1
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
----------
LÊ THỊ LAN ANH
Đặc điểm tiểu thuyết Lầm Than
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện thực đất nước ta vào những năm 1930- 1945 vô cùng tăm tối. Người
dân phải sống trong cảnh “ một cổ hai tròng”, vừa chịu sự thống trị của thực dân
Pháp, vừa chịu sự bóc lột của phát xít Nhật. Xã hội bao trùm một khơng khí ngột
ngạt, tăm tối. Hồn cảnh xã hội lúc ấy đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến tâm hồn,
tư tưởng những người cầm bút. Và một số nhà văn đã dùng ngịi bút của mình phơ
bày những cảnh đời, cảnh người mà họ thấy, họ chứng kiến. Các tác phẩm vừa
căm ghét xã hội thực dân phong kiến thối nát, vừa phê phán mãnh liệt các thế lực
thống trị xã hội, trên cơ sở đó cảm thông, yêu thương và trân trọng con người,
nhất là những con người bị vùi dập, chà đạp. Đó cũng chính là cảm hứng chung
của các nhà văn hiện thực phê phán giai đoạn này.
Tiêu biểu của dòng văn học này là tên tuổi các nhà văn như Nam Cao, Ngô
Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan… Phần lớn các tác phẩm ấy đều nói
lên cuộc đời, số phận hẩm hiu, bất hạnh, bế tắc của những con người dưới đáy xã
hội, những con người “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”. Nhưng có một nhân
vật mà các tác phẩm lúc ấy ít nhắc đến đó là người cơng nhân. Hải Triều từng
viết: “Giống chừng như một cái thông lệ, khi người ta nói đến tiểu thuyết hay xã
hội bình dân là người ta chỉ nghĩ ngay đến những tên ăn mày, ăn xin, những đứa
trẻ mồ côi, những phu xe kéo, những tên ăn trộm, hay những gái giang hồ, mà
người ta qn tả, qn nhìn, qn nói đến một hạng người quan trọng hơn cả, một
hạng người hiện tại bị bóc lột nhiều hơn cả, hạng người mà tương lai sẽ đắp
móng xây nền cho xã hội mới, hạng người ấy là hạng thợ”. Dù không phải là nhà
văn chuyên viết về mảng hiện thực lúc ấy, dù chỉ “đá qua”, nhưng nhà văn Lan
Khai đã viết về họ, viết về người thợ ấy,viết về giai cấp đóng một vai trị vơ cùng
to lớn trong sự nghiệp cách mạng là người công nhân qua tiểu thuyết Lầm Than.
3
Với tác phẩm "Lầm Than" của Lan Khai xuất hiện lúc đó đã hồn thiện nét vẻ đầy
đủ về sự cùng khổ của các tầng lớp công – nông – binh trong xã hội ta lúc bấy
giờ.
Nhà văn Lan Khai là một nhà văn nổi tiếng với các tiểu thuyết lịch sử, tiểu
thuyết đường rừng, nhưng khi viết về đề tài xã hội, ông cũng khẳng định được tài
năng của mình khơng hề thua kém bất kì ai. Tiểu thuyết "Lầm Than" của Lan
Khai đánh dấu một cái nhìn táo bạo của tác giả về người công nhân, người cộng
sản, về cách mạng. Không những thế tác phẩm đã miêu tả chân thực cuộc sống
của công nhân mỏ thời thuộc Pháp. Đó là cuộc sống lầm than, cơ cực đến tột
cùng. Chỉ vì đói nghèo, vì bọn địa chủ cường hào ở q áp bức đến khơng sống
nổi, hoặc vì những rủi ro, tai nạn đến cùng quẫn đành phải xa quê, lìa quán ra mỏ
than. Và họ lại một lần nữa rơi vào địa ngục. Họ bị phu phen cho roi vọt, ăn đói
mặc rét, bóc lột thậm tệ, cuộc sống tối tăm:
Oằn lưng đội thúng than đầy
Nửa lon gạo hẩm suốt ngày cầm hơi
(Ca dao)
Và tác phẩm ấy có thể tồn tại trong lịng người đọc ngồi nội dung thì nghệ
thuật của tác phẩm đóng một vai trị vơ cùng to lớn. Chính nhờ nghệ thuật riêng
biệt ấy giúp hình thành nên những nét đặc trưng cây bút Lan Khai. Khi đi tìm hiểu
đề tài này , chúng tơi mong muốn sẽ phân tích, lý giải một cách hợp lý những yếu
tố đã làm nên Đặc điểm tiểu thuyết Lầm Than. Qua đó, góp thêm một tiếng nói
khẳng định vị trí của tác phẩm này trong tiến trình phát triển của văn học Việt
Nam .
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Ngay từ khi mới hình thành cho tới khi xuất bản thành sách, tác phẩm Lầm
Than đã được rất nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình quan tâm và đề cao
nhiều mặt.
4
Trong Lời giới thiệu cuốn Lầm than, Trần Huy Liệu viết: “Các bạn đọc
sách này, nếu ai đã từng sống trong cảnh lầm than ở giữa dân chúng, các bạn sẽ
nhận thấy những tình cảm, những phong tục cho đến những tâm lý của đám dân
nghèo mà tác giả đã mô tả ra là rất đúng”. Theo ông, Lầm than cịn giác ngộ con
người về nạn bóc lột: “Các bạn đọc xong quyển truyện này, nếu thấy mình bỗng
đầy lịng căm tức đối với bọn sống một cách sung sướng bằng mồ hôi nước mắt
của kẻ khác và cũng đầy lịng đau xót đối với những người sống một cách khổ
nhục đem mồ hôi nước mắt nuôi béo kẻ khác thì tức là người viết ra nó đã đạt
được ý nguyện của mình rồi”. Và ơng cũng thấy rằng đây là một tác phẩm cần và
đáng quan tâm, đáng để đọc.
Cũng như thế, lời nhà xuất bản ngay trang đầu cũng đã dành cho Lầm than
một sự ưu ái về nội dung của tác phẩm. dù chưa đề cập đến nghệ thuật nhưng nó
làm tị mị biết bao độc giả khi cầm cuốn sách lên: “Anh em lao động đã đành nên
đọc sách này để nhận chân lấy cảnh ngộ của mình và để tự hiểu lấy nguyên nhân
phức tạp của sự khổ não suốt đời mình. Các bậc phú hào lại càng nên đọc sách
này để nhớ tới hạng người mà số phận hẩm hiu bắt phải mãn kiếp làm tơi tớ đồng
tiền, để thương xót lấy họ và để u mến sự cơng bình hơn trước. Trong lúc các
người cười thì từ cõi lầm than, những tiếng khóc, những tiếng rên vẫn ngấm ngầm
khơng lúc nào thơi.”
Tiếp đó, nhà văn Hải Triều trong bài “Lầm than, một tác phẩm đầu tiên của
nền văn học tả thực xã hội ở nước ta” đã đánh giá cao đề tài, tư tưởng và phương
pháp sáng tác của Lan Khai: “Đọc xong quyển Lầm than tơi thấy tác giả của nó
mạnh dạn tiến lên trên con đường sáng sủa mà đầy cả chông gai, con đường bênh
vực cho giai cấp cần lao, con đường của Chủ nghĩa Xã hội. Điều ấy là một điều
đáng ghi nhớ trong lịch sử văn học của xứ này”. Hải Triều ngoài việc đánh giá
cao về tác giả Lan Khai, thì ơng cũng đánh giá rất cao tác phẩm Lầm Than cả về
nội dung lẫn nghệ thuật. Nhưng tác giả cũng chỉ dừng lại ở việc nêu lên được nét
5
đặc sắc nhất của tác phẩm này là đã “nói đến người thợ, cái hạng khổ sở nhất
trong giai cấp thợ thuyền, hạng thợ mỏ”, cuộc sống đói khổ của họ, nhưng cũng
chưa nói được đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm. Theo ơng, Lan Khai là nhà văn
“có một ngịi bút sáng suốt giản dị” đã “mơ tả cuộc đời khốn khổ, cay chua ghê
gớm của hạng người mà sự sống đã hầu hóa ra một đàn súc vật, chịu đựng tất cả
những sự bóc lột đê hèn của giai cấp sản chủ một cách tàn nhẫn vô cùng” . Lan
Khai là nhà văn hiểu tự do sáng tác và sáng tác hoàn toàn tự do: “Tác giả của nó
từ đầu đến cuối tự do viết một thơi, theo sự quan sát và cảm tình của mình, khơng
theo một cái định lệ nào cả”. Đây là tác phẩm đã vạch “một khuynh hướng trong
văn học giới, cái khuynh hướng tả thực xã hội chủ nghĩa .
