BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
DƢƠNG THỊ HÕA
ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT TÔ NHUẬN VỸ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số:
60 22 01 21
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng, Năm 2015
Cơng trình được hồn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. CAO THỊ XUÂN PHƢỢNG
Phản biện 1: TS. TÔN THẤT DỤNG
Phản biện 2: TS. NGÔ MINH HIỀN
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn
tốt nghiệp thạc sỹ Khoa học Xã hội và Nhân văn họp tại Đại
học Đà Nẵng vào ngày 5 tháng 12 năm 2015
Có thể tìm luận văn tại:
- Trung tâm Thơng tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Sư phạm, Đại hoc Đà Nẵng
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật cho bộ tiểu
thuyết Dòng sông phẳng lặng và Ngoại ô; Giải thưởng Phùng Quán cho
tiểu thuyết Vùng sâu; và các tiểu thuyết liên tiếp được chuyển thể thành
phim…những thành cơng đó, một lần nữa khẳng định giá trị của tiểu
thuyết Tô Nhuận Vỹ. Thế nhưng, từ phương diện nghiên cứu thì tiểu
thuyết Tơ Nhuận Vỹ lại chưa được quan tâm đúng mức. Tính đến thời
điểm này, chưa có một cơng trình nghiên cứu nào chuyên sâu về tiểu
thuyết Tô Nhuận Vỹ. Thi thoảng, trên một số tờ báo, một số trang mạng
có đăng tải, song không nhiều những bài nhận xét, đánh giá sơ lược về
các tiểu thuyết đang được dư luận quan tâm.
1.2. Tìm hiểu đặc điểm tiểu thuyết Tơ Nhuận Vỹ giúp chúng tôi
khám phá một phong cách tiểu thuyết độc đáo; đồng thời nhận diện “chất
Huế”, chất nhân văn và sức sống bền bỉ trong những trang văn thấm đượm
tình người, tình đời của nhà văn. Người con của sơng Hương núi Ngự đã
viết về quê hương mình trong những năm khói lửa chiến tranh và thời hậu
chiến bằng tất cả niềm tự hào cùng những trăn trở, thao thức đầy tinh thần
trách nhiệm. Vì thế, khám phá tiểu thuyết Tơ Nhuận Vỹ giúp chúng tôi
hiểu hơn về Huế- vùng đất có bề dày văn hóa và thêm u tấm lịng của
nhà văn đối với quê hương, đất nước. Bên cạnh đó, khơng giống các nhà
văn đương thời, chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi kỹ thuật viết hiện đại; Tô
Nhuận Vỹ tìm cho mình một lối đi riêng. Tìm về với những giá trị truyền
thống; đưa những điệu hị, câu ví; lời ăn tiếng nói hàng ngày vào tác
phẩm; sáng tác của Tô Nhuận Vĩ mộc mạc, chân chất hương vị cuộc đời.
Nghiên cứu Đặc điểm tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ là cách để khám phá nét
đặc sắc, khu biệt trong sáng tác của ông so với sáng tác của các nhà văn
cùng thời và những nhà văn viết về Huế.
2
1.3. Nghiên cứu Đặc điểm tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ cũng là cách
để hiểu hơn về nhà văn - một cây bút dày dặn, bản lĩnh với Bản lĩnh văn
hóa Bản lĩnh nhà Văn. Để có những “vùng sâu”, để có những trang viết
rất đời ấy, Tơ Nhuận Vỹ đã thật sự dấn thân. Ông mạnh dạn chạm đụng
những vấn đề nhạy cảm, phơi trần những góc khuất tối tăm, những bi
kịch chiến tranh xé lòng mà một thời văn học cố tình né tránh. Mạnh dạn
“nhìn thẳng sự thật, đánh giá đúng sự thật”, Tô Nhuận Vỹ đã mở ra cho
tiểu thuyết đương đại một hướng tiếp cận mới - tiếp cận trên tinh thần
dân chủ hóa và nhân đạo hóa.
Từ những lý do trên, chúng tơi chọn, nghiên cứu đề tài Đặc điểm
tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ nhằm nhận diện một cách hệ thống và toàn
diện những đặc sắc nghệ thuật của tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ, trên cơ sở
đó nhìn định chính xác vị trí của Tơ Nhuận Vĩ trên hành trình đổi mới
văn học nước nhà.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Những bài viết, nghiên cứu về tác giả Tô Nhuận Vĩ
Với sự thành công của loạt tiểu thuyết Dịng sơng phẳng lặng,
Ngoại ơ, Vùng sâu, tên tuổi Tô Nhuận Vỹ càng được khẳng định trên văn
đàn. Nhiều độc giả tìm đọc tác phẩm của Tơ Nhuận Vỹ, nhiều bạn văn
quan tâm và nhiều bài viết về ông xuất hiện trên một số tờ báo, trang
mạng. Nguyễn Quang Lập với Tô Nhuận Vỹ, một chút chấm than và chấm
lửng; Ngơ Minh với Có một dịng sơng khơng phẳng lặng và Bản lĩnh văn
hóa, cái tâm sáng của nhà văn; Phan Thế Hữu Toàn với Chiến trường đã
cho tơi những trang viết…
Hành trình sáng tác của Tơ Nhuận Vỹ gắn với những thăng trầm
của cuộc đời nhà văn. Trong một cuộc trị chuyện với Phan Thế Hữu
Tồn, chính Tô Nhuận Vỹ xác nhận: “Chiến trường đã cho tôi những
trang viết" . Những kỉ niệm ấy sâu đậm đến nổi trở thành “những vết
khắc trong tim” ám ảnh tâm hồn nhà văn, thôi thúc ông cầm bút như một
3
lời tri ân của người con trọng nghĩa tình với mảnh đất đã ni dưỡng
tâm hồn mình, mảnh đất mà ông “mắc nợ suốt đời”. “Con đường văn
chương thăm thẳm”, có những lúc tưởng chừng bế tắc, thế nhưng Tơ
Nhuận Vỹ không hề chùn bước, ông vẫn miệt mài trên cánh đồng văn
chương bằng tất cả tình yêu dành cho quê hương và cách mạng. Ngược
lại, chính hiện thực cách mạng và tình yêu quê hương đã chắp cánh cho
hồn văn Tô Nhuận Vỹ. Nhiều bạn văn nhận định như vậy.
Một số bài viết phản ánh mối quan hệ máu thịt giữa xứ Huế và
nhà văn. Mảnh đất máu thịt này đã in đậm trong sáng tác của ông. Trong
Tô Nhuận Vỹ còn lặn lội ở vùng sâu, Phạm Phú Phong khẳng định:“Với
Tô Nhuận Vỹ, quê hương anh và miền q trong sáng tác dường như
trùng khít lên nhau. Đó là thành phố và vùng đất phía Nam thành phố
Huế” .
