ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
ĐẶC ĐIỂM THUẬT NGỮ PHÒNG CHÁY
CHỮA CHÁY TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành : NGƠN NGỮ HỌC
Mã số
: 8229020
TĨM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
ĐÀ NẴNG - 2019
Cơng trình được hồn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VĂN SÁNG
Phản biện 1: PGS.TS Lê Đức Luận
Phản biện 2: PGS.TS Võ Xuân Hào
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Ngôn ngữ học họp tại Trường Đại học Sư phạm vào ngày 06 tháng 09
năm 2019.
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viện Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN
- Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Những năm gần đây ở nước ta, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội.Tại các đô thị, sự xuất hiện ngày càng nhiều các cơng trình
nhà cao tầng, cơng trình ngầm, các trung tâm thương mại, bệnh viện,
trường học, các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao,
các trạm xăng, dầu trong nội đô…nguy cơ cháy, nổ là rất lớn và hậu
quả khôn lường. Từ thực tế trên cho thấy cơng tác phịng cháy chữa
cháy và cứu nạn cứu hộ đóng vai trị vơ cùng quan trọng trong việc
bảo vệ tính mạng, tài sản của con người. Vì vậy, cùng với sự phát
triển của ngành phịng cháy chữa cháy thì khơng thể khơng phát triển
hệ thuật ngữ phịng cháy chữa cháy. Với tính cấp thiết trên, chúng tơi
chọn và nghiên cứu đề tài “Đặc điểm thuật ngữ phòng cháy chữa
cháy tiếng Việt ’’
2. Tổng quan nghiên cứu
Dựa trên lí luận chung về thuật ngữ của các nhà nghiên cứu đi
trước, đã có nhiều luận văn, luận án nghiên cứu về thuật ngữ của một
ngành chuyên môn cụ thể. Đáng chú ý phải kể đến là các cơng trình
nghiên cứu: Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thương mại Nhật - Việt,
luận án của Nguyễn Thị Bích Hà (2005); Đặc điểm cấu tạo và ngữ
nghĩa thuật ngữ luật sở hữu trí tuệ tiếng Việt, luận án tiến sĩ của Mai
Thị Loan (2012); Nghiên cứu các phương thức cấu tạo hệ thuật ngữ
khoa học tự nhiên tiếng Việt (trên tư liệu thuật ngữ Tốn – Cơ – Tin
học, Vật lí), Luận án Tiến sĩ của tác giả Ngô Phi Hùng (2014); Đặc
điểm cấu tạo và ngữ nghĩa hệ thuật ngữ Khoa học hình sự tiếng Việt
- Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của Nguyễn Quang Hùng (2016) …
Đặc biệt, tại Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng cũng
đã có một số luận văn nghiên cứu về thuật ngữ tiếng Việt trên các
lĩnh vực khác nhau như: Đặc điểm thuật ngữ hành chính cơng tiếng
Việt của Hồng Thị Loan (2017), Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của
thuật ngữ phòng cháy chữa cháy tiếng Việt của Trương Thị Thanh
(2018).
Việc nghiên cứu của các tác giả nói trên đã cung cấp thêm cho
chúng tơi một số vấn đề trong q trình nghiên cứu luận văn.
2
Trên cơ sở thừa hưởng kết quả nghiên cứu của các cơng trình
đi trước, luận văn này sẽ khảo sát, phân loại các thuật ngữ được sử
dụng trong lĩnh vực phịng cháy chữa cháy từ đó phân tích, làm rõ
đặc điểm ngơn ngữ của hệ thuật ngữ phịng cháy chữa cháy tiếng
Việt.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Chúng tôi hướng đến mục tiêu sẽ miêu tả đặc điểm của
thuật ngữ phòng cháy chữa cháy tiếng Việt trên hai bình diện đặc
điểm cấu tạo và ngữ nghĩa - định danh.
3.2. hái quát hóa những lí luận chung về đặc điểm của thuật
ngữ phịng cháy chữa cháy tiếng Việt, qua đó có những đề xuất,
những phương hướng, cách thức xây dựng, cũng như những định
hướng để chu n hóa hệ thuật ngữ khoa học này.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Thuật ngữ phòng cháy
chữa cháy tiếng Việt, xét trên hai bình diện nghiên cứu sau: đặc điểm
cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa-định danh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ đi vào nghiên cứu đặc điểm cấu tạo và đặc điểm
ngữ nghĩa của thuật ngữ phòng cháy chữa cháy tiếng Việt trên các
khía cạnh: cấu trúc thuật ngữ phịng cháy chữa cháy là từ, thuật ngữ
phòng cháy chữa cháy là cụm từ; lí do định danh và phương thức
định danh của thuật ngữ phòng cháy chữa cháy tiếng Việt.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tƣ liệu
5.1 Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp miêu tả dùng để miêu tả các con đường hình
thành thuật ngữ, các mơ hình cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa-định
danh của thuật ngữ phòng cháy chữa cháy tiếng Việt.
- Thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp nhằm xác định và
phân tích đơn vị cơ sởcấu tạo thuật ngữ, thủ pháp này được áp dụng
để tìm hiểu đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ.
- Thủ pháp thống kê nhằm xác định số liệu thuật ngữ phòng
cháy chữa cháy tiếng Việt
5.2. Nguồn tƣ liệu
3
Luận văn nghiên cứu các thuật ngữ phòng cháy chữa cháy
tiếng Việt có trong các luật:
- Luật số 27/2001/QH10 của Quốc hội: Luật Phòng cháy và
Chữa cháy
- Luật số 40/2013/QH13 của Quốc hội: Luật Phòng cháy và
Chữa cháy và các văn bản tập huấn, tri khai cơng tác phịng cháy
chữa cháy đã được ban hành.
- Các tài liệu tập huấn Phịng cháy chữa cháy dùng cho cơ
quan, đồn thể, doanh nghiệp.
6. Đóng góp của đề tài
- Luận văn có thể cung cấp một bức tranh cơ bản về thuật ngữ
phòng cháy chữa cháy tiếng Việt.
- Góp phần bổ sung, mở rộng những vấn đề về thuật ngữ học
trên cơ sở ngữ liệu thuật ngữ phòng cháy chữa cháy tiếng Việt.
- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo có ích cho đội ngũ các
thầy cô giáo làmcông việc giảng dạy tại các trường học phòng cháy
chữa cháy; cho đội ngũ cán bộ chiến sĩ làm công tác tại các đơn vị
phòng cháy chữa cháy cấp quận, thành phố.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận
văn gồm:
Chƣơng 1. Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
Chƣơng 2: Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ phòng cháy
chữa cháy tiếng Việt
Chƣơng 3: Đặc điểm định danh của thuật ngữ phòng cháy
chữa cháy tiếng Việt
4
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CĨ LIÊN QUAN
1.1. Một số vấn đề về từ và cụm từ tiếng Việt
1.1.1. Từ tiếng Việt
1.1.1.1. Các quan niệm khác nhau về từ trong tiếng Việt
Cho đến nay, vấn đề ranh giới từ trong Việt ngữ học vẫn đang
là vấn đề nan giải. Điều này cũng dề hiểu, bởi lẽ, như đã trình bày, từ
là một khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học nhưng cũng là đơn vị đa
dạng và khó định nghĩa nhất trong ngôn ngữ học đại cương, nên việc
nhận diện từ tiếng Việt cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ.