Tiếp đến, Vũ Ngọc Phan trong cuốn nhà văn hiện đại quyển 4 tập thượng
đã có bài viết tổng quát về nhà văn Lan Khai. Vũ Ngọc Phan viết về quá trình
sáng tác của Lan Khai cũng như các tác phẩm, mảng đề tài mà Lan Khai từng
tham gia viết, hoàn cảnh ra đời tác phẩm Lầm Than. Trong đó, ơng đã so sánh tác
phẩm Lầm Than của Lan Khai với nhà văn Trọng Lang: “Những cảnh lầm than
dưới ngòi bút của Trọng Lang là những cảnh suy đốn, trụy lạc trong một xã hội
mục nát, chỉ cịn cái vẻ rực rở bên ngồi, còn "Lầm Than" của Lan Khai , là một
cuộc đời đau khổ và thê thảm của phu mỏ, một hạng lao động đã làm cạn rất
nhiều mực của các nhà văn trong thế giới. Viết quyển "Lầm Than", Lan Khai đã
đứng riêng về một mặt: tả một cuộc đời nhem nhuốc vì than và vì những sự hà
hiếp ức chế; tả một hạn người tìm cái vui trong cái chết (rượu và thuốc phiện),
tìm cả cái sống trong cái chết nữa (đưa chân vào chốn hiểm nghèo để có miếng
ăn). Mới đọc, tưởng như tác giả muốn tựa vào một thuyết và cố đào cho thấy
những sự đau khổ của bọn phu mỏ, để chứng cho thuyết của mình. Nhưng không
phải, Lan Khai đã tả những việc rất thường, những việc mà ai cũng biết và ai
cũng có thể thấy được, nhưng nó là những việc có ý nghĩa, những việc chỉ riêng
hạng phu mỏ mới có. Chỉ đọc lần lượt những việc nặng nhọc vè thê thảm của phu
6
mỏ, trong quyển "Lầm Than" người ta sẽ thấy đời họ tóm tắt cả ở câu này: “Vào
chỗ chết để giữ lấy sự sống”. Cái ý tưởng ấy đã diễn ra ở mọi việc một cách tự
nhiên vô cùng.” Theo ông, Lan Khai là nhà văn năng động trong sáng tạo; “Lầm
than của Lan Khai tuy là một tập tiểu thuyết nhưng mọi việc đều thiết thực khơng
khác gì những việc trong một thiên phóng sự”. Đương thời tiểu thuyết Lầm than
được khẳng định ở nhiều góc nhìn giá trị từ đề tài, tư tưởng đến phương pháp sáng
tác và bút pháp nghệ thuật. Tác phẩm được viết lên bằng tất cả cái tâm, cái tài của
người nghệ sĩ.
Trần Mạnh Tiến, Lan Khai – Nhà văn hiện thực xuất sắc, đã nhận định
“Lan Khai thành công hơn cả ở thể loại tiểu thuyết, tiểu thuyêt về tâm lý xã hội,
về lịch sử và tiểu thuyết đường rừng. Bên cạnh đó là những tác phẩm nghiên cứu,
lý luận và phê bình văn học đặc sắc, những tác phẩm ký và truyện ngắn, thơ và
câu đối, các cơng trình dịch thuật, sưu tầm văn học dân gian và hội họa... Tất cả
góp phần tạo nên bức chân dung sống động về nghệ sĩ Lan Khai”. Vũ Ngọc Phan
đã phân tích những thế mạnh của các thể loại tiểu thuyết mà Lan Khai từng tham
gia viết để mơ tả lại q trình sáng tác cũng như bức chân dung về nhà văn này.
Trong từ điển tác gia văn học Việt Nam thế kỷ XX, Trần Mạnh Thưởng đã
cho người đọc một cái nhìn khái quát và tổng kết nhất về cuộc đời cũng như sự
nghiệp sáng tác của nhà văn Lan Khai. Tác giả đã khái quát một chặng đường
sáng tác của Lan Khai đi từ tiểu thuyết lich sử đến tiểu thuyết tâm lý xã hội. Bên
cạnh đó, tác giả khái quát được cuộc sống cay dắng của nhưng người thợ mỏ,
khẳng định giá trị của Lầm than và ảnh hưởng của tác phẩm. Nhưng bên cạnh đó,
Trần Mạnh Thưởng cũng cho rằng “Tác giả của nó thật sự chưa hiểu hết cách
mạng nên sự phản kháng của những nhân vật chính là cô độc, liều lĩnh và bế tắc”.
và cho rằng: “Lầm than cũng chỉ là sự chuyển biến nhất thời của ngòi bút Lan
Khai trước ảnh hưởng lớn lao của thời cuộc. Bởi sau đó, Lan Khai đã trở về với
lối lãng mạn thoát lý tiêu cực
7
Mười thế kỉ bàn luận về văn chương – tập 2 của Phan Trọng Thương cũng
có tìm hiểu về nhà văn Lan Khai, đã có nhân xét: “Lan Khai chỉ là một anh thợ
vụng mà thiên hạ không dễ dải như ông tưởng”. Khi đọ ta thấy đây là một cái nhìn
chủ quan, chưa đặt Lan Khai vào hồn cảnh xã hội lúc đó, cũng như chưa thấy
được hết vị trị các tác phẩm của Lan Khai nằm trong dòng văn học Việt Nam
Ở tự sự học, tác giả Trần Mạnh Tiến viết về tác phẩm tự truyện của Lan
Khai ngoài việc nêu lên những giá trị của tác phẩm Mực mài nước mắt, cái lợi của
việc viết tự truyện thì tác giải cịn khẳng định tài năng của Lan Khai qua nhiều
lĩnh vực: “Là một nhà văn có sở trường trên nhiều lĩnh vực sáng tác như Tiểu
thuyết lịch sử, tiểu thuyết tâm lý và tiểu thuyết đường rừng, Lan Khai còn biểu
hiện nhiều năng lực sáng tạo bằng những phương thức nghệ thuật riêng”. [ , tr344]
Và “Mặt khác viết về người thực việc thực cũng là một sở trường của cây bút Lan
Khai trong nhiều thiên tiểu thuyết. Đây cũng là một nhà văn ln ln có ý thức
tìm những con đường đi mới cho nghệ thuật tiểu thuyết.” [ , tr 350].
Trong cuốn Lầm Than- Lan Khai (chuyên khảo và tác phẩm), Trần Mạnh
Tiến đã có một cái nhìn tổng hợp và sâu sắc về nội dung của tác phẩm. Ơng đã nói
lên được giá trị hiện thực mà tác phẩm đề cập đến, những cái hay, cái mới mà nhà
văn Lan Khai phát hiện ra. Nhưng về mặt nghệ thuật thì tác giả chưa nói nhiều và
khai thác sâu.
Nhìn chung, về đặc điểm tiểu thuyết Lầm Than, những cơng trình bài viết
nghiên cứu cịn chưa nhiều, có tính tản mạn và thường thì chỉ đề cập đến nội dung
của tiểu thuyết. Từ thực tế trên, tơi đi sâu vào tìm hiểu những Đặc điểm tiểu thuyết
Lầm Than để tìm hiểu khám phá cái hay, cái đẹp còn ẩn chứa trong tác phẩm.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
8
Luận văn này nghiên cứu về tiểu thuyết Lầm than (Lan Khai). Việc tìm hiểu
cái hay, cái đẹp trong tác phẩm sẽ giúp khẳng định vị trí của nó trong dòng văn học
hiện thực.
