1
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
----------
NGUYỄN THỊ DUNG
Đặc điểm tiểu thuyết Người sơng Mê của
Châu Diên
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP
2
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây kết quả khóa luận này là sự nổ lực nghiên cứu, tìm
tịi của bản thân dưới sự hướng dẫn của TS. Ngô Minh Hiền.
Tơi xin bảo đảm về tính trung thực của lời cam đoan trên.
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2012
Người thực hiện
Nguyễn Thị Dung
3
TRANG GHI ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài Đặc điểm tiểu thuyết Người sông Mê của
Châu Diên, chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình, đóng góp ý kiến và
động viên của cô giáo TS. Ngô Minh Hiền để chúng tơi hồn thành khóa luận này.
Xin cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn và các
bạn đã đóng góp ý kiến chân thành cho khóa luận của chúng tơi.
Đề tài khơng tránh khỏi nhưng thiếu sót rất mong nhận được sự góp ý, bổ
sung của quý thầy cô và tất cả các bạn.
Đà Nẵng, ngày 10 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Thị Dung
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau 1975, đặc biệt từ 1986, trước yêu cầu bức thiết về sự đổi mới một cách
toàn diện và sâu sắc của đời sống thì văn học- một trong những hình thái ý thức xã
hội tất yếu cũng làm mới mình để đáp ứng yêu cầu này. Xu hướng dân chủ ở giai
đoạn này đã tạo nên cho văn học kiểu nhà văn mới. Họ sáng tạo nhân danh kinh
nghiệm cá nhân với ý thức cá tính cao độ. Viết tác phẩm, tác giả không đứng cao
hơn độc giả để phán truyền mà đối thoại với người đọc, chia xẻ và kiếm tìm những
cách cắt nghĩa mới để sinh thể nghệ thuật của mình luôn sống.
Châu Diên là một hiện tượng văn học độc đáo, một tác giả quen mà lạ. Lâu
nay người ta vẫn biết ông nhiều hơn dưới cái tên thật Phạm Tồn ở lĩnh vực giáo
dục và cơng nghệ giáo dục. Bước sang lĩnh vực nghệ thuật với bước đi ban đầu là
những truyện ngắn, Châu Diên đã từng bước tạo cho mình một dấu ấn riêng trong
lịng bạn đọc. Đọc truyện Châu Diên người ta thấy một giọng văn vừa hóm hỉnh,
vừa hài hước nhưng đọng lại đằng sau những tiếng cười ấy lại là những ẩn ý chứa
độ sâu sắc và mang ý nghĩa nhân văn cao. Một cách viết “khiến khơng ít độc giả
tủm tìm cười khi đọc truyện, nhưng đọc xong có thể khóc thầm lặng lẽ. Ý nghĩa
thiên truyện cứ thế lắng sâu vào tâm trí” [25].
Châu Diên viết không nhiều, song các tác phẩm của ông đã khẳng định có
một Châu Diên – nhà văn ở đời. Vì những lí do riêng, một thời gian dài ông đã
không sáng tác văn học. Và rồi, sau những năm tháng “vắng bóng” trên văn đàn,
5
Châu Diên đã trở lại trên văn đàn bằng tiểu thuyết Người sơng Mê (năm 2003)
khiến khơng ít độc giả tị mị, thích thú. Người sơng Mê được viết bằng một lối hành
văn tưởng như lỏng lẻo lại thắt chặt, một văn phong nửa đùa nửa thật, nửa tỉnh nửa
mơ, và ẩn sâu dưới lớp chữ ấy là cả một nỗi niềm về thời đại, là những chiêm
nghiệm triết lí về cuộc đời và về con người trong cuộc đời đầy phức hợp kia mà
Châu Diên qua cái nhìn sắc sảo của mình đã gửi gắm vào trong đó. Chính trái tim
nhiệt huyết luôn trằn trọc lo nghĩ về những thay đổi trong cuộc sống của nhà văn,
chính tài năng văn chương cùng với nghệ thuật trần thuật sắc sảo, khéo léo đã giúp
nhà văn bước vào cuộc truy tìm bản thể giữa cuộc đời đầy phức tạp một cách đầy
hóm hỉnh mà vẫn chứa đựng những ẩn tàng ý nghĩa sâu sắc.
Nghiên cứu một tác phẩm văn học, nó không chỉ giúp chúng ta phát hiện
những giá trị của tác phẩm mang mà còn giúp lý giải những vấn đề về sáng tạo nghệ
thuật của nhà văn. Trên cơ sở tìm hiểu tác phẩm văn học ở hai bình diện nội dung
và nghệ thuật, các nhà nghiên cứu đã từng bước mở rộng hướng tiếp cận văn học,
thúc đẩy văn học khơng ngừng đổi mới và phát triển. Tìm hiểu đặc điểm tiểu thuyết
Người sông Mê của Châu Diên, luận văn nhằm làm rõ hơn về giá trị nội dung và
nghệ thuật của tác phẩm, thơng qua đó để có một cách nhìn nhận, đánh giá đúng
hơn về tài năng và phong cách Châu Diên cũng như những đóng góp, cống hiến của
nhà văn đối với văn học Việt Nam đương đại.
2. Lịch sử vấn đề
Tác phẩm của Châu Diên ngay từ những truyện ngắn đầu tiên cũng đã được
giới phê bình đánh giá khá cao với cách kể chuyện nhẹ nhàng, đôi khi lại tưng tửng,
đùa cợt. Đã có những cơng trình nghiên cứu, đánh giá về Người sông Mê của Châu
Diên, cụ thể:
Năm 2006, tác giả Bùi Thanh Truyền với bài Sự hồi sinh của yếu tố kì ảo
trong văn xi đương đại Việt Nam, đã nhận xét khá chi tiết về nghệ thuật tiểu
thuyết Người sông Mê. Bùi Thanh Truyền cho rằng Châu Diên đã rất thành công
“với lối viết hiện thực huyền ảo vận dụng nhiều độc thoại nội tâm, dòng ý thức, sự
đan cài, lắp ghép các mảng hiện thực cách xa nhau trong không gian, thời gian lại
6
cạnh nhau, đánh đồng cõi thực và chốn sông Mê bến Lú thành một phức thể lung
linh để cuộc sống đời thường và lịch sử dân tộc với trăm ngàn khuất lấp của nó hiện
ra trần trụi trong cái nhìn thấu thị của những con người bước ra từ thế giới bên
kia… Người viết dường như đã nhập đồng cái ngơn ngữ phi khơng gian và thời gian
để tiếng nói nghệ thuật đầy biến ảo của ông tăng thêm ma lực quyến rũ, mê hoặc
lòng người” [22, tr.50].
Năm 2008, sau những nghiên cứu, tìm tịi về sự hồi sinh của các yếu tố kì ảo,
Bùi Thanh Truyền một lần nữa khẳng định, ở Người sơng Mê “những tương phản
trong hình ảnh, điệp trùng trong cú pháp, hài hoà về âm điệu, nhịp điệu, tính chất
biểu trưng, ám ảnh của hình tượng... cũng là sự chưng cất công phu của Châu Diên
để chất thơ trong tiểu thuyết Người sơng Mê có dịp thăng hoa” [23, tr.60].
Bàn về việc tổ chức điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm văn học, tác giả Mai
Hải Oanh ở bài viết Nghệ thuật tổ chức điểm nhìn trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì
đổi mới, đã khẳng đinh với Người sông Mê, Châu Diên đã “để người trần thuật nhập
vào các nhân vật của mình và xố nhồ khoảng cách giữa người trần thuật và nhân
vật khiến cho hai điểm nhìn trùng khít nhau. Bước vào thế giới sông Mê, người kể
chuyện cũng trở thành nhớ nhớ quên quên, mê mê tỉnh tỉnh như nhân vật. Đây là
hiện tượng nhập nhịe giữa điểm nhìn của người kể và điểm nhìn nhân vật thường
xuất hiện trong tiểu thuyết hiện đại” [28, tr.116].