Nhìn chung, có hai khuynh hướng chính:
(1) Từ tiếng Việt trùng với âm tiết (hay tiếng)
(2) Từ tiếng Việt khơng hồn tồn trùng âm tiết
1.1.1.2. Đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt
Từ tiếng Việt có đặc điểm chung của từ trong ngơn ngữ học
đại cương. Đó là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ được xác định dựa vào
3 tiêu chí:
- Có cấu trúc tồn vẹn, vững chắc.
- Có tính độc lập về hình thức và ngữ pháp.
- Có nội dung ngữ nghĩa nhất định.
Ngồi ra, từ tiếng Việt có những đặc điểm riêng thuộc loại
hình ngơn ngữ đơn lập:
- Từ tiếng Việt có thể đơn tiết hoặc đa tiết
- Từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm hoặc ngữ nghĩa
nhưng khơng có biến thể hình thái học
- Ý nghĩa ngữ pháp của từ khơng được biểu hiện trong nội bộ
từ, mà được biểu hiện trong quan hệ giữa các từ trong câu
- Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp có quan hệ chặt chẽ với
nhau ở trong từ tiếng Việt
1.1.1.3.Phân loại từ tiếng Việt theo đặc điểm cấu tạo
Theo Đỗ Hữu Châu việc phân loại các từ về mặt cấu tạo được
vận dụng lần lượt như sau: số lượng các hình vị (từ đơn, từ phức),
phương thức cấu tạo (trong từ phức có từ láy và từ ghép), các kiểu
nhỏ trong từng phương thức xét về kiểu loại hình thức và cơ chế ngữ
nghĩa (kiểu loại nhỏ trong từ láy và từ ghép). Vì thế từ tiếng Việt có
5
thể được phân chia thành ba loại, tương ứng với ba phương thức đã
nêu: từ đơn (sản ph m của phương thức từ hóa hình vị), từ láy (sản
ph m của phương thức láy hình vị) và từ ghép (sản ph m của
phương thức ghép hình vị).
a) Từ đơn
Trong tiếng Việt, từ đơn là những từ do một hình vị tạo nên.
Chúng có thể dùng độc lập về phương diện ngữ pháp nhưng lại
không lập thành những hệ thống ngữ nghĩa của những kiểu cấu tạo từ
như các loại từ khác. Từ đơn là những từ được tạo ra ở thế hệ thứ
nhất. Từ đơn cũng được “hình vị hóa” để trở thành “nguyên liệu”
chính tạo ra các từ phức, các từ ở thế hệ thứ hai, thứ ba.
b) Từ láy
Từ láy là những từ được tạo ra theo phương thức láy hình vị.
Nó là sản ph m của q trình hịa phối về mặt ngữ âm và ngữ nghĩa
giữa các hình vị.
Căn cứ vào số lượng các âm tiết, từ láy của tiếng Việt được
chia thành ba loại từ láy tư, từ láy ba và từ láy đôi. Trong ba loại từ
láy thì từ láy đơi là loại từ láy có số lượng nhiều nhất và điển hình
nhất cho từ láy của tiếng Việt.
c) Từ ghép
Từ ghép là những từ được tạo ra từ phương thức ghép (phương
thức kết hợp hai hay một số hình vị tách biệt, riêng rẽ, độc lập với
nhau). Việc phân loại từ ghép từ trước đến nay đã có nhiều ý kiến
khác nhau giữa các nhà nghiên cứu. Vì thế đường ranh giới phân
chia giữa các loại và các tiểu loại của từ ghép ở các tác giả là khơng
trùng nhau, và có những tranh luận chưa thống nhất.
Đỗ Hữu Châu đã phân loại từ ghép dựa trên sự đồng nhất – đối
lập của ba tiêu chí sau đây:
- Ý nghĩa của các từ mới được tạo ra (ý nghĩa của cả từ)
- Tính chất của các hình vị (ý nghĩa của các thành tố cấu tạo)
- Quan hệ ngữ pháp giữa các hình vị (quan hệ ngữ nghĩa –
ngữ pháp)
Áp dụng lần lượt các tiêu chí trên, tác giả đã chia từ ghép
trong tiếng Việt thành ba loại từ ghép hợp nghĩa, từ ghép phân nghĩa
và từ ghép biệt lập.
6
1.1.1.4.. Phân loại từ tiếng Việt theo nguồn gốc
a). Từ thuần Việt
Ngồi những từ có thể xác định chắc chắn là tiếng Việt tiếp
nhận của tiếng Hán và các ngôn ngữ Ấn- Âu, các từ còn lại là các từ
thuần Việt. Cụ thể đấy là các từ biểu thị các sự vật, hiện tượng cơ
bản nhất và tồn tại từ lâu đời: ăn, ở, đi, lại, đẹp, tốt, xấu, xanh
Thuần Việt là những từ thường được hiểu có tính qui ước
nhiều hơn là tính đích thực của ngơn ngữ bản địa - những từ gốc
Môn-Khmer họ Nam Á- vốn là nguồn gốc của tiếng Việt.
b) Từ gốc Hán
ết hợp tiêu chí thời gian hình thành với tiêu chí hình thức
ngữ âm và phong cách có thể phân những từ gốc Hán ra làm ba loại:
Từ tiền Hán-Việt, từ Hán-Việt, từ Hán-Việt Việt hóa.
Luận văn chỉ đề cập đến các từ Hán-Việt khi khảo sát các
thuật ngữ như là từ ngữ vay mượn.
Từ Hán-Việt có các đặc điểm sau:
Về mặt ngữ âm, ta có thể rút ra một số đặc điểm ngữ âm như
sau:
+ Có sự đối lập giữa âm hữu thanh và âm vơ thanh giữa hai
thời kì
Về mặt ý nghĩa, ý nghĩa có thể được biến đổi theo nhiều
hướng:
- Mở rộng ý nghĩa của từ Hán
- Thu hẹp nghĩa của từ Hán
- Giảm bớt các nghĩa được sử dụng trong tiếng Hán
- Chỉ bảo lưu nghĩa của một trong hai thành tố của từ được sử
dụng trong tiếng Hán.