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu đặc điểm tiểu thuyết trong tác phẩm Lầm Than
(Lan Khai). Tác phẩm lấy từ cuốn Lầm than – Lan Khai (chuyên khảo và tác phẩm)
của Trần Mạnh Tiến, Nhà xuất bản Văn hóa thơng tin, 2004.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để có thể hồn thành đề tài, tơi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu
chủ yếu sau:
Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu bối cảnh xã hội, văn hóa mà trong tác
phẩm đã đề cập đến cùng tài liệu lịch sử đáng tin cậy từ đó đối chiếu để tìm ra
được những điều xảy ra trong quá khứ mà nhà văn tái tạo trong tác phẩm.
Phương pháp phân tích tổng hợp: đầu tiên đọc tác phẩm, sau đó tập trung
chú ý vào các yếu tố chính về nghệ thuật để làm rõ đề tài.
Phương pháp so sánh, đối chiếu: để thấy được phong cách riêng cũng như
đóng góp của Lan Khai cho nền văn học Việt Nam. Trong q trình nghiên cứu có
sự tiến hành so sánh, đối chiếu với một số cây bút khác ở từng vấn đề có liên quan
để thấy những nét đặc sắc của tiểu thuyết Lầm than
5. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Lan Khai – Hành trình sáng tạo nghệ thuật.
Chương 2: Hiện thực sinh động về cuộc sống con người.
Chương 3: Những thể nghiệm nghệ thuật mới mẻ.
9
CHƯƠNG I: LAN KHAI - HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT
1.1. Lan Khai trong hành trình tiểu thuyết 1930 – 1945
1.1.1. Những đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết tâm lý xã hội ở Việt Nam giai
đoạn 1930 – 1945
Từ cuối thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam đã
có những điều kiện cần và đủ để chuyển từ phạm trù văn học truyền thống sang
phạm trù văn học hiện đại. Sự đổi mới theo hướng hiện đại hóa lúc này đã tạo cơ
hội cho văn học Việt Nam gia nhập vào quỹ đạo văn học thế giới. Nhiều thể loại
mới ra đời và có những thành tựu đáng kể đóng góp cho lịch sử văn học dân tộc
những tác giả và tác phẩm tiêu biểu; trong đó khơng thể khơng kể đến tiểu thuyết.
Tuy ra đời muộn hơn so với một số thể loại khác nhưng tiểu thuyết đã chứng tỏ
được sức trẻ và sức sống của một thể loại đang trong quá trình sinh thành và phát
triển. Tiểu thuyết vừa kế thừa, tiếp nối những yếu tố truyền thống, vừa tạo nên
những đứt đoạn, bứt phá quan trọng góp phần đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa
nền văn học dân tộc.
“Tiểu thuyết là một thể loại văn xi có hư cấu, thơng qua nhân vật, hoàn
cảnh, sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề của cuộc
sống con người, biểu hiện tính chất tường thuật, tính chất kể chuyện bằng ngôn
ngữ văn xuôi theo những chủ đề xác định.” Trong một cách hiểu khác, nhận định
của Belinski: "tiểu thuyết là sử thi của đời tư" chỉ ra khái quát nhất về một dạng
thức tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận của một cá nhân trong quá
trình hình thành và phát triển của nó. Sự trần thuật ở đây được khai triển
trong không gian vàthời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của
nhân cách. Tiểu thuyết dựa theo tính chất củ nó chia ra làm nhiều thể loại khác
nhau: Đó là tiểu thuyết tâm lí xã hội, tiểu thuyết giả sử, tiểu thuyết phưu lưu, tiểu
thuyết đường rừng...
10
Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945 phát triển trong điều kiện xã
hội thực dân- phong kiến. Đây là một thời kì
(1)
văn học vừa vận động một cách
mau lẹ theo hướng hiện đại hố, vừa có sự phân hoá phức tạp thành nhiều bộ
phận, nhiều xu hướng văn học. Thời kì này chia làm 3 giai đoạn: 1/ hai mươi năm
đầu thế kỉ, 2/ mười năm tiếp theo, 3/ mười lăm năm sau cùng. Trong đó 15 năm
sau cùng (1930-1945) là giai đoạn văn học phát triển và đạt đến những thành tựu
đỉnh cao, đưa văn học Việt Nam hoàn toàn hội nhập vào quỹ đạo văn học hiện đại
thế giới.
Ở giai đoạn 1930-1945, trên văn đàn công khai, văn học lãng mạn và văn
học hiện thực nối tiếp nhau kết tinh được những thành tựu nghệ thuật nổi bật, có
sức sống với thời gian. Nếu như ở văn học lãng mạn, cả thơ, truyện ngắn, tiểu
thuyết đều đạt được thành tựu quan trọng thì ở trào lưu văn học hiện thực thành
tựu chủ yếu là truyện ngắn, tiểu thuyết và phóng sự. Càng về cuối giai đoạn, tiểu
thuyết tâm lý xã hội phát triển mạnh trong đó tiểu tuyết hiện thực đã có những
bước tiến rất xa so với tiểu thuyết lãng mạn.
Tiểu thuyết hiện thực 1930-1945 cũng phát triển trải qua ba chặng đường:
1930-1935; 1936-1939 và 1940-1945. Nếu như chặng 1930-1935, tiểu thuyết lãng
mạn của Khái Hưng, Nhất Linh, …trong nhóm Tự Lực Văn Đồn chiếm thế ưu
trội thì chặng 1936-1939 tiểu thuyết hiện thực đã có những tác phẩm lớn thể hiện
sự bứt phá ngoạn mục của các nhà văn hiện thực: Ngô Tất Tố (Tắt đèn), Nguyễn
Công Hoan ( Bước đường cùng), Lan Khai ( Lầm than), đặc biệt là Vũ Trọng
Phụng (Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ). Những tiểu thuyết này đã bao quát những vấn đề
xã hội rộng lớn như cuộc đời cùng khổ của nông dân (Tắt đèn, Bước đường cùng,
Vỡ đê), công nhân ( Lầm than), những thủ đoạn áp bức bóc lột, những hành động
thương luân bại lí của bọn cường hào, địa chủ, tư sản (Giơng tố, Số đỏ). Các tiểu
thuyết này đã đạt đến trình độ điển hình hố rất cao, đã xây dựng được những tính
11
cách điển hình trong hồn cảnh điển hình theo giới thuyết về chủ nghĩa hiện thực
của Ăng-ghen.
Đặc điểm của tiểu thuyết tâm lý xã hội giai đoạn 1930 – 1945 so với các
loại tiểu thuyết khác thì ở đây, nhân vật, ngôn ngữ, côt truyện được xây dựng một
cách gần gũi, cụ thể hơn. Tac giả không dẫn dắt cốt truyện, dàn dựng nhân vật
nhằm minh hoạ cho một luận đề nữa mà đã đưa ngòi bút khám phá sâu hơn vào
cõi lịng, vào thế giới tình cảm của con người với những khát khao và nuối tiếc
trước lằn ranh của tình yêu và phẩm hạnh, của đạo đức và cuộc đời, tình bạn và
tình người.
Khơng chỉ thế, tiểu thuyết tâm lý xã hội giai đoạn 1930-1945 đã hướng tới
những nhân vật của đời sống thường ngày. Nhà văn không nhìn nhân vật với thái
độ chiêm ngưỡng, sùng mộ hoặc khinh khi, xa lạ mà miêu tả nhân vật như tự nó
vốn thế, vừa khách quan vừa thân mật, gần gũi.
Khác với văn học truyền thống viết bằng chữ Hán, chữ Nơm, văn xi
Quốc ngữ nói chung và tiểu thuyết nói riêng đã hướng về đời thực, về những cái
đang xảy ra bằng ngôn ngữ thường ngày, tự nhiên, dung dị. Ngơn ngữ đó gắn liền
với cuộc đời thực, khơng khoa trương, mỹ lệ. Những tục ngữ, thành ngữ, phương
ngữ của địa phương được mnag vào trong tác phẩm. Khi đọc, những ngơn ngữ
bình dị đó mang cho chúng ta cảm giác tác phẩm gần gũi, dễ tiếp nhận hơn, dễ
hiểu hơn.