Tìm hiểu về thời gian trần thuật trong Người sông Mê của Châu Diên, tác giả
Thái Phan Vàng Anh cho rằng để “nhân vật chết rồi mới bắt đầu kể về ngày tháng
quá khứ. Đôi lúc người kể chuyện bắt đầu từ điểm giữa của chuỗi sự kiện, lần về
quá khứ rồi tiếp tục kể theo trật tự tuyến tính của những sự kiện tiếp theo” [3], là
cách Châu Diên làm cho cấu trúc tác phẩm thành một phức thể pha trộn nhiều
chiều, tạo hấp lực mạnh mẽ đối với độc giả.
Nghiên cứu về cốt truyện Người sơng Mê, Nguyễn Thị Bích Thu đã thừa
nhận “những cách tân mới mẻ về nghệ thuật tiểu thuyết sau những năm tháng im
lặng trên văn đàn” của Châu Diên. Theo tác giả, với cốt truyện phân mảnh, lắp ghép
cùng với sự thâm nhập các thể loại khác vào tiểu thuyết: nhật kí, thơ,… đã góp phần
7
giúp Châu Diên làm co giãn cốt truyện Người sông Mê, tạo nên một phức thể với
những mãnh vụn, lắp ghép rời rạc [22, tr. 23].
Cùng với những cách tân về cốt truyện, tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi
mới cũng đã có sự đa dạng và linh hoạt về bút pháp nghệ thuật. Tác giả Mai Hải
Oanh trong bài viết Sự đa dạng về bút pháp nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam
thời kỳ đổi mới, đã nhận xét, ở Người sông Mê với việc vận dụng linh hoạt bút
pháp phúng dụ, huyền thoại và bút pháp trào lộng, giễu nhại đã giúp cho “tiểu
thuyết vượt qua lối phản ánh hiện thực thông thường để tái hiện cuộc sống trong
tính chân thực, sinh động và tồn vẹn” [30].
Cũng ở vấn đề này, tác giả Nguyễn Thị Bình đã khẳng định nhịp điệu nổi lên
như một cảm hứng sáng tạo, một sự “cố tình của bút pháp” và trở thành một cơ chế
tổ chức văn bản, trong đó Châu Diên là một trong những cây bút đã thể hiện rất
thành cơng đặc tính này. Nhịp điệu của hình tượng trong Người sông Mê, bên cạnh
sự lặp lại không gian và thời gian, sự lặp lại nhân vật cũng góp phần đem chất thơ
trong tác phẩm được thăng hoa. Mỗi nhân vật tạo ra những bản sao của chính nó với
chút ít biến dạng. Chúng lột tả nhịp điệu của ám ảnh tha phương hay tô đậm trạng
thái hiện sinh tẻ ngắt: “Hoa và Hương ở Người sông mê là một vòng luân hồi, Hoa
vừa là con vừa là kiếp sau của Hương. Cả hai đều vướng vào một cuộc tình tay ba,
đều bất hạnh: Hoa mất người yêu, Hương mất chồng. Họ đều là “kiếp hương hoa”,
là “phù hoa, đại phù hoa, hoàn toàn phù hoa” [9].
Trong báo cáo tổng kết đề tài khoa cấp bộ Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở
nước ta từ thời đổi mới đến nay, tác giả Nguyễn Thị Bình khi đi sâu vào nghiên cứu
nhân vật người kể chuyện đã cho rằng việc tạo dựng người kể chuyện phi thực (một
linh hồn) trong Người sông mê, là “một lối tác giả chơi giỡn với bạn đọc, vừa giống
như một sự nhấm nháy, đồng lõa cùng những ai thích đùa, vừa khiêu khích kẻ có
thói quen đồng nhất văn chương và cuộc đời” [8].
Cao Việt Dũng, bên cạnh việc thừa nhận những cách tân mới mẻ, những
hướng đi rất độc đáo của Châu Diên trong Người sông Mê, đã đưa ra những nhận
định trái chiều về ngôn ngữ tiểu thuyết mà Châu Diên vận dụng. Theo tác giả, đó là
8
“thứ ngôn ngữ bằng phẳng với sự lặp lại liên tiếp đến lẩm cẩm những câu văn nhạt
nhẽo, những cái nháy mắt láu lỉnh và nhí nhảnh đó đã phần nào làm giảm giá trị của
tiểu thuyết” [14].
Từ thực tiễn nghiên cứu nêu trên, có thể thấy, tuy số lượng bài nghiên cứu,
đánh giá về Người sông Mê, chưa thật sự nhiều, lại có những ý kiến trái chiều nhau,
song nhìn chung, các bài viết đều đã có những đánh giá thống nhất về giá trị của tác
phẩm. Đây chính là những định hướng để chúng tơi tiếp cận, tìm hiểu, tìm kiếm
những giá trị ẩn chứa trong tiểu thuyết Người sông Mê với đề tài đặc điểm tiểu
thuyết Người sơng Mê của Châu Diên, góp phần khẳng định tài năng, phong cách
cũng như sự đóng góp của tác giả đối với văn học Việt Nam đương đại.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nhiên cứu
Những đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết Người sông Mê của Châu Diên, tập
trung ở hai phương diện nội dung và nghệ thuật.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Tiểu thuyết Người sông Mê của Châu Diên do nhà xuất bản Thời đại - Trung
tâm văn hóa ngơn ngữ Đơng Tây, xuất bản năm 2003.
4. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4.1. Phương pháp thi pháp học
4.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp
4.3. Phương pháp hệ thống, cấu trúc
4.4. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Ngồi ra, chúng tơi cịn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác
trong q trình nghiên cứu.
5. Bố cục luận văn
Ngồi phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn gồm 3
chương:
Chương 1. Cuộc hành hương vào thế giới nghệ thuật của Châu Diên
9
Chương 2. Người sông Mê – một chiêm nghiệm triết lý về cuộc sống
Chương 3. Một số phương thức nghệ thuật trong Người sông Mê
NỘI DUNG
Chương 1
CUỘC HÀNH HƯƠNG VÀO THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
CỦA CHÂU DIÊN
1.1. Những thăng trầm của Châu Diên trên con đường nghệ thuật
1.1.1. Những bước đường nghệ thuật của Châu Diên
Nhà văn Ivan Tuốc-ghê -nhi -ép đã nhận định “cái quan trọng trong tài năng
văn học” và cũng có thể trong bất kì tài năng nào, “là tiếng nói của riêng mình”
[19]. Chính cái “tiếng nói riêng ấy” làm nên phong cách cho nhà văn để họ khơng
lẫn với bất kì người nào khác. Phong cách chính là yếu tố quyết định sự thành cơng
của nhà văn. Và “nếu tác giả khơng có lối đi riêng thì người đó khơng bao giờ là
nhà văn cả... Nếu anh khơng có giọng riêng, anh ta khó trở thành nhà văn thực thụ”
(Sê khốp) [Dương Đức Thắng (2011), “Một số quan niệm văn học cực hay”,
violet.vn]. Như vậy, mỗi nhà văn phải ln sáng tạo, ln làm mới mình trên nền
tảng phong cách riêng. Với mỗi người cầm bút sự thành cơng của họ chính là ở chỗ
phải biết mình có những gì và quan trọng hơn là biết khai thác những gì mình có để
đáp ứng đúng u cầu của văn học và cuộc sống. Sự tự ý thức ấy trong bản thể của
mỗi người cầm bút sẽ giúp cho họ định hướng được ngịi bút của mình. Khơng phải
ai cầm bút cũng có thể trở thành nhà văn và cũng không phải ai cũng may mắn
thành công tạo dựng được tên tuổi của mình ngay từ những trang viết đầu tay.
10
Ngược lại, để làm nên được điều đó, các nhà văn phải trải qua một quá trình lao
động, sáng tạo không ngừng nghỉ. Và con đường đi đến thành công của họ không
phải lúc nào cũng bằng phẳng mà đôi lúc thật lắm những gian nan.
