1
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
----------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀ NH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Đề tài:
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ NGUYỄN DUY
Người hướng dẫn:
TS. Lê Đức Luận
Người thực hiện:
Nguyễn Thị Thắm
Đà Nẵng, tháng 5/2013
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ thơ ca là lĩnh vực nghiên cứu đặc biệt quan trọng trong văn học
nghệ thuật. Thơ ca là hiện tượng độc đáo của văn học ở cơ chế vận hành bộ máy
ngôn ngữ của nó. Việc sáng tác thơ ca tạo thành một phong cách riêng trước hết ở
cách thức sử dụng các phương tiện ngơn ngữ, là sự trau dồi có ý thức về cách biểu
đạt bằng ngôn ngữ. Nguyễn Duy là một cây bút có sự nghiệp sáng tạo khá nổi bật
và được lưu ý trên thi đàn. Bởi thế cho nên, chắc chắn rằng ngôn ngữ trong thơ ông
sẽ cũng có được những ấn tượng đặc biệt, xứng đáng để thu hút sự phẩm bình trong
lí luận - phê bình văn học nói chung và nghiên cứu ngơn ngữ thơ nói riêng.
Nguyễn Duy là một trong số ít những nhà thơ hiện đại thành danh có tác
phẩm được đưa vào giảng dạy ở phổ thơng. Nhà phê bình văn học tài ba Hoài
Thanh ngay từ đầu đã “phát hiện” ra tài năng và triển vọng của nhà thơ này. Cho tới
nay, sự đóng góp về cả nội dung lẫn nghệ thuật của thơ Nguyễn Duy đã được khơng
ít các nhà nghiên cứu khen ngợi. Họ đã đánh giá ông “là một trong những gương
mặt tiêu biểu đem lại vinh quang cho cả thế hệ thơ trẻ thời kì chống Mĩ”[16, tr. 99].
“Thơ Nguyễn Duy mang đậm chất trí tuệ trên cái nền ngơn từ bình dị, ngỡ như
khơng có gì trau chuốt đáng bàn. (…) Nghệ thuật đạt đến đỉnh cao thì lại trở nên
bình dị” [1, tr. 174, 175]. Ngơn ngữ thơ ơng có vẻ đẹp riêng, khá nổi bật. Các nhà
nghiên cứu đã đều gặp nhau ở nhận định: Nguyễn Duy đã am tường ngôn ngữ dân
tộc và “ tận dụng” được sức hấp dẫn của tiếng mẹ đẻ ở những đặc trưng độc đáo của
nó. Ơng “rất khéo tay điều khiển từ”. Thơ ông “đã đạt tới vẻ đẹp giản dị, trong sáng
vốn là chuẩn mực của tiếng Việt” giàu và đẹp (ý của Nguyễn Quang Sáng trong bài
“đi tìm tiềm lực trong thơ Nguyễn Duy”) [24, tr. 90,91].
Việc nghiên cứu “ Đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy” là một hướng tiếp
cận khám phá thế giới nghệ thuật của thơ ông. Đây là một cách giúp ta cảm nhận
được vẻ đẹp thơ Nguyễn Duy; giúp ta có thể đi sâu vào khai thác, hiểu ý, hiểu lời và
thẩm thấu những giá trị văn chương trong tứ thơ của ông được thấu đáo. Đồng thời,
bằng việc đi vào khảo sát, miêu tả và khẳng định trong đề tài, chúng tôi muốn đề
3
cập một cách bình phẩm, nghiên cứu tích cực đối với thơ ca nói riêng, văn học nói
chung. Đó là việc tiếp cận, khám phá, giải mã thơ từ ngôn ngữ. Bên cạnh đó, do mật
mã ẩn chứa ở ngơn ngữ thơ cũng chính là mã số quan trọng của phong cách thơ, nên
ta cũng sẽ nhận ra được tài năng và phong cách thơ độc đáo của Nguyễn Duy. Tài
năng và phong cách ấy đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong bạn đọc nhiều năm
qua. Vậy “Đặc điểm ngơn ngữ thơ Nguyễn Duy” là đề tài có giá trị đáng quan tâm,
cần phải được thực hiện nghiên cứu một cách say mê và mang tính nghiêm túc,
khoa học. Đề tài nhằm đóng góp vào diễn đàn văn học một cơng trình có ý nghĩa và
giá trị nhất định trong việc khẳng định tiếng thơ Nguyễn Duy.
