Tải bản đầy đủ (.pdf) (25 trang)

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT CHU LAI 10600934

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (551.88 KB, 25 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

ĐỖ THỊ THU HÀ

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT CHU LAI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số:

60. 22. 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Thị Hường

Đà Nẵng - Năm 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

ĐỖ THỊ THU HÀ

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT CHU LAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đà Nẵng - Năm 2012



MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Dịng chảy vận động của tiểu thuyết Việt Nam ngày một
đi xa với những tìm tịi, thể nghiệm trên hành trình đổi mới thể loại.
Trong nguồn chung của tiểu thuyết Việt Nam những năm đổi mới và
phát triển, tác phẩm của Chu Lai đã phần nào phản ánh nội lực, sức
hấp dẫn từ trang viết của một đời văn đam mê sáng tạo. Trên hành
trình nghệ thuật với hơn sáu mươi tuổi đời và hơn ba mươi năm tuổi
nghề, Chu Lai đã neo lại trong tâm trí bạn đọc những dấu ấn khó mờ
phai với những tiểu thuyết về đề tài chiến tranh và hậu chiến, góp
phần làm phong phú thêm diện mạo tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
1.2. Chu Lai là nhà văn vốn rất nặng nợ, thuỷ chung với đề
tài chiến tranh. Những “phần miền trong trận mạc” luôn gợi lên trong
nhà văn những trở trăn, suy tư, khơi lên dạt dào những nguồn cảm
hứng. Tiểu thuyết Chu Lai cho thấy vẻ đẹp, sức hấp dẫn của một
phong cách không ngừng nỗ lực “tự làm mới”. Lật xới hiện thực
trong cái nhìn đa chiều, đi sâu phản ánh số phận người lính trong và
sau chiến tranh ngổn ngang bi - hùng, đầy khát khao nhưng cũng lắm
đớn đau bầm dập, tiểu thuyết Chu Lai đã hé mở cho ta con đường đi
vào khám phá thế giới nghệ thuật tiểu thuyết của ông. Thế giới đó
bộc lộ nét riêng của một cây bút “bạo liệt” trong ngơn ngữ và xử lí
tình huống bao giờ cũng đẩy đến tận cùng bi kịch; giàu kịch tính
nhưng vẫn đầy trữ tình pha chút cay đắng, triết lí nhưng khơng ngi
“khát khao nhịp đập u thương”. Thế giới đó cũng cho ta hiểu thêm
trách nhiệm, lương tâm, niềm đam mê mãnh liệt của Chu Lai với
người, với đời, với nghề.
1.3. Nghiên cứu tiểu thuyết Chu Lai là con đường dẫn lối cho
chúng tôi vào khám phá sâu hơn thế giới nghệ thuật nhà văn, đồng



thời thấy được những nét ổn định và biến đổi của tiểu thuyết Chu Lai.
Từ đó, chúng tơi mong muốn nhận diện đầy đủ, rõ ràng hơn đặc điểm
tiểu thuyết của một gương mặt văn xi đã định hình phong cách; hi
vọng xác định vị trí cũng như đóng góp của Chu Lai trong việc làm
mới thể loại, trong sự góp mặt làm phong phú diện mạo tiểu thuyết
Việt Nam hiện nay. Chính vì vậy, luận văn chọn đề tài Đặc điểm tiểu
thuyết Chu Lai.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Đánh giá chung về Chu Lai và tiểu thuyết của ông, hầu hết
các bài viết đều đi đến thống nhất trong việc khẳng định sự thuỷ
chung của Chu Lai với mảng đề tài chiến tranh – người lính và nét
riêng của ngịi bút nhà văn khi đi sâu vào phản ánh đề tài này.
Trong bài viết Cảm nhận sự đổi mới trong q trình tìm tịi
của Chu Lai, Hồng Diệu khẳng định: “Chu Lai là nhà văn thuỷ chung
với đề tài chiến tranh” [6, tr. 6]. Bùi Việt Thắng trong bài viết Một
đề tài không cạn kiệt cho rằng: “Tiểu thuyết Chu Lai giới thiệu nhiều
vấn đề đáng quan tâm trên đề tài chiến tranh với ý nghĩa như một đề
tài lịch sử” [47, tr. 104].
Đỗ Văn Khang qua bài Cuộc tìm tịi vì tiểu thuyết và Bùi Việt
Thắng trong bài viết Phản ánh chân thật một hiện thực cách mạng đã
đánh giá về cách phản ánh hiện thực chiến tranh trong tác phẩm của
Chu Lai. Bùi Việt Thắng còn làm rõ về vấn đề con người tâm linh,
cấu trúc đồng hiện, lắp ghép, lối tiết tấu theo phong cách nhạc rock
của văn xi Chu Lai. Những điều đó phần nào đã ghi nhận những
dấu ấn riêng của tiểu thuyết Chu Lai.
Trong bài viết Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thời kì
đổi mới, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đã đề cập đến phương thức tiếp
cận hiện thực của tiểu thuyết Chu Lai. Tác giả còn nhận xét về những
đặc sắc nghệ thuật như kết hợp độc thoại nội tâm, dòng ý thức, nghệ

thuật đồng hiện...


Bùi Việt Thắng – Tác giả của bài viết Một đề tài khơng cạn
kiệt đã có những nhận xét về nhân vật người lính trong tiểu thuyết của Chu
Lai ở góc độ con người tâm linh, con người bản năng.
Cũng nói về nhân vật người lính trong tiểu thuyết Chu Lai,
Nguyễn Thị Xuân Dung trong bài viết Dục vọng trong tiểu thuyết VN về
chiến tranh từ 1986 đến 1996 lại soi chiếu nhân vật trong những bản
năng tự nhiên, trong đam mê dục vọng rất đỗi con người của người
lính.
Với bài viết Tìm hiểu khả năng “tự chiếu sáng nội tâm”
bằng ngôn ngữ của nhân vật trong một số tiểu thuyết Việt Nam thời
kỳ đổi mới, Trần Thị Mai Nhân lại phân tích khá kĩ về ngơn ngữ nhân
vật, đặc biệt là nghệ thuật “để nhân vật tự soi sáng nội tâm bằng ngôn
ngữ (độc thoại và đối thoại)” trong tiểu thuyết Chu Lai.
Bài viết Trao đổi về tiểu thuyết “Ăn mày dĩ vãng” của Chu
Lai trên báo Văn nghệ số 7/1992 đã quy tụ nhiều ý kiến của các nhà
văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu về tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng, chỉ ra
những thành công và đôi điều về hạn chế của tác phẩm.
Đánh giá, bàn luận về các tác phẩm của Chu Lai cịn có các
bài viết: Người lính sau hịa bình trong tiểu thuyết chiến tranh thời kì
đổi mới của Nguyễn Hương Giang, Cuộc đời dài lắm” – Một tiểu
thuyết có tính hấp dẫn của Nguyễn Thanh Tú, Tiểu thuyết Việt Nam
năm 2005 – Những tín hiệu tốt lành của Nguyễn Hịa, Chu Lai, ngọn
nến tình yêu thắp sáng trang văn của Nguyễn Thị Hồng...
Đánh giá về Chu Lai và tiểu thuyết của ông, các ý kiến, nhận
định đều đã thấy được sự đổi mới trong quan niệm về hiện thực và
con người, vấn đề đổi mới nghệ thuật của tiểu thuyết Chu Lai, đánh
giá được thành tựu ở đề tài số phận người lính thời hậu chiến cũng

như chỉ ra được những hạn chế của văn xuôi Chu Lai như văn nhiều
lời, ngôn ngữ chưa chọn lọc, một vài chi tiết nghệ thuật cịn “thơ”…