Thế giới nhân vật được xây dựng một cách phong phú. Nhân vật được đặt
trong mối quan hệ đời thường, đời tư. Tác giả đi sâu vào hoàn cảnh đời tư, miêu
tả những “con người nhỏ bé”, “những kiếp lầm than”, các nhà tiểu thuyết hiện
thực đã thể hiện nhân vật của mình như những nạn nhân bất lực của hồn cảnh .
Ngồi ra, tình u cá nhân được miêu tả, thể hiện đầy màu sắc, mạnh mẽ hơn, nội
tâm nhân vật được khắc họa sâu sắc hơn. Hiện thực xã hội được thể hiện một cách
gián tiếp thông qua câu chuyện, cuộc đời của nhân vật.
12
Tóm lại, tiểu thuyết ra đời là một tất yếu của quá trinhg vận động văn học.
Trong đó, tiểu thuyết tâm lý xã hội là một mảng không thể thiếu để đưa tác giả
đến gần với người đọc. Trong các nhà văn đó, Lan Khai đã đánh dấu tên mình với
rất nhiều tiểu thuyết tâm lý xã hội hay và Lan Khai đã đưa ngịi bút của mình đến
với rất nhiều mảng khác ở thể loại tiểu thuyết. Mỗi mảng ông có những thành
công riêng. Riêng ở thể loại tiểu thuyết tâm lý xã hội, ông đã cho chúng ta tác
phẩm “Lầm than”, một tác phẩm có thể xem là viết về đề tài công nhân – người
thợ mỏ sớm nhât.
1.1.2. Lan Khai với tiểu thuyết tâm lý xã hội
Nhà văn Lan Khai tên khai sinh là Nguyễn Đình Khải, sinh ngày 24
tháng 6 năm 1906 tại Bản Luộc, xã Vĩnh Lộc, châu Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
nay là thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Trong quá trình
sáng tác, nhà văn sử dụng nhiều bút danh như Huệ Khai, Thục Oanh, Lâm Tuyền
Khách, Lan, ĐKG,...nhưng được độc giả biết đến nhiều hơn cả với bút danh Lan
Khai. Sở dĩ nhà văn lấy bút danh là Lan Khai vì ơng thích lồi hoa này. Mỏng
manh với núi đồi, sống phù phiếm nhưng để lại làn hương dễ chịu cho đời. Bút
danh này cũng đã “ám” vào thân phận nhà văn. Ngắn ngủi, ẩn dật, không xô bồ
nhưng tinh khiết và đẹp đẽ đến vô ngần.
Thân phụ của Lan Khai là Nguyễn Đình Chức (cịn gọi là cụ Lan Chức),
sinh năm Canh Ngọ (1870), nguyên quán ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông là một nhà
nho kiêm lương y. Mẹ Lan Khai là Lê Thị Thục, xuất thân trong một gia tộc lâu
đời ở địa phương. Nhà văn có một người chị gái tên là Nguyễn Thị Tuyết Nhung.
Thuở
nhỏ,
Lan
Khai
được
sống
gần
gũi
với
các
dân
tộc Tày, Nùng, Dao, Cao Lan, Hà Nhì,... Năm 8 tuổi (1914), nhà văn theo cha mẹ
chuyển về sống ở làng Xuân Hòa (nay thuộc phố Xuân Hòa, tỉnh lỵ Tuyên
Quang), nơi cư trú của nhiều gia đình thợ thuyền và phu mỏ (vì làng Xn Hịa
tiếp giáp với mỏ than Tuyên Quang và mỏ kẽm Tràng Đà). Tại đây, bố mẹ Lan
13
Khai tiếp tục làm nghề cứu nhân độ thế. Lúc khó khăn, mẹ ơng “bồng bềnh xi
ngược” mua bán sơn hào ở các ngọn sơng. Chính người mẹ đã truyền cho ông cái
kho tàng văn học dân gian phong phú và người cha đã truyền cho ông cái kho sách
thánh hiền với các tri thức về lịch sử và văn hóa nước nhà. Thời niên thiếu cho tới
lúc trưởng thành, nhà văn đã chứng kiến bao cảnh lầm than của cuộc đời người
thợ. Chính những hiện thực được chứng kiến đã giúp nhà văn có cái nhìn đồng
cảm, xót xa cho các thân phận, các kiếp người.
Thuở thiếu thời, Lan Khai có một niềm đam mê hội họa rất lớn, nhà văn
từng mang khát vọng “làm một họa sĩ để vẽ lại tất cả buồn vui của cuộc đời”.
Cũng chính vì khao khát đó mà nhà văn từ chối làm một “ông thông ông ký” và
cũng chấp nhận cái nghèo để được tự do. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, ngoài
sở trường vẽ tranh phong cảnh và ký họa , nhà văn cịn làm thơ và có tâm hồn yêu
âm nhạc. Lúc quyết định từ giã con đường y nghiệp của tổ tiên, Lan Khai đã tuyên
thề “anh sẽ làm một nhà tiểu thuyết” và chính ước muốn đó đã đưa nhà văn dấn
thân vào cái “nghiệp chướng văn chương”.
Chỉ trong vòng 17 năm của đời cầm bút ngắn ngủi nhưng không ngừng
nghỉ, Lan Khai đã để lại gần 50 cuốn sách các loại. Riêng về lĩnh vực văn xi,
sáng tác của ơng có thể chia làm ba loại: tiểu thuyết đường rừng, tiểu thuyết tâm lý
xã hội và tiểu thuyết lịch sử. Lan Khai đặt chân vào làng tiểu thuyết đầu tiên với
đề tài tâm lý xã hội, mở màn bằng cuốn ái tình tiểu thuyết Nước Hồ Gươm (1928).
Đây là những năm tháng cuối cùng của giai đoạn giao thời đầu thế kỉ XX, là thời
điểm chuyển mình mạnh mẽ của cuộc cách tân văn học dân tộc, mở ra một thời
đại huy hoàng của thơ ca và tiểu thuyết (1930 - 1945). Ở tuổi 22, cái hồi bão phi
thường nhưng bình dị “Anh sẽ là một nhà tiểu thuyết” đã dẫn dắt Lan Khai trở
thành một nhà văn nổi tiếng với nhiều thể tài phong phú, từ các tiểu thuyết tâm lý
– xã hội đến các tiểu thuyết lịch sử và các “Truyện đường rừng tươi đẹp”. Bên
cạnh đó, Lan Khai cũng đồng thời là một nhà nghiên cứu, lý luận và phê bình văn
14
học, một dịch giả tài hoa. Chỉ riêng các tiểu thuyết tâm lý xã hội như: Cô Dung
(1928 – 1938), Lầm than (1929 - 1934) xuất bản 1938, Liếp Ly (1938), Sóng lúa
reo (1938), Nàng (1940), Mực mài nước mắt (1941), Mưa xuân (1942 – 1943),…
đã khẳng định tên tuổi một nhà văn tài năng có cái nhìn tinh tế và nhân hậu. Hàng
loạt các tiểu thuyết trên đã góp phần khắc họa nên những bức tranh muôn màu từ
nông thôn đến thành thị, hầm mỏ, nhà trường và môi trường gia đình, xã hội gắn
với những cảnh đời và những số phận riêng. Tác phẩm của Lan Khai có sự phối
hợp linh hoạt giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn, làm sống dậy chiều sâu về đời
sống nội tâm phức tạp của con người “thời kỳ Âu hóa” đầu thế kỷ XX. Nó giúp
cho ơng có một chỗ đứng riêng trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, góp phần
làm cho diện mạo của nền văn học dân tộc giai đoạn 1930 - 1945 trở nên phong
phú. Có thể khẳng định, Lan Khai là một cây bút sung mãn cùng với các nhà văn
Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Thạch Lam, Nguyên Hồng,...
từng tham gia vào công cuộc khai sơn phá thạch cho nền văn học mới.