- Chỉ sử dụng nghĩa của tiếng Hán theo nghĩa hẹp
- Chuyển sang nghĩa hoàn toàn mới
- Thay đổi sắc thái biểu cảm
Về mặt cấu tạo
- Ðịnh tố + danh từ
- Bổ tố + động từ
-Danh từ +danh từ
-Tính từ +tính từ
7
-Ðộng từ +động từ
c) Từ gốc Ấn Âu
c.1)Từ mượn Pháp trong tiếng Việt
Các từ Pháp nhập vào tiếng Việt chủ yếu chỉ các khái niệm
mới về lối sống, văn hoá, văn minh của Pháp nói riêng, của phương
Tây nói chung như ăn mặc, cấu trúc nhà cửa, trang thiết bị trong nhà,
m thực cùng máy móc thiết bị, khoa học-kỹ thuật, công nghệ,...
c.2) Các từ tiếng Anh được sử dụng trong tiếng Việt
Chúng tôi tạm dùng cách gọi “từ tiếng Anh được sử dụng
trong tiếng Việt” thay cho khái niệm “từ mượn Anh” trong tiếng Việt
- Một số từ được sử dụng theo cách phỏng âm và viết bằng
chính tả tiếng Việt. Ví dụ: caobồi / cao-bồi (cowboy)
- Dùng nguyên dạng cách viết tiếng Anh
1.1.2. Cụm từ trong tiếng Việt
1.1.2.1. Khái niệm cụm từ:
Khi các từ kết hợp với nhau theo những quan hệ nhất định
chúng ta sẽ có các đơn vị cú pháp. Đơn vị cú pháp nhỏ nhất trong
tiếng Việt là cụm từ.
Luận văn quan niệm về cụm từ như sau: Cụm từ là tổ hợp gồm
hai từ trở lên, giữa các từ có mối quan hệ về ngữ nghĩa và ngữ pháp
nhưng chưa thành câu.
Như vậy, cụm từ không phải là một loại đơn vị ngôn ngữ
(hoặc đơn vị lời nói) thuộc cấp độ trên từ. Xét về tôn ti các đơn vị
trong hệ thống cấu trúc của ngôn ngữ, cụm từ cùng cấp độ với từ.
Cũng như từ, cụm từ là yếu tố cấu tạo câu và chỉ có chức năng định
danh, khơng có chức năng thông báo.
1.1.2.2. Các loại cụm từ:
Tùy theo mối quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong cụm
từ, người ta phân định thành:
+ Cụm đẳng lập: Các thành tố trong cụm từ bình đẳng về ngữ
pháp. Ví dụ: anh và em; cị và vạc, nó với tơi.
+ Cụm chính phụ: Thành tố trung tâm quyết định bản chất ngữ
pháp của tồn bộ kết cấu, các thành tố cịn lại phụ thuộc vào nó. Ví
dụ: sách của tơi, những ngày ấy, sẽ về quê.
8
+ Cụm chủ vị (kết cấu chủ-vị): Mối quan hệ giữa hai thành tố
trong cụm từ là quan hệ chủ vị, quan hệ nêu-báo: gió thổi, đèn bị tắt
trong câu: Gió thổi mạnh khiến đèn bị tắt.
Bên cạnh khái niệm cụm từ, các khái niệm ngữ, ngữ đoạn,
đoản ngữ cũng được sử dụng, tuy nhiên nội hàm các khái niệm này
là khơng trùng khít lên nhau.Cụm từ cố định (ngữ cố định) là đối
tượng nghiên cứu của từ vựng học; còn cụm từ tự do là đối tượng
nghiên cứu của ngữ pháp học.Luận văn chỉ đề cập các loại cụm từ
chính phụ tiêu biểu: cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ.
1.1.2.3. Đặc điểm của cụm từ chính phụ
Cấu tạo của cụm từ chính phụ thường gồm 3 phần: Phần trung
tâm (T) đứng giữa và do thực từ đảm nhiệm, phần phụ trước (Pt)
đứng trước trung tâm và phần phụ sau (Ps) đứng sau trung tâm.
Có thể hình dung cấu tạo của cụm từ chính phụ theo mơ hình
như sau: Pt + T + (n) Ps.
Trong cấu tạo của cụm từ chính phụ, thành tố chính có vai trị
và đặc điểm như sau về mặt ngữ pháp:
- Thành tố chính phải do thực từ đảm nhiệm, là thành tố cần
thiết trong tổ chức của cụm từ.
- Trong quan hệ nội bộ của cụm từ, thành tố chính chi phối và
qui định chức năng cho các thành tố phụ. Thành tố chính là danh từ
thì các thành tố phụ là định ngữ; thành tố chính là vị từ thì thành tố
phụ là bổ ngữ.
Trong cấu tạo của cụm từ chính phụ, thành tố phụ có vai trị,
đặc điểm như sau:
- Về vị trí: thành tố phụ xuất hiện trước thành tố chính là thành
tố phụ trước; thành tố phụ xuất hiện sau thàn tố chính là thành tố phụ
sau.
Về từ loại: các từ làm thành tố phụ trước thường do các hư từ
đảm nhiệm. Các từ làm thành tố phụ sau có thể là thực từ hoặc hư từ.
- Về cấu tạo: có thể có một hoặc nhiều từ tham gia làm thành
tố phụ trước hoặc sau. Trật tự sắp xếp các thành tố phụ trước nói
chung đơn giản, dễ xác định.
1.2. Những vấn đề về thuật ngữ
1.2.1. Đặc điểm của từ vựng chuyên ngành
9
Từ vựng của một ngơn ngữ có thể xem như một hệ thống của
các hệ thống hay như một hệ thống tổng quát bao trùm hàng loạt
những tiểu hệ thống nhỏ hơn. Hệ thống từ vựng của ngơn ngữ có thể
được phân chia theo nhiều cách dựa vào những tiêu chí khác nhau.
Cũng có thể chia thành phần từ vựng của một ngôn ngữ thành khối từ
vựng phổ thông và từ vựng chuyên ngành.
1.2.2. Khái niệm thuật ngữ
Định nghĩa thuật ngữ gắn với chức năng là xu hướng của các
nhà khoa học người Nga như: N.P. uzkin, G.O. Vinokur,
V.V.Vinogradov…. Theo N.P. uzkin “…Nếu như từ thông thường,
từ phi chuyên môn tương ứng với đối tượng thơng dụng thì từ của
vốn thuật ngữ lại tương ứng với đối tượng chuyên môn mà chỉ có
một số lượng hạn hẹp các chuyên gia biết đến” [dẫn theo 42, tr.29].
Theo G.O. Vinokur, người đã chú tâm nghiên cứu lí thuyết về thuật
ngữ học cho rằng “Thuật ngữ - đó khơng phải là một từ đặc biệt mà
chỉ là từ có chức năng đặc biệt…, đó là chức năng gọi tên” [dẫn theo
42, tr.29].