Qua tìm hiểu, chúng tơi nhận thấy tiểu thuyết Chu Lai nhận
được nhiều sự quan tâm của dư luận. Những đánh giá này giúp ta
thấy được nét riêng cũng như những đổi mới, tìm tịi của tiểu thuyết
Chu Lai. Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào
một số tác phẩm riêng lẻ mang tính tiêu biểu. Những khám phá, phân
tích về chúng đều chỉ là những bài viết ngắn mang cảm quan sơ lược,
thể hiện ấn tượng chung về một tác phẩm hay một phương diện của
một tác phẩm.
Chưa có cơng trình nghiên cứu nào đi vào nghiên cứu một
cách toàn diện, hệ thống đặc điểm tiểu thuyết của nhà văn. Vì vậy,
luận văn nghiên cứu Đặc điểm tiểu thuyết Chu Lai nhằm thấy được
những nét nổi bật của văn xuôi Chu Lai, thấy được sự vận động của
tiểu thuyết Chu Lai và khẳng định được vị trí của nhà văn trong dịng
chung của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Chu Lai là nhà văn đã có rất nhiều tác phẩm xuất bản. Tuy
nhiên, ở luận văn này, chúng tôi chỉ giới hạn đối tượng nghiên cứu ở
một số tác phẩm tiêu biểu. Cụ thể là các tiểu thuyết: Ăn mày dĩ vãng
(1991), Phố (1992), Ba lần và một lần (1999), Hùng Karơ (2010)
Ngồi ra, luận văn còn khảo sát thêm một số tác phẩm khác
của nhà văn và các nhà văn khác viết về chiến tranh – người lính để
so sánh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu Đặc điểm tiểu thuyết Chu Lai qua các
bình diện quan niệm nghệ thuật, những nét nổi bật về nội dung và

hình thức nghệ thuật thể hiện trong tiểu thuyết của nhà văn.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thực hiện đề tài này, luận văn sử dụng chủ yếu các phương
pháp sau:


- Phương pháp phân tích – tở ng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp cấu trúc – hệ thống.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
5.1. Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống tiểu thuyết
Chu Lai để có cái nhìn khá tồn diện và khoa học về những đặc điểm
nổi bật trong thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Chu Lai; khẳng định
được sự vận động và phát triển của phong cách tiểu thuyết Chu Lai.
5.2. Khẳng định vị trí, sự đóng góp của nhà văn Chu Lai
trong thành tựu đa dạng của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại đang trên
đường phát triển.
6. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội
dung của luận văn gồm có ba chương sau đây:
Chương 1. Hành trình sáng tạo tiểu thuyết và quan niệm nghệ
thuật của Chu Lai
Chương 2. Thế giới nhân vâ ̣t và nghệ thuật xây dựng nhân
vật trong tiể u thuyế t Chu Lai
Chương 3. Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Chu Lai

Chương 1. HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO TIỂU THUYẾT
VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA CHU LAI
1.1.

Khái lược hành trình sáng tác của Chu Lai
1.1.1. Tiểu thuyết Chu Lai trước đổi mới
Những tiểu thuyết của Chu Lai ở giai đoạn này là Nắng đồng
bằng (1978), Đêm tháng hai (1979), Gió khơng thổi từ biển (1984) và
tiểu thuyết có tính chất chuyển tiếp giữa hai giai đoạn là Sông xa
(1986). Những tác phẩm này chủ yếu tái hiện lịch sử với khuynh


hướng sử thi. Mỗi tiểu thuyết là một bức tranh hiện thực chiến tranh
hào hùng, đầy gian khổ, bi thương nhưng khơng hề mất đi vẻ đẹp lí
tưởng ngời sáng. Nhân vật người lính tuy gặp những đớn đau bi kịch
nhưng đều vững tin lí tưởng, cầm chắc tay súng đánh giặc, kiên
cường, dũng cảm, không hề nao núng.
Tuy nhiên, nhà văn không đi sâu tái hiện chiến tranh trên
diện rộng mà đã chú ý đến số phận từng nhân vật, phân tích và lí giải
các biến cố, sự kiện. Chu Lai đã có những trang văn thể hiện chân
thật những tổn thất to lớn, những khốc liệt của cuộc chiến. Tính chất
bi tráng trong khi viết về chiến tranh này của Chu Lai có tính chuyển
tiếp, vượt rào để chuẩn bị đưa tiểu thuyết chuyển mình bước sang
một thời kì mới.
1.1.2. Tiểu thuyết Chu Lai sau đổi mới
Tiểu thuyết của Chu Lai sau 1986 thể hiện những đổi mới
mạnh mẽ về cảm hứng, nội dung lẫn nghệ thuật thể hiện. Các tiểu
thuyết ở giai đoạn này: Vòng tròn bội bạc (1987), Bãi bờ hoang lạnh
(1990), Ăn mày dĩ vãng (1991), Phố (1992), Ba lần và một lần
(1999), Cuộc đời dài lắm (2001), Khúc bi tráng cuối cùng (2004),
Chỉ còn một lần (2006), Hùng Karô (2010) đã cho thấy nội lực dồi
dào của một nhà văn không ngừng nỗ lực “tự làm mới”.
Giai đoạn này, ngòi bút Chu Lai đi sâu vào trăn trở về số
phận người lính thời hậu chiến, ngẫm suy về chiến tranh trong cái

nhìn phân tích. Cảm hứng sử thi đã chuyển dần sang khuynh hướng
phi sử thi hóa, cái nhìn đối lập nhị phân địch – ta cũng nhạt dần,
người lính khơng cịn là kiểu nhân vật lí tưởng được tái hiện trong
cảm hứng ngợi ca mà trở thành những con người sống động, xấu tốt
lẫn lộn với những vết thương tâm hồn khó lành sẹo.
1.2. Quan niệm nghệ thuật của Chu Lai
1.2.1. Quan niệm về công việc sáng tạo của nhà văn


