu đầu cuối nhân quả. Nhà văn cũng không đề cao việc xây dựng một cốt
truyện chặt chẽ với sự triển khai logic với các sự kiện, tình tiết, với những
mâu thuẫn, xung đột. Ngay cả tình huống, vốn có vai trò quan trọng trong thể
loại truyện ngắn nhưng các nhà văn lại lựa chọn những tình huống diễn ra

thường ngày hết sức bình thường. Như truyện ngắn Chín bỏ làm mười, Khách
của Phạm Thị Hồi, mỗi truyện ngắn khơng còn là câu chuyện về một cuộc
đời, một con người theo trình tự nhất định mà ở đó người đọc có cảm giác
như mỗi tác phẩm địi hỏi một cách đọc khác với truyền thống. Người đọc
phải tìm ra mạch ngầm văn bản nhờ sự kết nối những mảnh vỡ khác nhau.
Việc triển khai cốt truyện thành nhiều đoạn khác nhau và gia tăng yêu
tố khác thường, khiến người đọc bị đánh lạc hướng. Nhiều truyện ngắn tạo ra
được những vùng lặng khác lạ với nhưng độc giả vốn quen lối đọc truyện
ngắn với đầy đủ các thành phần và kết thúc duy nhất. Điều này đòi hỏi người
đọc phải có một lượng kiến thức nhất định mới đồng sáng tạo cùng với tác
giả. Như Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, Cánh đồng bất tận của
Nguyễn Ngọc Tư, Giọt máu, Sói trả thù, Con thú lớn nhất của Nguyễn Huy
Thiệp... Chính việc những cốt truyện kiểu thế này đã tác động đến tâm lý
người đọc, khiến người đọc trăn trở, suy nghĩ nhiều hơn.
Một trong những khuynh hướng của văn học hôm nay là nhà văn đi vào
khai thác thế giới tinh thần với nhiều trạng thái bên trong tâm hồn con người
và cốt truyện tâm lý là dạng thức phù hợp để chuyển tải hiện thực bên trong
đó. Cốt truyện tâm lý nhiều khi là sự xâu chuỗi các cảm xúc, tâm trạng của
nhân vật, sự kiện, tình tiết rất mờ nhạt. Truyện có thể là những lắp ghép từ
những sự kiện phân tán rời rạc hay ký ức được chắp nhặt từng mảnh vỡ để
hoàn thiện dần bức tranh nội tâm của con người. Các nhà văn không chỉ khai


17

thác tình huống, sự kiện mà cịn quan tâm tới những sự việc bên trong, những
cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật. Diễn biến của truyện thường là theo tâm
trạng của nhân vật và vì thế truyện có thể có cấu trúc không đầu, không cuối.
Mỗi truyện ngắn là một mảnh riêng biệt khắc họa những khoảnh khắc của tâm
trạng, những biến đổi đời sống nội tâm. Chiếm tỉ lệ lớn trong sáng tác của các

nhà văn nữ, cốt truyện tâm lí đã thể hiện rõ tài năng của họ trong việc nắm
bắt, miêu tả, phân tích tường tận, sinh động, logic những diễn biến khó nắm
bắt của nội tâm con người.
Có thể nói, cấu trúc cốt truyện truyện ngắn trong truyện ngắn đương đại
càng lúc càng trở nên đa dạng, phong phú và phức tạp hơn. Các nhà văn sẵn
sàng vượt qua những quy chuẩn để làm nên cái mới cho sáng tác của mình.
Ngay cả khi lựa chọn hình thức khai triển truyện ngắn theo mơ hình truyền
thống, họ cũng có những cách thức mới bằng những thủ pháp nghệ thuật khác lạ.
1.1.4. Ngôn ngữ văn chương mang hơi thở đời sống đương đại
Sự dân chủ trong đời sống cùng với sự thay đổi tư duy nghệ thuật đã
mang lại cái nhìn mới về ngơn ngữ nghệ thuật. Dường như các nhà văn đã có
cơ hội phát huy tối đa khả năng sáng tạo, ngôn ngữ nhằm bộc lộ khả năng
biểu đạt sự sắc bén và hàm súc của phương tiện này. Các cây bút đã ý thức
tạo ra giá trị mới cho ngơn ngữ, giải phóng ngơn từ khỏi những nghi thức và
định kiến cũ mòn. Khát vọng phản ánh hiện thực trong tính đa diện nhiều
chiều khiến các nhà văn thường sử dụng ngôn ngữ mang đậm sắc thái đời
thường. Ngơn ngữ vì thế bớt đi vẻ mượt mà, trau chuốt, thậm chí thơ nhám.
Để thực hiện chức năng tái hiện đời sống trong tính phức tạp và đa diện của nó.
Các nhà văn có xu hướng tiệm cận ngơn ngữ đời sống, gia tăng tính
khẩu ngữ để đưa tác phẩm đến gần hơn với người đọc, giúp cho người đọc
khám phá ra thế giới hình tượng, tư tưởng, quan niệm… mà các nhà văn


18

muốn muốn gửi gắm trong tác phẩm. Chúng ta có thể thấy lối nói trực diện,
khơng rào đón, thưa gửi, ngôn ngữ đời sống đã đi vào các trang viết một cách
tự nhiên. Giúp việc mô tả cuộc sống một cách trần trụi mà xác thực: “Chúng
tôi sống đơn giản, ít nhu cầu, tự thấy mình nhàn, khơng buồn nhìn lên mà
cũng ít khi nhìn xuống” [21].