Nhà văn Châu Diên sinh năm 1932 (Nhâm Thân), tại Hà Nội. Kháng chiến
toàn quốc bùng nổ (19 tháng 12 năm 1946), ông lên đường đi bộ đội. Cuối năm
1951, ông đi học tại trường cao đẳng sư phạm. Giải thưởng văn xuôi đầu tiên của
ông vào năm 1952, ở trường Sư Phạm, lấy bút danh Châu Diên, nhại phát âm tiếng
Tàu “hút thuốc lá”.... Đến với làng văn từ những ngày đầu những năm năm mươi,
khi mà truyện ngắn được coi là “giai đoạn được mùa thể loại”, sau giải thưởng văn
xuôi năm 1952, Châu Diên tiếp tục khẳng định mình với các giải thưởng truyện
ngắn hạng nhì năm 1959 và giải khuyến khích năm 1962 với hai truyện ngắn Mái
nhà ấm (Văn học, 1959) và Con nhện vàng (Thanh niên, 1962). Như vậy, ngay từ
rất sớm, Châu Diên đã tạo dựng được hành trang khá vững chắc để sớm khẳng định
mình. Trong hồn cảnh cụ thể của Việt Nam lúc đó, văn học phải tuyệt đối mang
tính đảng, tính giai cấp, tính nhân dân và tuyệt đối khơng mang tính bi kịch nên
những tác phẩm có hơi hướng bi kịch, có tố chất văn học kiểu như Mái nhà ấm và
Con nhện vàng của Châu Diên và của một số nhà văn khác (như Sắp cưới của Vũ
Bão, Vào Đời của Hà Minh Tuân, Mùa hoa dẻ của Văn Linh, Cái gốc của Nguyễn
Thành Long, Trăng Sáng và Đôi Bạn của Nguyễn Thi)… đều bị phê bình là tàn dư
của Nhân Văn Giai Phẩm và bị tịch thu không cho phát hành. Sau hai tác phẩm này,
Châu Diên dường như không tham gia sáng tác nữa.
Nhưng đến năm 1973, Châu Diên có viết thêm truyện ngắn Trứng, một
truyện ngắn tưởng như nhẹ nhàng, đơn giản nhưng ẩn chứa đằng sau đó là cả một
bức tranh phức tạp về cuộc sống. Câu chuyện kể về hai quả trứng do những đứa trẻ
tinh nghịch nhặt được. Theo phán đốn của bọn trẻ thì một quả là trứng rùa vì
chúng nhặt được ở ngồi ao, một quả là trứng chim bồ câu vì chim bồ câu đẻ rơi, nó
nhặt được ở bụi chuối… Bằng sự hiểu biết con trẻ “trứng nào chẳng giống trứng
nào?”, bọn trẻ đặt niềm hi vọng vào con gà đang ấp bóng kia sẽ giúp chúng cho ra
đời những “đứa con”. Và rồi chúng luôn mong đợi sau “mười lăm, hai mươi, hai
11
mươi lăm hơm nữa, đó sẽ là cái gì…” [12]. Nhưng “đứa con” mà chúng lâu nay vẫn
mong chờ lại không phải như suy luận của chúng mà là “rắn”. Trong sự ngạc nhiên
và cả sợ sệt nữa, bọn trẻ bắt đầu tranh luận “những câu trao đổi đó có cái ma lực
nào đó khiến chúng trở nên bất động. Chúng nó bỗng thấy sợ. Khơng đứa nào dám
thị tay vào ổ gà nữa” [12]. Câu chuyện là trứng nhưng khơng dừng lại ở trứng. Cái
ma lực của nó nằm ở tầng sâu của sự nhận thức. Trong cuộc sống, những thực thể
dưới con mắt bình thường bao giờ cũng đẹp nhưng đôi lúc con người vẫn nhầm
“trứng nào chẳng giống trứng nào?”. Chỉ đến khi nhìn nhận lại nó như một thực thể
sống và phát triển thì người ta mới nhận ra khơng hồn tồn là vậy. Cái lâu nay
chúng ta cứ tưởng là đẹp hóa ra lại chẳng đẹp tí nào!. Tác phẩm cũng đã gây khơng
ít phiền phức cho nhà văn và sau tác phẩm này, Châu Diên trở nên “vắng bóng”, rất
ít và hầu như khơng xuất hiện trên văn đàn nữa, thay vào đó, ơng chuyển sang hoạt
động ở lĩnh vực giáo dục với tên thật Phạm Toàn.
Cùng lứa với các nhà văn như Nguyên Ngọc, Dương Tường, Bùi Ngọc Tấn...
nhưng so với các nhà văn cùng thời của mình thì Châu Diên có vẻ trầm lắng hơn và
cũng thăng trầm hơn... Nếu năm 1956, nhà văn Nguyên Ngọc đã thành công với
tiểu thuyết Đất nước đứng lên, Dương Tường, Bùi Ngọc Tấn đều đã trở thành
những tên tuổi để lại trong lịng cơng chúng bạn đọc những ấn tượng riêng thì Châu
Diên vẫn cịn là một ẩn số.
Gần bốn mươi năm dừng hẳn sự nghiệp sáng tác văn học để chuyển sang làm
công tác giáo dục, với các tác phẩm tiêu biểu như Công nghệ dạy văn (Đại học
Quốc gia, 2000, Tri thức, 2007), Hợp lưu các dòng tâm lý giáo dục (Tri thức, 2008),
và là dịch giả của hàng loạt những tác phẩm nổi tiếng như Chín mươi ba (Victor
Huygo, 1982), Cơ chủ quán (Carlo Goldoni, 1982), Sư tử (Joseph Kessel, 1983),
Bay đêm (A.de Saint-Exupéry, 1986), Ruồi (Jean-Paul Sartre, 1989), Nhà tiên tri
(Khalil Gibran, 1994), Mặc cảm của Đê (Đới Tư Kiệt, 2007), Hồng tử bé (A.de
Sain-Exupéry, 2008), Vào một đêm khơng trăng (Đới Tư Kiệt, 2010)… Châu Diên
đã góp phần khơng nhỏ vào sự nghiệp phát triển giáo dục và văn học của dân tộc.
Trong tư thế của một trí thức đầy trách nhiệm, Châu Diên đã làm việc không mệt
12
mỏi. Bởi với ơng “văn chương tồi thì ít tai hoạ hơn giáo dục tồi. Văn chương tồi thì
sách ế. Nhưng sách giáo khoa thì khơng bao giờ ế, vì trẻ em phải mua. Và thế là,
sách giáo khoa ngu xuẩn sẽ chơn học trị” [Nhà văn Châu Diên và “Người sông
Mê”, vietbao.vn].
Và Châu Diên vẫn không ngừng nghiệm suy về cuộc sống. Cuốn tiểu thuyết
Người sông Mê đánh dấu cho sự trở lại của nhà văn, là một tác phẩm vừa lạ, vừa
độc đáo, rất Châu Diên. Sự ra đời của Người sông Mê, báo hiệu cho những bước đột
phá mới của một nhà văn tuổi đời đã cao nhưng bút lực còn trẻ, khỏe. Sau sự trở lại
đầy thành công với tiểu thuyết Người sông Mê (2003), Châu Diên tiếp tục xuất bản
hàng loạt truyện ngắn: Hamlet thiu thiu ngủ (2005), Sấm trên núi, Bảy mươi ba
chiếc cối đá, Đơn thôi việc của cô giáo Quảng (2006), Vịt và người (2010), Chuyện
tình thời Acịng, Ngọn đèn xanh, Cơ gái và họa sĩ câm (2011)… Mỗi tác phẩm đều
ẩn chứa trong đó những giá trị nhân bản về cuộc sống và gửi gắm trong đó bao nghĩ
suy, trải nghiệm của nhà văn về cuộc sống, con người.
