Tải bản đầy đủ (.pdf) (24 trang)

ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP CỦA “TRUYỆN CỔ VIẾT LẠI” SAU 1975 10600931

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (672.9 KB, 24 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN THỊ KIỀU THU

ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP
CỦA “TRUYỆN CỔ VIẾT LẠI” SAU 1975

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60.22.34

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đà Nẵng - Năm 2012


Cơng trình được hồn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

Người hướng dẫn khoa học: TS. BÙI THANH TRUYỀN

Phản biện 1: TS. NGƠ MINH HIỀN

Phản biện 2: TS. HỒNG SỸ NGUN

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận
văn tốt nghiệp thạc sỹ Khoa học Xã hội và Nhân văn họp
tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 01 tháng 12 năm 2012

Có thể tìm luận văn tại:


- Trung tâm Thơng tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng


MỞ ĐẦU
1. TÍ NH CẤP THIẾT CỦ A ĐỀ TÀ I
1.1. Trong quá trình tồn tại và phát triển, văn học dân gian
(VHDG) và văn học viết Việt Nam là hai hệ thống tồn tại song song.
Mặc dù có những đặc trưng và phương thức phản ánh hiện thực khác
nhau nhưng giữa chúng ln có sự ảnh hưởng và tác động qua lại,
góp phần làm phong phú, đa dạng cho nền văn học dân tộc.
VHDG từ lâu đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Việt
Nam nói chung và người nghệ sĩ nói riêng, trở thành kho kinh
nghiệm, đề tài cho bao thế hê ̣ người cầm bút. Có rất nhiều nhà thơ,
nhà văn từ văn ho ̣c trung đa ̣i đế n văn ho ̣c hiê ̣n đa ̣i như Nguyễn Du,
Hồ Xn Hương, Nguyễn Bính, Tơ Hoài, Nguyễn Huy Thiệp… đã kế
thừa những tinh hoa của cội nguồn dân tộc. Ảnh hưởng của VHDG
đối với nền văn học viết diễn ra ở nhiều phương diện.
1.2. Sau 1975, trong bối cảnh xã hội nửa cuối thế kỉ XX đầu thế
kỉ XXI, với sự du nhập ồ ạt của văn hóa phương Tây, văn hóa đơ thị
trỗi dậy mạnh mẽ thì mảng truyện ngắn tìm về với cổ tích, với những
huyền thoại là một hướng đi có phần mới mẻ và khác lạ. Các sáng tác
viết theo xu hướng này có điểm tựa là những huyền thoại đã in sâu
trong tiềm thức của mỗi con người Việt Nam. Nằm trong quy luật
phát triển chung của văn học nhân loại: hiê ̣n tươ ̣ng “tái huyền thoại
hóa”, những Truyện cổ viết lại ở Việt Nam là kết quả của sự vận
động và phát triển từ nội lực truyền thống văn học dân tô ̣c. Sự tham
gia của nhiều tác giả vào mảng đề tài này đã góp phần hình thành
một bô ̣ phâ ̣n văn học với hệ thống thi pháp tiêu biểu.
1.3. Các cơng trình nghiên cứu về mảng sáng tác theo phong cách

Truyê ̣n cổ viết lại trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 tương đối


nhiều nhưng nhìn chung chưa nhấn mạnh, đào sâu vào đặc trưng thi
pháp của nó; vì thế chưa đánh giá hết được vị thế của Truyê ̣n cổ viế t
la ̣i trong q trình hiện đại hóa nền văn học sau 1975.
Truyện ngắn Sự tích những ngày đẹp trời của Hòa Vang,
Truyện cổ viết lại của Lê Đạt và Lê Minh Hà, Trương Chi của
Nguyễn Huy Thiệp, Câu hát của Lưu Sơn Minh… đã làm nên một
dòng riêng trong văn xi Việt Nam sau 1975, góp phần tạo nên sự
đa dạng cho nền văn học đương đại nước nhà. Khẳng định những giá
trị thẩm mĩ đặc thù và sức lan tỏa của những sáng tác theo phong
cách “lạ mà quen” này là chủ trương, mục đích mà chúng tơi kì vọng
qua đề tài Đặc điểm thi pháp của Truyê ̣n cổ viế t la ̣i sau 1975.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Từ việc hệ thống hóa và làm sáng tỏ được những đặc điểm thi
pháp cơ bản của dạng truyê ̣n ngắ n viế t theo phong cách Truyê ̣n cổ
viết lại trong văn xuôi sau 1975, đề tài giúp độc giả có được một cái
nhìn bao qt về q trình sinh thành, diện mạo, đặc trưng cùng
những đóng góp của nó cho đời sống văn học Việt Nam đương đại.
Trên tinh thần đó, nghiên cứu này cũng góp phần nâng cao nhận thức
của người đọc về mối quan hệ giữa VHDG và văn học viết, sức sống
và ảnh hưởng của văn học truyền miệng trong văn học thành văn. Kết
quả khoa học của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo phù hợp trong
giảng dạy, học tập và nghiên cứu văn học ở nhà trường.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Sự cách tân nghê ̣ thuâ ̣t trong da ̣ng Truyê ̣n cổ viế t la ̣i thể hiê ̣n
khá rõ trong văn xuôi sau 1975, đặc biệt là trong truyện ngắn. Nghiên
cứu đặc điểm thi pháp của mảng sáng tác này, đề tài hướng trọng tâm

tìm hiểu một số bình diện cơ bản như: nhân vật, không gian nghê ̣


thuâ ̣t, thời gian nghê ̣ thuâ ̣t, cố t truyê ̣n, giọng điệu trần thuật và ngôn
từ nghệ thuật.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi tự ha ̣n định phạm vi nghiên cứu trên
một số tác phẩ m, tâ ̣p truyê ̣n ngắ n của các nhà văn đương đa ̣i tiêu
biể u: Trương Chi (Nguyễn Huy Thiê ̣p), Truyê ̣n cổ viế t la ̣i (Lê Đa ̣t
và Lê Minh Hà), Sự tích những ngày đe ̣p trời (Hòa Vang), Câu hát
(Lưu Sơn Minh), … Ngoài ra, để thuận lợi cho việc đối chiếu, chúng
tôi còn khảo sát mô ̣t số truyê ̣n ngắ n của các tác giả khác như: Lương
Minh Hinh, Chu Văn, Võ Thi ̣Hảo…
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu, triển khai luận văn chúng tôi sử
dụng và phối hợp các phương pháp sau đây:
- Phương pháp thố ng kê
- Phương pháp phân tích – tổ ng hơ ̣p
- Phương pháp so sánh
5. BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liê ̣u tham khảo, Nô ̣i dung của
luận văn gồm ba chương:
- Chương 1: Truyê ̣n cổ viết lại trong đời sống văn xuôi Việt Nam
đương đại
- Chương 2: Thế giới hình tượng của Truyê ̣n cổ viết lại
- Chương 3: Phương thức trần thuật của Tru ̣n cở viết lại
6. TỞNG QUAN TÀ I LIỆU NGHIÊN CỨU
6.1. Những bài viết, cơng trình đề cập đến yếu tố cổ tích
trong văn học đương đại nói chung
Trong bài viết Để tiến tới xác định rõ ràng hơn nữa vai trò làm