Xung quanh vấn đề “Bản lĩnh văn hóa, Bản lĩnh nhà Văn”, các bài
viết đã đánh giá cao Tô Nhuận Vỹ khi ông dám chạm đến những vùng
hiện thực nguy hiểm, dám mổ xẻ những vết thương chiến tranh không dễ
gì chữa trị và mạnh dạn đặt ra vấn đề hoà giải của con người sau chiến
tranh. Trong bài viết Bản lĩnh văn hóa, cái tâm sáng của nhà văn, Ngơ
Minh nhận định: “Tơ Nhuận Vỹ có cái nhìn rất mới, khi đả phá quan
điểm “ai không theo ta là địch” tồn tại thời hậu chiến cho đến nay. Cách
đây hơn 30 năm, anh đã viết tiểu thuyết Ngoại ô, với mục tiêu tối hậu là
để đấu tranh với quan điểm sai trái này” [19].
2.2. Những bài viết, nghiên cứu về tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ
Nghiên cứu về tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ, đa số là những bài nhận
xét, đánh giá bộ tiểu thuyết Dịng sơng phẳng lặng và Vùng sâu: Nguyễn
Khắc Phê với Có một “ vùng sâu” khơng dễ dò đến, Hồng Nhu với Sâu
địa lý, sâu cả lịng người, Dương Phương Vinh với Tơ Nhuận Vỹ viết gì
trong “ Vùng sâu”?... Nhìn chung, các bài viết trên chỉ dừng lại ở những
cảm nhận chung của người viết sau khi đọc tác phẩm. Các phương diện
4
nội dung và nghệ thuật của tác phẩm cũng được đề cập đến, song khá sơ
lược.
Gần đây, tại các trường đại học cũng đã xuất hiện một số cơng
trình nghiên cứu về tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ. Tuy nhiên, các nghiên cứu
chỉ dừng lại ở một tác phẩm cụ thể hoặc một phương diện của tiểu
thuyết Tô Nhuận Vỹ:
- Thi pháp tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ (Luận văn thạc sĩ của Nguyễn
Thị Minh Hà, 2008) là cơng trình nghiên cứu khá công phu, tập trung
khảo sát một số phương diện nghệ thuật đặc sắc của tiểu thuyết Tô
Nhuận Vỹ như không, thời gian nghệ thuật; kết cấu; ngôn ngữ, giọng
điệu. Đây là đề tài thuộc chuyên ngành lý luận văn học nên vì vậy chưa
tiệm cận một cách sâu sắc và toàn diện các giá trị nội dung của tác
phẩm.
- Tiểu thuyết Vùng sâu của Tơ Nhuận Vỹ từ góc nhìn diễn ngơn (Luận
văn thạc sĩ của Lê Thị Thanh Huyền, năm 2013) đã khai thác diễn ngôn thế
tục và diễn ngôn chấn thương trong tiểu thuyết Vùng sâu để đề cập đến “cuộc
chiến” còn tiếp diễn ở những người lính trở về từ chiến trường.
Như vậy, nghiên cứu về tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ xét đến thời
điểm hiện tại chưa có cơng trình nào đề cập một cách tồn diện về đặc
điểm tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ. Các nghiên cứu đa phần là những bài
viết, bài phỏng vấn trực tuyến và mức độ tiếp cận cũng chỉ giới hạn ở
những nhận xét, đánh giá có tính khái lược về một vài tác phẩm và vài
khía cạnh trong tiểu thuyết Tơ Nhuận Vỹ. Nhưng dẫu sao đó cũng là
những gợi ý cần thiết có tính mở đường để luận văn đi vào khảo sát Đặc
điểm tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu: là các tiểu thuyết đặc sắc của Tô
Nhuận Vỹ: Dịng sơng phẳng lặng (3 tập), Nxb Thanh niên - 2005;
Ngoại ô, Nxb Tác phẩm mới - 1984; Vùng sâu, Nxb Hội nhà văn - 2012.
5
Ngoài ra, để phục vụ cho thao tác đối chiếu, so sánh nhằm hướng
đến làm nổi bật những đặc sắc nghệ thuật của tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ,
chúng tôi cũng mở rộng đối tượng nghiên cứu đến một số tiểu thuyết của
các tác giả cùng thời.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ thành công trên cả hai phương diện nội
dung và nghệ thuật. Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung
khảo sát, nghiên cứu những bình diện nổi trội của hai phương diện này
là: chủ đề, đề tài, không, thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ, giọng điệu.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Vận dụng kết hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê - phân loại.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu.
- Phương pháp hệ thống- cấu trúc.
5. Đóng góp của luận văn
- Về lý luận: Luận văn cung cấp cho người đọc một cái nhìn khá
tồn diện và khoa học về những đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết Tơ
Nhuận Vỹ, từ đó nhận diện phong cách và vị trí của nhà văn trong tiến
trình văn học nước nhà.
- Về thực tiễn: Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những
ai quan tâm tiểu thuyết Tơ Nhuận Vỹ.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngồi phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo; luận văn
được triển khai trong 3 chương:
Chƣơng 1: Tô Nhuận Vỹ và hành trình sáng tạo tiểu thuyết
Chƣơng 2: Hiện thực cuộc sống trong tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ
Chƣơng 3: Nghệ thuật tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ
6
CHƢƠNG 1
TƠ NHUẬN VỸ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO
TIỂU THUYẾT
1.1. VỀ TÁC GIẢ TƠ NHUẬN VỸ
1.1.1. Tơ Nhuận Vỹ - Nhà văn “nặng lịng với Huế”
Tơ Nhuận Vỹ tên khai sinh là Tô Thế Quảng. Sinh ra và lớn lên ở Huế.
Sau hiệp định Giơ-ne- vơ, ơng theo gia đình tập kết ra Bắc. Năm 1964, tốt
nghiệp đại học, ông được điều về dạy học tại trường cấp III Hậu Lộc Thanh Hóa. Xa Huế, ơng vẫn đau đáu hướng về q nhà. Hình ảnh Huế
chìm ngập trong khói lửa chiến tranh đã thôi thúc ông và ông quyết định rời
bục giảng, trở về phục vụ quê hương với tư cách phóng viên mặt trận.
Trong chiến tranh, người con sơng Hương núi Ngự ấy lặng lẽ cống hiến cho
sự nghiệp đấu tranh chung của dân tộc; thời bình ơng lại chung tay góp sức
dựng xây quê nhà. Thời gian đảm nhiệm các chức vụ quan trọng ở Huế,
mọi việc ông làm đều vì sự phát triển của quê hương, thể hiện tâm huyết,
tinh thần trách nhiệm của một nhà văn, một nhà báo. Khơng dừng lại ở đó,
Tơ Nhuận Vỹ còn dành những trang tiểu thuyết để tái hiện cuộc chiến hào
hùng của quân và dân Huế như một lời tri ân đối với mảnh đất đã nuôi
dưỡng tâm hồn ông, mảnh đất mà ông “mắc nợ suốt đời”. Thời hậu chiến,
Tô Nhuận Vỹ lại tiếp tục dành những trang viết sắc sảo để lật mở những
mảng khuất lấp của hiện thực. Qua sáng tác văn chương, Tô Nhuận Vỹ đã
gửi gắm tình cảm sâu nặng đối với mảnh đất chơn nhau cắt rốn. Độc giả tìm
thấy ở ơng sự hết lịng, nặng tình với q hương, đất nước.