Sự khắc nghiệt của cuộc sống, quan niệm văn chương nghệ thuật khiến đôi lúc
người ta tưởng như không được gặp lại Châu Diên với nụ cười hóm hỉnh, hài hước
ấy nữa. Nhưng dù hoạt động ở lĩnh vực nào thì Châu Diên – Phạm Tồn đều thể
hiện hết năng lực của mình, cống hiến hết mình cho đời. Quay trở lại làng văn khá
muộn, khi tuổi đời đã cao nhưng Châu Diên cũng đã khẳng định được phong cách
rất riêng của mình, khẳng định tài năng, nhiệt huyết của mình đối với nghệ thuật.
1.1.2. Lối ứng xử văn hóa với văn chương của Châu Diên
Với Châu Diên, gần nửa thế kỉ cầm bút là thời gian đủ để nhà văn tạo cho
mình “tiếng nói riêng”. Đó cũng là khoảng thời gian đủ để nhà văn vén mở bức màn
cuộc sống muôn màu muôn vẻ, đủ để nhà văn thấu hiểu phần nào về “cõi người ta”,
về “một cuộc bể dâu”, về “những điều trơng thấy”, và những nỗi “đau đớn lịng”…
mà bao thế hệ nhà văn cũng đã từng trăn trở.
Xuất phát từ quan niệm: “thành thật làm nên cái đẹp và văn chương thực sự
phải đẹp” (tài liệu do nhà văn Châu Diên cung cấp), Châu Diên đã nhiệt tình sáng
tạo. Nhưng hiện thực cuộc sống thì quá ngổn ngang, phức tạp mà xã hội bấy giờ lại
13
chưa thể tạo cho nhà văn một môi trường, một khơng khí phù hợp để sáng tạo, ơng
cảm thấy khơng thể viết được nữa bởi muốn có tác phẩm hay thì nhà văn phải “đến”
được những vấn đề phức tạp, gai góc, thậm chí là phải chấp nhận “đụng chạm”. Là
một nhà văn thấy rõ được bản chất cuộc sống, hiểu rõ về quan niệm nghệ thuật nên
sau khi bị kiểm điểm, bị phê bình cho là phản động, là tàn dư của Nhân Văn Giai
Phẩm, Châu Diên tạm “lánh mình” một thời gian để nghiệm suy về cuộc sống, về
nghệ thuật, không tham gia sáng tác nữa. Bởi theo nhà văn, một khi anh hiểu rõ vấn
đề, hiểu rõ được bản chất của cuộc sống nhưng anh lại không có qùn được nói,
được viết như anh suy nghĩ, thì những gì anh viết ra chỉ là một sự mơ phỏng bên
ngoài cuộc sống, chỉ là một thứ “văn chương chết”.
Trên cơ sở những suy nghĩ, nhận thức ấy, Châu Diên đã có những thay đổi
trên con đường sáng tạo nghệ thuật. Ơng chọn cho mình một hướng đi khác, chuyển
sang hoạt động ở lĩnh vực giáo dục với một thái độ nhiệt thành, cống hiến hết mình,
“sống chết với giáo dục và khi rảnh rang thì muốn làm một du khách thư thái trên
địa hạt văn chương” [Nhà văn Châu Diên và “Người sông Mê”, vietbao.vn].
Châu Diên trở lại viết văn khi văn học đã mở cửa, đổi mới vì lúc này, văn
học cho phép nhà văn được “lột trần mặt nhau, lột trần mặt mình, lột trần mặt đời”
và cao hơn là “bóc trần thế giới” [8], đồng thời với ý thức hướng tới “chất lượng
cuộc sống”, sống sao cho đúng với cuộc sống của con người đã thẩm thấu các tầng
ngữ nghĩa, mang đậm tính nhân văn. Lúc này, nhà văn được viết, được nói như
mình suy nghĩ. Cuốn tiểu thuyết Người sông Mê là kết quả của q trình tìm tịi,
nghiệm suy miệt mài và đầy trách nhiệm của Châu Diên với đời. Tác phẩm là
những chiêm nghiệm suy tư của Châu Diên về cuộc sống, đồng thời thể hiện một
phong cách rất riêng của Châu Diên sau những năm vắng bóng văn đàn đã trở lại
làng văn.
1.2. Những đột phá trong sáng tạo nghệ thuật của Châu Diên
1.2.1. Quan niệm về nghệ thuật của Châu Diên
14
Truyện ngắn, một thể loại văn học được coi là “xung kích” của đời sống văn
học, một thể loại có tính chất “thuốc thử” đối với hầu hết nhà văn trên con đường
sáng tạo nghệ thuật đầy cam go… Châu Diên cũng chọn nó làm “thuốc thử” cho
mình trên con đường sáng tạo nghệ thuật.
Truyện ngắn của ông bao giờ cũng giống như bài thơ về sự sống. Nhà văn
quan niệm truyện ngắn gần với thơ, ở cái mông lung, bàng bạc câu chữ, ý tưởng, ở
sự hàm súc, cô đọng và ở những tượng trưng, ngầm ẩn trong nó. Viết truyện ngắn
cũng giống như làm thơ, nhà văn cũng nắm bắt lấy những lát cắt của cuộc sống và
bằng những xúc cảm của mình viết nên tác phẩm. Trong Ngọn đèn xanh, Châu Diên
có viết: “Anh có biết giờ phút sung sướng nhất đời của một nhà văn viết truyện
ngắn là lúc nào khơng?… Đó là một thời khắc rất lạ… Nó chỉ xảy đến vào cái lúc
hết sức mong manh khi nhà văn chợt nảy ra một ý, và anh ta đang dùng mấy ngón
tay vê vê cái cục đất sét mơ hồ cho thành những hình thù những mảnh đời (…) có
vậy thơi (…) nhưng bên trong là cả một mênh mơng bí mật” [12].
Muốn có tác phẩm hay thì nhà văn phải “đến” được những vấn đề phức tạp,
gai góc, thậm chí là “đụng chạm” của cuộc sống, những vấn đề mà khơng ai có thể
trả lời ngay một lúc là đúng hoặc sai. Mà cái đó, địi hỏi phải có một khơng khí xã
hội có thể cổ vũ người viết, làm cho người viết tự tin hơn. Khi anh mở ra, vén tấm
màn thì dưới đất nó nhơ lên hết cả. Tuy nhiên, nói là khơng khí xã hội ấy chưa có
thì hồn tồn khơng đúng nhưng có lẽ nó chưa thực sự đúng như yêu cầu mà người
sáng tác mong muốn... Họ phải được tự do suy nghĩ về các vấn đề của xã hội, của
đất nước, của số phận con người... thì mới bật ra được tư tưởng. Đó cũng là lí do mà
Châu Diên thấy mình khơng thể viết được nữa. Ơng muốn làm một việc có ích hơn
khi mà mình khơng thể viết ra hết suy nghĩ của mình.
Là một nhà văn muốn làm điều gì đó có ích cho đời, không chấp nhận những
câu nệ, ràng buộc của xã hội và không chấp nhận lối viết cũ, Châu Diên đã tạm
“lánh mình” để quan sát chiêm nghiệm về cuộc sống, để rồi cảm thấy thương mình
và đau đời. Trong sâu thẳm tâm thức của nhà văn ln có tiếng giục giã yêu cầu viết
nữa, làm sao lớn hơn, bao quát hơn những gì đã viết. Nếu như ở thơ, người viết có
15
thể nắm ngay những cảm xúc bất chợt, chớp lấy nó, ở một tứ nào đó mà viết ngay
một câu thơ hay, để sau đó cho ra đời một bài thơ hồn chỉnh, thì ở văn xi, tính
chất “u mua” của nó địi hỏi cao hơn. Bởi cảm xúc mới chỉ là điểm khởi thủy, chỉ là
gợi ý và người viết văn xuôi phải biết chờ đợi. Nhà văn, trước sự va đập của đời
sống, cần để cảm xúc lắng xuống theo thời gian, mới tạo được sự chín đọng trong
câu chữ cho bạn đọc tin tưởng! Có thể nói, khi mang tải, bao hàm nhiều vấn đề, tiểu
thuyết không còn là lát cắt như thơ hay truyện ngắn nữa mà là hoạt động với quy
mô lớn… Nhà văn cần nhiều thời gian hơn để suy nghĩ thấu đáo, chín chắn các vấn
đề định đưa tới bạn đọc. Do quan niệm như vậy, nên việc hình thành tiểu thuyết đầu
tay Người sơng mê, là cả một q trình đúc kết, nghiệm suy cuộc sống lâu dài gần
bốn mươi năm của Châu Diên.