1.2.2.2.Định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm
Ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học cũng đưa ra những định
nghĩa khác nhau về thuật ngữ gắn với khái niệm như Nguyễn Văn
Tu, Lưu Vân Lăng, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp. Nguyễn Văn
Tu trong cuốn Khái luận ngôn ngữ học (1960) định nghĩa: “Thuật
ngữ là từ hoặc nhóm từ dùng trong các ngành khoa học, kỹ thuật,
chính trị, ngoại giao, nghệ thuật… và có một ý nghĩa đặc biệt, biểu
thị chính xác các khái niệm và tên các sự vật thuộc ngành nói trên”.
Sau này,trong cuốn Từ vựng học tiếng Việt hiện đại (xuất bản năm
1968), Nguyễn Văn Tu đưa ra định nghĩa chỉ nhấn mạnh khái niệm
mà các thuật ngữ biểu thị: “thuật ngữ là những từ và những từ tổ cố
định để chỉ những khái niệm của một ngành khoa học nào đó, ngành
sản xuất hay ngành văn hóa nào đó…”[dẫn theo 42, tr.31].
Trong luận văn này, chúng tơi tiếp thu định nghĩa thuật ngữ
trong Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học của Nguyễn Thiện Giáp khi
nghiên cứu thuật ngữ phòng cháy chữa cháy :“Bộ phận từ ngữ đặc
biệt của ngơn ngữ. Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên
gọi chính xác của các loại khái niệm và đối tượng thuộc các lĩnh vực
10
chun mơn của con người.”[10 , tr.485].
1.2.3.Các thuộc tính bắt buộc phải có khu biệt thuật ngữ với
các đơn vị từ vựng phi thuật ngữ
Về hình thức hay “cái biểu hiện” của thuật ngữ là từ hoặc ngữ
cố định. Do đó, những “cái biểu hiện” có dạng câu (cấu trúc C-V)
đều khơng phải là thuật ngữ. Ngồi ra, “cái biểu hiện” của thuật ngữ
cũng phải có tính hệ thống về mặt cấu tạo. Đối với các từ ngữ phi
thuật ngữ thì tính hệ thống về mặt cấu tạo nói chung khơng phải bắt
buộc và cũng khó có thể có.
Về nội dung hay “cái được biểu hiện” của thuật ngữ có thể là
khái niệm hoặc đối tượng được sử dụng trong phạm vi một lĩnh vực
khoa học hay chuyên môn nhất định.
Liên quan đến thuộc tính của thuật ngữ, cịn có một khái niệm
khác để làm rõ hơn thuật ngữ, đó chính là danh pháp khoa học. Danh
pháp khoa học và thuật ngữ không phải là một. Theo Nguyễn Thiện
Giáp: “hệ thuật ngữ trước hết gắn liền với hệ thống các khái niệm
của một khoa học nhất định còn danh pháp là toàn bộ những tên gọi
được dùng trong một chuyên ngành nào đó, nó khơng gắn trực tiếp
với các khái niệm của khoa học này mà chỉ gọi tên các sự vật trong
khoa học đó mà thơi” [11, tr. 141].
Thuật ngữ là từ ngữ biểu thị khái niệm hoặc biểu thị đối tượng
trong phạm vi một lĩnh vực khoa học cơng nghệ hoặc chun mơn.
1.2.4.Tiêu chuẩn của thuật ngữ
1.2.4.1. Tính khoa học
Tính khoa học của thuật ngữ bao gồm tính chính xác và tính
hệ thống.
a. Tính chính xác
Tính chính xác là một đặc tính quan trọng hàng đầu của thuật
ngữ được các nhà khoa học thừa nhận. Một thuật ngữ phải phản ánh
được đặc trưng cơ bản, nội dung, bản chất của khái niệm mà nó biểu
hiện, phải rõ ràng, không gây nhầm lẫn, không hàm ý hay mập mờ về
nghĩa.
b. Tính hệ thống
Về mặt hình thức, tính hệ thống của thuật ngữ thể hiện sự lệ
thuộc lẫn nhau của các hình thái ngữ pháp phát sinh trong việc cấu
11
tạo và biến đổi từ. Chẳng hạn, loạt thuật ngữ ngôn ngữ học cùng cấu
tạo với yếu tố vị: âm vị, hình vị, từ vị, nghĩa vị, thanh vị…
1.2.4.2. Tính quốc tế
Tính quốc tế là một đặc điểm quan trọng của thuật ngữ bởi các
khái niệm khoa học mà chúng hiển thị là tài sản, là vốn kiến thức
chung của nhân loại. Do vậy, thuật ngữ phải biểu đạt được khái niệm
theo cách mà giới chuyên môn của các quốc gia đều có thể hiểu
được. Đó chính là tính quốc tế của thuật ngữ.
1.2.4.3. Tính dân tộc
Tính dân tộc của thuật ngữ, theo các nhà nghiên cứu ở Việt
Nam, thể hiện ở hình thức của thuật ngữ, cụ thể là ở từ vựng, ngữ
âm, ngữ pháp. Về mặt ngữ âm, chữ viết: cách phát âm và chữ viết
phải phù hợp với đặc điểm tiếng nói và chữ viết của tiếng Việt; về
mặt từ vựng: các yếu tố cấu tạo nên thuật ngữ là từ thuần Việt hoặc
được Việt hoá; về mặt ngữ pháp: cách sắp xếp trật tự các yếu tố
trong thuật ngữ phải theo cú pháp tiếng Việt.
1.2.5. Phương thức xây dựng thuật ngữ
1.2.5.1. Phương thức tiếp nhận thuật ngữ nước ngồi
Con đường thuật ngữ hóa từ ngữ thơng thường là con đường
biến đổi và phát triển nghĩa của một từ để tạo ra một nghĩa mới
(nghĩa thuật ngữ).
1.2.5.2. Phương thức sao phỏng và dịch nghĩa
Phương thức sao phỏng là phương thức sử dụng những yếu tố
và mơ hình cấu tạo của từ vựng tiếng Việt để dịch nghĩa những thuật
ngữ tương ứng trong tiếng nước ngồi. Ví dụ: Cầu truyền hình là sự
sao phỏngcủa TV bridge, trong đó truyền hình tương ứng với TV,
cịn cầu tương ứng với bridge.
1.2.5.3. Phương thức tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài
Hiện nay, nhiều thuật ngữ nước ngồi đã thâm nhập, có mặt
trong hệ thống thuật ngữ tiếng Việt. Những thuật ngữ nước ngoài này
thường được tiếp nhận vào tiếng Việt dưới ba hình thức: phiên âm,
chuyển tự và ngun dạng.