Là một sinh viên Sư phạm chuyên ngành Ngữ văn đang theo học năm cuối,
thì việc thực hiện đề tài là một cơ hội giúp người viết trau dồi kiến thức văn học, rèn
luyện kỹ năng nghiên cứu khoa học, để phục vụ công tác học tập hiện tại và dạy học
trong tương lai. Đây cũng là một cách mà người viết luận văn thể hiện tình cảm,
lịng nhiệt huyết tìm hiểu về nhà thơ của quê hương mà mình yêu mến bấy lâu.
2. Lịch sử vấn đề
Ngôn ngữ và đặc điểm ngôn ngữ thơ, văn là một lĩnh vực lớn được các nhà
nghiên cứu đầu ngành quan tâm. Chúng tôi xin phép chỉ nhắc tên các tài liệu mang
tính chất lí luận nền tảng mà chúng tơi đã tìm đọc là: tác giả Hữu Đạt với “Ngôn
ngữ thơ Việt Nam”, Nguyễn Phan Cảnh với “Ngơn ngữ thơ”; “Giữ gìn sự trong
sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ” của Viện Ngôn ngữ học, “ Lí luận văn học” tập
2 do Trần Đình Sử chủ biên, “ Giáo trình từ vựng học Tiếng Việt” của Đỗ Hữu
Châu, “ 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt” của Đinh Trọng Lạc, “Hán
Việt từ điển” của Đào Duy Anh, “Điểm nhìn nghiên cứu văn học” của Lê Đức
Luận, bài giảng “Phong cách học tiếng Việt” của Bùi Trọng Ngoãn trường Đại học
Sư phạm - Đại học Đà Nẵng (ĐH SP - ĐH Đà Nẵng)...
Với những đóng góp nổi bật cho thơ ca hiện đại Việt Nam, thơ Nguyễn Duy
đã trở thành đối tượng nghiên cứu của khá nhiều cây đại thụ trong giới phê bình.
Bên cạnh đó, thơ ơng cũng được chú ý tìm hiểu, bình phẩm về trình độ nghệ thuật,
về nội dung tư tưởng qua hàng loạt các bài viết cảm nhận, phân tích; các bài phỏng
4
vấn, hội đàm; các tiểu luận lớn nhỏ khác nhau. Được biết đến trên văn đàn thơ ca
Việt Nam từ đầu những năm 70 thế kỷ trước, Nguyễn Duy đã tạo được ấn tượng
cho người đọc và cho thấy sự triển vọng của mình. Có thể nói, người có cơng phát
hiện và giới thiệu sự triển vọng ấy ở cây bút thơ Nguyễn Duy là Hoài Thanh. Sau
khi đọc một số bài thơ của Nguyễn Duy ông đã chú ý đến tài năng thơ này bằng
việc hạ bút viết bài “Đọc một số bài thơ của Nguyễn Duy”. Hoài Thanh đã nhận
định rất tinh tế và chân xác: “Thơ Nguyễn Duy đưa ta về một thế giới quen thuộc.
Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những con người, những cuộc đời
cần cù, gian khổ, không tuổi, không tên. (…) Cái điều ở người khác có thể chỉ là
chuyện thống qua thì ở thơ anh nó lắng sâu và dường như đọng lại. (…) Một số bài
thơ của anh đậm đà phong cách Việt Nam. Giọng thơ chân chất. Tình thơ chắc. Ý
thơ sâu. (...) Thơ anh có thể còn nhiều hứa hẹn” [29, tr. 205 - 211]. Có thể nói, Hồi
Thanh đã chỉ ra đúng những đặc điểm cơ bản trong thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn
Duy. Những người nghiên cứu sau này đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của nhận định
này. Bằng cái nhìn tổng quan, chúng tơi xin trình bày khái qt những nghiên cứu
về về thơ Nguyễn Duy chia theo hai loại bài: loại riêng về bài thơ, tập thơ và loại
bài khái quát về thơ Nguyễn Duy. Ở đây chúng tôi đề cập thành từng nhóm bài xét
theo các phương diện và xin chỉ nhấn mạnh hơn những cơng trình đề cập tới ngơn
ngữ trong thơ ơng.
Trong loại bài thứ nhất, có các tác giả như: Vũ Quần Phương, Trịnh Thanh
Sơn, Giang Khắc Bình, Lê Quang Trang, Từ Sơn, Tế Hanh, Lê Quang Hưng,... Bài
viết của các tác giả này, mỗi người đứng ở mỗi khía cạnh, góc nhìn khác nhau; và
họ đều đã phát hiện được những nét độc đáo riêng trong thơ Nguyễn Duy. Nhưng
chúng chủ yếu mới là những ý kiến nhận xét mang tính chất khẳng định tài năng và
chỉ ra giá trị nghệ thuật của thơ Nguyễn Duy qua những tác phẩm tiêu biểu của ông.