nền của VHDG trong lịch sử văn học dân tộc, Nguyễn Đình Chú


khẳng định: “Chính văn học dân gian là nền tảng của sự phát triển kết
tinh của văn học dân tộc”… [6].
Trong cơng trình Vai trị của VHDG Việt Nam trong văn xuôi
Việt Nam hiện đại, tác giả Võ Quang Tro ̣ng đã chỉ ra mối quan hệ
giữa hai bộ phận văn học này của các nhà nghiên cứu ở châu Âu, đặc
biệt là ở nước Nga. Người viết đặc biệt nhấn mạnh đến tình hình
nghiên cứu vấn đề này ở Việt Nam, đồng thời đề cao chức năng thẩm
mĩ của VHDG trong văn xuôi Việt Nam hiện đại trong việc xây dựng
nhân vật kể chuyện…[53].
6.2. Những bài viết đề câ ̣p đế n yếu tố cổ tích và những
phương diêṇ thi pháp trong tác giả và tác phẩm truyêṇ ngắ n Viêṭ
Nam đương đa ̣i
6.2.1. Về Truyê ̣n cổ viết lại của Nguyễn Huy Thiệp
Trên văn đàn Việt Nam đương đại, sáng tác của Nguyễn Huy
thiệp trở thành một “hiện tượng”. Trong đó, mảng Truyện cở viết lại
của nhà văn này cũng được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học
quan tâm.
Đoàn Hương trong bài viết Nguyễn Huy Thiệp - người kể
chuyện cổ tích hiện đại đã chú trọng “cách viết” của Nguyễn Huy
Thiệp. Theo bà, nhà văn đã biết quý trọng vẻ đẹp của sự thật, của
hiện thực: “Cách kể chuyện đơn giản bằng ngôn ngữ của nhân vật là
thi pháp có từ trong truyền thống như đã từng có trong truyện cổ tích
Việt Nam” [24].
Trong Đối thoại với VHDG và bản lĩnh của người viết, tác
giả Lê Đình Kỵ đã làm phép đối chiếu, so sánh giữa nhân vật Trương
Chi của truyện cổ và Trương Chi của Nguyễn Huy Thiệp và nhận



xét: “Dù sao Nguyễn Huy Thiệp có được ý nghĩ cũng là nương nhờ
bóng thiên tài dân gian” [32].
6.2.2.

Truyện cở viế t la ̣i của Lê Đạt và Lê Minh Hà

Nhâ ̣n xét về da ̣ng Truyê ̣n cổ viế t la ̣i của Lê Đa ̣t, tác giả Trầ n Nhã
Thu ̣y trong bài viế t Truyê ̣n ngắ n của phu chữ Lê Đa ̣t nhâ ̣n xét rằ ng:
“Cái thú vi,̣ đô ̣c đáo trong truyê ̣n ngắ n Lê Đa ̣t là từ những điể n cố
văn nghê ̣, tư liê ̣u nhân vâ ̣t, ông đã phu ̣c dựng những câu chuyê ̣n sinh
đô ̣ng đế n từng chi tiế t. Lê Đa ̣t không chỉ giỏi vẽ những nét chân dung
mà còn tài tiǹ h trong viê ̣c ta ̣o không khi…
́ ” [51].
Tác giả Văn Giá trong bài viế t Một ngã rẽ thú vi ̣ của truyê ̣n
ngắ n Viê ̣t Nam sau 1986, qua viê ̣c phân tích tác phẩ m Gióng, đã
nhâ ̣n xét về những tác phẩ m của Lê Minh Hà: “Xét về phương diê ̣n
thể loa ̣i là ở đó Lê Minh Hà đã ta ̣o tác những lớp nghiã mới cho
huyề n thoa ̣i xưa” [16].
6.2.3.

Mảng Truyê ̣n cổ viế t la ̣i của Hòa Vang

Tác giả Hồ Anh Thái trong bài viết Họ trở thành nhân vật của
tơi nhận xét những tác phẩm của Hịa Vang chứa đựng nhiều yếu tố
hiện thực kỳ ảo. Nhiều tác phẩm của ơng, đặc biệt là truyện ngắn Sự
tích những ngày đẹp trời đậm đặc yếu cổ tích [43].
Bài viết Hịa Vang - một hồn văn cổ tích của tác giả Văn Giá đã
đề câ ̣p khá ki ̃ về da ̣ng truyê ̣n viế t theo lố i cổ tić h, huyề n thoa ̣i của cây
bút này: “Văn chương Hòa Vang lúc nào cũng mang một điệu hồn cổ

tích”. Tác giả cho rằng: “Khơng phải ngẫu nhiên mà những truyện
thành cơng nhất của Hịa Vang đều được gợi tứ từ huyền thoại gốc,
hoặc là từ vốn văn hóa văn học truyền thống…” [17].
6.2.4.

Mảng Tru ̣n cở viế t la ̣i của Võ Thị Hảo

Đọc tập truyện Biển cứu rỗi của Võ Thị Hảo, Đoàn Minh Tuấn
cho rằng yếu tố cổ tích đóng vai trị quan trọng làm nên điểm sáng tư


tưởng của nó. Cũng với tác phẩm này, tác giả Bùi Việt Thắng nhận
xét Võ Thị Hảo “như là người kể chuyện cổ tích hiện đại… Nhân vật
của Võ Thị Hảo thường có nét di ̣dạng khác người nhưng tâm hồn họ
thánh thiện giàu lòng vị tha và đức hi sinh - hi sinh mình để cứu rỗi
kẻ khác” [61].
Ngoài những bài viết tiêu biểu vừa nêu, một số nhà nghiên cứu
thảng hoặc cũng đề cập đến yế u tố cổ tích trong sáng tác của Y Ban,
Đoàn Lê, Lương Minh Hinh, Chu Văn, Lưu Sơn Minh… Tinh thần
chung đều ghi nhận những đóng góp của họ trong việc mới hóa văn
học đương đại từ nỗ lực tiếp biến di sản văn học quá khứ.
Dù chưa bao quát tất cả, nhưng những cơng trình trên đây, trong
một chừng mực nào đó, cũng cho thấy Truyện cổ viết lại là một mảng
sáng tác thâ ̣t sự mới mẻ trong dàn “hơ ̣p xướng” truyê ̣n ngắ n Việt
Nam đương đa ̣i.