Tiểu thuyết hiện đại Việt Nam ra đời là một công cuộc cách mạng và tư duy
nghệ thuật ở nhiều phương diện. Do nhu cầu phản ánh cuộc sống ở quy mô sâu
rộng, cùng với sự tiếp thu kinh nghiệm của các nền tiểu thuyết tiên tiến trên thế
giới, các nhà văn Việt Nam đã sáng tạo ra nhiều sản phẩm nghệ thuật mới, làm
nên diện mạo riêng của tinh thần dân tộc. Sự phong phú đó thể hiện ở các phương
diện: Đề tài, ngôn ngữ và thi pháp cùng với các quan niệm nghệ thuật mới. Mỗi
tiểu thuyết đều minh chứng cho cách nhìn riêng, nhân sinh quan của mỗi nhà văn
về cuộc đời. Ở phạm vi hiện thực, có thể thấy các sáng tác của Lan Khai và các
nhà văn thời kì này đã đi vào nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống:
Từ thành thị tới nông thôn, từ đồng bằng tới rừng núi, và truyền thống lịch sử,...
với mọi tầng lớp con người trong xã hội. Tuy nhiên, trong đó cịn có những mảng
hiện thực còn trống vắng nét bút người nghệ sĩ, đặc biệt là mảng hiện thực về số
phận, cuộc sống đau thương của những người thợ. Và Lan Khai với tiểu thuyết
15
Lầm Than đã đáp ứng được những mong chờ của độc giả, xóa đi khoảng trống đó
của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
Tiểu thuyết tâm lý – xã hội của Lan Khai đã mở ra những bức tranh
đa chiều, sâu rộng về những con người và cảnh ngộ khác nhau. Mỗi câu chuyện là
một dấu hỏi lớn đặt ra những vấn đề bức thiết từ hiện thực cuộc sống được nhà
văn gia cố, vận dụng linh hoạt các phương diện nghệ thuật khác nhau. Tiểu thuyết
của Lan Khai là những câu chuyện giàu tính hiện thực, phản ánh những vấn đề
nhức nhối của thời đại và toát lên vốn sống phong phú, trải nghiệm của một nhà
văn tài hoa, sắc sảo.
1.2. Tiểu thuyết Lầm Than
Nếu Nước Hồ gươm là tấn bi kịch của người phụ nữ đức hạnh, phê phán lối
sống trụy lạc của một bộ phận trí thức đương thời. Thì đến Cơ Dung, tác giả đã
“lưu lại một kí ức” về truyền thống trong thời kì xã hội Việt Nam đang có nhiều
thay đổi. Điều này cho thấy, Lan Khai cũng là một trong những nhà văn viết về
người phụ nữ nông thôn sớm nhất. Đặc biệt, việc về người công nhân, người thợ
mỏ là một thành công trong sự nghiệp viết tiểu thuyết tâm lý xã hội của Lan Khai.
Tiểu thuyết ấy có tên là Lầm than, hình thành trong giai đoạn 1929 - 1933 và xuất
bản vào năm 1938 là một sự kiện lớn của đời sống văn học dân tộc lúc bấy giờ.
Đây là cuốn tiểu thuyết được nhà văn thai nghén trên mảnh đất Tuyên Quang, ban
đầu tiểu thuyết có tên là Địa ngục.
Lời phát biểu của văn hào Pháp R. Rolland được nhà văn Lan Khai trân
trọng lấy làm đề từ cho công trình Lê Văn Trương – mớ tài liệu cho văn học Việt
Nam: “Sống được tích sự gì cho ta, nếu sống chẳng là để sửa chữa những lầm lạc
của ta, thắng đoạt những thành kiến của ta và càng ngày càng mở rộng thêm tư
tưởng và tâm hồn ta? Hãy yên tâm… mỗi ngày ta lại cố gắng để đến gần sự thật
thêm một ít” có thể xem chính là tinh thần để đến với Lầm than - một tượng đài kỉ
16
niệm về cuộc đời thợ mỏ trong thời kì lịch sử “khổ nhục nhưng vĩ đại” của giai
cấp công nhân và nhân dân Việt Nam (Trần Mạnh Tiến).
1.2.1. Một góc nhìn riêng về hiện thực
Thời gian viết Lầm than, Lan Khai hoạt động bí mật trong tổ chức Quốc
dân đảng của Nguyễn Thái học rồi bị bắt giam. Tổ chức Đảng bị tan vỡ, nhiều
chiến sĩ yêu nước phải lên đoạn dầu đài. Khi đó, nhà văn đã nhìn thấy những nhân
tố mới của những người Cộng sản. Ra tù, Lan Khai tiếp tục hoàn thành Lầm than.
Vượt qua lưới kiểm soát của nhà cầm quyền Pháp, năm năm sau, tác phẩm mới
được in thành sách. Khi còn là bản thảo, Lầm than đã được truyền tay rộng rãi
trong bạn đọc. Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên ở Việt Nam viết về số phận những
người công nhân vùng mỏ. Lan Khai đã vẽ lên bức tranh hiện thực đau thương,
đầy sự cơ cực, bóc lột. Bức tranh là lời tố cáo đanh thép chế độ áp bức bóc lột của
thực dân Pháp và bọn tay sai đối với người lao động nghèo, bần hàn. Đồng thời,
bức tranh đã vẽ nên chân dung đẹp đẽ của những người chiến sĩ đi gieo mầm Cách
mạng, chuẩn bị cho một cuộc đổi đời của dân tộc.
Khi đặt xong ách thống trị trên đất nước ta, thực dân Pháp bắt tay ngay vào
công cuộc khi thác thuộc địa trên quy mô rộng lớn. Các nguồn tài nguyên thiên
nhiên trở thành những món hời béo bở của lũ thực dân cướp nước. Có thể nói,
trong tác phẩm Lầm Than mọi thứ đều thuộc về cả dân tộc, thuộc về những người
thợ mỏ lầm than, cơ cực thuở trước từ không gian tiểu thuyết đến con người, nhân
vật,... “Họ sống lầm than và chết cũng lầm than. Đồng lương họ làm ra vô cùng rẻ
mạt, lại bị bớt xén bằng nhiều thủ đoạn. Con người lao động dường như chỉ còn
lại cái bản năng sinh vật. Đó là sự thực trong trong nhiều hầm mỏ thời thuộc Pháp
mà mỏ than Tuyên Quang là một minh chứng sống”.
Ngay từ khi lên tám tuổi, cậu bé Nguyễn Đình Khải đã sống giữa mơi
trường của những người phu mỏ than tại làng Xuân Hòa nằm trên bên bờ sông Lô
thuộc tỉnh Lỵ Tuyên Quang. Mỗi lần sau giờ học, Khải cùng bạn bè la cà vào khu
17
mỏ xem phu đào than ở các hầm mỏ, hòa đồng với con em của những người thợ
mỏ, tận mắt chứng kiến những cảnh đời lem luốc từ địa ngục đến trần gian, cả
những tai nạn bất ngờ đổ xuống đầu những người lao động như nạn sập lị, ngạt
khí, cảnh cai thầu chủ mỏ hành hạ, cưỡng bức những người nghèo khổ lương
thiện,... Là một người có tâm hồn nhạy cảm, thông minh lại được sinh trưởng
trong một gia đình Nho học kiêm lương y. Được học hành, càng lớn Khải càng
hiểu biết sâu sắc hơn cội nguồn của sự đói nghèo, bất hạnh và nơ lệ cùng những
ngun nhân xô đẩy con người đến cảnh lầm than tăm tối. Tình thương con người
và nỗi nhục mất nước đã hun đúc những khát vọng tự do trong tâm hồn nhà văn.