1.1.2. Tơ Nhuận Vỹ - Nhà văn bản lĩnh
Đến với tiểu thuyết Tơ Nhuận Vỹ, độc giả tìm thấy bản lĩnh đích
thực của một nhà văn qua cách nhìn nhận, phản ánh hiện thực, thái độ
đối với những vấn đề của văn học, văn hóa, xã hội. Bản lĩnh ấy được thể
hiện qua việc nhà văn dám công khai bàn luận những vấn đề trọng đại
của văn hóa, văn học nước nhà.
7
Đó là việc nhà văn dũng cảm nhận định về thực trạng của văn học
nước nhà. Trong khi nhiều người hết lời ngợi ca, dùng những lời có cánh
để thuyết minh cho sự “phát triển ngoạn mục” của văn học thì Tơ Nhuận
Vỹ khẳng định: “Mươi năm trở lại đây, văn học Việt Nam bỗng như
“phanh kít” lại, mà nhiều người dè dặt hơn nói là “chững lại”. Và ơng
cảnh báo nếu khơng nhìn thẳng vào sự thật này thì văn học nước nhà sẽ
tụt dài xuống dốc. Theo Tô Nhuận Vỹ, chính sự “thiếu khát vọng sáng
tạo” ở mỗi nhà văn là nguyên nhân chính khiến cho tác phẩm văn học
khơng cịn “hợp khẩu vị” với “những thực khách kén chọn”, dẫn đến
tình trạng độc giả mất dần niềm tin đối với văn học Việt. Từ đó, ơng đặt
vấn đề dân chủ dành cho sáng tạo văn chương. Ông nhấn mạnh, dân chủ
là điều kiện quan trọng số một để tự do sáng tạo, từ đó, mới có thể có
những tác phẩm phản ánh đúng thực trạng xã hội, phản ánh đúng số
phận và khát vọng của con người.
Bằng bản lĩnh của một nhà báo, trách nhiệm của một nhà văn, thông
qua tiểu thuyết, Tô Nhuận Vỹ đã mạnh dạn cơng kích, đả phá, phanh
phui, mổ xẻ những mảng hiện thực khuất lấp, những vấn đề gay cấn,
nhạy cảm mà trước đây văn học cố tình né tránh; đồng thời ơng cịn lần
tìm vào q khứ, lật lại những vụ án văn chương như vụ Đề dẫn, vụ báo
Văn nghệ, vụ Sơng Hương… chỉ ra những đóng góp của những cây bút,
của những tổ chức trên trong công cuộc cách tân, đổi mới văn học.
Không chỉ bàn luận về văn học, Tơ Nhuận Vỹ cịn lên tiếng địi
cơng bằng cho những trí thức chân chính hết lịng với q hương đất
nước như Nguyễn Bá Chung, Phạm Quỳnh… Ông lên tiếng lí giải một
cách thấu tình đạt lí để minh oan cho Phạm Quỳnh. Ơng cịn đề xuất
vinh danh Phạm Quỳnh như danh nhân văn hóa của dân tộc. Khơng chỉ
trên những trang viết mà bằng chính hành động, chính cuộc đời mình;
Tơ Nhuận Vỹ đã chứng tỏ bản lĩnh văn hóa, bản lĩnh của một nhà văn.
8
1.2. TƠ NHUẬN VỸ - HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO TIỂU THUYẾT
1.2. Hành trình tiểu thuyết Tơ Nhuận Vỹ
Hành trình tiểu thuyết Tơ Nhuận Vỹ là một cuộc hành trình dài gắn
với dòng đời lắm thăng trầm của nhà văn. Là phóng viên chiến trường,
từng đi qua nhiều mặt trận, Tơ Nhuận Vỹ có cơ hội tích lũy vốn sống,
kinh nghiệm. Những bài báo không thể chuyển tải hết những “tư liệu
sống” của cuộc chiến đã thôi thúc Tô Nhuận Vỹ tìm đến văn chương
như hành động giải phóng gánh nặng tâm tư dồn nén. Bộ tiểu thuyết sử
thi Dịng sơng phẳng ra đời như lời tri ân nghĩa tình của Tô Nhuận Vỹ
dành cho quân và dân Huế trong những năm tháng chiến tranh ác liệt.
Sau năm 1975, quan điểm “địch-ta” chi phối việc ứng xử đối với
những người thuộc qn đội chính quyền Sài Gịn. Quan điểm này vẫn âm ỉ
nhức nhối trong từng mái nhà, từng mảnh đời, số phận, ngự trị ngay chính
trong gia đình bên ngoại nhà văn. Khơng thể làm ngơ trước hiện thực đau
lịng đó, Tơ Nhuận Vỹ đã cho ra đời tiểu thuyết Ngoại ơ (1982) và Phía ấy
là chân trời (1988) để phản ánh cuộc đấu tranh giữa 2 quan điểm “Ai không
theo ta là địch” với quan điểm “Ai không theo địch là ta”.
Sau đó, do bận bịu cơng việc, do sự cố Tạp chí Sơng Hương, đặc
biệt do tai nạn khủng khiếp xảy đến với con gái, Tô Nhuận Vỹ vắng
bóng trên văn đàn. Song, ơng cũng dành qng thời gian dài ấy để chiêm
nghiệm, nung nấu và “thai nghén” cho ra đời một cuốn tiểu thuyết mới.
Năm 2012, tiểu thuyết Vùng sâu ra mắt bạn đọc. Vẫn là đề tài chiến
tranh, song tác phẩm xoáy sâu vào “nỗi đau nhân tâm thời hậu chiến ở
Huế”. Tác phẩm là tâm huyết, là những tình cảm thẳm sâu từ trái tim mà
nhà văn dành cho đồng đội, đồng chí, những người đã lặng lẽ hi sinh cho
quê hương, đất nước.
1.2.2. Tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ - những đổi mới nghệ thuật
a. Đổi mới quan niệm về hiện thực
9
Từ Dịng sơng phẳng lặng đến Vùng sâu là hành trình mở rộng dần
phạm vi phản ánh từ một hiện thực giới hạn trong đời sống chính trị xã
hội đến một hiện thực đa dạng của cuộc sống nhân sinh, thế sự. Viết về
chiến tranh, Tô Nhuận Vỹ không chỉ khẳng định những phẩm chất của
chủ nghĩa anh hùng cách mạng mà còn khám phá sức mạnh phi thường
của con người khi phải đối diện và vượt qua những đau thương và tổn
thất, những khoảng tối trong tâm hồn và nhân cách, những lỗi lầm và sự
trả giá trên con đường đi đến chiến thắng
Cùng với cái nhìn mới mẻ về hiện thực chiến tranh, tiểu thuyết Tơ
Nhuận Vỹ cịn mở rộng trường nhìn đến những vấn đề đời tư, thế sự. Sự
tiếp cận đời sống ở phương diện đời tư, thế sự đã đem đến cho tiểu
thuyết Tô Nhuận Vỹ những trang viết mới mẻ, sâu sắc thể hiện nhiều
khía cạnh của đạo đức cá nhân và những quan hệ thế sự. Các vấn đề
nhức nhối mà một thời văn học né tránh nay được Tô Nhuận Vỹ mổ xẻ,
phơi trần và trả về đúng vị trí, đúng bản chất của nó. Trên tinh thần
“nhìn thẳng vào sự thật”, tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ đã mạnh dạn phơi
bày thực trạng đất nước sau chiến tranh với những vấn đề bất cập như
mâu thuẫn địch - ta, những sai lầm trong cơng tác ứng phó với kế hoạch
hậu chiến của địch, sự xuống cấp về đạo đức ở một bộ phận cán bộ cùng
số phận những người lính trở về từ cuộc chiến.