Cả một hành trình khá dài gần bốn mươi năm sống và nghiệm suy về cuộc
đời, Châu Diên đã bước đầu thử thách ngịi bút của mình bằng tiểu thuyết, một thể
loại xưa nay vốn đòi hỏi sự nhọc nhằn giữa ngổn ngang trải nghiệm đời sống và
ngổn ngang trải nghiệm văn hóa. Trong thời đại ngổn ngang thơng tin lí luận nhiều
chiều hơm nay, đây chính là sự lao động miệt mài không mệt mỏi của Châu Diên,
một cây bút tuy tuổi đời đã cao nhưng bút lực vẫn cịn đầy ma lực.
1.2.2. Người sơng Mê – khn mặt lạ của tiểu thuyết Việt Nam
Sau thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay, nền văn học Việt Nam đã có những
chuyển biến đáng ghi nhận về mọi mặt ở hầu hết các thể loại, trong đó phải kể đến
sự chuyển biến mạnh mẽ của tiểu thuyết. Trong sự vận động chung của nền văn
học, tiểu thuyết - một loại hình tự sự cỡ lớn đã và đang nỗ lực chuyển mình, đổi mới
nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại, của đời sống văn học và của đông đảo độc giả
đương đại. Chưa bao giờ những quan niệm mới về văn chương, về nhà văn, về hiện
thực và con người, về đổi mới tư duy nghệ thuật lại cởi mở, dân chủ như lúc này.
Nhiều cây bút tiểu thuyết đã có ý thức cách tân, tự đổi mới và làm mới mình trong
cách nhìn và trong lối viết. Các nhà viết tiểu thuyết đã nhìn thẳng vào những “mảnh
vỡ”, những bi kịch nhân sinh, mổ xẻ, phơi bày nó bằng cái nhìn trung thực, táo bạo.
Các đề tài truyền thống hay hiện đại đều được đưa vào trường nhìn mới, hướng tới
16
những gấp khúc trong đường đời và thân phận con người, thấm đẫm cảm hứng nhân
văn. Có thể nói khơng khí dân chủ của mơi trường sáng tạo đã giúp cho các nhà văn
ý thức sâu sắc hơn về tư cách nghệ sĩ ở nơi mình để tự vượt lên trên những quy
định, những khuôn khổ truyền thống mà lâu nay đã “thành hình, thành nét” trong
mỗi nhà văn. Sự thay đổi toàn diện về mọi mặt trong cuộc sống hậu hiện đại với tất
cả những ngổn ngang, chồng chất nhiều mặt đối lập, bản hợp âm pha tạp của đời
sống đã xâm nhập vào tiểu thuyết, quyết định một giọng riêng của thời đại.
Người Sông Mê của Châu Diên vừa ra mắt đã cất một tiếng nói lạ. Đây là câu
chuyện do một người đã chết, đáng lẽ phải đi qua Sông Mê, ăn cháo Lú, và quên hết
mọi chuyện trần gian, nhưng lại được đầu thai trở lại, và bỗng có khả năng đi
ngược, đi xuyên qua các kiếp khác nhau, để kể về những cuộc đời khác nhau của
mình, tức là những cảnh, những mặt khác nhau, trộn lẫn vào nhau của cả một quá
trình xã hội, có anh hùng và có gian hùng, có chất thơ và có bùn lầy, khơng thiếu
cái thiện mà cũng đầy cái ác... Đây có thể coi là một thử nghiệm nghệ thuật mới,
một lối tìm cách nói khác về xã hội và lịch sử đương đại Việt Nam của Châu Diên.
Sử dụng hình thức “trị chơi ngơn từ”, đánh đồng quá khứ và hiện tại Châu Diên đã
tạo nên một cấu trúc đan cài đồng hiện giữa hiên tại và quá khứ. Quá khứ phải trở
thành quá khứ của một tương lai xuyên qua hiện tại thì con người mới thực sự được
làm người, mới thực sự được sống đúng bản thân mình. Khi hiện tại “thắt ruột”,
“chặn họng” tương lai thì hiện tại dội về quá khứ, quá khứ đá văng hiện tại. Lúc đó,
sống cũng như chết, thực cũng như ảo, hôm qua điên đảo hôm nay trong ngõ cụt
một đời người. Lúc đó ngơn ngữ miên man thác loạn : “định mệnh” xua nó về cõi
hư vơ. Khơi lên điều ấy là cưỡng lại bến Lú sông Mê, đòi hỏi tương lại tự do cho
mọi người. Tự do trong cơn đói làm người. Dù cuối cùng ai cũng phải chết, nhưng
chúng ta không thể cho phép nhân cách của ta cũng chết tuốt, mà phải sống thực sự
đúng xứng đáng với hai chữ CON NGƯỜI. Đó là tầng sâu nhân bản của tác phẩm
mà tác giả muốn gửi gắm.
Tiểu thuyết Người sông Mê đã mở ra một cách nhìn đa chiều về cuộc sống.
Khơng chỉ nhận thức về cuộc sống từ “cõi thực”, Châu Diên còn đứng ở “cõi mê”
17
để tả chân về cuộc sống. Bằng cách này, tất cả muôn mặt của đời sống thực được
tái hiện đậm nét, sâu sắc. Với Người sông Mê, Châu Diên đã vận dụng một cách
khéo léo những yếu tố hậu hiện đại vào trong tác phẩm theo một cách riêng tạo
nên một nét lạ của tiểu thuyết Việt Nam.
Giới thiệu về cuốn tiểu thuyết, tác phẩm đầu tay của mình Châu Diên viết:
“Cuốn sách sinh ra giữa bụi và khói,
và đêm và ngày,
và tranh tối tranh sáng,
và yêu và thương,
ra đời giữa tỉnh và mê” [13, tr.9].
Chính vì sinh ra giữa bụi và khói, giữa đêm và ngày, giữa yêu và thương, giữa tỉnh
và mê nên người đọc cũng như chìm trong khơng gian bụi và khói, cũng mập mờ
giữa đêm và ngày, trong tranh tối tranh sáng và cũng trở nên nửa mê nửa tỉnh như
chính nó vậy. Tác phẩm xoay quanh ba nhân vật chính: Khoa – chủ nhiệm khoa,
Hoa – giáo viên dạy sinh, và Khánh – “một người chưa có mặt, chưa có tên, chưa có
tuổi, chưa sống, chưa chết, chưa có quá khứ và chưa có tương lai, chưa có gì hết,
nhưng chắc chắn là có cái đói, lúc nào cũng đói, suốt ngày đói, đói khi ngồi học, đói
cả khi ra khỏi lớp, đói và thèm khát, đói và nhịn, và lại đói lại thèm khát lại nhịn”
[13, tr.11]. Ba người, ba nhân vật nhưng thực ra cũng chỉ một người. Người này có
thể biết rõ ràng chuyện của người kia và người kia có thể kể chuyện của người này
vanh vách như chính là kể chuyện mình vậy. Và người này có thể hiểu suy nghĩ của
nguời kia, người kia lại có thể phỏng đốn được người này đang định làm những gì.