1.3. Ngành phịng cháy chữa cháy Việt Nam
1.3.1. Giới thiệu về ngành phòng cháy chữa cháy Việt Nam
inh tế xã hội ngày càng phát triển thì nguy cơ cháy, nhất là
12
cháy lớn gây thiệt hại nghiêm trọng ngày càng tăng.
hi xảy ra cháy, dù nhỏ đều gây thiệt hại về tài sản và đe
dọa tính mạng con người. Hậu quả do cháy gây ra nghiêm trọng,
nhiều vụ cháy không chỉ thiệt hại trực tiếp về người và tài sản mà
còn để lại hậu quả nặng nề cho xã hội như: ngừng trệ sản xuất kinh
doanh, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư nước ngồi vào Việt Nam
và mơi trường sinh thái.
Trước u cầu phục vụ sự nghiệp cơng nghiệp hóa – hiện
đại hóa đất nước, ngày 29/06/2001 Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 9 đã
thơng qua Luật phịng cháy chữa cháy và ngày 04/04/2003. Luật sửa
đổi số 40/2013/QH13 của Quốc hội: Luật Phịng cháy và Chữa cháy.
Điều đó thể hiện vị trí, tầm quan trọng của cơng tác phịng cháy chữa
cháy.
1.3.2. Thuật ngữ Phòng cháy chữa cháy tiếng Việt
Dựa trên cơ sở lí thuyết về thuật ngữ, định nghĩa về phòng
cháy chữa cháy và nội dung khái quát của ngành phịng cháy chữa
cháy nước ta chúng tơi xác định: Thuật ngữ phòng cháy chữa cháy
tiếng Việt là những từ ngữ biểu thị khái niệm hoặc đối tượng nhất
định thuộc lĩnh vực phịng cháy chữa cháy. Đó chính là những thuật
ngữ của ngành nghiên cứu về phòng cháy, chữa cháy, là những thuật
ngữ về những tri thức, về khái niệm, tính chất, đặc điểm, về tổ chức
hoạt động trong việc phịng cháy, chữa cháy.
1.4. Tiểu kết
Trong chương 1, chúng tơi đã hệ thống hóa các vấn đề lí luận
sau: Về vấn đề chung của thuật ngữ, phân tích khái niệm thuật ngữ,
tiêu chu n của thuật ngữ, các phương thức tạo lập thuật ngữ, phân
biệt thuật ngữ với một số khái niệm liên quan như danh pháp, từ
nghề nghiệp. Những nét khái quát về sự phát triển của ngành phòng
cháy chữa cháy Việt Nam.
13
CHƢƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA THUẬT NGỮ
PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY TIẾNG VIỆT
2.1.Yếu tố cấu tạo của thuật ngữ phòng cháy chữa cháy
tiếng Việt
hi phân tích, miêu tả đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ, cần xét
đến yếu tố cơ sở để cấu tạo thuật ngữ. Trong nhiều tài liệu nghiên
cứu về thuật ngữ, khái niệm “yếu tố cấu tạo thuật ngữ” có hai quan
niệm khác nhau:
Quan niệm thứ nhất được đại diện bởi các tác giả như Nguyễn
Văn Tu, Hoàng Văn Hành, Lê hả ế, Nguyễn Thiện Giáp…. Các
tác giả này cho rằng mỗi yếu tố cấu tạo thuật ngữ là một chữ hay một
âm tiết. Ví dụ, theo quan niệm này, thuật ngữ “nhân viên cứu hỏa”
trong thuật phòng cháy chữa cháy sẽ gồm bốn yếu tố là nhân, viên,
cứu, hỏa.
Quan niệm thứ hai, các nhà ngôn ngữ học cho rằng yếu tố (cấu
tạo) thuật ngữ có thể là hình vị trong từ đơn, là từ (thậm chí là kết hợp
từ) trong thuật ngữ là từ ghép hay từ tổ. Thuật ngữ có thể gồm một từ
hay hơn một yếu tố cấu tạo. Mỗi yếu tố thuật ngữ tương ứng với một
khái niệm hay tiêu chí của khái niệm trong lĩnh vực chun mơn nào đó.
Nguyễn Đức Tồn đã tiếp thu quan điểm của các nhà ngôn ngữ
học Nga như đã đề cập ở trên,ông gọi đơn vị cơ sở để cấu tạo thuật
ngữ tiếng Việt là thuật tố, đây chính là thành tố cấu tạo trực tiếp cuối
cùng của một thuật ngữ.
2.2.Thuật ngữ phòng cháy chữa cháy là từ
Dựa trên kết quả khảo sát thuật ngữ phòng cháy chữa cháy,
chúng tôi nhận thấy không tồn tại thuật ngữ là từ láy hoặc từ ngẫu
hợp nên chúng tôi sẽ không nghiên cứu những kiểu từ này mà chúng
tôi sử dụng cách gọi phổ biến hiện nay của từ ghép là “từ ghép đẳng
lập” và “từ ghép chính phụ” để thay thế cách gọi “từ ghép láy nghĩa”
và “từ ghép phụ nghĩa” của Nguyễn Tài C n.
2.2.1. Thuật ngữ phòng cháy chữa cháy là từ đơn
Dựa trên lý thuyết về từ đơn nêu trên, qua khảo sát, chúng tôi
thống kê có 9/47 đơn vị, chiếm 19,14%thuật ngữ phịng cháy chữa
14
cháy là từ, chiếm tỉ lệ khá ít ỏi. Ví dụ: bơm, khói, loa, nhiệt, thang,
tời, chng, ống, bột.
2.2.2.Thuật ngữ phòng cháy chữa cháy là từ ghép
Trong số 47 thuật ngữ phòng cháy chữa cháy là từ, số lượng
thuật ngữ là từ ghép chiếm số lượng hầu như tuyệt đối: 38 đơn vị
(chiếm 80,85%). Thuật ngữ phòng cháy chữa cháy có 06 thuật ngữ là
từ ghép đẳng lập, cịn lại đa số đều là từ ghép chính phụ với số lượng
32 thuật ngữ .
2.2.2.1. Thuật ngữ phòng cháy chữa cháy là từ ghép đẳng lập
Từ ghép đẳng lập là “kiểu từ ghép trong đó các thành tố trực
tiếp có vai trị bình đẳng với nhau” Các thuật ngữ được tạo ra từ mơ
hình ghép đẳng lập là những thuật ngữ được cấu tạo dựa trên những
thành tố có quan hệ cùng cấp, có ý nghĩa cùng một phạm trù, trên cơ
sở quan hệ ngữ pháp đẳng lập, không phân biệt thành tố chính, thành
tố phụ.
2.2.2.2Thuật ngữ phịng cháy chữa cháy là từ ghép chính phụ
Từ ghép chính phụ là “kiểu từ ghép có một thành tố trực tiếp
là nịng cốt rồi bên cạnh ghép thêm một thành tố khác, đứng làm
thành tố phụ” [2, tr.99].
2.3.Thuật ngữ phòng cháy chữa cháy là cụm từ
2.3.1. Thuật ngữ phòng cháy chữa cháy là cụm từ hai thuật
tố
2.3.1.1. Về từ loại và mơ hình cấu tạo
Thuật ngữ là cụm từ hai thuật tố chiếm số lượng nhiều nhất
với 139 đơn vị (chiếm 39,37% trong thuật ngữ là cụm từ).