Việc bổ sung thêm một số mơ típ chủ đề mới đã khiến cho hiện
thực cuộc sống trong tiểu thuyết Tơ Nhuận Vỹ rộng mở hơn, tồn vẹn và
sâu sắc hơn. Hiện thực cuộc sống không ngừng vận động đổi thay,
những cái mới xuất hiện, cái tiến bộ tiếp tục phát triển, cái lỗi thời, lạc
hậu dần lụi tàn.
b. Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người
Nhận ra sự phiến diện của văn học một thời, với mong muốn phản
ánh hiện thực một cách chân thật, Tô Nhuận Vỹ nhìn con người trong
tính tồn vẹn và tổng thể, ln vận động, chuyển hóa. Nhà văn đã xây
10
dựng được những nhân vật rất “người” với những cảm xúc chân thật
vượt qua con người sử thi thông thường. Khi xây dựng con người cơng
dân lí tưởng, nhà văn không chỉ hát độc bản nhạc ngợi ca mà ông còn
thẳng thắn, nghiêm khắc với những cá nhân mang tư tưởng sai lầm trong
chính hàng ngũ của ta. Nhà văn còn khắc phục được những quan niệm
đơn giản, sơ cứng trong cách đánh giá về nhân vật kẻ thù.
Bước tiến trong quan niệm nghệ thuật về con người của Tô Nhuận
Vỹ còn thể hiện ở kiểu nhân vật tự ý thức. Nhà văn lần sâu vào cõi riêng
“một mình mình biết, một mình mình hay” của nhân vật để khám phá
“con người bên trong con người”. Sự đổi mới trong quan niệm nghệ
thuật về con người của Tô Nhuận Vỹ còn thể hiện ở mối quan hệ giữa
hiện thực và con người. Nếu trước đây con người chịu sự chi phối của
hồn cảnh thì đến tiểu thuyết Tơ Nhuận Vỹ, con người vươn lên khắc
phục và làm chủ hoàn cảnh.
CHƢƠNG 2
HIỆN THỰC TRONG TIỂU THUYẾT TÔ NHUẬN VỸ
2.1. HIỆN THỰC CHIẾN TRANH
2.1.1. Sự khốc liệt của chiến tranh
Tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ là bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến
vĩ đại của dân tộc. “Bằng cảm quan của người nghệ sĩ đã từng lăn lộn ở
chiến trường, bằng vốn sống trực tiếp và thông qua sự sàng lọc của kí
ức”, tiểu thuyết Dịng sơng phẳng lặng của Tơ Nhuận Vỹ đã tái hiện
chặng đường lịch sử hào hùng của quân và dân Huế xoay quanh thời
điểm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.
Với tư cách là “người phóng viên trung thành của thời đại”, Tơ
Nhuận Vỹ đã miêu tả hiện thực chiến tranh vô cùng sinh động. Cuộc
chiến ác liệt, kẻ thù càng tàn bạo. Những tổn thất, những mất mát hi sinh
không làm nhụt chí con người mà chỉ làm tăng thêm lịng căm thù, ý chí
11
quyết tâm và tinh thần hi sinh của họ. Viết về chiến tranh, Tô Nhuận Vỹ
không chỉ phản ánh những sự kiện lịch sử mà còn quan tâm đến “con
người trong biến diễn của lịch sử”, đó cách ứng xử của con người trong
chiến tranh.
Viết về chiến tranh, văn học trước 1975 ít đề cập đến vấn đề số
phận con người. Nhà văn thường hướng ngòi bút vào việc khám phá,
ngợi ca những người anh hùng của thời đại. Số phận cá nhân như “vơ
tình” bị “bỏ qn”. Ngược lại, tiểu thuyết Tơ Nhuận Vỹ dù được viết
trong khói lửa chiến tranh, chịu sự chi phối của cảm hứng sử thi, song
vẫn không chút ngại ngần phơi bày những “nỗi buồn chiến tranh” mà
người dân phải gồng mình gánh chịu. Hướng đi đó đã đem lại cho tiểu
thuyết Tơ Nhuận Vỹ những nốt lặng xót xa, day dứt.
2.1.2. Những “khoảng tối” thời hậu chiến
Chiến tranh khép lại nhưng đất nước lại bắt đầu một cuộc chiến
mới không kém phần cam go, quyết liệt, đó là cuộc chiến của những nạn
nhân chiến tranh trên hành trình tìm lại nhân cách con người. Không
phải ngẫu nhiên mà nhà văn đặt tên nhan đề tác phẩm là “Ngoại ô”.
“Ngoại ô” chỉ khoảng cách địa lý của vùng đất nằm ở rìa nội thành; sâu
xa hơn ngoại ô là vùng đất xa xôi, hẻo lánh, tối tăm, đói nghèo, là bóng
hình đất nước thời hậu chiến với thân thể đầy bệnh tật: thất nghiệp, đói
nghèo, mại dâm…Thơng qua số phận từng mảnh đời cụ thể, Tô Nhuận
Vỹ đã vẽ nên bức tranh thời hậu chiến ảm đạm, tối tăm.
Một hiện thực khuất lấp khác, được Tơ Nhuận Vỹ quan tâm đó là số
phận những người lính bước ra từ cuộc chiến. Vùng sâu phản ánh số
phận những người lính từng bị bắt bớ, tù đày. Sau ngày miền Nam hồn
tồn giải phóng, mâu thuẫn Địch - Ta cùng lối tư duy “thà giết nhầm cịn
hơn bỏ sót” vơ tình đã đẩy họ vào đúng kế hoạch hậu chiến của địch.
Những con người hăng hái nhất, bản lĩnh nhất trong cuộc chiến hôm
qua nay đang mất dần niềm tin vào con người và cuộc đời. Đó khơng
12
còn là sự mất niềm tin của riêng một cá nhân mà là mối nguy cơ về sự
mất niềm tin của nhân dân vào cách mạng. Nỗi lo âu, trăn trở của Tơ
Nhuận Vỹ là điều gì sẽ xảy ra nếu như Nhân dân mất niềm tin vào sự
lãnh đạo của Đảng?
2.2. SẮC MÀU VĂN HÓA HUẾ
2.2.1. Ẩm thực Huế
Điều thú vị là qua tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ, độc giả còn thấy được
tư duy của người Huế trong việc thể hiện tính biện chứng âm dương và
tính linh hoạt trong văn hóa ẩm thực. Mùa hè nắng nóng phải ăn những
món giải nhiệt như mướp đắng. Lá lốt thuộc loại hàn (âm) đi với mít
thuộc loại nhiệt (dương). Đó là lý do mà người Huế có món canh mít
non nấu với tôm và lá lốt. Thức ăn được chế biến theo quan hệ tương tác
âm dương để đạt tới sự cân bằng phù hợp với môi trường sống.