Chương 1
TRUYỆN CỔ VIẾT LẠI
TRONG ĐỜI SỐNG VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

1.1. KHÁI QUÁT TRUYỆN CỔ VIẾT LẠI
1.1.1. Khái niệm Truyêṇ cổ viết lại
Từ sau 1975, đă ̣c biê ̣t sau 1986, người ta thấ y xuấ t hiê ̣n mô ̣t
hiê ̣n tươ ̣ng la ̣ đó là sự xâm nhâ ̣p của huyề n thoa ̣i vào đời số ng nghê ̣
thuâ ̣t: âm nha ̣c, điê ̣n ảnh, văn ho ̣c… Đă ̣c biê ̣t huyề n thoa ̣i, cổ tić h trở
thành “mô ̣t ngã rẽ thú vi”̣ của truyê ̣n ngắ n Viê ̣t Nam đương đa ̣i. Quá
trình tiế p nhâ ̣n những áng cổ tích, thầ n thoa ̣i, truyề n thuyế t… đươ ̣c
đô ̣i ngũ những người sáng tác văn ho ̣c đón nhâ ̣n dưới nhiề u hình
thức, cấ p đô ̣ khác nhau. Chiń h điề u này đã làm cho những tác phẩ m
trong giai đoạn này mang nhiề u nét mới. Đây đươ ̣c xem là hiǹ h thức
chế tác đă ̣c biê ̣t. Trên văn đàn truyê ̣n ngắ n đương đa ̣i, người ta thấ y
xuấ t hiê ̣n hai khái niê ̣m: truyê ̣n giả cổ tić h và Truyê ̣n cổ viế t la ̣i.
Truyê ̣n ngắ n giả cổ tić h là các tác phẩ m đươ ̣c viế t theo phong cách
của huyề n thoa ̣i, truyề n thuyế t hay cổ tić h nhưng ẩ n đằ ng sau đó là
những tự sự hiê ̣n đa ̣i về con người và xã hô ̣i đương thời. Nó không
phải là truyê ̣n cổ đúng nghiã , chiń h xác hơn cũng giố ng như cổ tích
văn ho ̣c, nó chỉ là mô ̣t thứ truyê ̣n cổ thời hiê ̣n đa ̣i, mang đầ y hơi thở
của cuô ̣c số ng hôm nay. Ở đó, tiń h chấ t của truyê ̣n cổ làm giả đã ta ̣o
cho nhà văn có điề u kiê ̣n thuâ ̣n lơ ̣i để thể hiê ̣n cá tính đồ ng thời bô ̣c
lô ̣ quan điể m, thái đô ̣ và trách nhiê ̣m công dân của miǹ h. Truyê ̣n cổ
viế t la ̣i sử du ̣ng những mẩ u chuyê ̣n xưa hay mô ̣t số tić h cũ làm vâ ̣t
liê ̣u để kiế n ta ̣o nên tác phẩ m mới. Đó có thể là những chuyê ̣n cổ
tích, những huyề n thoa ̣i hay những truyề n thuyế t. Cũng là truyê ̣n cổ
dân gian, nhưng cổ tić h trong quá trình tiế p nhâ ̣n đươ ̣c các tác giả sử


du ̣ng để viế t la ̣i nhiề u hơn so với thầ n thoa ̣i và truyề n thuyế t. Nó là
những truyê ̣n ngắ n hiê ̣n đa ̣i có điể m tựa là những truyê ̣n cổ dân gian
của Viê ̣t Nam hoă ̣c của nước ngoài.
1.1.2. Truṇ cở viết lại - hình thức kể chuyện hiêṇ đa ̣i trên

cơ sở kế thừa từ VHDG
Hiǹ h thức mươ ̣n xưa để nói nay đã là truyề n thố ng từ trước, nay
đươ ̣c phát triể n hơn nữa nhằ m chuyên chở những thông điê ̣p không
tiê ̣n nói ra trực tiế p nên mươ ̣n vỏ bo ̣c của chuyê ̣n xưa người cũ như
vâ ̣y vừa hiê ̣u quả vừa ít bi ̣bắ t bẻ. Ở da ̣ng truyê ̣n ngắ n Truyê ̣n cổ viế t
la ̣i, các nhà văn không chỉ làm mới cố t truyê ̣n cũ mà còn sử du ̣ng mô ̣t
số hình thức khác. Ở truyê ̣n cổ tích, gio ̣ng điê ̣u, ngôn ngữ của nhân
vâ ̣t trong các truyê ̣n cổ tić h it́ biể u cảm, thiên về miêu tả nhân vâ ̣t và
nhân vâ ̣t chỉ đươ ̣c chú trọng hành đô ̣ng, không hoặc ít có diễn biế n
nô ̣i tâm. Trong khi đó, với các Truyê ̣n cổ viế t la ̣i, nhân vâ ̣t không chỉ
đươ ̣c miêu tả nô ̣i tâm đa da ̣ng mà còn có rấ t nhiề u đố i thoa ̣i, thâ ̣m chí
là đô ̣c thoa ̣i. Ở đó, những nhân vâ ̣t truyê ̣n cổ luôn bi ̣ đóng khung
trong những khuôn phép chuẩ n mực nay trở thành những con người
hiê ̣n đa ̣i từ ngoại hình, hành động, lời nói đến tính cách. Bên ca ̣nh đó,
những truyê ̣n ngắ n viế t theo phong cách Truyê ̣n cổ viế t la ̣i tự thân
mang khả năng phản ánh đa da ̣ng hiê ̣n thực cuô ̣c số ng thông qua bố
cu ̣c phức ta ̣p, hiǹ h thức kế t cấ u tác phẩ m phong phú.
Người sáng tác Truyê ̣n cổ viế t la ̣i không phủ đinh
̣ sa ̣ch trơn
những thành tựu của VHDG mà đã kế thừa những yế u tố trong truyê ̣n
truyền thống và nỗ lực gia công, làm mới. Nhà văn đã thay đổ i hiǹ h
thức kể chuyê ̣n vố n khô cứng như những công thức cố đinh
̣ thành
hiǹ h thức kể chuyê ̣n mới mẻ, sáng ta ̣o. Người viế t mươ ̣n vẻ đe ̣p kì
diê ̣u trong những câu chuyê ̣n xưa để diễn tả những điề u ngơn ngữ,
tâm lí hiện đại khó nói tường tận, đủ đầy. Mo ̣i tiế p nhâ ̣n từ VHDG


trở thành phương tiê ̣n nghê ̣ thuâ ̣t đắ c lực để thể hiê ̣n tư tưởng nghê ̣
thuâ ̣t của nhà văn.

1.2. TRUYỆN CỔ VIẾT LẠI TRONG NỀN VĂN XI VIỆT
NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.2.1. Diện mạo của Truṇ cở viết lại trong nền văn xuôi
đương đại Việt Nam
Văn ho ̣c sau 1975 có thể đi sâu phản ánh mo ̣i ngóc ngách của
cuô ̣c số ng của con người mà văn ho ̣c trước đây chưa có điề u kiê ̣n làm
đươ ̣c. Đă ̣c biê ̣t sau đa ̣i hô ̣i Đảng lầ n thứ VI (1986) - mô ̣t dấ u mố c
quan tro ̣ng trong đời số ng văn ho ̣c Viê ̣t Nam trên cơ sở tinh thầ n đổ i
mới của đấ t nước - đã ta ̣o điề u kiê ̣n cho văn ho ̣c áp sát đời số ng, tâm
hồ n con người, thay đổi cách nhìn, cách quan niê ̣m về con người theo
đúng bản chấ t của nó. Những nhân tố trên đã trở thành mảnh đấ t màu
mỡ cho văn ho ̣c đương đại phát triể n ma ̣nh mẽ với sự phong phú, đa
da ̣ng về đề tài, thể loa ̣i, mới mẻ về thủ pháp, hiǹ h thức biể u hiê ̣n và
chiề u sâu tư tưởng. Sự xuấ t hiê ̣n của Truyê ̣n cổ viế t la ̣i với hình thức
không chỉ đa da ̣ng, phong phú mà pha ̣m vi phản ánh cũng rấ t rô ̣ng,
đề câ ̣p đế n mo ̣i vấ n đề trong đời số ng, đă ̣c biê ̣t là mơ ̣t sớ vấ n đề mang
tính nha ̣y cảm trong xã hô ̣i hiê ̣n đa ̣i, giúp độc giả hiể u thêm về mố i
quan hê ̣ giữa đời số ng văn ho ̣c và hiện thực xã hô ̣i. Hiǹ h thức chế tác
đă ̣c biê ̣t, góp phần mang lại sinh khí, diện mạo mới cho văn xi
hơm nay trên tham vọng đầy tính nhân văn của đội ngũ sáng tác là
tạo lực để văn học nước nhà “đến hiện đại từ truyền thống”.