Thậm chí người này còn biết được cả người kia sắp mắc nạn, “bởi chưng người kia
cũng chính là người này và người này cũng chính là người kia. Như tằm cũng như
tơ và tơ cũng như là lá dâu tây ấy” [13, tr. 12]. Nhưng tuy kể được cho nhau vanh
vách đấy mà vẫn không đầy đủ, tuy kể lể rành mạch đủ điều mà vẫn thiêu thiếu, và
thế là người này không tài nào kể hộ hết giúp người kia, người kia thì cũng kể lể
đấy nhưng chuyện người nọ vẫn cứ dở dang. Bởi vì “người nào cũng mê mê tỉnh
18
tỉnh, người nào cũng nhớ nhớ quên quên, tất cả đều khơng sáng suốt, người chốn
đây nhưng đầu óc cứ phiêu diêu nơi đâu ấy” [13, tr.12].
Cách luận đề tưởng như giới thiệu cụ thể nhưng lại đóng kín khiến người đọc
cũng trở nên “mê mê lú lú” cùng nhân vật. Nhà văn Phan Thị Hoài cũng đã nhận xét
khi đọc tác phẩm: “Nghiêm túc và có sức nặng đáng kể! Phải thú nhận là đọc không
dễ. Cái khung lớn và những ẩn dụ của nó khơng lập tức khiến người đọc có thể hiểu
ngay. Nhưng nếu người đọc nào đã vào rồi thì sẽ khơng bỏ ra” [“Người sơng Mê”
(tiểu thuyết), sieuthimelinh.com]. Nhận định trên đã khẳng định tính giá trị cũng
như tầm ảnh hưởng của Người sông Mê đối với công chúng văn học như thế nào?
Không chỉ lạ bởi cách phản ánh cuộc sống, tác phẩm còn lạ bởi cách xây
dựng cốt truyện và lại bởi một giọng điệu chẳng giống ai. Giọng điệu vừa hóm hỉnh,
hài hước, lúc thì cười cợt “tiểu thuyết phải là cả rừng nhân vật, cây lớn cây bé cây
cao cây thấp cây la đà cây vươn ngồng cây hùng dũng cây ăn hại cây đái nát cây
tiều tụy cây sang trọng cây gầy còm cây xa hoa cây cần kiệm cây khiêm nhường
cây ăn bám…Còn những thứ trong cánh rừng của thằng em chỉ rặt một lồi cây tên
gọi đó là cây thơ” [13, tr.11], lúc lại ẩn chứa sâu sắc “đời này nhiều khi cũng hay,
lắm khi đơn giản mà vơ cùng rắc rối, nhiều khi bề ngồi cực kì dễ hiểu, mà lại cứ
rối tung xòe lên” [13, tr.15]. Một lối viết “như đùa mà thật”, “rất công phu lại khá
buông lỏng, kết cấu mở và câu văn rất lằng nhằng, nhưng đọc kỹ lại thấy rất chặt
chẽ, sang trọng... có vẻ rất dễ dãi lại rất cầu kỳ, trẻ trung mà già dặn” [Người sông
Mê (tiểu thuyết), sieuthimelinh.com], đó là những nhận xét mà đồng nghiệp của tác
giả dành cho Người sông Mê của Châu Diên.
Người sông Mê, lạ từ cách lập đề pha chút trào lộng, bông lơn đến cấu trúc
hỗn tạp đa chiều với bút pháp biến ảo hòa trong giọng điệu bỡn cợt, hiện thực lịch
lãm. Cũ mà mới, quen mà lạ, già mà trẻ. Đó là một Châu Diên tái xuất văn chương
sau bốn mươi năm im tiếng. Hiện thực không chỉ là những gì ta nhìn thấy, ta nghe
thấy mà là cả những gì ta cảm thấy. Cả một đời sống tâm linh cũng là hiện thực.
Trương Vũ Thiên An trong Nước mắt Chí Phèo đã có nói: “Nghệ thuật cũng sẽ
khơng là gì nếu khơng ơm hết cái dữ dằn, đanh đá của cuộc sống, cả cuộc chết nữa!
19
Sẽ chẳng đi đến đâu một thứ nghệ thuật không thấy hết, khơng nói hết cái bờ bên
kia của hiện thực”. Ngô Tự Lập cũng cho rằng, ngay cả hiện thực cũng chỉ giống
như một giấc mơ, một giấc mơ hỗn loạn, vô tận, giấc mơ với những đường bay của
mê lộ. Sự bùng nổ về nhận thức như vậy giúp nhà văn có điều kiện khám phá mọi
phương diện của cuộc sống, đi sâu vào những góc khuất của hiện thực khách quan
và hiện thực tâm hồn với bao chiêm nghiệm và dự cảm về nhân thế, mở ra một chân
trời thoáng rộng cho sự liên tưởng và suy ngẫm của người đọc. Việc vận dụng các
yếu tố huyền hoặc, kì ảo đã góp phần quan trọng trong việc làm “lạ hoá” cuộc sống,
tạo ra ấn tượng thẩm mĩ mạnh mẽ ở người đọc. Tưởng tượng, kì ảo là đơi cánh nâng
tính hiện thực thăng hoa tới những tầng cao mới, tiêu biểu cho sự hịa hợp giữa kì
ảo và chủ nghĩa hiện thực, giữa cái bình thường và cái kì diệu trong văn học.
Khơng ra ngồi những tâm niệm ấy, Châu Diên với Người sông Mê, đã đưa
người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, đi từ tỉnh đến mê, từ thực đến ảo…
Dường như nhà văn đã nhập đồng cái ngôn ngữ tiểu thuyết phi khơng gian và thời
gian để làm cho tiếng nói nghệ thuật đầy biến ảo của mình tăng thêm tính ma lực
quyến rũ, mê hoặc người đọc. Với lối viết hiện thực - huyền ảo, Châu Diên đã làm
cho cuộc sống đời thường và lịch sử dân tộc với trăm ngàn khuất lấp của nó hiện ra
trần trụi trong cái nhìn thấu thị của những người bước ra từ thế giới bên kia. Như
vậy, yếu tố kì ảo là “con đường nhỏ” (tiểu đạo) dẫn vào “đại dương bao la của thứ
ánh sáng khơng thể tả được” (E. Poe). Chính việc đưa cái huyền ảo vào thế giới
thực tại đã giúp Châu Diên lấy cái phi lý để nhận thức cái hữu lý, lấy lơgic của nghệ
thuật và trí tưởng tượng để nhìn thấy logic cuộc sống một cách hiệu quả. Vì vậy, sẽ
khơng võ đốn khi cho rằng, với Người sông Mê, Châu Diên đã tạo nên một khuôn
mặt lạ cho tiểu thuyết hiện đại.
20
Chương 2
NGƯỜI SÔNG MÊ – NHỮNG CHIÊM NGHIỆM SUY TƯ
VỀ CUỘC SỐNG
2.1. Người sông Mê – Bức kỳ họa về cuộc sống con người
2.1.1. Cuộc sống con người nhìn từ cõi thực
Trước những đổi thay của cuộc sống với những ngổn ngang, đầy mâu thuẫn,
người viết không thể chỉ đứng ở một nơi mình đang sống để viết và suy nghĩ về nó,
dừng lại ở vai trị “thư ký” của thời đại hoặc coi văn học như là tấm gương thuần
túy mà phải cố gắng soi chiếu hiện thực từ nhiều góc nhìn khác nhau để nhìn thấu
thị bức tranh muôn màu của cuộc sống đang đổi thay từng ngày.
Nhà văn khơng chỉ gắn bó với cuộc sống mà cần có một đơi mắt tinh tường
và một cái tâm trong sáng để nhận thức thực tại, thấu hiểu thực tại và thấy được bản
chất của cuộc sống, khơng thể nhìn cuộc sống bằng con mắt hời hợt, phiến diện,
một chiều, chỉ ca tụng cái đẹp đẽ nhìn thấy bên ngồi mà làm ngơ hoặc bỏ qua
những chai sần của cuộc sống. Anhxtanh từng nói: “Chân lý khoa học đạt được
bằng cách giải phóng nó ra khỏi cái tơi của nhà khoa học” [16, tr.27]. Cịn hình
tượng trong nghệ thuật biểu hiện rõ nét trong cảm xúc của người nghệ sĩ. Đối với
người nghệ sĩ, hiện thực đời sống bao giờ cũng được tái hiện dưới ánh sáng của các
lợi ích và lí tưởng của một giai cấp, một thời đại nhất định.