Với người Huế, “ăn” trước hết là “ăn bằng mắt”, nên người phụ nữ
Huế rất dụng cơng trong tạo hình và trang trí các món ăn, tạo nên sự truyền
cảm mạnh mẽ trước khi thưởng thức. Qua bàn tay khéo léo của người phụ
nữ, món ăn đã được thổi vào cái hồn và chút gì đó tâm linh của Huế. Từ
những món ăn thường ngày như cá đồng, rau luộc đến những món ăn ngày
giỗ, tết, đều được người nấu ăn chế biến tinh xảo, đẹp mắt.
Tiếp cận món ngon, Vũ Bằng đặc biệt chú trọng đến sự khoái khẩu của
người thưởng thức; Nguyễn Tuân tiếp cận món ăn như một quá trình từ chế
biến, trình bày đến cách thưởng thức và chất văn hóa trong từng miếng ăn;
cịn Tơ Nhuận Vỹ lại chú trọng đặc trưng văn hóa vùng miền và ngợi ca cái
tình mà người Huế gửi gắm vào từng món ăn. Bên trong những “tác phẩm
nghệ thuật” ấy là tình cảm, tấm lịng của người đầu bếp với mong muốn
người thưởng thức được tận hưởng hương vị ngon ngọt của đời. Đó chính là
nét riêng tạo nên sự khác biệt của ẩm thực chốn Cố đô.
13
2.2.2. Thiên nhiên xứ Huế
Đến với tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ, người đọc bắt gặp bức tranh
thiên nhiên thơ mộng, trữ tình của xứ Huế mộng mơ – một khơng gia
đầy sắc màu văn hóa Huế với chùa chiền, lăng tẩm, dịng sơng, vườn và
những cơn mưa bất chợt.
Từ bao giờ, mưa đã trở thành “đặc sản” của Huế tựa như tà áo dài,
biểu tượng của Việt Nam. Qua tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ, mưa Huế
không “lất phất” như mưa phùn Hà Nội, cũng chẳng giống cơn mưa rào
“chợt đến, chợt đi” của Sài Gòn nắng cháy, mưa Huế mang vẻ đẹp rất
riêng “chẳng nơi nào có được”. Có nơi nào mưa dầm dề suốt ngày này
qua tháng khác, mưa đến độ thúi đất thúi đai?
Tô Nhuận Vỹ dường như nhìn thấy những cơn mưa nặng hạt, mưa
dầm mưa dề ấy chở nặng nỗi niềm ưu tư của người Huế. Những giọt
mưa như dòng nội tâm con người Huế với bao lớp sóng ngầm trong cuộc
sống lắm truân chuyên. Phải chăng mưa đã tạo nên nét trầm buồn, dịu
dàng “cố hữu” trong tính cách con người Huế?
Cùng với mưa, dịng sông cũng là biểu tượng độc đáo của xứ Huế.
Với Tơ Nhuận Vỹ, sơng Hương là bóng dáng, hình ảnh của con người
xứ Huế. Những trạng thái đối lập của dịng sơng cũng chính là những
thái cực trong tính cách Huế. Tô Nhuận Vỹ đã khéo léo đối chiếu vẻ
phẳng lặng, hiền hịa của sơng Hương ngày thường và sự “nổi giận” của
dịng sơng vào mùa mưa lũ với tính dịu dàng, kín đáo, thâm trầm hằng
ngày và phản ứng dữ dội, quyết liệt trước những biến cố lịch sử của
người dân Huế.
Thiên nhiên trong tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ cịn là “khu vườn văn
hóa”. Nhắc đến Huế, người ta nghĩ ngay đến thành phố vườn thanh bình
và trầm mặc. Khơng nhằm mục đích kinh tế, vườn Huế chủ yếu trồng
cây ăn quả, nhưng quả phải sai, phải đẹp. Lật tìm những trang tiểu
thuyết của người con xứ Huế, độc giả tìm thấy nét khu biệt của những
14
khu vườn chốn Cố đô. Bởi lẽ, người Huế dường như cố gắn kết tất cả
những cảm nhận của họ về phong thủy, lịch sử, văn hóa, sự tri ân với tổ
tiên và thiên nhiên, sự nhân ái với đồng loại; sự tn thủ tơn ti trật tự
một cách khó hiểu trong việc kiến tạo một ngôi nhà vườn.
2.2.3. Văn hóa tâm linh
Xu hướng tâm linh là một dịng chảy tiềm ẩn nhưng lâu bền trong
tính cách Huế. Là người con xứ Huế- xứ sở mà văn hóa tâm linh đã ăn
sâu vào nếp nghĩ, nếp sống của mỗi người thì việc Tơ Nhuận Vỹ đi sâu
tái hiện văn hóa tâm linh của Huế là điều dễ hiểu. Nhưng khác với một
số nhà văn, ơng khơng viết về nó với cảm hứng phê phán hay mỉa mai
mà ngược lại, đó là cách nhà văn bày tỏ niềm tự hào về văn hóa quê
hương xứ sở, khám phá vẻ đẹp tâm hồn Huế.
Một điều dễ dàng nhận thấy là đời sống người dân Huế chịu sự chi
phối lớn của niềm tin tâm linh. Trước tiên đó là sự ảnh hưởng của những
tín ngưỡng dân gian như cúng đất. Tiếp đến là sự tác động của đạo Phật
đến đời sống của người dân Huế. Đạo Phật đã ăn sâu vào trong đời sống
tâm linh của người Huế, có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống tinh
thần Huế. Phật giáo đã trở thành chỗ dựa tinh thần, đức tin của người
dân Huế. Họ sống, ứng xử theo đạo Phật. Đó chính là cơ sở làm nên
“tính cách Huế”.
2.3. TÍNH CÁCH HUẾ
2.3.1. “Dữ dội” và “dịu êm”
Huế - vùng đất cổ kính, trầm mặc, với những con người hiền hòa,
mềm mỏng. Song, Huế cũng là mơi trường sinh ra những “tính cách
nổi loạn” - được hiểu như sự phá cách, lệch chuẩn, so với chuẩn tính
cách người Huế. Trong tiểu thuyết Tơ Nhuận Vỹ, tính cách Huế vừa “dữ
dội” lại “dịu êm”. Dịu dàng, trầm lắng nhưng trước thách thức, gian nan,
tính cách Huế lại mãnh liệt, dữ dội. Trước biến cố của lịch sử, người
Huế nhanh chóng tỉnh thức, đứng lên gánh vác sứ mệnh thiêng liêng.
15
Mỗi nhân vật trong tiểu thuyết của Tô Nhuận Vỹ đều biểu hiện đặc
tính chung của tính cách Huế. Họ vừa bị truyền thống níu giữ, vừa muốn
thốt khỏi cái khn phép đó để khẳng định mình và hành xử đúng với
con người thật của mình. Giữa họ đã diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai nửa
con người. Cuối cùng, như một sự tất yếu họ đã thay đổi để thích nghi
với hồn cảnh. Nhà văn đã nhìn con người bằng cái nhìn biện chứng:
“Hoa lớn lên trong mùa xuân ấm áp/ Người lớn lên trong bão táp phong
ba”. Chính bão táp của lịch sử đã tạo nên “ bước nhảy” trong tính cách
Huế. Đây là cái nhìn thể hiện niềm tin vào tính cách Huế.