Về từ loại của các thuật ngữ hai thuật tố:
- Số thuật ngữ là cụm danh từ gồm 127/139 thuật ngữ.Ví dụ:
cần trục nâng,chăn chữa cháy, cầu dao điện…
- Số thuật ngữ là cụm động từ gồm 9/139 thuật ngữ. Ví dụ:
cháy tại cơ sở, cứu hộ kh n cấp, khắc phục hậu quả vụ cháy, khử ơ
nhiễm…
- Số thuật ngữ là cụm tính từ gồm 3/139 thuật ngữ.Ví dụ: giới
hạn chịu lửa, tác hại của cháy nổ, chênh lệch áp suất
15
2.3.1.2. Về nguồn gốc
- Có 14/139 thuật ngữ có hai thuật tố thuần Việt: xe đ y chữa
cháy, xe cấp nước..
- Có 122/139 thuật ngữ có các thuật tố đều có nguồn gốc Hán
Việt, chiếm tỉ lệ 64% trong thuật ngữ là cụm từ có hai thuật tố.. Ví
dụ: đội trưởng trạm cứu hoả…
- Có 03/159 thuật ngữ có yếu tố Thuần Việt ghép lai với thuật
tố Ấn Âu. Ví dụ: tác động nguồn oxy
2.3.2. Thuật ngữ phòng cháy chữa cháylà cụm từ ba thuật tố
2.3.2.1. Về từ loại và mơ hình cấu tạo
Số lượng thuật ngữ là cụm từ ba thuật tố gồm 121/353 đơn vị
thuật ngữ là cụm từ (chiếm 34,3%).
Bảng 2.4. Các mơ hình cấu tạo của thuật ngữ ba thuật tố
Mơ hình cấu tạo
Số lƣợng
Tỉ lệ (%)
Mơ hình 1
71
60,1
Mơ hình 2
42
35,6
Mơ hình 3
06
4,9
Mơ hình 4
02
1,8
121
100
Tổng
2.3.2.2. Về nguồn gốc
ết quả phân tích ngữ liệu cho thấy, trong 121 thuật ngữ có
cấu tạo ba thuật tố:
Có 9 thuật ngữ là cụm từ ba thuật tố có nguồn gốc thuần Việt,
06 thuật ngữ là các ngữ ghép lai các thuật tố Hán Việt, Ấn Âu,
Thuần Việt, 107/121 thuật ngữ trong đó có ba thuật tố đều có nguồn
gốc Hán Việt.
2.3.3. Thuật ngữ phòng cháy chữa cháylà cụm từ bốn
thuật tố
2.3.3.1. Về từ loại và mơ hình cấu tạo
Số lượng thuật ngữ là cụm từ bốn thuật tố gồm 52/353 đơn vị
(chiếm 14,7%).
Bảng 2.5. Các mơ hình cấu tạo của thuật ngữ bốn thuật tố
Mơ hình cấu tạo
Số lƣợng
Tỉ lệ (%)
16
Mơ hình 1
Mơ hình 2
Mơ hình 3
Mơ hình 4
Mơ hình 5
Mơ hình 6
Mơ hình 7
Mơ hình 8
Tổng
19
8
10
7
04
02
01
01
52
36,5
15,4
19,2
13,5
7,8
3,8
1,9
1,9
100
2.3.2.2. Về nguồn gốc
- Có 3/52 thuật ngữ có nguồn gốc thuần Việt, 1/52 thuật ngữ
là các ngữ ghép lai các thuật tố Hán Việt và thuần Việt, 48/52 thuật
ngữ trong đó bốn thuật tố đều có nguồn gốc Hán Việt.
2.3.4. Thuật ngữ phịng cháy chữa cháy là cụm từ năm thuật
tố
2.3.4.1. Về từ loại và mơ hình cấu tạo
Số lượng thuật ngữ là cụm từ năm thuật tố gồm 17/353đơn vị
(chiếm 4,8%). Ví dụ: Biên bản kiểm tra an tồn về phịng cháy và
chữa cháy
Bảng 2.6. Các mơ hình cấu tạo của thuật ngữ năm thuật tố
Mơ hình cấu tạo
Mơ hình 1
Mơ hình 2
Mơ hình 3
Mơ hình 4
Mơ hình 5
Mơ hình 6
Tổng
Số lƣợng
07
03
04
01
01
01
17
Tỉ lệ (%)
41,2
17,6
23,5
5,9
5,9
5,9
100
2.3.4.2. Về nguồn gốc
- Có 2 thuật ngữ năm thuật tố có nguồn gốc thuần Việt, 15
thuật ngữ có nguồn gốc Hán Việt.
17
2.3.5. Thuật ngữ phòng cháy chữa cháy là cụm từ từ sáu
thuật tố trở lên
2.3.5.1. Về từ loại
Thuật ngữ phòng cháy chữa cháy là cụm từ từ sáu thuật tố trở
lên gồm 24/353 đơn vị (chiếm 6,8%), trong đó có 18 thuật ngữ có 6
thuật tố, 04 thuật ngữ 7 thuật tố, 02 thuật ngữ có 8 thuật tố.
2.3.5.2. Về nguồn gốc
Có 1 thuật ngữ có nguồn gốc thuần Việt, 23/24 thuật ngữ có
các thuật tố đều có nguồn gốc Hán Việt
Bảng 2.7. Đặc điểm từ loại của thuật ngữ phòng cháy chữa
cháy là cụm từ
Cụm
Cụm
Cụm
Thuật ngữ là cụm từ
Tổng
danh từ động từ tính từ
Hai thuật tố
127
9
3
139
Ba thuật tố
106
13
2
121
Bốn thuật tố
33
13
6
52
Năm thuật tố
13
4
0
17
Từ sáu thuật tố trở lên
22
2
0
24
Số lượng
301
37
15
353
Tổng
Tỉ lệ (%)
85,26
10,48
4,26
100
Bảng 2.8. Đặc điểm nguồn gốc của thuật ngữ phòng cháy
chữa cháy là cụm từ
Thuật ngữ là cụm
từ
Hai thuật tố
Ba thuật tố
Bốn thuật tố
Năm thuật tố
Từ sáu thuật tố trở
lên
Số lượng
Tổng
Tỉ lệ(%)
Thuần
Việt
14
8
3
2
1
28
7,9
Tổng
3
6
2
Hán
Việt
122
107
47
15
23
11
3,12
314
88,9
353
100
Hỗn Hợp
139
121
52
17
24
18
2.4. Tiểu kết
Chương 2 của luận văn đã trình bày đặc điểm cấu tạo của
thuật ngữ phòng cháy chữa cháy, chúng tơi nhận thấy:
- Thuật ngữ phịng cháy chữa cháy có thể là từ (từ đơn, từ
ghép) hoặc cụm từ, trong đó thuật ngữ là từ chiếm số lượng ít hơn so
với thuật ngữ là cụm từ, với 47/400 thuật ngữ (11,75 %), còn lại đại
đa số các thuật ngữphòng cháy chữa cháy là cụm từ 353/400
(88,25%). Thuật ngữphòng cháy chữa cháy là cụm từ có thể có từ
hai đến nhiều thuật tố (tối đa 11 thuật tố).