1.2.2. Vai trị của Truṇ cở viết lại trong tiến trình phát
triển của văn xi đương đại Việt Nam
Tru ̣n cổ viế t la ̣i, với mô ̣t hình thức kể chuyê ̣n đô ̣c đáo, mới
mẻ trong dòng văn ho ̣c đương đa ̣i; giúp người viết chuyể n tải cách
nhìn, cách nghĩ cùng lương tâm, trách nhiệm của mình trước sự đa
diện, đa chiều của cuộc sống, con người thời đổi mới. Ở đó, các nhà
văn không chỉ đứng từ quan điể m giáo huấ n đa ̣o đức – luân lý, mà ho ̣

thường bắ t đầ u từ tâm tra ̣ng và những số phâ ̣n cá nhân. Ho ̣ tự đă ̣t
miǹ h vào vi ̣ trí của nhân vâ ̣t cổ tích, thầ n thoa ̣i và thử số ng cuô ̣c đời
riêng của mỗi người trong đó. Và cũng dễ nhâ ̣n thấ y, bằ ng quá triǹ h
cá nhân hóa, chủ quan hóa và giải dân gian, truyê ̣n cổ viế t la ̣i đã góp
phầ n quan tro ̣ng trong viê ̣c biế n đổ i các cấ u trúc tiể u thuyế t và truyê ̣n
ngắ n Việt Nam đương đại. Bên ca ̣nh đó, Truyê ̣n cổ viế t la ̣i sử du ̣ng
huyề n thoa ̣i, cổ tić h không theo mô thức thuâ ̣n chiề u có lúc ngươ ̣c la ̣i
hoàn toàn những cảm hứng vố n đã bề n vững trong tiề m thức dân
gian. Sự sáng ta ̣o ở đây không phải là phủ nhâ ̣n quá khứ, khước từ
các giá tri ̣ truyề n thố ng mà dùng truyề n thố ng để soi ngắm những
hiê ̣n tươ ̣ng đa chiề u, phức ta ̣p trong xã hô ̣i hiê ̣n đa ̣i. Sự sáng ta ̣o của
nghê ̣ si ̃ theo hướng này hoàn toàn không bi ̣ phu ̣ thuô ̣c từ nô ̣i dung,
hình thức của tác phẩ m dân gian; nhờ thế phản ánh đươ ̣c những tâm
tư, tiǹ h cảm, tâm lý của con người thời hiê ̣n đa ̣i. Như vậy, sẽ khơng
q võ đốn khi cho rằng, Truyê ̣n cổ viế t la ̣i đã thực sự có vai trò
quan tro ̣ng nhằm góp phần phong phú hóa, hiện đại hóa văn xi
Việt Nam đương đại.


Chương 2
THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG
CỦA TRỤN CỞ VIẾT LẠI
2.1. NHÂN VẬT
2.1.1. Nhân vật mang vẻ đẹp huyền thoại, cổ tích
Thế giới hình tươ ̣ng nhân vâ ̣t trong Truyê ̣n cổ viế t la ̣i đươ ̣c
các nhà văn hiê ̣n đa ̣i cũng lồ ng vào hơi thở của thời hiê ̣n đa ̣i, dù có
nhiều trắc trở trong cuộc đời nhưng những nhân vật trong Truyện cổ
viết lại điều hạnh phúc với những gì mình lựa chọn. Như vâ ̣y có thể
nhiǹ thấ y thế giới hiǹ h tươ ̣ng nhân vâ ̣t trong Truyê ̣n cố viế t la ̣i, mô ̣t
mă ̣t bi ̣ chi phố i bởi cái nhiǹ cổ tích, nhưng trên hế t đó là sự sáng ta ̣o

mang đâ ̣m nét hiê ̣n đa ̣i của những cây bút đương đa ̣i làm cho nhân
vâ ̣t gầ n gũi, mang chuyê ̣n thế sự của thời đa ̣i chúng ta đang số ng.
2.1.2. Nhân vật mang dáng vẻ của con người hiện đại
Kế thừa nhân vâ ̣t “siêu mẫu” trong truyê ̣n kể dân gian, nhà
văn hiê ̣n đa ̣i qua hin
̀ h thức Truyê ̣n cổ viế t la ̣i không chủ tâm viế t la ̣i
câu chuyê ̣n cổ mà chủ yế u thể hiê ̣n những vấ n đề của cuô ̣c số ng hiê ̣n
đa ̣i. Trong da ̣ng truyê ̣n ngắ n Truyê ̣n cổ viế t la ̣i, sự phân tuyế n đã bi ̣
xóa bỏ, nhân vâ ̣t mang đa tiń h cách với tấ t cả mă ̣t đố i lâ ̣p xen cài.
Nghiã là nhà văn đã phá bỏ quy luâ ̣t nhâ ̣n thức bấ t biế n trong truyê ̣n
cổ tić h, ta ̣o sự hỗn đô ̣n trong tư duy nhân vâ ̣t. Bằ ng cách kế thừa
những nhân vâ ̣t siêu mẫu, các nhà văn của da ̣ng Truyê ̣n cổ viế t la ̣i đã
đố i thoa ̣i với VHDG nhưng trên hế t những hiê ̣n thực cuô ̣c số ng,
những tố t - xấ u, hiề n - dữ, thâ ̣t - giả… đã đươ ̣c phơi bày.
2.1.3. Nhân vật mang tính phổ quát – triết lý
Trong da ̣ng truyê ̣n ngắ n Truyê ̣n cổ viế t la ̣i, mô ̣t số nhà văn
đã sử du ̣ng yế u tố phổ quát – triế t lý trong ngu ̣ ngôn dân gian trong


viê ̣c ta ̣o ra nhiề u tầ ng nghiã cho tác phẩ m. Trước những giá tri ̣nguồ n
cô ̣i tưởng như đã ổ n đinh,
̣ những nhà văn như: Hòa Vang, Lê Đa ̣t, Lê
Minh Hà, Nguyễn Huy Thiê ̣p… đã nghi ̃ la ̣i, đánh giá la ̣i dựa trên
những khai phóng tư duy của con người hiê ̣n đa ̣i. Nế u quá khứ là mô ̣t
văn bản tiñ h thì những nhà văn ấ y đo ̣c la ̣i chúng với mô ̣t ngữ nghiã
mới, một suy ngẫm và trải nghiệm mới, đem la ̣i cho văn bản mô ̣t hàm
nghiã số ng đô ̣ng, mới mẻ.
2.2. KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
Trong những truyê ̣n ngắ n viế t theo phong cách Truyê ̣n cổ
viế t la ̣i, chúng ta bắ t gă ̣p không gian mang âm hưởng cổ tić h. Những