Trong loại bài thứ hai, các tác giả đã bình luận mang tính tổng thể, bao quát
về thơ Nguyễn Duy, khái quát được nét đặc sắc trong thơ ơng.
Nhìn từ phương diện nội dung của thơ Nguyễn Duy, có bài viết của các tác
giả: Nguyễn Quang Sáng, Vũ Văn Sỹ, Nguyễn Đức Thọ, Hà Minh Đức, Chu Văn
5
Sơn.... Các nhà nghiên cứu này đều đã đi vào tổng thể của thế giới thơ Nguyễn Duy.
Họ đã rút ra những nhận định bao quát nhất, những gì mang tính hồn cốt nhất về thơ
ơng trên các phương diện: đề tài, nội dung phản ánh, về cái tôi trữ tình.
Nhìn từ phương diện nghệ thuật, thơ Nguyễn Duy cũng được sự chú ý của
nhiều tác giả. Bởi đây là phương diện rất quan trọng tạo nên giá trị thơ ca đáng bàn
của tác giả này.
Về thể loại, Nguyễn Duy được đánh giá cao ở các sáng tác thơ lục bát. Các
bài viết của Phạm Quốc Ca, Hoàng Nhân, Lê Quang Trang, Lại Nguyên Ân, Phạm
Thu Yến, Chu Văn Sơn, Vũ Văn Sỹ....đều đã đưa ra những ý kiến nhất quán khen
ngợi tài năng sáng tạo, sự nhuần nhị xếp vào “bậc tài tình” của Nguyễn Duy trong
sở trường sáng tác lục bát của ông.
Về giọng điệu trong thơ Nguyễn Duy, thì ở những bài bình phẩm, nghiên cứu
tổng quan các đặc sắc trong nghệ thuật thơ của tác giả này đều có đề cập tới. Chẳng
hạn như các bài của các tác giả: Chu Văn Sơn, Lại Nguyên Ân, Vũ Văn Sỹ, Phạm
Thu Yến, Lê Quang Trang, Trần Anh Phương...; và một số bài tiểu luận, luận văn
khác. Các bài này chỉ ra được các chất giọng trong thơ Nguyễn Duy là giọng ngợi
ca trìu mến, tâm tình thiết tha và suy tư trăn trở, triết lí; giọng ghẹo pha chút ngang
tàng, bụi bặm.
Về ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Duy cũng được khá nhiều người quan tâm,
bình phẩm. Theo Nguyễn Quang Sáng: “Thơ Nguyễn Duy đượm tính dân tộc và
nhuần nhuyễn ngôn ngữ dân gian. Lời thơ đơn sơ gần gũi với khẩu ngữ. Tư duy thơ
thì hiện đại, hình thức thơ thì phảng phất phong độ cổ điển phương Đông. Kỹ thuật
trong nghệ thuật ngôn ngữ là ở chỗ này đây, nó xuyên qua, bay qua khoảng nhiễu
xạ rối rấm của hình thức khoa trương, hoa mĩ giả và rỗng, để đạt tới sự giản dị trong
sáng vốn là chuẩn mực ” [24, tr. 90]. Cịn Vương Trí Nhàn thì phát hiện thơ Nguyễn
Duy có rất nhiều từ lạ, “không rõ tác giả bịa hay nhặt ở đâu” đan hợp thành “bản
hợp xướng của những từ lạ” [23, tr. 260]. Lê Thiếu Nhơn trong bài “Nguyễn Duy lấp lánh mỗi trang đời mỗi dày mỗi kịch” đã một mặt khẳng định thơ Nguyễn Duy
là “món ngơn ngữ nơm na”; mặt khác thấy được “lối dùng chữ lắt léo và cá tính”,
6
“những tiết điệu uyển chuyển” trong thơ ông [34]. Mai Linh trong “Nguyễn Duy thi
chỉ” đã viết: “Tôi nghĩ Nguyễn Duy là người điêu khắc chữ”. Tác giả đã nhận xét
thơ Nguyễn Duy “là một cuộc hoan lạc chữ nghĩa mà vẫn âm tiết, vẫn thi điệu, vần
nhạc, vẫn quê quê tỉnh tỉnh. (...) Đọc mấy câu mới thấy sự “xảo quyệt” ngôn ngữ,
uyển chuyển âm thanh” [33]. Trên tạp chí sơng Hương, tác giả Trần Anh Phương
với bài viết “Nguyễn Duy - chữ nghĩa hồn rơm rạ” nhận định: “đọc thơ Nguyễn
Duy, tơi mới thấy cái tài tình của anh: làm thơ, gieo vần, dùng từ, lựa chọn câu chữ
cứ như chơi mà gợi cảm, chua chát mà sâu lắng, trữ tình mà hay đến thế”. “Cách
dùng từ láy, điệp âm, điệp ngữ, những từ khó đọc nhưng dễ nhớ, dễ lay động nhất,
là phong cách thơ riêng của anh”. Tác giả Lê Văn Mĩ đặc biệt nhấn mạnh nghệ thuật
từ láy của Nguyễn Duy. Hồ Văn Hải đã phân tích khá kĩ các đặc điểm về ngữ âm,
ngữ nghĩa với bài viết “Tiếp cận bài thơ “Tre Việt Nam” từ góc độ ngơn ngữ học”.