- Về cấu tạo, đa số các thuật ngữ phòng cháy chữa cháy là
danh từ hoặc cụm danh từ (41/47 thuật ngữ, chiếm 87,23%).
- . Về nguồn gốc, các thuật ngữphòng cháy chữa cháy chủ yếu
được tạo thành từ các thuật tố có nguồn gốc Hán Việt và ghép lai
giữa các thuật tố thuần Việt, Hán Việt.
Số lượng thuật ngữ có nguồn gốc Hán Việt hoặc ghép lai yếu
tố thuần Việt và Hán Việt có số lượng lớn với 41 đơn vị, chiếm tới
87,23%.
19
CHƢƠNG 3
ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH
CỦA THUẬT NGỮ PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY
TIẾNG VIỆT
3.1. Một số vấn đề về lí thuyết định danh
3.1.1. Khái niệm định danh
, có nhiều định nghĩa khác nhau về định danh song chúng tôi
nhận thấy rằng các tác giả đều nhất quán ở quan niệm xem định danh
là chức năng gọi tên sự vật, hiện tượng. Chúng tôi thống nhất với
định nghĩa này và sẽ sử dụng cách định nghĩa này xuyên suốt trong
luận văn.
3.1.2. Đơn vị định danh
Đơn vị định danh là cụm từ thì cụm từ có cấu tạo như thế nào
thì có chức năng định danh và các thuật ngữ là cụm từ thì phải đáp
ứng tiêu chu n nào để có thể định danh. Thường thì có sự tương ứng
một – một về cấu tạo đơn vị với việc định danh thuật ngữ, mỗi đặc
điểm định danh bao giờ cũng có một yếu tố hình thức thể hiện nó và
một thuật ngữ có bao nhiêu thuật tố sẽ có bấy nhiêu thuộc tính được
định danh.
3.1.3. Cơ chế định danh
Quá trình định danh một sự vật, tính chất hay q trình gồm
hai bước: quy loại khái niệm và chọn đặc trưng khu biệt mà các khái
niệm và đặc trưng khu biệt này đã có tên gọi hay phương tiện ngơn
ngữ biểu hiện. Sau đó, dùng các phương thức cấu tạo từ để kết hợp
các phương tiện ngôn ngữ này để tạo ra các đơn vị định danh. Nếu
một trong hai bước này mà có “biến thể” thì một sự vật hay quá trình
sẽ mang tên gọi khác nhau, tức là xuất hiện các tên gọi đồng nghĩa.
Chẳng hạn, sự quy loại khác nhau dẫn đến cách gọi khác nhau đối
với cùng một phương tiện giao thông: “tàu hỏa” và “xe hỏa”; “máy
bay” và “tàu bay”…
3.2. Đặc điểm định danh của hệ thuật ngữ phòng cháy
chữa cháy tiếng việt
3.2.1. Con đường hình thành thuật ngữ phòng cháy chữa cháy
tiếng Việt
Qua khảo sát 400 thuật ngữ phịng cháy chữa cháy, chúng tơi
20
nhận thấy hệ thuật ngữ phòng cháy chữa cháy được hình thành theo
những con đường: thuật ngữ hóa từ thơng thường, cấu tạo mới, vay
mượn từ thuật ngữ nước ngoài.
3.2.1.1. Thuật ngữ hóa từ thường
Con đường thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường là con đường
biến đổi và phát triển nghĩa của từ để tạo ra một nghĩa mới (nghĩa
thuật ngữ). Các thuật ngữ phịng cháy chữa cháy được hình thành
theo con đường thuật ngữ hóa từ thơng thường theo ba cách.
3.2.1.2. Cấu tạo mới
Con đường hình thành thuật ngữ khoa học phòng cháy chữa
cháy tiếng Việt bằng cách cấu tạo mới chủ yếu là ghép các yếu tố
ngôn ngữ sẵn có. Yếu tố sẵn có trước hết là các từ thơng thường.
Con đường hình thành thuật ngữ phịng cháy chữa cháy tiếng
Việt bằng cách cấu tạo mới không chỉ sử dụng yếu tố sẵn có là các từ
thơng thường trong vốn từ tồn dân mà cịn sử dụng yếu tố sẵn có là
các thuật ngữ của chính ngành phịng cháy chữa cháy và thuật ngữ
tiếng Việt của một số ngành khoa học khác. Con đường hình thành
thuật ngữ phịng cháy chữa cháy bằng cách cấu tạo mới còn theo lối
ghép lai.
3.2.1.3. Vay mượn từ thuật ngữ nước ngoài
a. Sao phỏng
Sao phỏng, thực chất của phương thức này là sử dụng những
yếu tố và mơ hình cấu tạo từ vựng tiếng Việt để dịch nghĩa những
thuật ngữ tương ứng trong tiếng nước ngoài. Thuật ngữ nước ngoài
được sử dụng trong tiếng Việt theo phương thức sao phỏng cấu tạo
từ và sao phỏng ý nghĩa.
b. Phiên âm
Phiên âm là phương thức vay mượn từ vựng bằng cách dựa
trên (phỏng theo) âm đọc của từ tiếng nước ngoài để ghi lại từ đó
bằng cách đọc, cách viết của tiếng Việt. Thuật ngữ phịng cháy chữa
cháy tiếng Việt được vay mượn bằng hình thức phiên âm chiếm tỉ lệ
rất ít trong hệ thống thuật ngữ này.
c. Giữ nguyên dạng
Cách vay mượn này sử dụng nguyên cách viết đơn vị từ vựng
của tiếng nước ngồi cịn cách đọc thì cố gắng đọc sát với các đọc
21
nguyên ngữ. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy cách vay mượn này
trong thuật ngữ phòng cháy chữa cháy tiếng Việt cũng khơng phổ
biến, chiếm tỉ lệ rất ít.
3.2.1.4. Tiếp nhận thuật ngữ từ các ngành khác trong tiếng
Việt
Quá trình tiếp nhận thuật ngữ từ các ngành khác của phòng
cháy chữa cháy diễn ra theo hai cách thức.
Một là tiếp nhận thuật ngữ của các ngành khác mà không làm
thay đổi ngữ nghĩa của chúng.