không gian nghê ̣ thuâ ̣t này hiê ̣n diê ̣n trong tác phẩ m mang hương vi ̣
riêng và la ̣ trong dòng truyê ̣n ngắ n đương đa ̣i.
2.2.1. Không gian đậm tính kì ảo
Nế u tru ̣n cở tić h có không gian kì ảo như thiên phủ, điạ
phủ, thủy phủ… trong Truyê ̣n cổ viế t la ̣i, kiể u không gian này cũng
trùng điê ̣p. Nhờ vào khả năng hư cấ u nghê ̣ thuâ ̣t, không gian kì ảo
mở ra nhiề u cảnh số ng đô ̣ng. Không gian thiên đình gắ n với nhân vâ ̣t
huyề n thoa ̣i. Tuy nhiên không gian chỉ mang tiń h chấ t tươ ̣ng trưng.
Không gian thủy cung cũng thăng hoa ở nhiề u cấ p đô ̣ trong “ý niê ̣m”.
Cho dù ở thiên đình, thủy phủ hay điạ phủ thì không gian kì ảo trong
truyê ̣n cổ tić h vẫn mang màu sắ c hiê ̣n đa ̣i. Nế u loa ̣i bỏ yế u tố con
người thầ n thánh tồ n ta ̣i trong không gian huyề n ảo thì cách miêu tả
không gian thiên đình, thủy cung hay âm phủ trong Truyê ̣n cổ viế t la ̣i
chẳ ng khác gì không gian đời số ng con người.
2.2.2. Không gian trần tục
Lê Trường Phát, trên cơ sở xem xét các phương diện bản thể,
đã cho rằng khơng gian cổ tích thần kì có hai dạng: Khơng gian cuộc
sống trần thế và khơng gian kì ảo phi trần thế. Tiế p nhâ ̣n từ VHDG,


không gian trong Truyê ̣n cổ viế t la ̣i cũng hướng đế n không gian trầ n
thế gắ n với lao đô ̣ng sinh hoa ̣t của người dân quê. Đây là không gian
vố n hấ p dẫn nhà văn bởi vẻ đe ̣p nguyên sơ của nó góp phầ n làm diụ
lòng con người hiê ̣n đa ̣i trong cuô ̣c số ng đầ y phức ta ̣p, xô bồ .
2.2.3. Sự giao thoa giữa hai không gian thần tiên - trần thế
Hiê ̣n diê ̣n trong truyê ̣n ngắ n Truyê ̣n cổ viế t la ̣i là kiể u không
gian hư cấ u đâ ̣m tiń h chấ t “ý niê ̣m”. Song vấ n đề muôn thuở trong
văn ho ̣c vẫn là con người, do vâ ̣y không gian hư cấ u – nơi ở của thầ n
tiên không hề tách biê ̣t với thế giới con người dù sơ ̣i dây liên la ̣c đôi
lúc mỏng manh, mờ nha ̣t. Sự gắ n kế t giữa con người và thánh thầ n là

đă ̣c điể m không gian trong cổ tích – kiể u không gian không cản trở.
Tính không cản trở của không gian đã ta ̣o cho nhân vâ ̣t nhiề u khả
năng phi thường. Con người đi và về giữa hai thế giới thiên điǹ h và
cõi trầ n, thủy cung với trầ n thế đươ ̣c mở rô ̣ng đế n vô biên.
2.3. THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
Khác với thời gian khách quan đươ ̣c đo bằ ng đồ ng hồ và
lich,
̣ thời gian nghê ̣ thuâ ̣t có thể đảo ngươ ̣c có thể quay về quá khứ,
có thể bay vươ ̣t tới tương lai xa xôi, có thể dồ n nén mô ̣t khoảng thời
gian dài trong chố c lát thành vơ tâ ̣n. Nó cũng đươ ̣c đo bằ ng nhiề u
thước đo khác nhau, có thể đó là sự lă ̣p la ̣i đề u đă ̣n của các hiê ̣n
tươ ̣ng đời số ng đươ ̣c, cái chế t, là sự gă ̣p gỡ, chia tay, mùa này, mùa
khác…
2.3.1. Thời gian phiế m chỉ, tăng tố c, đứt quãng
Truyê ̣n cổ viế t la ̣i nghiêng về nhâ ̣n thức. Nhà văn xâm nhâ ̣p vào
thực ta ̣i, tìm hiể u những dư chấ n từ cuô ̣c số ng khắ c nghiê ̣t. Sự chông
chênh trên ranh giới thực và ảo, hiê ̣n ta ̣i và quá khứ có giá tri ̣nghê ̣ thuâ ̣t
đă ̣c sắ c. Hình thức “nha ̣i thời gian” khiế n người đo ̣c dễ dàng hòa lẫn vào
khoảng không mơ hồ , thâ ̣t giả lẫn lô ̣n. Dường như thời gian bi ̣lẫn khuấ t


đi trong lễ hô ̣i hóa trang, người đo ̣c cho dù có nhâ ̣n ra vi ̣ trí của miǹ h ở
hiê ̣n ta ̣i cũng bi ̣ cuố n đi theo cơn lố c của trò ảo thuâ ̣t ngôn từ. Đến với
Truyện cổ viết lại, người đo ̣c còn được tiế p câ ̣n với mô ̣t kiể u thời gian
tăng tố c, đứt quãng. Giữa vòng thời gian khép kín, người nghê ̣ si ̃ dân
gian đã gián cách hóa thời điể m nhưng cớ ý trùng lă ̣p các tiǹ h tiế t, sự
kiê ̣n. Đây vừa là đă ̣c điể m của truyê ̣n cổ tích những đồ ng thời cũng là
cũng là đă ̣c trưng của truyê ̣n ngắ n hiện đại.
2.3.2. Thời gian nghịch đảo, đan xen
Sự luân phiên phố i hơ ̣p nhiề u dòng thời gian khiến trường

quan sát của người kể chuyê ̣n không cố đinh
̣ mà luôn thay đổ i theo
mo ̣i chiề u kích: xa – gầ n, quá khứ – hiê ̣n ta ̣i, chủ quan – khách
quan… làm tăng sự linh hoa ̣t trong tiế p nhâ ̣n và tính đa nghiã của tác
phẩm. Đây cũng là chiế c chià khóa để nhà văn dầ n hé mở bức màn
nô ̣i tâm của nhân vâ ̣t và là nhân tố thể hiê ̣n rõ tiń h hiê ̣n đa ̣i của văn
xuôi thời kì đổ i mới.
2.3.3. Thời gian mang tính chất hiện tại hóa
Giữa lúc người đo ̣c đang phiêu diêu trong thế giới huyề n
thoa ̣i, cổ tić h, nhà văn la ̣i đô ̣t ngô ̣t kéo ho ̣ về với hiê ̣n ta ̣i bằ ng cách
cho hiể n thi ̣trong hầ u hế t các truyê ̣n bóng dáng của người dẫn truyê ̣n
với những quan điể m, đánh giá, lí giải… đầ y tính triế t lí của con
người hiê ̣n đa ̣i lấ y hê ̣ quy chiế u không phải là cái “ngày xửa ngày
xưa” mà là cái “bây giờ”. Điề u đó khiế n cho quá khứ ngưng kế t ở
hiê ̣n ta ̣i, tiế ng ngày xưa trở thành tiế ng nói của hôm nay và mai sau.
Sự tham gia của thời gian hiê ̣n ta ̣i đã đem la ̣i những ý nghiã sâu sắ c,
bấ t ngờ cho cái hiê ̣n thực cổ xưa, nâng cao giá tri ̣và sức số ng của nó.
Chuyê ̣n đã qua không còn gói go ̣n trong khung thời gian tiñ h ta ̣i,
khép kiń ; ngươ ̣c la ̣i, mang mô ̣t chiề u sâu, và chiề u rô ̣ng của hiê ̣n ta ̣i
và tương lai.