Với Chu Lai, văn chương là duyên nợ, là cuộc sống, là tình
yêu. Tác phẩm là sự cộng hưởng thăng hoa của tình yêu nghề, của
lương tâm, trách nhiệm với ngòi bút và khả năng sáng tạo của người
nghệ sĩ. Chu Lai luôn đặt cái tâm sáng tạo lên của người cầm bút lên
hàng đầu.
Trong nghề văn, Chu Lai quan niệm văn chương không nên
quá trau chuốt mà cốt lõi là nắm bắt được cái “thần” của nó. Nhà văn
phải là người đau đời, biết nói lên trong con chữ không chỉ những
vấn đề bề mặt mà phải đi xuống tận bề sâu, không chỉ ca khúc vui tự
hào mà cả sự đồng cảm với đau đớn, bi kịch, sẻ chia với những khát
khao thầm kín… Nhà văn “neo đậu” tâm hồn mình vào cuộc đời và
con người bằng những tác phẩm giàu chất sống và thăm thẳm giá trị
nhân văn.
1.2.2. Quan niệm nghệ thuật về hiện thực
Quan niệm nghệ thuật của nhà văn đã có sự vận động từ quan
niệm nhất phiến đến quan niệm đa chiều trên bình diện phản ánh hiện
thực.
Hiện thực trong tiểu thuyết Chu Lai ở những sáng tác đầu
như Nắng đồng bằng, Út Teng, Gió khơng thổi từ biển là hiện thực
trong cái nhìn nguyên phiến, một chiều với quan niệm phân tuyến –
đối lập địch – ta của mơ hình tiểu thuyết sử thi và cảm hứng lãng

mạn như được “tráng lên một lớp men trữ tình”.
Sau 1986, Chu Lai đã thể hiện sự đổi mới trong quan niệm
nghệ thuật về hiện thực, hướng đến phản ánh hiện thực đa diện, nhiều
chiều kích. Chiến tranh hiện lên như một bức tranh đa sắc màu, vừa
bi tráng nhưng đầy bi kịch. Trang văn Chu Lai đã thể hiện thấm thía
sự tác động ghê gớm của chiến tranh đến tính cách, số phận con
người. Nhà văn không chú ý viết để tái hiện chiến tranh đã xảy ra
như thế nào, mà quan tâm hơn đến những số phận cá nhân đã sống ra
sao trong cuộc chiến đó và khi họ bước ra nó để về với đời thường.


1.2.3. Quan niệm nghệ thuật về con người
Tiểu thuyết của Chu Lai đã cho thấy sự chuyển đổi quan
niệm nghệ thuật về con người từ con người đơn phiến sang kiểu con
người lưỡng diện – đa tạp.
Nhà văn đã đi sâu vào số phận cá nhân, len vào từng ngõ
ngách sâu kín của tâm hồn con người để lật trở những tầng bậc tâm
lí, tiềm thức, tâm linh, trải lên trang sách những đớn đau bi kịch,
những khát khao bản năng dồn nén… Chu Lai đã đi sâu nhìn nhận
con người là những cá nhân có đời sống riêng, số phận riêng, là thế
giới riêng đầy bí ẩn. Nó thể hiện quan niệm về kiểu con người cá thể
đa nhân cách của nhà văn.
Với quan niệm mới mẻ này về con người, Chu Lai xây dựng
nên thế giới nhân vật trong tiểu thuyết là những con người có tính
cách khơng thuần nhất. Nhà văn đặt nhân vật trong nhiều mối quan
hệ để nhân vật bộc lộ tận cùng bản chất rất người của mình.
Chu Lai ln thể hiện con người dưới dạng những nhân cách.
Đặt nhân vật trong ranh giới, xung đột của hôm qua và hôm nay để
nhân vật tự bộc lộ, Chu Lai đều đặt ra vấn đề hồn thiện nhân cách
người lính.

1.3. Những nguồn cảm hứng chính
1.3.1. Ám ảnh về chiến tranh
Đời văn cũng là đời người. Chu Lai đã đi qua nhiều năm trận
mạc và ông viết về nó như là nợ, là nghiệp, là ân tình. Ám ảnh về
chiến tranh trở thành nguồn cảm hứng chính như chảy tràn qua tất cả
các tiểu thuyết của nhà văn. Cảm hứng này in đậm trên trang viết
Chu Lai, biểu hiện ở những dạng thức đa dạng của hệ chủ đề. Đó là
viết về người lính cách mạng mang đậm chất sử thi (Nắng đồng
bằng, Gió khơng thổi từ biển, Sông xa, Khúc bi tráng cuối cùng và
Người im lặng), là số phận người lính thời hậu chiến mang bi kịch lạc
thời, cơ đơn (Vịng trịn bội bạc, Ăn mày dĩ vãng), là số phận người


lính thời hậu chiến phải đối diện với cơ chế thị trường (Phố, Cuộc
đời dài lắm, Ba lần và một lần),...
Với niềm đam mê văn chương của một người nghệ sĩ mà
chất lính đã ăn sâu trong tâm hồn, trong lối sống thì chiến tranh dù đã
qua vẫn vẹn nguyên trong kí ức, khơi nguồn cảm xúc để nó tươi xanh
sống dậy trên trang giấy.
1.3.2. Những vật lộn mưu sinh đời thường
Nguồn cảm hứng này thể hiện rõ trong các tác phẩm như
Phố, Hùng Karô, Ba lần và một lần, Cuộc đời dài lắm…
Đối lập với vinh quang trong ngày hơm qua, những người
lính của ngày hơm nay như Thảo, Nam, Lãm, Vũ Nguyên, Hà
Thương, Sáu Nguyện, Bảy Thu… bị vùi dập, thương tích bởi sự lộn
xoay của đồng tiền, của trắng - đen, xấu - tốt. Cuộc đời giang hồ bầm
dập của Hùng Karô cũng là hệ quả của cuộc vật lộn đầy đớn đau
trước sức mạnh vẫy gọi của đồng tiền.
Xi dịng trong nguồn cảm hứng ám ảnh chiến tranh và vật
lộn mưu sinh đời thường, tiểu thuyết Chu Lai thẳm sâu khôn cùng