Đặc biệt, ngơn ngữ đời thường được sử dụng đậm đặc trong truyện ngắn
của các nhà văn nữ. Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư đã sử dụng hệ
thống các từ địa phương Nam Bộ một cách sáng tạo, biến ngôn ngữ đời
thường của người bình dân thành ngơn ngữ văn học rất độc đáo nhằm phản
ánh và làm nổi bật những nét văn hóa về vùng đất, con người vùng sơng nước
miền Tây Nam Bộ. Cái khéo léo của Nguyễn Ngọc Tư ở chỗ, ngôn ngữ ấy
hiện lên tự nhiên như hơi thở, lời nói trong cuộc sống hàng ngày. Những danh
từ chỉ địa danh vùng sông nước Nam Bộ như “con sông Bìm Bịp” hay những
tên ấp, tên làng kiểu: “vùng Kiên Hà”, “xóm Bàu Sen”,… và cả những từ rất
gần gũi với cuộc sống con người Nam Bộ như “Họ đi mua nước ngọt bằng
xuồng chèo” [28, tr.162], “nghe bìm bịp kêu chúng tôi biết nước lên” [28,
tr.177],… đã tạo một sức quyến rũ lạ cho truyện ngắn của nhà văn miền sơng
nước Nam Bộ này. Vì thế, đọc truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta như
được sống trong khơng khí của vùng đất Nam Bộ với những con người trọng
nghĩa tình, nhân hậu và sâu sắc. Ngơn ngữ truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
đã thể hiện rất rõ những phẩm chất văn hóa, xã hội và con người vùng Đồng
bằng sơng Cửu Long, góp phần tạo nên một phong cách riêng độc đáo của
văn chương Nguyễn Ngọc Tư. Như vậy, với lối nói mang sắc thái hiện thực
đời thường, các cây bút truyện ngắn đã góp phần tái hiện chân thực bức tranh
của đời sống với một gam màu lạ, thể hiện được sự đa dạng của cuộc sống,
đồng thời làm phong phú, sống động hơn ngôn ngữ văn chương.


19

Việc truyện ngắn Việt Nam đương đại vận dụng những thành ngữ, lối
nói dân gian đã làm gia tăng tính thời sự cho ngôn ngữ văn chương cũng như
nội dung tư tưởng của tác phẩm. Với lối nói mang sắc thái hiện thực đời
thường, kiểu như “nó ăn ốc, mình đổ vỏ. Ở đời chuyện ấy thường lắm” [18,
tr.48] hay “Hồi ngoại Phi cịn sống thấy tóc anh hơi ra liếm ót bà đã cằn

nhằn” [28, tr.100]… Các cây bút truyện ngắn đã góp phần tái hiện bức chân
dung đời sống thường ngày, thể hiện được sự đa dạng của cuộc sống và làm
phong phú hơn ngôn ngữ văn chương. Cùng với đó, nhiều thuật ngữ y học,
cơng nghệ thơng tin, số hóa, ngơn ngữ mạng đã xâm lấn vào nhiều truyện
ngắn đương đại góp phần gia tăng tính hiện đại cho truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại.
Với ý thức đổi mới ngôn ngữ và cách thức xử lý ngôn ngữ của các nhà
văn, ngôn ngữ truyện ngắn thời kỳ này đã trở nên vô cùng sinh động, phong
phú, đa dạng, vừa mang vẻ đẹp cần có của ngơn ngữ văn chương vừa phản
ánh rõ nét đời sống đương đại trong tính đa dạng và phức tạp của nó.
Có thể nói, các nhà văn đương đại đã làm nên một sự cách tân, một
cuộc cách mạng cho ngôn ngữ văn chương nói chung, truyện ngắn nữ Việt
Nam đương đại nói riêng. Và ý thức cách tân, nhãn quan ngơn ngữ mới của
người viết cùng với tài năng và cá tính sáng tạo của các nhà văn đã tạo nên
những thay đổi đáng kể trong ngôn ngữ truyện ngắn Việt Nam đương đại.
1.2. Ấn tượng truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh trong dòng chảy truyện
ngắn nữ đương đại
1.2.1. Con đường văn chương của Phan Thị Vàng Anh
Phan Thị Vàng Anh sinh ngày 18 tháng 8 năm 1968 tại Hà Nội, quê ở
huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Ngay từ nhỏ, Phan Thị Vàng Anh đã sớm bộc
lộ năng khiếu văn chương (chị từng được tổ chức Liên hiệp quốc tế về văn
hóa, khoa học giáo dục UNESCO trao giải thưởng cho bài thơ Mèo con đi


×