Chương 3
PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT
CỦA TRUYỆN CỔ VIẾT LẠI
3.1. CỐT TRUYỆN
3.1.1 Cốt truyện sử dụng mơ típ cổ tích
a) Mơ típ hóa thân
Ở Truyê ̣n cổ viế t la ̣i, hóa thân để số ng trong mô ̣t kiế p khác
và để “cháy” hế t miǹ h. Cuô ̣c số ng sau khi hóa thân la ̣i dữ dô ̣i, nỗi

đau vẫn mãi đeo đẳ ng…Truyê ̣n cổ viế t la ̣i sử du ̣ng mô típ hóa thân
như mô ̣t nét vẽ mảnh mai bên ca ̣nh khố i đá xù xi.̀ Hiê ̣n thực vẫn vẫy
go ̣i cho dù nhân vâ ̣t có chuyển hóa thành mô ̣t da ̣ng nào khác. Khơng
giống với truyện cổ, sự hóa thân ở đây thường là lố i thoát hữu hiệu
một khi nhân vâ ̣t không tìm đươ ̣c mố i đờ ng cảm với những người
xung quanh, vì thế nó khơng giữ vai trị quan trọng trong việc phát
triển của cốt truyê ̣n như trong truyện cổ tích mà chỉ là con đường
dành riêng cho những ai biế t trân tro ̣ng vẻ đe ̣p cuô ̣c số ng. Như thế, sự
hiển xuất của mô típ này trong Truyê ̣n cổ viế t la ̣i khơi gơ ̣i màu sắ c
huyề n ảo nhằm ta ̣o nên tiế ng nói đớ i thoa ̣i nhiề u chiề u, tính chất đa
thanh của văn xuôi hôm nay.
b) Mô típ đi xa
Ở Truyê ̣n cổ viế t la ̣i, mô típ đi xa đươ ̣c các nhà văn hiê ̣n đa ̣i
sử du ̣ng mô ̣t cách tinh tế và khéo léo, người viế t để nhân vâ ̣t ra đi
nhưng không có biê ̣n pháp thanh toán khi gă ̣p tai ho ̣a. Nhân vâ ̣t ra đi
chỉ để bắ t đầ u xuấ t hiê ̣n những biế n cố tiế p theo (Châu Long). Nhân
vâ ̣t trong Truyê ̣n cổ viế t la ̣i thường đi xa để kiế m tìm điề u mình khao
khát. Đó là những khát khao rấ t đỗi đời thường của mô ̣t con người:


sự quan tâm, chia sẻ, sự đồ ng cảm trong tâm hồ n. Sự ra đi của nhân
vâ ̣t trong Truyê ̣n cổ viế t la ̣i là để ho ̣ gă ̣p phải những mảnh đời đau
khổ và cũng để nhâ ̣n ra chiń h mình. Chẳ ng còn thầ n tiên nào giúp đỡ
ho ̣. Sự dich
̣ chuyể n không gian có thể rấ t xa theo bề ngang và rấ t sâu
theo chiề u thẳ ng đứng mang đế n cái nhin
̀ toàn diê ̣n về con người
trong những hoàn cảnh khác nhau.
c) Mơ típ thử thách
Nế u như trong truyê ̣n cổ tić h, mô típ thử thách đươ ̣c sử du ̣ng

để cuố i cùng nhân vâ ̣t đươ ̣c hưởng ha ̣nh phúc, thì Truyê ̣n cổ viế t la ̣i
đi chê ̣ch khỏi lố i tư duy truyề n thố ng ấ y. Truyê ̣n ngắ n viế t theo
phong cách Truyê ̣n cổ viế t la ̣i của Lê Đa ̣t, Hòa Vang, Lê Minh Hà…
đầ y ắ p những thử thách. Cho dù sự thử thách do Trời, thế lực siêu
nhiên hay do chin
́ h con người đă ̣t ra, nhà văn đề u mong muố n đi tim
̀
ý nghiã đa ̣o lí và vẻ đe ̣p tâm hồ n. Những ai đi ngươ ̣c với giá tri ̣ viñ h
hằ ng ấ y sẽ gă ̣p nhiề u bấ t ha ̣nh. Đă ̣t ra mô tip thử thách giố ng như
trong truyê ̣n cổ tić h nhưng nghê ̣ si ̃ hiê ̣n đa ̣i đã đi chê ̣ch khỏi quỹ đa ̣o
để người đo ̣c nhâ ̣n ra những cam go trước cuô ̣c số ng đương thời. Con
người phải làm chủ đươ ̣c cuô ̣c đời miǹ h.
3.1.2. Cố t truyêṇ xáo trô ̣n, đứt đoa ̣n, phi tuyế n tính
Kế t cấ u của Truyện cổ viết lại không đươ ̣c sắ p xế p theo thời
gian sự kiê ̣n mà theo diễn biế n tâm tra ̣ng của nhân vâ ̣t, và cũng vì
vâ ̣y nó làm cho cố t truyê ̣n của Truyê ̣n cổ viế t la ̣i thường sự xáo trô ̣n,
đứt đoa ̣n, phi tuyế n tính. Tiế p nhâ ̣n cố t truyê ̣n của truyê ̣n cổ tić h thầ n
kỳ nhưng các nhà văn của da ̣ng truyê ̣n ngắ n viế t theo phong cách
Truyê ̣n cổ viế t la ̣i đã có sự thay đổ i cho phù hơ ̣p.


3.2. GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT
3.2.1. Gio ̣ng giễu nha ̣i và khuynh hướng dân chủ, phi thiêng
hóa
Gio ̣ng điê ̣u giễu nha ̣i trong truyê ̣n ngắ n Truyê ̣n cổ viế t la ̣i
khơi la ̣i nguồ n ma ̣ch nguyên sơ, khỏe khoắ n của truyê ̣n cười dân
gian. Hai nhân tố chủ đa ̣o ta ̣o nên sắ c thái giễu nha ̣i trong nhiề u
truyê ̣n ngắ n là u mua và châm biế m đố i tươ ̣ng. Gio ̣ng giễu nha ̣i có
khả năng công kić h vào thói xấ u của con người. Lòng tham, sự đô ̣c
ác, những tê ̣ na ̣n xã hô ̣i của cuô ̣c số ng thời hiê ̣n đa ̣i. Miả mai, châm