những ẩn ức nhân sinh, những nỗi đau, bi kịch về chiến tranh và
người lính.
Chương 2. THẾ GIỚI NHÂN VẬT VÀ NGHỆ THUẬT
XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CHU LAI
2.1. Sự đa dạng các kiểu nhân vật
2.1.1. Nhân vật lạc thời
Nằm trong dòng tiểu thuyết “vết thương”, Chu Lai đã thể
hiện đậm nét bi kịch người lính thời hậu chiến, nhức nhối với bi kịch
lạc thời, mặc cảm tàn phế.
Vinh quang hôm qua và tủi nhục hôm nay, anh hùng trong
quá khứ và phế nhân trong hiện tại, khát khao được tiếp tục cống
hiến cho những gì mình hi sinh và cảm giác bị bắn ra bên lề đường vì
thiếu phù hợp… Tất cả đã khiến người lính càng bế tắc, cơ đơn, lạc


lõng hơn khi khơng thể có chỗ đứng phù hợp trong hiện tại mà quá
khứ với những hào quang cứ rực rỡ xa vời như cầu vồng ẩn hiện sau
cơn mưa. Họ trở thành những con người lạc thời, cô đơn, mắc căn
bệnh hoài niệm quá khứ.
Mặc cảm tàn phế cũng là nỗi đau day dứt trong số phận
người lính thời hậu chiến. Sự đối lập giữa quá khứ lành nguyên,
mạnh mẽ với hiện tại ốm yếu, hỏng hóc làm phát sinh căn bệnh mặc
cảm trong người lính, đẩy họ vào nỗi cô đơn, bất lực trước hiện tại.
Nhân vật lạc thời, mang mặc cảm tàn phế là một kiểu nhân
vật nổi bật trong thế giới nghệ thuật của Chu Lai. Nhìn con người
dưới góc độ bi kịch lạc thời, ngòi bút Chu Lai đã thể hiện sức khám
phá, thể nghiệm mới lạ với cái nhìn đa chiều.
2.1.2. Nhân vật nổi loạn
Nhân vật Lãm trong tiểu thuyết Phố, Hùng trong tiểu thuyết
Hùng Karô là những nhân vật tiêu biểu cho kiểu nhân vật nổi loạn

trong tác phẩm của Chu Lai: nổi loạn để được là chính mình và nổi
loạn gắn liền với sự tha hóa.
Nếu ở Lãm, nổi loạn là sự khẳng định bản lĩnh, nhân cách
của người lính trước bao định kiến của người đời, bao vần xoay của
cuộc sống mưu sinh vất vả trong cơ chế thị trường thì với Hùng
Karơ, nổi loạn là sự chống lại đói nghèo, là kết quả của sự vuột mất
niềm tin ở cuộc sống, con người. Sự nổi loạn của Lãm làm ngời sáng
vẻ đẹp nhân cách người lính ln giữ những giá trị con người thì sự
nổi loạn ở Hùng Karơ lại khiến anh trượt dài trên con đường tha hóa
nhân cách trước thác lũ cuộc đời. Trong nhiều tiểu thuyết của Chu
Lai, tha hóa là hậu quả của sự nổi loạn.
Chu Lai đã viết về họ với tất cả sự trân trọng, u mến và
đầy cảm thơng. Nó mở ra những cái nhìn mới mẻ về con người, giúp
ta thấu hiểu sâu sắc hơn về cuộc đời đầy phức tạp của những phận


người trong xã hội. Nó cũng cho thấy chiều sâu nhân văn, niềm khắc
khoải nhân sinh của nhà văn trước con người và cuộc đời.
2.1.3. Nhân vật bản năng
Trong tiểu thuyết Chu Lai, ông đi sâu vào thể hiện hai kiểu
bản năng chính: bản năng sống và bản năng tính dục.
Bản năng sống là bản năng gốc, bản năng nguyên thủy của
con người. Nhân vật của tiểu thuyết Chu Lai là phản ánh đa diện
những ngun hình hay phóng chiếu của bản năng sống. Trong lằn
ranh mỏng manh giữa sự sống và cái chết, bản năng sống trỗi dậy
như tiếng gọi mạnh mẽ thúc giục từ vô thức, người ta khát khao sống,
thậm chí sống què quặt, miễn là được sống. Khoảnh khắc bản năng
sống trỗi dậy ấy không làm cho người lính hèn kém đi, mà nó phản
ánh những phút giây thật nhất của lịng người. Nó khơng chỉ lột tả sự
tàn khốc của chiến tranh mà còn thể hiện cái nhìn đầy cảm thơng,

nhân bản.
Bản năng sống cũng thể hiện trong khát khao được thỏa mãn
những nhu cầu đời thường. Bản năng sống cịn là sự phóng chiếu của
khát vọng được sống hạnh phúc, no đủ. Bản năng sống đôi khi bùng
dậy mạnh mẽ hơn cả những thang bậc giá trị, chuẩn mực đạo đức mà
con người gìn giữ.
Cùng với bản năng sống, bản năng tính dục là phần bản
nhiên của con người đã được Chu Lai hướng ngịi bút đến thể hiện để
nó bộc lộ đến tận cùng cảm giác, đam mê, mãnh liệt và táo bạo. Bản
năng tính dục ở nhân vật của Chu Lai đơi khi trỗi dậy thành căn bệnh
khát dục hành hạ người lính, lúc lại là sự thăng hoa tình u con
người nơi trần thế, có lúc lại phát lộ ở đời sống tình dục bất thường
của nhân vật.
Với những khám phá nhân vật ở góc độ bản năng, tiểu thuyết
Chu Lai đã mở ra những cái nhìn đa điện mang chiều sâu về con
người, thể hiện tính nhân văn sâu sắc.


2.1.4. Nhân vật với đời sống tâm linh
Tiểu thuyết của Chu Lai sau đổi mới đã có xu hướng vươn đến
khám phá những khoảng sâu kín, bí ẩn trong tâm hồn con người. Nhà
văn đã sử dụng nhiều yếu tố ký ức, suy tư, chiêm nghiệm mang màu
sắc tâm linh. Chu Lai cũng thể hiện nhân vật với đời sống tâm linh ở
những yếu tố trực giác, linh nghiệm điềm ứng. Những linh cảm, điềm
ứng xuất hiện lặp đi lặp lại gợi nghĩ đến sự an bài của số phận trong
cuộc đời mỗi con người.
Với kiểu nhân vật mang đời sống tâm linh, Chu Lai hướng
đến khám phá con người ở bề sâu tâm linh vi diệu biến ảo của những
vô thức, tiềm thức, linh nghiệm, điềm ứng đan dệt đầy phức tạp, bí
ẩn. Nó bộc lộ sự mới mẻ trong cách thể hiện con người và hiện thực

mang chiều sâu mới.
2.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
2.2.1. Tổ chức các mối quan hệ nhân vật.
Nhân vật trong tiểu thuyết của Chu Lai hiện lên hết màu hết
nét đời sống tâm lí, tính cách trong những mối quan hệ đời sống cá
thể và cộng đồng. Nhân vật của tiểu thuyết của Chu Lai ln có
những mối quan hệ khơng ổn định, đầy biến đổi không ngừng.
Ăn mày dĩ vãng, Phố, Ba lần và một lần, Hùng Karô là sự đan
dệt nhiếu mối quan hệ phức tạp xung quanh cuộc sống của nhân vật.
Đặt nhân vật trong những mối quan hệ phức tạp chính là con đường
dẫn lối đi vào khám phá những biến đổi nhân cách, những tính cách
khơng thuần nhất trong đời sống nhân vật, góp phần bật mở thế giới
nội tâm, tỏ lối những trở trăn, suy tư sâu kín trong mỗi con người,
phát hiện những khúc quanh tâm trạng, tính cách trong tâm hồn mỗi
người. Từ đó, đời sống nhân vật hiện lên nguyên vẹn, bộc lộ đến tận
cùng bản chất và tâm tư ẩn kín.
2.2.2. Tổ chức tình huống