21
Ở Người sông Mê, Châu Diên đã tái hiện lại một bức tranh hiện thực về cuộc
sống con người với bao ngổn ngang, chật vật, với bao bộn bề đổi thay một cách
chân thực, sống động. Dù không quá đi sâu vào phản ánh hiện thực cuộc sống một
cách cụ thể mà chỉ là bằng cái nhìn thấu thị chiếu rọi vào mọi bề cuộc sống theo
cách riêng của mình nhưng cuộc sống con người với đầy đủ diện mạo của nó vẫn
được phơ diễn ra như thể nó đang tiếp diễn, đang sống dậy trong từng trang viết của
Châu Diên.
Cái đói, cái nghèo trong văn học khơng cịn là một vấn đề mới mẻ nữa, bởi
nó đã trở thành vấn đề luôn được quan tâm của văn học, nhất là văn học hiện thực
phê phán Việt Nam 1930-1945. Với các nhà văn hiện thực như Nguyễn Công Hoan,
Ngô Tất Tố, Nam Cao… thì cái đói, cái nghèo của con người là “một sự thật ở đời”
mà phải đưa vào tác phẩm nhằm vạch trần, lên án bản chất của xã hội thực dân
phong kiến chà đạp lên cuộc sống của con người. Mặt khác, nó là thái độ để họ
phản đối xu hướng lãng mạn hóa hiện thực đời sống của những nhà văn theo
khuynh hướng lãng mạn lúc bấy giờ. Chính vì vậy, cái đói, cái nghèo của con người
được các nhà văn lúc bấy giờ đi sâu phản ánh một cách rất cụ thể và chân thực đến
từng chi tiết nhỏ.
Với Châu Diên, thay vì đi vào miêu tả, tái hiện những chi tiết cụ thể về “q
trình” con người lâm vào cảnh nghèo đói, bần cùng kiểu như Nguyễn Công
Hoan (Bước đường cùng), Ngô Tất Tố (Tắt đèn), Nam Cao (Chí Phèo)…., nhà văn
chủ yếu đi vào khai thác cách con người ta đối diện, đối phó và ứng xử trước cái
đói, cái nghèo ấy.
Khánh là sinh viên năm thứ ba, của trường sư phạm, một con người mà “lúc
nào cũng đói, suốt ngày đói, đói khi ngồi học, đói cả khi ra khỏi lớp, đói và thèm
khát, đói và nhịn, và lại đói lại thèm khát lại nhịn” [13, tr.11]. Nhìn cái cách Khánh
xuất hiện trong tác phẩm, “dù chưa có mặt, chưa có tên, chưa có tuổi, chưa sống,
chưa chết, chưa có quá khứ và chưa có tương lai, chưa có gì hết, nhưng chắc chắn là
con người đó có cái đói” [13, tr.11], người đọc có thể hình dung ra bức tranh cuộc
sống của chàng sinh viên nghèo. Cái đói đã trở thành “địa ngục trần gian” của sinh
22
viên. Địa ngục đó tuy “khơng có hỏa thiêu, khơng có kìm kẹp cũng chẳng có quỷ
ma nào doạ nạt cả, chỉ có mỗi hình phạt là đói” nhưng lúc nào cũng ám ảnh họ.
Trước cái “địa ngục trần gian” ấy, để sống sót, để chống chọi với cái đói, sống nốt
vài ngày cuối tháng trước khi có viện trợ khơng hồn lại từ gia đình, đám sinh viên
hoặc là nhịn đói ngồi đọc sách trong thư viện thay cơm, hoặc là đi ăn muộn hơn
thường lệ chỉ để được ăn nhiều cơm với nước mắm miễn phí.
Đói, nghèo khơng chừa một ai. Không chỉ Khánh, mà cô giáo trường bên,
ông giáo bố Hoa và bao nhiêu người khác cũng phả sống cảnh đói nghèo. Nói như
Khánh: “Cơ sở vật chất cũng chính là cơ sở của triết học và cơ sở tâm lí học” [13,
tr.26], bởi thế, khi đói thì người ta khơng thể làm bất cứ chuyện gì. Suốt đêm suốt
ngày suốt năm suốt tháng chỉ “đói và nghĩ xem có cách gì để tìm được chút gì đêm
nay nhai nhai cho ấm chân răng, sáng mai ngủ dậy nhai nhai cho ấm chân răng, giữa
giờ học nhai nhai cho ấm chân răng, nửa đêm thường là nằm mơ thấy vơ khối thứ
mà nhai nhai, nhưng vì nằm mơ nên chẳng bao giờ thấy ấm chân răng…” [13,
tr.199]. Cái đói, cái nghèo đeo bám, len lỏi trong từng gia đình, từng số phận con
người. Nó ngăn người ta nghĩ tới những ham muốn, những yêu đương, lôi họ quay
trở lại với thực tại, bắt họ đối diện với cái đói. Nó khiến người ta thất thần lơ láo.
Khi đói con người ta thường nhìn lơ láo, nhất là “khi trong túi chỉ cịn nhõn một
nghìn thì người ta càng lơ láo hơn” [13, tr.18]. Lơ láo để nhìn xem có cái gì ăn
được, mà quan trọng là xem cái gì thì đủ với túi tiền của mình. Lơ láo thèm ước và
lơ láo quay về thực tại.
Đói, nghèo nhưng người ta vẫn phải sống và chấp nhận. Che đậy, giả tạo là
những cách mà con người trong Người sơng Mê lựa chọn để sống cuộc đời mình.
Hai mẹ con cô giáo trường bên phải “chung nhau quần áo, chung nhau cả nhiều thứ
lặt vặt đàn bà con gái chung nhau” [13, tr.104], cho đến khi chết nhưng vẫn lấy thế
làm hạnh phúc rồi vì tuy thiếu song mọi thứ đều lành lặn, cịn hơn nhiều so với ơng
giáo, khi chết “cái quần nào cũng bị chuột nhấm một chỗ khá to, mà lại nhấm đúng
cái chỗ cái cần kín hơn cả ở mỗi cái quần” [13, tr.261]. Khi phải sống trong tình
trạng “ra đường có bị chẹt xe thì chỉ phùi ra có rau muống với mỳ sợi thôi” [13,
23
tr.109], con người ta thành ra hám lợi, tính tốn hơn. Thảo suốt ngày rỉa rói, trách
mắng chồng “ở nhà trên, ở nhà bếp ở trong chăn”, chỉ mỗi chuyện chồng mình
khơng có nổi cái nhà để lại cho con cái, trong khi “bạn bè, anh em cùng vai lứa, bây
giờ ai ai cũng có nhà cửa khá to rộng. Nhiều người sắm cả nhà ở thủ đô yêu dấu”
[13, tr.93]. Để rồi trong nhà “lúc nào cũng có trận bát xơ đĩa rồi thìa xơ chậu” [13,
tr.94]. Thậm chí người ta phải giở cái trị thơ bỉ cho vợ uống thuốc độc rổm giả vờ
tự tử để được Công đoàn trợ cấp.
Các sự việc, sự kiện cứ theo nhau hiện ra, khách quan như nó vốn là vậy.
Khơng bình luận, không phán xét, Châu Diên đã làm nổi bật khơng chỉ hiện thực
đói nghèo mà cịn là sự hủy hoại của nó đối với nhân phẩm của con người.