biế m không phải đế n từ mô ̣t cõi la ̣, không din
́ h dáng đế n mô ̣t hiê ̣n ta ̣i
mà luôn gắ n chă ̣t với thực tra ̣ng muôn mă ̣t của cuô ̣c đời. Gio ̣ng trào
lô ̣ng đã thể hiê ̣n rõ chức năng chin̉ h lí hiǹ h tươ ̣ng bằ ng tiế ng cười, là
mô ̣t trong những nỗ lực khám phá tích cực và toàn diê ̣n cuô ̣c số ng
của người viế t. Đây cũng là mô ̣t trong những nhân tố quan tro ̣ng ta ̣o
ra tiń h hiê ̣n đa ̣i của văn ho ̣c gia đoa ̣n này.
3.2.2. Giọng hoài nghi, day dứt và nỗ lực truy tầm bản
nguyên hiện thực, nhân sinh
Bên ca ̣nh gio ̣ng điê ̣u giễu nha ̣i nhằ m kéo thế giới tiên phâ ̣t
xuố ng gầ n con người đời thường, nhà văn còn thể hiê ̣n nỗi hoài nghi,
day dứt về đời số ng xã hô ̣i qua gio ̣ng triế t lí. Hiê ̣n thực cuô ̣c số ng với
bao ngổ n ngang, bô ̣n bề không phải là màu hồ ng để nhà văn tô điể m
trau chuố t. Cuô ̣c số ng đa chiề u kić h đã khơi dâ ̣y ngòi bút nha ̣y bén
của đô ̣i ngũ những nhà văn trẻ. Gio ̣ng điê ̣u triế t lí dằ ng dă ̣c lấ p đầ y
trang viế t. Cảm giác hoài nghi bao trùm qua gio ̣ng điê ̣u day dứt, băn
khoăn trước ám ảnh về thực ta ̣i khắ c nghiê ̣t.


3.2.3. Gio ̣ng quan hoài da diế t và cảm hứng trước nỗi đau và
thân phâ ̣n con người
Cùng với đô ̣ lùi thời gian và những thay đổ i trong cơ chế
quản lí văn hóa, xã hô ̣i, khuynh hướng nhâ ̣n thức la ̣i đã hình thành rõ
nét trong văn ho ̣c thời kì đổ i mới. Gắ n liề n với những đánh giá khách
quan về những đươ ̣c mấ t của con người, của dân tô ̣c trong và sau
chiế n tranh, văn xuôi cũng xuấ t hiê ̣n gio ̣ng trầ m lắ ng, xót xa mà
những âm hưởng chủ đa ̣o là mơ típ nỗi đau, sự cô đơn và những ưu
tư, chiêm nghiê ̣m của nhà văn trước những bể dâu của số phâ ̣n, nhân
tiǹ h. Sự lên ngôi của kiể u gio ̣ng điê ̣u này cũng là yế u tố cơ bản ta ̣o
nên chấ t văn xuôi và tiń h dân chủ, hiê ̣n đa ̣i của văn ho ̣c trong những

năm gầ n đây.
3.3. NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT
3.3.1. Ngôn ngữ giàu chất thơ
Giố ng như thơ, ngôn ngữ trong mô ̣t số truyê ̣n ngắ n và tiể u
thuyế t đương đa ̣i chẳ ng những có sự rung bâ ̣t ma ̣nh của cảm xúc, sự
chớp lóe của tư duy hin
̀ h tươ ̣ng để mở rô ̣ng chiề u sâu liên tưởng mà
còn dồ n nén cảm xúc trong ma ̣ch văn dẫn truyê ̣n vừa tự nhiên vừa
trau chuố t, ta ̣o ra các tình huố ng để nhân vâ ̣t bô ̣c lô ̣ tro ̣n ve ̣n tiń h cách
của miǹ h. Với văn xuôi có yế u tố kì ảo nói chung và da ̣ng truyê ̣n
ngắ n Truyê ̣n cổ viế t la ̣i, ngôn ngữ thể hiê ̣n rõ cảm quan thế giới bằ ng
huyề n thoa ̣i. Sự kế t hơ ̣p giữa thơ và văn xuôi góp phầ n thể hiê ̣n chấ t
liê ̣u tự sự, là sơ ̣i dây kế t nố i văn ho ̣c với thực ta ̣i thì thơ nâng chấ t
liê ̣u này lên hiǹ h thức tinh luyê ̣n, mở rô ̣ng biên đô ̣ tưởng tươ ̣ng của
đô ̣c giả.


3.3.2. Ngơn ngữ đa nghĩa, giàu hình ảnh
Với da ̣ng truyê ̣n ngắ n đươ ̣c viế t theo lố i Truyê ̣n cổ viế t la ̣i do
sự chi phố i của yế u tố kì ảo, ngôn ngữ biǹ h thường đã trở nên bấ t lực,
nhường chỗ cho mô ̣t hê ̣ thố ng ngôn ngữ khác thích hơ ̣p hơn. không
gian nghê ̣ thuâ ̣t cũng đươ ̣c kiế n ta ̣o từ hê ̣ thố ng ngôn ngữ mang
những đă ̣c trưng kì ảo. Tin
́ h hin
̀ h tươ ̣ng, sự mơ hồ , đa nghiã của ngôn
ngữ còn đươ ̣c thể hiê ̣n rõ trong cú pháp, trong lời văn nghê ̣ thuâ ̣t. Ở
nhiề u tác phẩ m, lời văn thường đa nghiã nhờ sự chồ ng xế p của biể u
tươ ̣ng, hình ảnh, sự trùng điê ̣p về cú pháp, sự đa da ̣ng, linh hoa ̣t trong
phong cách ngôn ngữ, gio ̣ng điê ̣u, những khoảng lă ̣ng về ngôn từ…
tấ t cả hòa quyê ̣n vơi nhau ta ̣o sức hút, sự ám ảnh người đo ̣c, từ đó

chiêm nghiê ̣m về những bí ẩ n của cuô ̣c số ng.
3.3.3. Ngôn ngữ nhiều cảm giác
Đó là mô ̣t hê ̣ thố ng ngôn từ với lời kể thiên về miêu tả, đầ y
các từ láy, từ diễn tả tâm tra ̣ng, cảm giác, tả thiên nhiên, với những
lời biǹ h phẩ m đánh giá… không giố ng ngôn từ nă ̣ng về hành đô ̣ng,
sự kiê ̣n của truyê ̣n truyề n thố ng. Cách hiê ̣n ta ̣i hóa câu chuyê ̣n bằ ng
cảm giác như là mô ̣t nét đă ̣c thù khá rõ của phương thức tự sự mới.
Người viế t đã hòa trô ̣n mô ̣t cách nhuầ n nhuyễn cái ảo và cái thực
khiế n cho ý tưởng ẩ n chìm vào mô ̣t mê trâ ̣n ngôn từ. Sự đan chéo của
cuô ̣c đời, của ha ̣nh phúc, sự sắ p xế p la ̣ lùng của số phâ ̣n các nhân vâ ̣t
gây cho người đo ̣c tâm tra ̣ng hồ i hô ̣p, căng thẳ ng để rồ i vỡ òa trong
niề m hứng khởi khi bấ t chơ ̣t nhâ ̣n ra ẩ n ý của nhà văn bên trong màn
sương huyề n thoa ̣i. Điều này khiến cho mỗi tác phẩm theo phong
cách Truyện cổ viết lại là một chỉnh thể nghệ thuật ấn tượng với sự
hòa kết độc đáo giữa hai thuộc tính truyền thống và hiện đại trong
chất liệu ngôn từ.