Tạo dựng tình huống truyện để xây dựng nhân vật, Chu Lai
chú ý đặt nhân vật vào tình huống mâu thuẫn bên ngồi và tình huống
xung đột tâm lý bên trong.
Người ta thường ví tình huống truyện như một lát cắt trên
thân cây để từ đó thấy được cả đời thảo mộc. Đặt nhân vật vào tình
huống mâu thuẫn bên ngoài, Chu Lai đã để cho nhân vật va chạm
nhau, dẫn đến những biến động tâm lí, tính cách, số phận nhân vật.
Tình huống truyện góp phần mở ra những cái nhìn sâu sắc về số phận
con người và hiện thực xã hội.
Trần thuật chủ yếu từ điểm nhìn bên trong, Chu Lai kể
chuyện như phơi trải cảm xúc, tâm trạng nhân vật với những xung

đột nội tâm giằng xé. Xây dựng tình huống xung đột tâm lí là một
biện pháp nghệ thuật góp phần khắc họa nhân vật thăm thẳm chiều
sâu. Nhân vật tiểu thuyết của Chu Lai thường giàu trải nghiệm, nội
tâm chứa đựng nhiều giằng xé bi kịch tâm lí, ln có xu hướng tự
vấn, tự nghiệm, tự sám hối nhờ vào những xung đột nảy sinh ngay
trong nội tâm.
Không phải là những cuộc xung đột nội tâm quyết liệt nhưng
nhân vật của Chu Lai luôn chảy tn dịng ý thức bắt nguồn từ những
chấn động tâm lí trong hiện tại. Những chấn động đó tạo ra dòng độc
thoại nội tâm của nhân vật, dẫn đến những xung động tâm lí, dằn vặt,
trở trăn để dẫn dắt hành động, ngẫm suy về cuộc đời.
2.2.3. Tổ chức không gian nghệ thuật
Chu Lai đã đặt nhân vật của mình vào các khoảng khơng
gian khác nhau để khắc họa tính cách, số phận nhân vật. Không gian
nghệ thuật trong tiểu thuyết của Chu Lai là sự đan cài của ba kiểu
khơng gian chính gắn với cuộc đời người lính: khơng gian chiến trận,
không gian đời tư và không gian tâm trạng.
Trong tiểu thuyết Chu Lai, không gian chiến trận vừa bộc lộ
sự đau thương, mất mát đầy bi kịch của chiến tranh, vừa là nơi để


người lính thể hiện vẻ đẹp của bản lĩnh, nhân cách, cũng vừa là miền
trận mạc để con người sống những phút thật nhất là mình trong tình
yêu, trong khát khao bản năng, trong những phút đớn hèn, yếu đuối.
Khắc họa kiểu không gian này là một trong những nghệ thuật để nhà
văn khám phá và thể hiện nhân vật sâu sắc, chân thật nhất.
Không gian đời tư, đời thường là không gian gắn với cuộc
sống sinh hoạt thường nhật. Khơng gian đó với những góc phố, mái
nhà, căn phịng… là nơi nhân vật sống quen thuộc, giản dị với những
vui buồn kiếp người, với những đổi thay của nhân tình thế thái.

Khơng gian đời tư, đời thường là góc nhìn phản ánh chân thật nhất
cuộc đời, số phận của nhân vật. Khơng gian đó cũng là nơi giúp nhà
văn khám phá, lí giải những biến động tính cách, những bi kịch trong
số phận con người.
Với xu thế hướng nội, ngòi bút Chu Lai đã len lỏi vào những
khoảng sâu đầy bí ẩn trong tâm hồn, để khám phá và lí giải những
mạch ngầm, những ghềnh thác trong cuộc đời nhân vật. Hầu hết các
nhân vật trong tiểu thuyết của Chu Lai đều được thể hiện chủ yếu
bằng không gian tâm trạng. Đó là khơng gian của những trăn trở, của
sự tự vấn, là không gian của sự hồi tưởng, của nỗi đau xen lẫn thoáng
giây hạnh phúc, là những cảm xúc biến đổi tâm trạng trải dài trong
dòng ý thức của nhân vật. Những không gian tâm trạng như những
mảng màu đa sắc mở tung thế giới tâm hồn sâu kín, đa dạng, đầy ẩn
mật.
Cùng với khơng gian chiến trận, khơng gian đời tư, khơng
gian tâm trạng đã góp phần đem lại cho trang văn Chu Lai những
nhân vật có chiều sâu, đa sắc, đa diện, hấp dẫn và lôi cuốn người đọc,
gợi nhiều đồng cảm, suy tư về cuộc đời, về con người.


Chương 3. NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT CHU LAI
3.1. Điểm nhìn trần thuật
3.1.1. Điểm nhìn người kể chuyện
Điểm nhìn người kể chuyện là một kiểu trần thuật khách thể
mà giữa nhà văn và nhân vật luôn tồn tại một khoảng cách nhất định.
Người kể chuyện là người ngoài cuộc với điểm nhìn tồn tri, quan
sát, biết hết mọi sự việc, cuộc đời của nhân vật. Tiểu thuyết Phố, Ba
lần và một lần của Chu Lai sử dụng rõ nét điểm nhìn người kể
chuyện này.