Từ khi cầm bút viết cho đến khi Lầm than chính thức ra đời, Lan Khai đã có gần
20 năm gần gũi với cuộc sống của những người phu mỏ. Tất cả những điều đó đã
dồn nén và hun đúc nên một Lầm than từ nguyên mẫu những người công nhân mỏ
khổ cực, sống trong giai đoạn cả dân tộc bị lầm than. Cuộc sống và cuộc đời của
những người công nhân mà Lan Khai được tận mắt chứng kiến chính là chất liệu
hơi hổi cho nhà văn trong việc đưa hiện thực đời sống vào tác phẩm của mình.
Thực dân Pháp chỉ chăm chú vào khai thác lợi nhuận, bỏ qua mọi vấn đề
dân trí, dân sinh. Cuộc sống khu mỏ trở thành nơi hỗn độn. Những nhân chứng
cịn sót lại nơi đây cho biết: mỗi ngày người phu than phải lao động 12 tiếng đồng
hồ trong hầm mỏ. Theo điều tra của các nhà làm sử còn cho biết: “Lương cơng
nhân khốn theo sản phẩm: một cơng là một tấn than, 5 tạ là nửa công, dưới 5 tạ
khơng có cơng. Số lượng than đó trừ vào dầu đèn. Một tổ cơng nhân kể cả kai có
20 người, mỗi ngày phải khai thác vận chuyển từ lò lên mặt đất 40 goong than
(mỗi goong 0,5 tấn) tức là 20 tấn than”. Cịn về cuộc sống, cơng nhân ở chui rúc
trong các lều lán, thường ngày phải đong gạo ngữ (đong chịu tiền gạo), đến kì lĩnh
lương vợ cai trừ ln. Chính hiện thực đau đớn đó đã khơng ngừng thơi thúc ngịi
bút của nhà văn. Vợ nhà văn kể lại: “...Tại Tun Quang, gia đình tơi sống trong
căn nhà lá năm gian hai trái, xóm Gốc Nhội, gần đình Xn Lơi, tại khu phố Xn
18
Hịa cùng với nhiều gia đình thợ thuyền và phu mỏ họ từ nhiều tỉnh miền trung và
miền xuôi tới đây kiếm sống... Lan Khai từng chứng kiến những nạn sập lò, cảnh
cai thầu, chủ mỏ đánh đập những phu than như súc vật, cả những chuyện bọn
quan Tây cưỡng ép người mình. Nhiều đêm, anh thức trắng bên ngọn đèn dầu, ghi
ghi chép chép những cảnh éo le, những kiếp đói nghèo, cả những chuyện hỗn độn
trong khu phố có các gia đình phu mỏ. Ngày ấy, cả tỉnh Tuyên Quang mới chỉ có
một nhà thương nhỏ, chỉ có vài thứ thuốc đau bụng và sốt rét với dăm thầy thuốc.
Ai đau nặng thì phải xi thuyền xuống Phủ Đoan chạy chữa. Tuần nào cũng có
phu than chết vì bệnh nạn. Từ hiện thực cuộc sống đó, từ những nỗi đau của người
dân nô lệ, người dân mất nước, sống trong cảnh lầm than đó, đã đưa Lan Khai tới
sự thai nghén chân dung cuộc sống Lầm than trong nghệ thuật ngay từ năm 1929
đến đầu những năm 1930”.
Công cuộc khai phá thuộc địa của thực dân Pháp đã làm phân hóa sâu sắc
xã hội Việt Nam, tạo điều kiện cho tầng lớp công nhân ra đời. Trong khoảng 30
năm đầu thế kỷ XX, ca dao viết về người cơng nhân đã nói lên cuộc sống cực khổ
của những người phu đồn điền và thợ mỏ:
Cao su xanh tốt lạ thường
Mỗi cây bón một xác người cơng nhân
…
Cao su đi dễ khó về
Khi đi trai tráng, khi về bủng beo
hay:
Đó đây người gục chết
Nhưng than vẫn đầy toa
Hiện thực nhuốm máu nhưng nhìn chung, qua văn học đương thời, chân
dung người cơng nhân lao động cịn mờ nhạt, chỉ đến khi Lầm than của Lan Khai
ra mắt bạn đọc, hình tượng người thợ mỏ mới hiện lên một cách chân thực và sinh
19
động. Đó là những con người “đổ mồ hơi sơi nước mắt”, có khi liều cả tính mạng
để đổi lấy sự sống. Nói như nhà văn Hải Triều: “Một hạng người quan trọng hơn
cả một hạng người hiện tại bị bóc lột nhiều hơn cả, hạng người mà tương lai sẽ
đắp móng xây nền cho xã hội mới, hạng người ấy là hạng thợ”. Điều đó thể hiện
tinh thần sáng tạo của ngòi bút Lan Khai. Nhà văn đã bắt đúng mạch nhu cầu của
cuộc sống. Mặc dù trong thực tiễn, bản thân đề tài hiện thực vẫn còn mới, chưa
hẳn đã làm nên những thành quả cao về nghệ thuật, nhưng điều quan trọng hơn
hết là chúng ta nhận thấy một năng lực am tường và tâm huyết của người nghệ sĩ
trước những câu hỏi lớn đặt ra từ hiện thực bức thiết của cuộc sống. Chúng ta tìm
thấy ở Lan Khai cả cái tâm, cái tài của người nghệ sĩ trước số phận con người
trong hoàn cảnh lịch sử hết sức ngặt nghèo. Cho dù sau Lầm Than trở đi, hình
tượng người thợ mỏ cũng dần xuất hiện trong các tác phẩm của Nguyễn Công
Hoan, Võ Huy Tâm,... nhưng trong lòng độc giải nhiều thế hệ vẫn sống lại trong
tâm trí mình bức tranh về những gương mặt nhàu nát than bụi, những tấm lưng
trần đẫm máu, những thây người bị vùi lấp trong cỏ dại của cuộc đời nơ lệ, in
bóng ở Lầm than. Đặc biệt là sự xuất hiện những người chiến sĩ đi gieo mầm cách
mạng chuẩn bị cho một cuộc đổi đời vĩ địa của dân tộc.
Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã sản sinh ra một tầng
lớp xã hội mới – giai cấp vô sản Việt Nam với tên gọi như: cu li, thợ thuyền, phu
mỏ, phu xe,... Phần lớn là nông dân do bị bọn thực dân phong kiến áp bức bóc lột
đến bần cùng, kèm theo đó là thiên tai lũ lụt, nhiều người phải tha phương, cầu
thực dạt vào các đồn điền, hầm mỏ trở thành người làm thuê cho chủ. Trong tiểu
thuyết Lầm than, tác giả đã để cho tên cai thầu nói ra cơ sự đó trong một lần tuyển
thợ: “Tơi có cần gì! Ở đường xi lụt lội, cịn hàng vạn người xin làm cơng khơng
chẳng ai thèm mướn đành chịu chết đói nhăn răng cả ra với nhau kia kìa”(Chương
XIII). Hay đoạn nói về cai Tứ, kẻ sống bằng nghề bóc lột “người ta bảo ở quê lão,
ruộng nương lão tậu ngày một nhiều, nhà ngịi cây mít đủ cả”(Chương I). Người
20
thợ trong Lầm than là những người tìm sự sống ở nơi địa ngục, họ phải lao động
nặng nhọc, nguy hiểm, cái chết ln rình rập bên mình: Chết vì sập lị, chết vì ngạt
khí độc, chết đuối trong hầm lò hoặc sơ sẩy bị xe goong đè nát,... Rồi đến những
cảnh tượng chết vì đói rét, bệnh tật, bị đánh đập tàn nhẫn, bị tước quyền tự do. Họ
sống lầm than và chết cũng lầm than. Đồng lương họ làm ra vô cùng rẻ mạt lại bị
bớt xén bằng nhiều thủ đoạn. Con người lao động dường như chỉ cịn lại bản năng
sinh vật. Đó là sự thực đau đớn trong nhiều hầm mỏ thời thuộc Pháp.