2.3.2. Tính thâm trầm
Khi nói về cái riêng làm nên bản sắc văn hóa Huế, nhạc sỹ
Trương Tuyết Mai khẳng định: “Vẻ đẹp Huế chẳng nơi nào có được/ Vẻ
dịu dàng pha lẫn trầm tư”. Chính chiều sâu tâm hồn đã làm nên tính
thâm trầm của người Huế. Thâm trầm được hiểu là sâu sắc, nội tâm, kín
đáo, khơng dễ dàng để tâm tư, tình cảm cũng như ý nghĩ bộc lộ ra bên
ngoài.
Chị Hạnh trong Dịng sơng phẳng lặng có thể xem là hiện thân của
tính cách Huế. Dịng nội tâm của người phụ nữ nơng thơn ấy có lúc nào thơi
dậy sóng? Đó là một người phụ nữ thật sâu sắc, nặng tình luôn nghĩ cho
người khác.
Sâu sắc, nội tâm nên người Huế nặng ân tình. Có lẽ, đây là lí do
khiến họ sống thủy chung vẹn nghĩa, trọn tình. Những con người sống
nội tâm, sâu sắc bao giờ cũng lặng lẽ hi sinh. Tình u của họ ln trĩu
nặng bởi tình thương và tình nghĩa. Trong tiểu thuyết Tơ Nhuận Vỹ, khi
u, người ta không trao nhau những lời hoa mỹ mà lặng lẽ quan tâm, lo
lắng cho nhau. Với người phụ nữ trong tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ, yêu là
mong cho người mình yêu được hạnh phúc! Họ sẵn sàng làm tất cả vì
hạnh phúc của người mình yêu, kể cả việc vun đắp tình yêu cho người
16
yêu. Không chỉ phụ nữ Huế, những chàng trai xứ Huế cũng sâu sắc
không kém. Khi yêu, họ lặng lẽ đứng sau làm điểm tựa tinh thần cho
người mình u.
Khơng chỉ trong tình u, người Huế cịn lặng lẽ hi sinh cho quê
hương, đất nước. Sự sâu sắc khiến họ dù chịu bao oan uất là vậy, nhưng
vẫn không hề trách cứ, không hề than vãn mà vẫn thủy chung với tổ
quốc, lặng lẽ cống hiến cho quê hương, đất nước.
CHƢƠNG 3
NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT TÔ NHUẬN VỸ
3.1. KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
3.1.1. Không gian nghệ thuật
a. Không gian sử thi
Trong tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ, tương ứng với cảm hứng sử thi hào
sảng và con người sử thi lý tưởng là một khơng gian sử thi hồnh tráng.
Đó là kiểu khơng gian mang tính xung đột căng thẳng giữa ta và địch,
giữa chính nghĩa và phi nghĩa. Không gian sử thi trong tiểu thuyết Tô
Nhuận Vỹ trước hết là không gian chiến trường với những trận đánh ác
liệt với sự hủy diệt của lửa. Nhưng ngọn lửa hủy diệt ấy khơng thể dập
tắt ý chí của qn và dân Huế mà càng thổi bùng lên làn sóng căm hờn.
Khơng gian sử thi cịn được biểu hiện cụ thể qua hình tượng con đường,
hình tượng trận đánh. Khơng gian các trận đánh diễn ra ác liệt, căng
thẳng, đầy kịch tính suốt trên con đường Thuận An, trong các khu vườn
Vĩ Dạ yên tĩnh từ bao đời, thậm chí ngay dưới những căn hầm, hố
bom…Không gian sử thi trong tiểu thuyết Tơ Nhuận Vỹ cịn hiện hình
qua dịng sơng- dịng lửa cách mạng sục sơi trong mỗi người dân Huế.
17
b. Không gian đời tư
Sau 1975, Tô Nhuận Vỹ tiếp tục khai thác đề tài chiến tranh nhưng
từ một góc nhìn khác đó là số phận con người thời hậu chiến. Theo đó,
khơng gian tiểu thuyết cũng có sự vận động, từ khơng gian sử thi qui
mơ, hồnh tráng chuyển sang không gian đời tư tù túng, chật hẹp giam
hãm con người.
Đi vào sáng tác của Tô Nhuận Vỹ những khu vườn, nơi bảo lưu bao
nét đẹp văn hóa Huế, là “bức tường ngăn cản”, lưu dấu tính bảo thủ, là
không gian giam hãm với bao khuôn phép, lễ giáo ràng buộc con người.
Bị giam hãm trong những khu vườn, quen được “ru ngủ” trong cuộc
sống yên bình, con người Huế khó đối diện với những nghiệt ngã của
thời cuộc. Hành trình mỗi người vượt khỏi khơng gian nhỏ hẹp hịa vào
dịng chảy lớn của cuộc đời chính là hành trình vượt lên chính mình,
chiến thắng kẻ thù mang tên nhu nhược tồn tại trong mỗi người. Sống
trong bốn bức tường kín ấy, con người muốn thốt ra ngồi. Đấy là khát
vọng được sống tự do, vượt thoát khỏi bốn bức tường cung cấm, thoát
khỏi những giới hạn chật hẹp của con người. Xây dựng không gian
vườn, nhà văn gián tiếp đề cập đến tính bảo thủ, trở lực ngăn cản Huế
trên con đường đến với tương lai.
c. Không gian tâm linh
Là người con của xứ Huế- xứ sở của văn hóa tâm linh nên Tơ Nhuận
Vỹ đã xây dựng thành công không gian tâm linh. Với Tô Nhuận Vỹ, vườn
là không gian tâm linh- nơi chứa đựng “tâm hồn” của Huế. Nhà vườn Huế
giống như là một vũ trụ thu nhỏ, bởi toàn bộ những triết lý sống của con
người xứ Huế đến những quan niệm về vũ trụ luận đều được gói gọn trong
ấy. Vườn là nơi con người được sống với cây cỏ trong một tình bạn lớn, qua
đó con người có thể từ ngơi nhà nhỏ của mình bước vào ngơi nhà lớn vũ trụ.
Đó chính là cách Tô Nhuận Vỹ để cho nhân vật của mình lấy vườn làm
18
điểm tựa, lấy sức sống trường cửu vĩnh hằng của thiên nhiên hồi sinh khát
vọng sống.
Một không gian tâm linh khác mà Tô Nhuận Vỹ tái hiện là chùa chiền.
Trước những biến động dũ dội của cuộc sống, chùa là bến đỗ bình yên, là
nơi con người tìm về để nương náu. Nhưng chốn bình yên ấy đã bị phá tan
bởi những đợt đột kích, bởi tội ác ngay trước cửa Phật từ bi của kẻ thù.
Không gian tâm linh vừa giúp nhà văn khám phá chiều sâu tâm linh Huế,
vừa lên tiếng tố cáo chiến tranh phi nghĩa.
3.1.2. Thời gian nghệ thuật
a. Thời gian được trần thuật.
Thời gian được trần thuật là thời gian của sự kiện được nói tới.