Vai trị người kể chuyện thể hiện qua những lời giới thiệu
nhân vật, dẫn dắt câu chuyện, ở những câu luận đề, đánh giá, bình
luận về nhân vật, sự việc. Trong các tác phẩm sử dụng điểm nhìn
người kể chuyện, chủ thể kể chuyện có thể linh động dịch chuyển
điểm nhìn đến những khơng gian, sự kiện, nhân vật khác nhau.
Có lúc, điểm nhìn người kể chuyện có sự chuyển hóa sang
nhân vật, thể hiện sự sinh động, chân thật của câu chuyện trong sự
cảm thấy, suy tư của nhân vật. Nhà văn vừa có thể miêu tả, dẫn dắt
câu chuyện vừa có điều kiện đi sâu vào thế giới tâm hồn của nhân
vật, khơi mở những suy tư, trăn trở, những cảm xúc chân thật của
nhân vật.
3.1.2. Điểm nhìn nhân vật
Trong tác phẩm, điểm nhìn nhân vật thể hiện cách cảm nhận
thế giới riêng của mỗi người, mang màu sắc cá nhân, cá tính riêng.
Nhân vật đóng vai trị người kể chuyện, thường kể chuyện ở ngơi thứ
nhất, xưng “tơi”, kể chuyện với điểm nhìn bên trong.
Trong tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng và Hùng Karơ, người kể
chuyện là một nhân vật xưng “tơi” đóng vai trò kể chuyện từ đầu cho
đến gần cuối tác phẩm. Bên cạnh đó, Chu Lai có sự luân phiên điểm
nhìn nhân vật “tơi”, trao quyền kể chuyện cho nhân vật khác ở cuối


câu chuyện. Nó khơng chỉ tạo nên hiệu ứng nghệ thuật mà còn giúp
câu chuyện được kể sống động và chân thực hơn.
Đặt điểm nhìn vào nhân vật, Chu Lai đã tạo cho tác phẩm
của mình những sức sống mới, mở ra những biên độ mới của cảm
xúc. Đời sống tâm lý nhân vật được thể hiện sắc nét, sinh động dưới
điểm nhìn này. Người kể chuyện khơng biết hết mà chỉ kể về những
gì mình biết, bình đẳng đối thoại với bạn đọc đề bộc lộ những suy tư,
trăn trở trước những biến cố trong cuộc đời.

3.1.3. Điểm nhìn di động
Ở tiểu thuyết của mình, Chu Lai cũng phối ghép, luân phiên
trượt điểm nhìn tạo nên cái nhìn đa chiều về hiện thực phản ánh. Chu
Lai đã tổ chức tiểu thuyết của mình như một cấu trúc đa thanh với sự
di chuyển qua nhiều điểm nhìn khác nhau. Nhân vật của ơng vừa
được nhìn từ bên ngồi, vừa được soi rọi từ bên trong, từ người khác
và từ chính mình.
Di chuyển điểm nhìn liên tục từ người trần thuật sang nhân
vật, nhân vật này sang nhân vật khác mở ra những cánh cửa nhỏ để từ
cái nhìn bên ngồi bước vào vào thế giới nội tâm bí ẩn, hé mở những
trạng thái cảm xúc của từng nhân vật, lại làm cho mạch truyện biến
hóa, mở rộng khả năng bao quát, cuốn hút người đọc.
3.2. Kết cấu trần thuật
3.2.1. Kết cấu lịch sử - sự kiện
Kết cấu sự kiện – lịch sử là kiểu kết cấu chủ đạo trong tiểu
thuyết Chu Lai trước đổi mới. Đó là cách tổ chức câu chuyện theo
trật tự tuyến tính của dịng sự kiện, biến cố, theo trình tự đầu cuối,
trước sau. Tiểu thuyết Hùng Karô và Phố của Chu Lai thuộc kiểu kết
cấu lịch sử - sự kiện tuy vẫn có sử dụng những kĩ thuật của tiểu
thuyết hiện đại. Nếu Hùng Karô có dịng thời gian đơn tuyến – hồi ức
thì tiểu thuyết Phố có tính chất đa tuyến về thời gian lịch sử - sự kiện
với kết cấu song tuyến.


Cả hai tiểu thuyết đều có những dấu ấn trong thiên hướng đổi
mới, sáng tạo ở sự đậm đặc thời gian nội tâm. Sự gia tăng thời gian
nội tâm trong tác phẩm đã mở ra biết bao ngẫm suy sâu sắc về con
người, về lẽ đời.
3.2.2. Kết cấu đảo tuyến và đồng hiện
Kết cấu đảo tuyến và đồng hiện là cách tổ chức trần thuật

quen thuộc trong tiểu thuyết Chu Lai.
Trong tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng, Phố, Ba lần và một lần,
Hùng Karô của Chu Lai, câu chuyện luôn bắt đầu ở thời điểm hiện
tại rồi nương theo dòng trôi chảy của tâm tư nhân vật để quay ngược
về dĩ vãng, lục vấn quá khứ rồi cay đắng, xót xa trở lại hiện tại và
nghĩ về tương lai xa xôi, mù mịt. Hầu hết các tác phẩm của nhà văn
đều thiên về cảm giác và những sự kiện đều gắn với dịng suy nghĩ
của nhân vật. Khơng theo trật tự tuyến tính mà các sự kiện dường
như bị gấp khúc, gãy đoạn theo dòng tâm tư nhân vật.
Nhà văn ln coi thủ pháp đồng hiện là trục chính, là mối
giao lưu giữa hiện tại với quá khứ. Nhờ thủ pháp này, ngịi bút nhà
văn có thể linh hoạt đi đến khám phá nhiều góc cạnh, thăm thẳm
chiều sâu về hiện thực cuộc sống và số phận con người.
3.3. Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật
3.3.1. Ngôn ngữ trần thuật
3.3.1.1. Ngôn ngữ người kể chuyện
Ngôn ngữ người kể chuyện thể hiện ở lời gián tiếp và nửa
trực tiếp. Nếu ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Thái Bá Lợi đặc sắc bởi
sự kiệm lời, dung dị, mộc mạc, chân chất, tự nhiên; ngôn ngữ trong
tiểu thuyết của Bảo Ninh ám gợi bởi sự phong phú của lớp từ gợi
cảm giác, giàu biểu tượng thì ngơn ngữ trong tiểu thuyết của Chu Lai
nổi bật bởi sự dung nạp ngôn ngữ đời thường trần trụi, dữ dội và bạo
liệt trong cách kể và tả cũng như gia tăng chất đối thoại với người
đọc. Ngơn ngữ tiểu thuyết của Chu Lai góc cạnh, xù xì, thơ nhám


như thổi bao nhiêu chất sống hiện thực, làm lộ nguyên hình hài con
người và cuộc sống đến tận cùng những góc khuất. Trong tác phẩm,
Chu Lai thường sử dụng ngơn ngữ giàu chất tạo hình, gần với ngơn
ngữ điện ảnh.