Hai là giữ nguyên hình thái nhưng thay đổi ngữ nghĩa của
thuật ngữ được tiếp nhận từ ngành khác. Sự thay đổi ngữ nghĩa này
thường diễn ra theo con đường n dụ hoặc hoán dụ giữa các đối
tượng trong ngành phòng cháy chữa cháy và các ngành khác.
3.2.2. Các đơn vị định danh của thuật ngữ phòng cháy chữa
cháy tiếng Việt
Xét về mặt nội dung biểu đạt của thuật ngữ phịng cháy chữa
cháy, chúng tơi chia các thuật ngữ được khảo sát thành hai loại:
- Loại thứ nhất có hình thức ngắn gọn là từ, chúng là các thuật
ngữ một thuật tố.
- Loại thứ hai được tạo ra từ loại thứ nhất.
3.2.3. Đặc điểm định danh của thuật ngữ phòng cháy chữa
cháy tiếng Việt xét theo kiểu ngữ nghĩa
Về đặc điểm định danh của tên gọi xét theo kiểu ngữ nghĩa, có
thể phân biệt tên gọi trực tiếp - tên gọi gián tiếp; tên gọi rộng - tên
gọi hẹp.
3.2.4. Đặc điểm định danh của thuật ngữ phòng cháy chữa
cháy tiếng Việt xét theo cách thức biểu thị
Có thể xét thuật ngữ phịng cháy chữa cháy từ phương diện
cách thức biểu thị khái niệm theo 3 tiêu chí sau: (1) Mối liên hệ giữa
cấu trúc bên ngồi và ý nghĩa của thuật ngữ (theo tính có lí do), (2)
mức độ kết thành một khối hay có thể phân tích thành từng bộ phận
của thuật ngữ, (3) dấu hiệu đặc trưng được lựa chọn làm cơ sở cho
định danh (hình thái bên trong).
3.2.4.1. Đặc điểm định danh của thuật ngữ phòng cháy chữa
trong đơn vị quản lý phòng cháy chữa cháy
22
Trong hệ thống phịng cháy chữa cháy có những những đối
tượng, khái niệm sau được định danh, đó là: Đối Các đơn vị tổ chức
quản lý các cấp lãnh đạo, phân loaị các đội phòng cháy tổ chức thực
hiện phòng cháy chữa cháy.
3.2.4.2 Đặc điểm định danh của thuật ngữ phòng cháy chữa
cháy trong phương tiện phòng cháy chữa cháy
a) Vật liệu phịng cháy chữa cháy: Mơ hình: Bột +X
b) Vật dụng phịng cháy chữa cháy: Mơ hình : Bình + X
c) Phương tiện giao thơng trong phịng cháy chữa cháy:
Mơ hình: Tàu + X
3.2.4.3. Đặc điểm định danh cuả thuật ngữ phịng cháy chữa
trong quản lí hệ thống phịng cháy chữa cháy
a) Các tính chất ,đặc điểm : Mơ hình: Cháy + X
b) Hoạt động trong hệ thống phịng cháy chữa cháy. Mơ hình
: Sơ đồ + X
3.2.4.4. Đặc điểm định danh cuả thuật ngữ phòng cháy chữa
trong cơ quan phòng cháy chữa cháy
a) Phương pháp phòng cháy chữa cháy: Mơ hình: Phịng
cháy chữa cháy + X
b) Chế độ biên bản, văn bằng chứng chỉ về phòng cháy chữa
cháy: Mơ hình: Văn bản + X
3.3. Tiểu kết
Chương 3 dành cho việc tìm hiểu đặc điểm định danh của các
thuật ngữ phòng cháy chữa cháy với 353 thuật ngữ phòng cháy chữa
cháy là cụm từ có từ 02 thuật tố trở lên. Các lớp thuật ngữ cấu thành
hệ thống thuật ngữ phòng cháy chữa cháy bao gồm: đơn vị quản lý
phòng cháy chữa cháy, phương tiện phòng cháy chữa cháy, quản lí
hệ thống phịng cháy chữa cháy, cơ quan phịng cháy chữa cháy.
23
KẾT LUẬN
Trên cơ sở nguồn tư liệu trên, chúng tôi đã thu thập
được 400 thuật ngữ phòng cháy chữa cháy và đã tiến hành nghiên
cứu những vấn đề như sau:
1. Giới thuyết về thuật ngữ với những khái niệm mới nhất, cập
nhật nhất theo nhiều quan niệm khác nhau từ các nhà Việt ngữ; khu
biệt thuật ngữ với các từ ngữ phi thuật ngữ; chỉ ra những tiêu chu n
của thuật ngữ; làm rõ một số nguyên tắc tạo lập thuật ngữ; tóm tắt
q trình hình thành thuật ngữ tiếng Việt và sự hình thành hệ thống
thuật ngữ phịng cháy chữa cháy trong tiếng Việt...
2. Nghiên cứu đặc điểm của thuật ngữ phòng cháy chữa cháy
tiếng Việt trên phương diện hình thức cấu tạo, nguồn gốc, qua đó đã
cho thấy sự đa dạng về cấu tạo của thuật ngữ phòng cháy chữa cháy
khơng chỉ ở chỗ nó bao gồm từ đơn, từ ghép, cụm từ. Trong cấu tạo
cụm từ với mơ hình cấu tạo: cụm đẳng lập, cụm chính phụ, cụm từ
nhiều thuật tố… Về nguồn gốc, đa số thuật ngữ phòng cháy chữa
cháy đều là từ hay cụm từ được tạo nên bởi các thuật tố là từ Hán –
Việt.
3. Chúng tơi đồng thời đã tổng hợp những lí thuyết về định
danh một cách cơ bản nhất bao gồm: khái niệm định danh, đơn vị
định danh, cơ chế định danh. Luận văn cũng đã chỉ ra các con đường
hình thành thuật ngữ phòng cháy chữa cháy tiếng Việt: thuật ngữ hóa
từ thường, cấu tạo mới, vay mượn từ thuật ngữ nước ngoài, tiếp nhận
thuật ngữ từ các ngành khoa học khác trong tiếng Việt. Luận văn đã
thống kê cụ thể về số lượng của các đơn vị định danh cơ bản trong
tổng số các thuật ngữ được nghiên cứu, khái qt thành mơ hình cụ
thể đối với các đơn vị định danh phức hợp trong 4 lĩnh vực phòng
cháy chữa cháy: đơn vị quản lý phòng cháy chữa cháy, phương tiện
phịng cháy chữa cháy, quản lí hệ thống phịng cháy chữa cháy, cơ
quan phòng cháy chữa cháy. Trên cơ sở đó, luận văn là tiền đề cho
các nghiên cứu tiếp theo về cách thức hoàn thiện và khắc phục
những bất cập trong cơ chế định danh của hệ thống thuật ngữ phòng
cháy chữa cháy tiếng Việt.
4. Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài chính là vấn đề
chu n hóa thuật ngữ phịng cháy chữa cháy tiếng Việt trong giai