Trước hết là thời gian lịch sử có tính chất biên niên. Nếu như sử thi viết
về quá khứ dân tộc, quá khứ tuyệt đối, bất biến, đã hoàn tất thì Dịng
sơng phẳng lặng gắn với thời gian ở thì hiện tại khơng hồn thành của
nó. Thời gian sự kiện trong tiểu thuyết Tơ Nhuận Vỹ tựa một dịng sơng
đang cuộn chảy với hai đầu thượng lưu và hạ lưu. Đó là dịng chảy
xun suốt hành trình từ chiến tranh sang hịa bình và cuộc mưu sinh của
con người thời hậu chiến. Thời gian sự kiện đem lại độ chính xác, tính
khách quan làm nên tính chân thật cho tác phẩm. Qua đó, người đọc như
được sống lại cùng lịch sử vẻ vang một thời của quân và dân Huế.
Trong tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ, thời gian được trần thuật khi thì
êm trơi, chậm chạp có lúc dồn dập, khẩn trương sự kiện này chưa xong,
sự kiện kia đã tới, gối đầu lên nhau, chồng chất, xô đẩy nhau cùng với
những tai họa ập đến bất ngờ. Thời gian gấp khúc một mặt phản ánh tính
chất dang dở, khơng trọn vẹn của tiến trình cuộc đời nhân vật, mặt khác
tơ đậm tính chất phức tạp, ác liệt của cuộc chiến tranh.
b. Thời gian trần thuật
Thời gian trần thuật chính là thời gian của truyện kể phân biệt với
“thời gian được trần thuật là thời gian của các sự kiện được kể”. Đó là
19
thời gian của trật tự các sự kiện đã được phân bố lại trong tác phẩm do
sắp xếp chủ quan của người kể chuyện. Ở thời gian trần thuật, thủ pháp
đảo thuật được vận dụng nhuần nhuyễn để lần vén thế giới nội tâm nhân
vật, giúp nhà văn gửi gắm những bức thông điệp nghệ thuật. Thời gian
trần thuật trong tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ gắn với ý định chủ quan của
nhà văn. Thời gian đêm tối song hành với không gian “vườn đêm”, giúp
nhà văn tái hiện “bức tranh thời hậu chiến”. Thời gian trong tiểu thuyết
của Tô Nhuận Vỹ ln có sự vận động “từ thung lũng đau thương ra
cánh đồng vui”. Đó là sự vận động mang tính biện chứng phù hợp với
qui luật phát triển.
Điều làm nên dấu ấn riêng cho thời gian trần thuật trong tiểu thuyết Tô
Nhuận Vỹ là sự xuất hiện của “thời gian của người”- thời gian gắn liền với
những suy tư, trăn trở về lẽ sống của nhân vật. Trong khoảng thời gian hữu
hạn của cuộc đời, con người trong tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ luôn trăn trở là
làm sao để sống tốt hơn, để cuộc sống có ý nghĩa hơn. Bởi lẽ, họ ý thức
“sống khơng có nghĩa là tồn tại”.
3.2. NGƠN NGỮ NHÂN VẬT
3.2.1. Ngơn ngữ đối thoại
Đối thoại là một dạng lời phát ngôn trực tiếp của nhân vật mang tính cá
thể hóa cao. Trong tiểu thuyết, hình thức đối thoại được sử dụng rộng rãi và
có vai trò quan trọng trong việc biểu đạt nội dung. Khảo sát tiểu thuyết Tơ
Nhuận Vỹ, có thể thấy, ngơn ngữ đối thoại nổi bật với hai đặc điểm: trần trụi,
gần gũi cuộc sống đời thường và đậm chất phương ngữ Huế.
a. Ngôn ngữ tự nhiên, đời thường
Mang khát vọng diễn đạt chân thực đời sống phức tạp nhiều chiều,
Tô Nhuận Vỹ thừa hiểu cần “một nhãn quan ngôn ngữ mới” để miêu tả
cuộc sống và con người như nó vốn có. Nhà văn ln ưu tiên sử dụng
lớp ngơn từ mang phong cách khẩu ngữ để chung chuyển cái “vị mặn
mịi, thơ ráp” của cuộc sống.
20
Trong tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ, ngôn ngữ nhân vật được cá thể hóa
và tình huống hóa triệt để. Khó tìm thấy trong các đoạn hội thoại của
tiểu thuyết Tơ Nhuận Vỹ những ngôn từ hoa mỹ mà chủ yếu là "nghĩ gì
nói nấy" như người dân miền Trung mà vẫn khơng kém phần gợi cảm.
Chính ngơn ngữ trần trụi, thô mộc đã giúp nhà văn chuyển tải được dư
vị của cuộc sống đời thường như nó vốn có. Bên cạnh đó, Tơ Nhuận Vỹ
cũng linh hoạt sử dụng các yếu tố của văn hóa dân gian như thành ngữ,
tục ngữ, ca dao, những câu hát ru trong các đối thoại của nhân vật. Viết
về nhân dân bằng chất liệu dân gian làm cho văn phong tiểu thuyết Tô
Nhuận Vỹ vừa bình dị, mộc mạc, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày,
vừa góp phần xây dựng hình tượng nhân dân một cách chân thật, sinh
động.
b. Ngôn ngữ đậm chất Huế
Việc lấy ngơn ngữ nơi mảnh đất mình gắn bó làm ngơn ngữ biểu đạt
trong tác phẩm cũng là một hướng đi được nhiều nhà văn lựa chọn. Đọc tiểu
thuyết Tô Nhuận Vỹ, độc giả như được “tắm đẫm” trong cái “phong vị”
riêng của một vùng đất. Làm nên cái “phong vị” riêng ấy phải kể đến sự
góp mặt của lớp từ địa phương giàu màu sắc biểu cảm. Phương ngữ như
một loại “gia vị” làm mới “khẩu vị” của độc giả đồng thời tạo nên cái
"duyên" riêng trong văn phong của nhà văn.
Trong tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ, màu sắc văn hóa vùng miền được thể
hiện khá tinh tế qua hệ thống phương ngữ. Một thế giới trần thuật đậm đặc
từ địa phương như: “tra” (già), “ri”(này), “tề” (kìa), “o” (cơ), “mơ” (đâu,
nào), “mạ” (mẹ), “chi” (gì), “vơ” (vào), “cẳng” (chân), “bới” (xới), “bộ”
(có lẽ), “bổ” (ngã), “rờ”(sờ), “không can chi mô”, “không chịu thấu mô”,
“thối lui”, “ba lơn”, “ba trợn”,…Việc sử dụng phương ngữ có chọn lọc, phù
hợp với vùng đất, con người đã góp phần tạo nên màu sắc địa phương trong
tác phẩm, qua đó làm nổi bật tính cách vùng miền của nhân vật.
21
3.2.2. Ngơn ngữ độc thoại
Khi nhân vật có nhu cầu bộc lộ tình cảm, suy nghĩ khi ấy những
dịng độc thoại nội tâm xuất hiện. Nhân vật trong tiểu thuyết Tô Nhuận
Vỹ rặt những người nặng gánh tâm tư, thiên về nội tâm với những suy
tư, trăn trở, khát khao, hồi niệm, với những mâu thuẫn giằng xé trong
lịng nên ln có nhu cầu độc thoại, giãi bày. Vì vậy, nhà văn dành sự
quan tâm lớn đến ngôn ngữ độc thoại nhằm vén mở đời sống phức tạp
bên trong của nhân vật.