Tiểu thuyết của Chu Lai bên cạnh lời gián tiếp là sự gia tăng
ngày càng nhiều lời nửa trực tiếp. Được phát ngơn bởi người trần
thuật nhưng khốc lên ngơn ngữ nhân vật, lời nửa trực tiếp có khả
năng vươn tới khám phá dòng tâm trạng của nhân vật, đi sâu vào
những ẩn kín sâu thẳm của tâm tư con người.
Ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Chu Lai đa thanh, phức điệu,
đầy biến hóa nhưng ổn định cá tính riêng với sự bạo liệt, thô nhám,
trần trụi đời thường.
3.3.1.2. Ngôn ngữ nhân vật
Ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết của Chu Lai cũng sống
động tươi nguyên với ngôn ngữ được cá tính hóa cao độ. Chu Lai đã
cá tính hóa nhân vật bằng ngôn ngữ hết sức trần trụi. Chu Lai dường
như lột trần lớp áo quần son phấn bề ngoài, để con người trần truồng
như bị giải phẫu bất ngờ, hiện ngun hình bản chất, tính cách. Cùng
với sự cá tính hóa, nhân vật trong tiểu thuyết của Chu Lai sử dụng rất
nhiều ngôn ngữ độc thoại. Ngôn ngữ độc thoại nội tâm đã soi tỏ
những cung bậc cảm xúc sâu kín, tinh tế nhất của nhân vật.
Ngơn ngữ trong văn Chu Lai được tổ chức phức tạp, nhiều
tầng bậc đan xen: ngôn ngữ gián tiếp, nửa trực tiếp và trực tiếp; ngơn
ngữ bên trong, ngơn ngữ bên ngồi…. Ngơn ngữ tinh tế, chuyển hóa
tự nhiên từ người kể chuyện sang nhân vật, từ lời trần thuật sang đối
thoại, độc thoại nội tâm đã góp phần tạo nên mạch kể sinh động,
vươn tới khám phá nhân vật ở bề sâu tâm trạng.
3.3.2. Giọng điệu trần thuật
Nếu trong đời sống, giọng nói giúp ta nhận ra con người thì
trong tác phẩm, giọng điệu lại khu biệt gương mặt từng nhà văn. Chu


Lai cũng thể hiện phong cách, cá tính sáng tạo với giọng điệu riêng.
Có người ví văn Chu Lai mang phong cách nhạc Rock trong âm nhạc

– có tiết tấu mạnh, kích thích giác quan, biến hóa và tạo dư ba. Cũng
viết nhiều về chiến tranh và người lính nhưng nếu Thái Bá Lợi kể
chuyện với giọng điệu trầm tĩnh, tự nhiên, ngẫm ngợi, lắng sâu; Bảo
Ninh trơi dịng cảm xúc với giọng điệu hồi nghi, buồn thương thì
Chu Lai lại bạo liệt, đầy dung tục đời thường. Trên dòng chủ âm đó,
nhà văn đã tạo ra một mơi trường đa giọng điệu với nhiều sắc thái
uyển chuyển: giọng cảm thương, giọng châm biếm, giọng triết lí.
3.3.2.1. Giọng cảm thương
Dù đậm hay nhạt, dù ít hay nhiều nhưng ở mỗi tác phẩm của
Chu Lai đều thấm đẫm giọng điệu cảm thương trước con người và
cuộc đời. Giọng điệu đó có khi hiện rõ trên trang văn, có khi ẩn sâu
đằng sau vẻ lạnh lùng của câu chữ, lúc lại quện chặt trong những nỗi
buồn của nhân vật. Giọng điệu đó phải chăng chính là tiếng lịng của
một nhà văn giàu lịng u người, u đời, chan chứa u thương và
khơng nguôi hi vọng, mất niềm tin nơi con người?
3.3.2.2. Giọng châm biếm
Ở tiểu thuyết Chu Lai, giọng điệu châm biếm mang tính chất
tự trào. Giọng châm biếm trong tiểu thuyết Chu Lai bao giờ cũng pha
sự chua xót, hẫng hụt. Có khi, đó là sự hồi nghi trước giá trị con
người, sự biến hình của người lính trong thời chiến và thời bình.
Bằng cái nhìn soi thấu vào các ngóc ngách sâu kín của tâm
hồn con người và đời sống, Chu Lai đã bóc trần những u nhọt xã hội,
bộc lộ sự xót xa, những đau đớn của số phận nhân vật bằng giọng văn
châm biếm nhẹ nhàng, lan tỏa trong câu chữ. Ẩn đằng sau cái nhìn
châm biếm, mỉa mai đó là tấm lịng, lương tâm và trách nhiệm của
một người cầm bút giàu tâm huyết với đời, với người.


3.3.2.3. Giọng triết lí
Sắc điệu triết lí cũng tạo nên một bè giọng mang phong cách

trong giọng điệu của Chu Lai. Nó phản ánh cái nhìn hiện thực ở
chiều sâu, đầy trăn trở, suy tư của nhà văn. Chất giọng triết lí đó
khơng phát biểu thành những nhận định có tính quy mơ mà thể hiện ở
những chiêm nghiệm, suy tư của ơng về chiến tranh, về số phận
người lính, về đạo đức – nhân sinh từ những điều xảy ra tự nhiên
trong đời sống. Có khi, giọng triết lí đó bật ra từ suy nghĩ, sự khái
quát của nhà văn. Có khi, nó lại được nói ra nhờ giọng nói hay điểm
nhìn của nhân vật.
Giọng điệu triết lí góp phần làm cho trang viết nhà văn có
chiều sâu, giúp người đọc thấm thía nhiều điều từ cuộc sống, con
người. Nó bộc lộ cách cảm, cách nghĩ, phản ánh con người đầy trăn
trở, suy tư của nhà văn. Nó được rút ra bằng chính sự trải nghiệm của
nhà văn và nhân vật, tạo sự hấp dẫn và lôi cuốn cho tác phẩm.


KẾT LUẬN
1. Chiến tranh đã kết thúc gần nửa thế kỷ, văn học viết về
chiến tranh – người lính đã định hình, trưởng thành và phát triển trên
lộ trình đổi mới. Trong dòng chảy vận động đầy khởi sắc của tiểu
thuyết Việt Nam hiện đại, Chu Lai đã đến và neo lại trong trái tim
bạn đọc bởi những trang văn nóng hổi hơi thở cuộc đời và sự sống
con người. Chiến tranh là nỗi ám ảnh đớn đau, thức ngủ suốt đời
trong trang văn Chu Lai. Gương mặt chiến tranh với những phút đau
thương, tang tóc của hi sinh mất mát cùng những phút dịu ngọt tình
yêu, khát khao bản nguyên của người lính sống dậy tận cùng trong
từng số phận nhân vật. Viết về chiến tranh, viết về người lính là hành
trình dài, khơng mệt mỏi suốt đời văn Chu Lai. Dẫu chưa toàn vẹn
hết khả năng sáng tạo nhưng con người đó đã vẹn tồn tấm lịng nhân
bản với con người, với cuộc đời. “Ăn dần quá khứ” để hồi sinh nhựa
nóng nhân văn, Chu Lai đã thăng hoa những ám ảnh đời người thành