Người thợ mỏ trong hoàn cảnh đau thương, cùng cực đã bị biến thành công
cụ lao động cho bọn cai thầu chủ mỏ, họ bị bần cùng về vật chất, bế tắc về tinh
thần, không biết đến tương lai, không tự tin và tự chủ vào bản thân mình. Họ sa
vào rượu chè, cờ bạc, thuốc phiện, nhiều khi dẫn đến hành vi thô tục, kèm theo
những quan niệm sống lạc hậu, mặc cảm về số phận là người, mất hết tinh thần
phản kháng. Ngay từ đầu của tiểu thuyết Lầm than, nhà văn đã vẽ nên những bức
tranh đa màu sắc, đã đập vào mắt ta những cảnh đời bi thương của người thợ:
“Hàng trăm người khác cũng từ các túp lều tranh lụp xụp ở xóm cu li hiện ra lố
nhố, chạy hấp tấp như đàn vật bị dồn đuổi”. Còn tâm hồn của họ đã trở nên chai
sạn: “Bị ép chế quen rồi, bọn người khốn nạn ấy khơng cịn nhân cách và tinh thần
phấn đấu nữa. Họ chỉ đổ liều cho số phận,... Ngay họ với nhau họ cũng không tin
nhau... Cuộc đời của họ cứ như thế cho đến lúc chết. Nó cũng khơng khác gì cái
cuộc đời của những con trâu, con bò hay con ngựa thồ”.
Sự đày đọa về thể xác dẫn tới sự tê liệt tinh thần của người lao động, họ
sống theo bản năng tự phát, rồi cái chết thê thảm cũng thình lình đổ xuống, cái
chết của người thợ mỏ chẳng khác nào như con giun, con dế. Đó chính là bản án
đanh thép tố cáo chính sách áp bức bóc lột của xã hội thực dân đương thời. Bọ n
chủ tư bản Pháp dựa vào bọn cai thầu người Việt làm tay sai đắc lực cho chúng
đẩy sự áp bức bóc lột người lao động lên đỉnh điểm, dã man và phi nhân tính. Bọn
chúng coi thường mạng sống con người, phá hoại bao gia đình hạnh phúc và nhấn
21
chìm nhân phẩm của người lao động. Lầm than là bức tranh phản ánh về bóng
đêm mịt mùng giăng kín cuộc đời những người dân nô lệ. Tiểu thuyết là tiếng nói
đau thương về những mảnh đời đau khổ, thê thảm của người phu mỏ - “một hạng
lao động” đã làm cạn rất nhiều mực của các nhà văn trên thế giới.
1.2.2. Một tiểu thuyết đầy chất phóng sự và giàu kịch tính
Trong cơng trình “Nhà văn hiện đại”, tác giả Vũ ngọc Phan đã nhận xét:
“Lầm than của Lan Khai tuy là một tập tiểu thuyết nhưng mọi việc đều thiết thực,
khơng khác gì những việc trong một thiên phóng sự. Khi đọc tác phẩm, ta như
thấy tác giả là một người làm phim thời sự, đưa ơng kính vào mọi ngõ ngách của
cuộc đời người thợ mà không hề tơ vẽ gì cảnh sống nơi địa ngục trần gian của
họ…”. Chẳng hạn, cảnh tượng một anh thợ trẻ mới nhập lò: “Vừa vào chừng độ
mười thước tây, Thuật đã khó thở, cảm thấy trên ngực như có một vác nặng gì nó
đè ép. Là vì khơng khí trong lị hầm hấp nóng và đầy những hơi nước, phần lớn
sặc sụa những mùi khói đèn, mùi phân của bọn cu li,.... ba bề, bốn b ên, thành lò
đều gỉ ra một thứ nước đen tong tỏng, nhớp nháp, ghê tởm quá chừng” (tr 84).
Hay cảnh hơi ghi – nu bị phát nổ: “Tất cả bọn phu đều chết không những bởi các
mảnh than vụn, đá vụ bắn vào người như mảnh phá mà còn bởi cái hơi ghi –du
thui chín nhừ. Lúc người ta lơi các nạn nhân ra thì anh nào anh nấy quần áo đã
cháy hết, thân thể trương to lên, nứt toác và đen thui lại như lợn nhà cháy, khơng
cịn phép tiên nào chữa được nữa.” (tr 83)... Hiện thực mà Lan Khai phơi bày
chính là những vấn đề nóng hổi, nhức nhối của thực trạng xã hội lúc bấy giờ.
Từng trang tiểu thuyết là những thước phim quay chậm, đau đớn nhưng đầy căm
hờn. Với bối cảnh lịch sử như lúc này, số phận đau thương của dân tộc và nhất là
những người phu mỏ trong bóng đêm nơ lệ trở thành điểm nóng mang tính thời sự
của xã hội. Nhưng, khơng phải nhà văn nào cũng nắm bắt được như Lan Khai.
Lầm than đưa người đọc đến với những hiện thực nhức nhối của bao mảnh đời bất
22
hạnh với sức dồn nén, lên án mạnh mẽ từ ngịi bút sắc sảo của nhà văn. Trong
Lầm than, có những cảnh nhà văn đặc tả cảnh sập lò sáu người thợ chết thui “Như
một đàn lợn chết trong đám cháy, tất cả sáu cái xác đều đen thui như than và
trương nứt chín nhừ cả ra, khơng cịn lấy một mảy râu tóc, khơng cịn lấy một
manh áo quần nào nữa, chân tay thì co quắp lại; mặt mũi biến dạng trông rất ghê
sợ và thê thảm.” (tr 211) để nhấn mạnh, tố cáo sự nguy hiểm của công việc hàm
mỏ. Nhưng cũng có những cảnh nhà văn lia góc máy thống qua: “Anh bần thần
nhìn các người tù kia ăn vội vàng và tranh cướp nhau chẳng khác đàn gấu đói”
(tr 245)..., để đưa người đọc tiến sâu hơn vào bức tranh toàn cảnh của một lớp
người đau thương trong một xã hội đen tối, tàn nhẫn lúc bấy giờ.
Đặc biệt, Lầm than đã đưa người đọc đến với những tình huống, những màn
kịch sinh động như cảnh đối thoại giữ cai Tứ và Thuật (Chương XIII, XV) dẫn
đến xung đột quyết liệt giữa Thuật và cai Tứ và chủ Tây, cảnh Thuật bị bắt tại nhà
riêng (Chương XVI); Thuật ra hầu tòa (Chương XIII),... Tất cả đều có thể chuyển
thành những vở kịch đầy kịch tính. Như đoạn khi Thuật bị bắt, Tép ở nhà một
mình, thì Cai Tứ đến:
“Tép muốn gào lên những câu chủi rủa để hả cơn oán hận nhưng Tép chỉ
hỏi được một câu như thế.
Cai Tứ thì ngọt ngào:
- Thơi chị khóc làm gì nữa! Tơi nghĩ tình cảnh chị, tơi cũng ái ngạ i lắm
nhưng chỉ vì chồng chị hỗn láo quá, không sao tha thứ được! Ai lại dám đánh cả
tơi, cả ơng chủ, khơng cịn coi người trên ra gì nữa. Mà tơi có làm gì anh ấy cho
cam, tôi chỉ vạch đường vẽ lối cho anh ấy đi tới sự giàu có, sung sướng mà thơi...
Cai Tứ cứ nói, Tép cứ giương trừng trừng hai mắt nhìn nhưng khơng thấy
gì mà tai chị cũng khơng nghe rõ gì cả” (tr 249).