Trong tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ, thủ pháp độc thoại nhằm cá thể
hóa nhân vật thường xuất hiện ở những bước ngoặt lớn trên đường đời
của nhân vật và được biểu hiện qua nhiều dạng khác nhau. Có khi là lời
bộc bạch trực tiếp tự đáy lịng với chính mình, khi là nửa trực tiếp do tác
giả phơi bày tâm lý nhân vật. Với Tô Nhuận Vỹ, độc thoại nội tâm là thủ
pháp mầu nhiệm để nhân vật tự biểu hiện tình cảm, tư tưởng, suy nghĩ
của bản thân mình, bộc lộ những chuyển động thầm kín chỉ một mình
mình biết, một mình mình hay.
3.3. GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT
3.3.1. Giọng ngợi ca
Với sự chi phối của khuynh hướng sử thi, những trang viết về đề tài
chiến tranh của Tô Nhuận Vỹ ngập tràn âm hưởng ngợi ca. Với chất giọng
ngợi ca, Tô Nhuận Vỹ đã làm sống lại cuộc chiến đấu kiên cường và anh
dũng của nhân dân Huế trong những ngày sôi động, hào hùng của cuộc kháng
chiến chống Mỹ. Nhà văn ngợi ca cuộc chiến tranh nhân dân, ngợi ca Đất và
Người xứ Huế, ngợi ca tính cách Huế trong khói lửa chiến tranh. Giọng điệu
ngợi ca còn thể hiện ở thái độ của mỗi người dân đối với cách mạng. Điều đặc
biệt là từ trước đến sau, Tô Nhuận Vỹ vẫn dành sự ưu ái đối với nhân vật nữ.
Ông dành nhiều trang viết cảm xúc ngợi ca những người phụ nữ Huế trung
hậu, thủy chung, son sắt.
22
3.3.2. Giọng chính luận
Tơ Nhuận Vỹ sử dụng giọng chính luận để phanh phui, mổ xẻ
những mảng hiện thực “khuất lấp”, những vấn đề thời sự, nóng bỏng của
cuộc sống như mâu thuẫn địch- ta, vấn đề hòa hợp hòa giải dân
tộc…Qua đó, nhà văn bác bỏ những quan điểm sai lầm, phát biểu những
luận đề tư tưởng, bày tỏ quan điểm, chính kiến của mình. Giọng chính
luận trong tiểu thuyết Tơ Nhuận Vỹ cịn thể hiện qua việc chỉ trích, phê
phán những mặt trái của xã hội; thẳng thắn vạch trần những tiêu cực,
hạn chế của một số cán bộ cách mạng. Người phóng viên chiến trường
năm xưa đã tấn công vào cái xấu, cái ác hôm nay bằng giọng chính luận
hùng hồn, làm cơng việc của một thầy thuốc kê đơn, chạy chữa những
căn bệnh nan y, những vết thương nhức nhối của xã hội. Qua kiểu giọng
này, cá tính sáng tạo của nhà văn cũng được giải phóng triệt để hơn.
3.3.3. Giọng hồi nghi, tra vấn
Thời hậu chiến, tồn tại biết bao nhiêu vấn đề “khuất lấp” mà cái
nhìn một chiều trước đây khơng sao lí giải được. Hướng tới khám phá
hiện thực đa chiều, Tô Nhuận Vỹ đã sử dụng giọng hoài nghi, tra vấn.
Với kiểu giọng này, nhà văn khơng cịn ở vị trí đứng trên, lấn lướt nhân
vật, mà hòa nhập, tham gia vào cuộc đối thoại của nhiều ý thức độc lập,
qua hệ thống hình tượng. Nhờ tính chất đối thoại mà các vấn đề của
hiện thực được xem xét dưới những điểm nhìn khác nhau..
Đồng thời, với kiểu giọng này nhà văn cịn đánh thức ở độc giả sự
tra vấn chân lí và truy tìm “phương thuốc” chữa chạy cho những vết
thương đang lở lói thời hậu chiến. Tính đối thoại, đa thanh bổ sung cho
cái nhìn đa chiều về cuộc sống và là một trong những yếu tố làm nên
phong cách Tô Nhuận Vỹ.
23
KẾT LUẬN
1. Hơn 40 năm gắn bó với nghề viết, hành trang mà Tô Nhuận Vỹ
đem đến cho đời là gần chục tập truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch bản sân
khấu. Con số khơng lớn nhưng tấm lịng thì khơng nhỏ. Dẫu đường văn
không mấy bằng phẳng, nhưng bằng bản lĩnh văn hóa, bản lĩnh của một
nhà văn, Tơ Nhuận Vỹ đã dũng cảm băng qua để tiệm cận những giá trị
đích thực, để có những tác phẩm để đời như một lời tri ân dành cho Huế
thương. Thử bút ở nhiều thể loại, nhưng Tô Nhuận Vỹ đặc biệt thành
cơng ở thể loại tiểu thuyết. Hành trình tiểu thuyết Tơ Nhuận Vỹ xuất
phát từ Dịng sơng phẳng lặng tăng tốc ở Ngoại ơ, Phía ấy là chân trời
và về với Vùng sâu là hành trình khơng ngừng đổi mới và sáng tạo, đặc
biệt đổi mới trong quan niệm về hiện thực và quan niệm nghệ thuật về
con người. Tất cả những nỗ lực ấy đã đem lại cho tiểu thuyết Tô Nhuận
Vỹ những dấu ấn riêng, in đậm phong cách tác giả.
2. Là phóng viên mặt trận, từng lăn lộn trên nhiều chiến trường,
từng được nhân dân cưu mang trong những năm tháng chiến tranh, Tô
Nhuận Vỹ đã viết về cuộc chiến hào hùng của quân và dân Huế như lời
tri ân với quê hương, đồng đội. Cùng với hiện thực sử thi, những năm 80
tiểu thuyết Tô Nhuận Vỹ đã mở rộng phạm vi phản ánh đến nhiều vùng
hiện thực mới, kể cả những vùng hiện thực nhạy cảm. Chứng kiến, thấu
hiểu “nỗi đau nhân tâm thời hậu chiến”, nhà văn đi sâu khám phá những
khoảng tối “mờ chìm, khuất lấp”, hướng đến những vấn đề nóng bỏng
của xã hội như mâu thuẫn địch - ta, vấn đề hịa hợp - hịa giải dân tộc, số
phận người lính sau chiến tranh. Qua tiểu thuyết, tác giả đã đặt ra nhiều
vấn đề mới mẻ, bất ngờ buộc xã hội phải trăn trở, suy ngẫm; bình tĩnh
nhìn nhận lại để ứng xử nhân văn hơn, người hơn đối với con người sau
chiến tranh. Đồng thời, qua tiểu thuyết tác giả cũng gửi gắm ước vọng
hòa hợp, “mong muốn tất cả mọi người cùng đồng hành với cách mạng,
xây dựng cuộc sống mới”. Bên cạnh đó, người con sơng Hương núi Ngự