KẾT LUẬN
1. Trong đời số ng văn xuôi đương đại Viê ̣t Nam, Truyê ̣n cổ
viế t la ̣i, trên cơ sở kế thừa những thành tựu của VHDG, đã mang đế n
mô ̣t hình thức kể chuyê ̣n mới thể hiện rất rõ cái tâm và cái tầm của
lực lượng viết. Bằ ng mô ̣t hê ̣ thố ng thi pháp hiê ̣n đa ̣i, mảng sáng tác
này đã chuyên chở những thông điê ̣p khác nhau mang đậm dấu ấn
của cuộc sống, con người thời đổi mới, thực sự có đóng góp quan
tro ̣ng cho sự vận động, phát triể n của văn học nước nhà.
2. Trước hết, Truyện cổ viết lại khu biệt và thu hút độc giả ở
tính chất “quen mà lạ” trong thế giới hiǹ h tươ ̣ng của nó. Nhân vâ ̣t
trong Truyê ̣n cổ viế t la ̣i vừa mang vẻ đe ̣p huyề n thoa ̣i cổ tić h vừa
mang dáng vẻ của mô ̣t con người hiê ̣n đa ̣i. Đó là những con người

biế t buồ n, vui, ha ̣nh phúc và đau khổ rấ t đời thường. Việc tái tạo
những hiǹ h tươ ̣ng nhân vâ ̣t mang tính phổ quát và triế t lí cao gắn với
những bài ho ̣c cuô ̣c số ng luôn lắ ng đo ̣ng trong tâm khảm của những
đô ̣c giả là một cách tân đáng ghi nhận của các nhà văn theo phong
cách này như Nguyễn Huy Thiệp, Võ Thị Hảo, Lê Đạt, Lê Minh Hà,
Lưu Sơn Minh…
Không gian nghê ̣ thuâ ̣t trong Truyê ̣n cổ viế t la ̣i vừa mang
đâ ̣m yế u tố kì ảo nhưng cũng thâ ̣t trầ n tu ̣c, mở ra nhiề u chiề u, không
còn mang tiń h tươ ̣ng trưng để gơ ̣i dẫn vấ n đề , để làm phông cho nhân
vâ ̣t như trong truyện cổ dân gian. Người viết đã mươ ̣n hình ảnh
không gian thần thoại, cổ tích mang chấ t nguyên sơ, trinh nguyên để
lồ ng vào các biểu hiện đặc trưng của đời thường tục lụy. Sự kế t hơ ̣p,
giao thoa đô ̣c đáo giữa hai không gian thầ n tiên và không gian trầ n
thế đã thu hút ba ̣n đo ̣c, ta ̣o nên mô ̣t nét khu biê ̣t, sức mê dụ riêng của
nó.


Về thời gian nghê ̣ thuâ ̣t, Truyê ̣n cổ viế t la ̣i đã xây dựng kiể u
thời gian không đi theo tuyế n tiń h mà đó là kiể u thời gian đan xen,
đứt quãng, có khi là phiế m chỉ tăng tớ c, có khi ngưng kết ở hiện tại
theo sự chi phối của tâm trạng nhân vật. Đây là cơ sở để người đọc
trải nghiệm, sống hết mình cùng tác phẩm, cảm biết những biểu hiện
vi tế của “con người bên trong con người”.
3. Về phương diê ̣n phương thức trầ n thuâ ̣t, đề tài tiếp cận
những đặc trưng của Truyện cổ viết lại trên ba phương diện cơ bản là
cố t truyê ̣n, gio ̣ng điê ̣u trầ n thuâ ̣t và ngôn từ nghê ̣ thuâ ̣t.
Về cố t truyê ̣n, Truyê ̣n cổ viế t la ̣i một mặt vẫn kế thừa những
môtiṕ như: mô típ hóa thân, mô típ đi xa, mô típ thử thách của truyện
cổ dân gian. Chỉ khác là, những da ̣ng mô tiṕ đó đã đươ ̣c các tác giả
xây dựng theo phương thức của những cây bút hiê ̣n đa ̣i, chúng không

mang hơi thở của thần thoại, cổ tić h nguyên ve ̣n mà là những mô tiṕ
thú vi ̣ của cuô ̣c sống đời thường. Dấu ấn hiện đại thể hiện rõ nhất
trong cố t tru ̣n, theo chúng tơi, đó là sự khai triển câu chuyện theo
lố i xáo trô ̣n, đứt đoa ̣n, phi tuyế n tính. Câu chuyê ̣n đươ ̣c kể theo ma ̣ch
cảm xúc, nó có thể là hiê ̣n ta ̣i nhưng thoáng chố c là tương lai, nhưng
đôi khi là quá khứ; có khi là sự đan xen giữa hai pha ̣m trù số ng và
chế t… chính lố i xây dựng cố t truyê ̣n như vâ ̣y đã góp phầ n làm nên
những giá tri ̣đă ̣c trưng của Truyê ̣n cổ viế t la ̣i.
Gio ̣ng điê ̣u chủ đa ̣o của Truyê ̣n cổ viế t la ̣i là gio ̣ng “giễu
nha ̣i”, chiń h chấ t gio ̣ng đó đã chuyể n tải thành công những ý đồ nghê ̣
thuâ ̣t để nhà văn công kích vào những cái lỗi thời, la ̣c hâ ̣u, châ ̣m tiế n
bô ̣, những thói hư tâ ̣t xấ u… của đời số ng hiê ̣n đa ̣i. Đồ ng thời, gio ̣ng
điê ̣u của Truyê ̣n cổ viế t la ̣i không mang kiể u răn da ̣y như cổ tić h, mà
là gio ̣ng điê ̣u chia sẻ, bông đùa thú vi.̣


Những nhà văn viế t Truyê ̣n cổ viế t la ̣i luôn thể hiê ̣n sự du ̣ng
công trong viê ̣c cho ̣n lo ̣c và xây dựng ngôn từ. Ngôn ngữ trong
Truyê ̣n cổ viế t la ̣i thể hiê ̣n rõ những nét đă ̣c trưng: ngôn ngữ đâ ̣m
chấ t thơ, ngôn ngữ đa nghiã giàu hiǹ h ảnh, ngôn ngữ nhiề u cảm giác,
ngôn ngữ tăng cường tiń h tố c đô ̣, thông tin, triế t luâ ̣n. Như vâ ̣y phải
khẳ ng đinh
̣ rằ ng bằ ng tài năng các tác giả đã ta ̣o nên cho ngôn ngữ
trong Truyê ̣n cổ viế t la ̣i mang đă ̣c trưng riêng, góp phầ n làm giàu
ngôn ngữ tiế ng Viê ̣t trong thời hiê ̣n đa ̣i.
4. Những yế u tố thi pháp trong Truyê ̣n cổ viế t la ̣i mà chúng
tôi vừa tim
̀ hiể u chỉ là những phương diê ̣n chủ yế u nhất. Do khuôn
khổ của mô ̣t luâ ̣n văn Tha ̣c si,̃ do thời gian và cùng do điề u kiê ̣n
nghiên cứu…, đề tài chưa bao quát hế t những biểu hiện đa dạng và

cũng không kém phần độc đáo của mảng sáng tác này như điểm nhìn
nghệ thuật, kết cấu, hình tượng người trần thuật… Một số phương
diện tiếp cận ở đây cũng chưa được phân tích thật thấu đạt. Hệ thống
tác phẩm khảo sát cũng chưa thực sự phong phú… Thiết nghĩ, những
tồn tại này, một lần nữa sẽ lại là… hướng mở cho công viê ̣c tim
̀ tòi,
phát hiê ̣n và bổ sung của những ai quan đến đời sống văn xuôi đương
đại Việt Nam nói chung, truyện ngắn nói riêng .



×