Chiến tranh! Một hiện thực đau thuơng. Tuy nhiên khác với các nhà văn
khác thường đi sâu vào phơi bày bản chất của chiến tranh, lột trần sự phi lý của
chiến tranh gây ra, trái lại Châu Diên chỉ đứng ở một góc khuất của cuộc sống để
nhìn lại một thời chiến tranh đã đi qua, chỉ là những hồi tưởng, những kỉ niệm kể
cho nhau nghe về một thời dĩ vãng, của một kiếp trước một kiếp nào đó. Nhưng
khơng nói mà vẫn như nói, khơng q sâu mà vẫn sâu, bức tranh hiện thực về chiến
tranh vẫn hiện lên mồn một, chi tiết trong tác phẩm. Nhà văn vẫn lấy đi bao niềm
mặc cảm, bao suy tư của người đọc về một hiện thực đầy đau thương không thể phủ
nhận. Những phác họa ngắn, những cảnh quay xa nhưng hình ảnh phóng chiếu vẫn
hiển hiện một cách cụ thể, rõ ràng, chân thực từng bước dẫn dắt người đọc đi đến
nhận diện lại những đau thương, khốc liệt mà chiến tranh đã tàn phá. Chiến tranh
không những phá tan cái khơng khí thanh bình, êm ả của một Hà Nội xưa: “Hà Nội
từ một thành phố êm ả đến cái quảng cáo Hà Thành hoa lệ Hồng Khê Bạc Nhị
Thiên Đường cũng nhẹ nhàng êm ả đến cái tiếng keng keng xe điện cũng êm ả lướt
trơi và cịn êm ả biết bao nhiêu là những tà áo ra vào bay lượn cổng trường ngay cả
con giai (…) cũng bay lượn vạt áo dài thâm hoặc áo dài the đen chùng dài êm ả và
ngay cả khi đá cầu thì cũng vén tà áo vào bên hơng êm ả Hà Nội” [13, tr.46] mà nó
cịn phá tan biết bao nhiêu mối tình đẹp, làm chia li bao cảnh sum vầy. Nhưng ghê
gớm hơn, chiến tranh còn buộc những con người thông minh và đầy nhựa sống
24
“phải tự mình kéo mình lùi lại dăm chục ba thế kỉ” [13, tr.103]. Ngay cả “cái màu
da cam hóa chất, cái màu xanh lè đơ la, cái màu tím tím lam lam in mệnh giá cao
ngất của chúng nó cũng khơng tệ hại bằng ngón địn làm (…) lùi trí não” [13,
tr.103]. Chiến tranh cịn kéo theo những thay đổi trong mỗi con người. Lược từ một
cô gái giản dị, trắng trong và đầm ấm sau bao năm tháng, giờ đây đã đổi khác đi
nhiều. Trên con người ấy “vẫn cái mốt áo váy như xưa vẫn cái nét son mơi như xưa
chỉ có nét khác mái tóc bây giờ uốn quăn chứ không buông lơi như ngày xưa, đơi
mắt nhìn thì hơi bị nhàu nhàu, nhịa nhịa”, và dường như bây giờ “nét xuân xưa
không đủ để át đi kí ức về một cơ Lược đơn giản thầm kín trong veo và trẻ trung
chắc nịch và chắc chắn mãi tới khi nàng chết có lẽ nàng vẫn trong veo trẻ trung
thầm kín đầm ấm như thế” [13 tr.50]. Khơng viết về chết chóc, bi thương của chiến
tranh, nhưng Châu Diên vẫn tái hiện nên một viễn cảnh đầy bi thương mà chiến
tranh gây ra.
Bên cạnh cái đói, chiến tranh, Châu Diên còn hướng người đọc đi sâu vào
khám phá hiện thực cuộc sống với những mâu thuẫn, nghịch lý. Đó là sự phân tầng
đẳng cấp trong xã hội. Dân thì cật lực làm việc như những “đống xương di dộng”,
cịn chủ nhiệm thì “ngồi hưởng lợi”. Lời nhận xét của vị giám đốc về hưu đã phơi
bày hết thảy sự nghịch đối trong xã hội: “mỗi người làm việc bằng hai để cho chủ
nhiệm mua đài mua xe, mỗi người làm việc bằng ba để cho chủ nhiệm xây nhà xây
sân, mỗi người làm việc bằng năm để cho chủ nhiệm nó nằm nó xơi…” [13, tr.109].
Những mâu thuẫn, nghịch đối đó diễn ra ở mọi nơi, mọi lĩnh vực. Ở môi trường
giáo dục chẳng những “sinh viên càng ngày càng dốt càng ngày càng lười”, mà
ngay cả bộ phận giáo viên cũng “càng ngày càng dốt càng ngày càng lười”. Học trò
- đám xã hội nhân văn đấy, gần với đạo đức hơn đấy cũng chẳng đạo cao đức trọng
gì hơn, “hễ chụt được là tranh thủ chụt cái, chẳng mất mát đi đâu chút tình bạn nào
mà thậm chí tình bạn cịn tăng cường hơn cả tình đồng chí” [13, tr.62]. Họ tận dụng
mọi cơ hội nào có được để thỏa mãn lịng ham muốn của mình. Trong cái khơng
gian âm u nặng nề của phịng thí nghiệm như cái nhà xác, vậy mà các sinh viên vẫn
tranh thủ “lợi dụng cái âm u tấm rèm màu nâu nặng trịch để mà gỡ gạc cấu chí
25
nhau” [13, tr.62]. Ngay trong khơng khí náo nhiệt của đêm lửa trại, người ta vẫn
tranh thủ để “chụt” nhau, để làm “lối bài bây” với nhau. Còn thầy giáo thì sẵn sàng
sửa luận văn của người khác chỉ vì cho rằng nó khơng phù hợp.
Ở bệnh viện thì càng nhốn nháo hơn với những tuyên ngôn, những lời dặn dò
của “văn minh đám tang thành thị”: Nào là gia đình, họ hàng đến đưa tiễn khơng
được khóc lóc than vãn kêu gào; nào là chúng ta không được làm ảnh hưởng đến
khơng khí trang nghiêm của bệnh viện khi có các đồng chí cấp trên đến viếng thăm;
nào là mình phải tỏ ra thờ ơ với cái chết khơng nên khóc lóc kêu gào… Những
nhiễu khê, đối lập ấy cịn tồn tại ngay trong từng gia đình, từng cá nhân giữa tốt –
xấu, giữa thiện – ác, giữa dũng cảm – hèn nhát…
Muôn mặt cuộc sống, muôn mặt con người, mn mặt đời thường dưới cái
nhìn tinh anh như thấu thị tất thảy những ngổn ngang, mâu thuẫn trong cuộc sống,
Châu Diên đã tái hiện nên một bức tranh cuộc sống chân thực, sinh động. Bấy nhiêu
rác rưởi bấy nhiêu bọt bèo mà lâu nay vẫn được phủ kín dưới “tấm rèm màu nâu
nặng trịch” của bóng tối từng bước được soi chiếu bởi thứ ánh sáng của lương tri,
của tâm hồn.
2.1.2. Cuộc sống con người nhìn bằng “cõi mê”
Văn học nghệ thuật tìm đến với tâm linh như một cách thể hiện quan niệm,
tư tưởng về con người và hiện thực một cách sâu sắc, toàn diện ở mọi khía cạnh. Đó
là cách nhà văn đi sâu vào những vấn đề bí ẩn của lồi người mà đến nay vẫn chưa
có câu giải đáp chính xác.
Tâm linh là yếu tố liên quan tới tâm hồn, tinh thần, trực giác, linh cảm, vô
thức…, là một thế giới của niềm tin thiêng liêng mang màu sắc tơn giáo đầy bí ẩn.
Tâm linh thể hiện khát vọng tự hoàn thiện, khát vọng tự giải thoát để tạo trạng thái
cân bằng cho con người. Hướng ngòi bút vào thế giới tâm linh, đó là cách Châu
Diên muốn đề đạt “một lối tìm cách nói khác về xã hội và lịch sử đương đại Việt
Nam” [10]. Bằng cách này, nhà văn đã đưa người đọc nhập sâu vào cõi tâm linh
như con đường để chiếm lĩnh hiện thực, một hiện thực không thể trơng, nhìn, cầm,
nắm trực tiếp mà chỉ có thể cảm nhận bằng linh cảm.