thế giới nghệ thuật riêng mình, bộc lộ khả năng sáng tạo và cá tính
của một cây bút giàu tâm huyết.
2. Với khát vọng sáng tạo ra những tác phẩm giàu giá trị, Chu
Lai như con tằm đang nhả hết tơ bằng chính vốn liếng, những trải
nghiệm đớn đau của tâm hồn và thể xác. Với góc nhìn của một người
lính từng trải đời trận mạc, một nhà văn nhân bản, một con người đi
gần trọn cuộc đời, Chu Lai đã tinh tế, chân thật soi vào mọi ngõ ngách
hiện thực, trải phơi những mảng màu hiện thực nhức nhối của chiến
tranh và xã hội những năm hậu chiến. Hiện thực cuộc sống được khám
phá đa chiều, đa diện, không dừng ở bề mặt mà đi đến tận cùng ở bề
sâu. Nó phản ánh sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con
người của nhà văn với ý thức không ngừng làm mới thể loại.
3. Thế giới nhân vật của tiểu thuyết Chu Lai tuy kết đọng ở
nhân vật người lính nhưng biến hóa, đa sắc màu với nhiều dạng thái
như nhân vật bi kịch, nhân vật vô thức, tâm linh, nhân vật bản năng,


nhân vật nổi loạn. Khám phá số phận người lính thời hậu chiến, trang
văn Chu Lai nhức nhối đầy những nỗi niềm, gợi bao trăn trở suy tư về
con người, về thân phận. Gãy vỡ lí tưởng, những người lính từ trong
vinh quang bước vào đời thường lạc lõng, họ như “bị bỏ rơi vào
khoảng không hoang mạc” [32, tr. 16] nên quẫy đạp giữa đời thường,
hành khất về quá khứ làm kẻ ăn mày những kỉ niệm, trốn trong những
khoảng sâu tâm linh bí ẩn. Họ mặc cảm tàn phế, ám ảnh bi kịch trước
chiến tranh hủy diệt bạo tàn, trước cuộc đời lộn sòng trắng đen thời
hậu chiến. Bản năng tính dục, bản năng sống, mặc cảm tự tôn khát
cháy trong vô thức trỗi dậy từ hoang tàn những đè nén, từ giây phút
mong manh giữa lằn ranh sống chết. Người lính trong văn Chu Lai
hiện lên trần trụi, sống động, chân thật. Ở họ là sự pha trộn tính cách
xấu tốt, thiện ác, vừa đẹp đẽ vừa bất toàn. Trong nỗi ưu tư, đau đớn về

số phận, người lính chênh vênh đi giữa hai bờ thực – mộng, quá khứ hiện tại, vinh quang – cay đắng… mỗi số phận là một “ẩn ngữ” đời
sống về thân phận con người không thôi trăn trở người đọc. Đi sâu
khám phá số phận người lính dưới góc nhìn đa chiều, đa diện, Chu Lai
đã thể hiện cái nhìn nhân bản về con người trong chiến tranh và cái
nhìn nhân bản về con người trong đời sống cá thể. Dù cuộc đời đầy cay
đắng, bi kịch nhưng người lính trong trang văn của ông vẫn không lụi
tắt niềm tin trước tình yêu, con người, cuộc đời. Đằng sau những tâm
hồn hằn sẹo, những thân hình tàn phế là những trái tim không nguôi
nhịp đập yêu thương, tươi xanh niềm yêu sự sống, đúng như nhà văn
đã từng bộc bạch: “Có lẽ cái được nhất trong tác phẩm của tôi là phải
đi đến tận cùng những cái con người nhất, nhưng điều quan trọng vẫn
tơn vinh được hình tượng người lính. Cuộc đời có thể xơ đẩy người
lính, quăng quật người lính nhưng người lính vẫn bật lại để sống xứng
đáng với màu xanh áo lính” [66].
4. Trên hành trình sáng tạo với hơn ba mươi năm cầm bút
đầy trăn trở, suy nghiệm, Chu Lai đã khẳng định được phong cách, cá


tính sáng tạo bằng những đổi mới trong nghệ thuật thể hiện. Sự di
chuyển, luân phiên điểm nhìn trần thuật giúp soi tỏ đa chiều hiện
thực và con người; sự đồng hiện các chiều không gian như không
gian chiến trận, không gian đời thường, không gian tâm trạng và
xoay chiều bẽ gãy trục thời gian như nới mở hơn trường nhìn nhà văn
cả cả bề rộng lẫn bề sâu; sự linh hoạt, đa dạng trong tạo dựng tình
huống, hướng dần vào những xung đột nội tâm… tất cả đã góp phần
đổi mới hình thức cũng như tăng khả năng biểu hiện của tác phẩm.
Đặc biệt, với ngôn ngữ trần trụi, thô nhám nhưng dữ dội, bạo liệt
trong cách kể và tả, lời trần thuật mang tính đối thoại, với giọng điệu
đa dạng, đầy biến hóa sắc điệu: lúc cảm thương, lúc châm biếm, lúc
triết lí đầy suy nghiệm trên nền giọng băm bổ, gai góc, dung tục,

Chu Lai đã định hình được phong cách. Nhà văn dần khẳng định
được vị trí của mình trong dịng chảy đa sắc của tiểu thuyết Việt Nam
hiện đại.
5. Sần sùi, thơ ráp, góc cạnh… văn Chu Lai ngun hình,
ngun nét như chính con người ông. Đời văn song sinh với những
tâm tư đời người. Thời gian cứ như con tàu mải mê chạy về phía
trước nhưng những trang văn cứ như những nỗi niềm nhân gian ở lại,
thức ngủ khôn nguôi về những ám ảnh cuộc đời, thân phận. Chu Lai
cũng đang miệt mài trên hành trình sáng tạo, hành trình đi về phía
sáng tạo chưa hoàn kết. Dẫu những tiểu thuyết của Chu Lai chưa hẳn
là kiệt tác, phong cách Chu Lai chưa hẳn là độc đáo nhưng có thể
khẳng định, những gì nhà văn đã đóng góp cho đời văn, đời người là
những tâm huyết, những sáng tạo đích thực. Mỗi tác phẩm, mỗi nhân
vật là tinh chiết những giọt tâm lực nhà văn, trở buốt lòng người đọc
những suy ngẫm về con người, về cuộc đời. Dù trang viết đôi lúc có
lắm lời, hình tượng nhân vật có dẫm bước lên nhau thì những gì Chu
Lai đã cống hiến cho nghệ thuật hoàn toàn đáng trân trọng.


×