Tác giả đã tạo ra hai thái cực tinh thần đối lập: giữa chủ và thợ; giữa kẻ có
quyền và người bị áp bức, giữa kẻ có tiền và người làm thuê ăn lương. Một bên là
23
lòng ngay dạ thẳng, một bên là gian ngoan xảo quyệt, một đằng gợi ý thăm dò và
hăm dọa, một đằng thì thận trọng nghi ngờ rồi phản kháng. Hai thái cực tinh thần
ấy, song hành tồn tại cùng trong tác phẩm. Từ đó, nó tạo nên những mâu thuẫn,
những xung đột của tác phẩm. Với bút pháp tả thực linh hoạt, tác giải đã tạo ra
những tình huống mâu thuẫn được đẩy lên đến đỉnh điểm nhưng cũng diễn ra rất
tự nhiên phù hợp với logic như bản thân câu chuyện cần phải có. Chính sự kịch
tính và chất phóng sự đó đã thu hút biết bao độc giả từ thế hệ này đến thế hệ khác,
tạo sự hấp dẫn riêng cho chính tác phẩm Lầm than
CHƯƠNG II: HIỆN THỰC SINH ĐỘNG VỀ CUỘC SỐNG CON NGƯỜI
Đến với Lầm than, chúng ta có thể thấy, Lan Khai đã đứng riêng về một
mặt: tả một cuộc đời nhem nhuốc vì than và vì những sự hà hiếp áp chế; tả một
hạng người tìm cái vui trong cái chết, tìm cả cái sống trong cái chết nữa. Mới đọc
tưởng tác giả chỉ cố gắng đi miêu tả, đi tìm và chỉ ra cho người đọc sự khổ sở của
phu mỏ. Nhưng không phải, Lan Khai đã tả những việc rất thường, rất nhỏ nhặt,
những việc ai cũng biết và ai cũng thấy được, những việc xảy ra ở cuộc sống hằng
ngày, nhưng nó là những việc có ý nghĩa, những việc chỉ riêng hạng phu mỏ mới
có. Những cảnh tượng, những cơng việc ấy, cho chúng ta dần dần hiểu, xót
thương những con người “vào chỗ chết để giữ lấy sự sống”, căm hận thêm chế độ
bóc lột, bọn tay sai bán nước. Và qua Lầm than, ta cũng thấy được con đường mà
những người thợ nói riêng và những người bị áp bức nói chung phải làm đó là đấu
tranh, đấu tranh để giành lấy hạnh phúc và sự sống cho chính mình. Khơng đi kể
lể, miêu tả từng li từng tí, nhưng Lan Khai đã giúp người đọc chúng ta thấy được
cuộc đời bần cùng, nghèo khổ, thấy được niềm vui mà những người thợ tự tạo ra
cho mình sau ngày dài vất vả đó là rượu và thuộc phiện. Chỉ vài dịng thơi, ta có
thể cảm thấy, những người thợ ấy lầm lũi, chấp nhận chịu đựng số phận của mình.
Đổi lấy sự sống để tìm miếng cơm, manh áo hằng ngày, chấp nhận mọi sự nguy
hiểm để có thể sống tiếp.
24
2.1. Khuôn mặt của địa ngục trần gian
2.1.1. Những con người “vào chỗ chết để giữ lấy sự sống”
Khi nghe vào “chỗ chết để giữ lấy sự sống”, có thể cho chúng ta sự khó
hiểu, kinh ngạc. Vào nơi nguy hiểm đến tính mạng mình mà có thể giữa lấy được
sự sống thì thật là lạ và ối ăm làm sao. Thế nhưng việc đó lại xảy ra đối với
những con người trong Lầm Than. Những người thợ ấy, biết cái giá họ phải trả khi
đi làm mỏ, thế những họ chấp nhận mọi sự nguy hiểm đó vì miếng cơm, manh áo
hằng ngày, vì sự sống cịn của bản thân trên thế gian.; dù sự sống mà họ có leo lắt
như những ngọn đèn trước gió.
Chúng ta có thể thấy giai cấp cơng nhân Việt Nam đã hình thành trong vòng
ba thập kỷ, nhưng chỉ đến những năm 1930 chân dung người công nhân, đặc biệt
là người thợ mỏ mới hiện lên chân thực và sống động dưới ngòi bút Lan Khai.
Nếu đọc các tác phẩm trong giai đoạn này, ta thấy có rất nhiều nhận vật với những
ngành nghề khác nhau đi vào từng trang giấy của các nhà văn, nhưng lần đầu tiên
trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại chúng ta thấy xuất hiện thế giới nhân vật
người thợ mỏ và bộ mặt của giai cấp tư sản ở một nước thuộc địa. Sau Lầm than
trở đi chúng ta mới dần dần gặp gỡ chân dung người thợ trong các sáng tác của
Nguyễn Công Hoan (Sáng – chị phu mỏ), Võ Huy Tâm (vùng mỏ), Huy Phương
(Xi măng)... Nối tiếp những gì đã có, các tác phẩm sau này, khi miêu tả những
người thợ mỏ, cuộc sống của họ được phác họa chi tiết hơn, nhưng Lầm than vẫn
khẳng định được vai trị của mình khi đi tiên phong viết về họ đầu tiên.
Lầm than mở ra trước mắt bạn đọc một thế giới của những người lao động
có đủ các lứa tuổi, giới tính và nguồn gốc quê hương cùng các cảnh ngộ khác
nhau. Tuy mỗi người một tính cách, trong chốn than bụi lầy bùn đó họ đều giống
nhau ở chỗ là cố vắt kiệt mồ hôi để đổi lấy sự sống từ cõi chết, họ biết gắn bó với
nhau nơi địa ngục. Đó là lão cu Tị, người thợ già cả đời gắn với mỏ; đó là lão già
Mẫn từng trải trong nghề đào than. Đó là những người thợ lành nghề như: Nhỡ,
25
Thông, Lộc; trải đời như Dương và những người trẻ tuổi như Thuật, Tép... Mỗi
nhân vật có một quá khứ, một cuộc sống riêng, nhưng họ đã về đây, quy tụ lại
thành bạn bè, gia đình, cùng chung số phận làm phu mỏ với nhau. Cuộc đời “bảy
nổi ba chìm, chín lênh đênh” của những người thợ, sự từng trải và cái nhìn vẫn
cịn đầy niềm lạc quan của những ngưởi trẻ, tất cả mang đến cho Lầm than nhiều
màu sắc khác nhau. Nhưng dù thế nào thì những con người đó, chấp nhận tất cả
mối nguy hiểm đang rình rập xung quanh mình để tiếp tục sống.
“ Lão cu Tị “là một tay thợ mỏ làm với mỏ đã lâu năm... kiếm được đồng nào lão
cu Tị lại uống rượu và đánh xóc đĩa nhẵn cả... cuộc đời lão khiến lão khổ sở như
quanh năm suốt tháng phải mang vác nặng trên lưng, lão uất ức mà không hiểu rõ
nổi uất ức của mình tự đâu mà có nên lão càng uất ức. Rồi, giận cá chém thớt.”(tr
74). Khi lão thua bạc bán mất mấy sào ruộng, lão lại đưa con trai mình dấn thân
vào cuộc sống “Địa ngục”. “Thế là đội quân ốm đói của mỏ lại thêm một tên nữa
và trong lũ mồi ngon của cực khổ lại thêm được một linh hồn”(tr 73). Thuật – con
trai lão cu Tị, là người nhạy cảm với mọi nỗi khổ nhục, anh từng bước hòa đồng
với cuộc sống của những người phu mỏ, sớm nhận thực rõ nỗi đau khổ của con
người và không tin vào số mệnh như một số người từng cam chịu. Qua nhận vật
Thuật, cuộc sống của người phu mỏ được tái hiện lên qua cái nhìn, qua suy nghĩ,
qua những gì Thuật nghe và chứng kiến.
Những con người vào làm phu mỏ này có qua khứ, số phận khác nhau, bốn
phương tám hướng tụ tập, gặp gỡ nhau tại đây. Như Lão già Mẫn, một người thợ
từng trải nhiều đắng cay về cả tinh thần lẫn thể xác. Ơng sinh ra trong một gia
đình khá giả ở nông thôn, gặp gia biến phải dấn thân vào đời phu mỏ. Ơng kể lại:
“Tơi cũng đã có thời được học hành tử tế và ơng cha nhà tôi cũng đã mấy đời
khoa bảng hẳn hoi, lại giàu có là khác nữa. Ấy thế mà tơi phải đem thân lên xó
rừng này, làm một thằng phu mỏ” (tr 110). Là người có ý thức phản kháng, khơng
chịu sự dèm pha phỉ báng của kẻ khác, già Mẫn đã đánh phó Lý nên phải hầu tịa,