Chu Văn Sơn với tiểu luận “Nguyễn Duy thi sĩ thảo dân” đã thấy được “lắm khía
cạnh đến quái quỷ của tiếng Việt đã được đánh thức và truy nhập vào ngôn từ thơ”
Nguyễn Duy. Ơng cịn khen “thơ Nguyễn Duy cập nhập rất nhạy những hơi thở hôi
hổi của ngôn từ” [38, tr. 415].
Như vậy, nhìn một cách tổng quan về các cơng trình nghiên cứu trên, cho
thấy chúng mới chỉ là những nhận xét khái quát, thiên về ấn tượng. Và chúng tơi
nhận thấy, chưa thật sự có cơng trình nào lấy “Đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn
Duy” làm đối tượng khảo sát trực diện. Với chúng tôi, tất cả mới chỉ là những gợi
mở quý giá. Kế thừa thành tựu của những người đi trước, chúng tôi chọn đề tài
nhằm nghiên cứu một cách cơ bản có hệ thống, có căn cứ hơn và toàn diện hơn. Hi
vọng việc thực hiện đề tài này, chúng tơi sẽ mang lại những đóng góp có giá trị nhất
định, được mọi người ghi nhận.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: “Đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy”
3.2. Phạm vi nghiên cứu
7
Phạm vi khảo sát chính của đề tài là: “Thơ Nguyễn Duy”, NXB Hội Nhà
Văn (2010) và tập “Thơ trữ tình Nguyễn Duy”, NXB Hội Nhà Văn (2004). Trong
quá trình nghiên cứu chúng tơi có sử dụng thêm thơ của một số tác giả khác để so
sánh làm nổi bật vấn đề.
4. Nội dung và mục đích nghiên cứu
Đề tài triển khai khảo sát, thống kê, phân tích để nghiên cứu đặc điểm ngôn
ngữ nổi bật, độc đáo trong thơ Nguyễn Duy mang các giá trị tu từ ở ba phương diện
từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ âm và ngữ pháp. Đề tài nhằm làm rõ những đặc sắc về
ngôn ngữ trong thế giới nghệ thuật thơ ông; phần nào thấy được những đóng góp
trong phong cách nghệ thuật của gương mặt thơ này. Đồng thời, qua việc nghiên
cứu này, bản thân được tập dượt thêm về kỹ năng nghiên cứu khoa học; có được cái
nhìn khái qt hệ thống về ngôn ngữ tiếng Việt trong các thao tác thực hiện đề tài.
Từ đó, bản thân cũng hiểu và nắm được vững hơn về kiến thức ngôn ngữ học.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng kết hợp những phương pháp cơ
bản sau:
-
Phương pháp thống kê, phân loại, miêu tả
-
Phương pháp phân tích, chứng minh
-
Phương pháp so sánh, đối chiếu
-
Phương pháp tổng hợp - khái quát
6. Giá trị khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1. Giá trị khoa học
Từ việc tìm hiểu “Đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy” luận văn khẳng
định: Nguyễn Duy là một cây bút thơ tài năng và luôn khẳng định mình bằng một
phong cách ngơn ngữ thơ với các đặc điểm khá độc đáo trong thơ ca Việt Nam hiện
đại. Và bằng đề tài này, chúng tôi muốn cung cấp một cái nhìn tương đối tồn diện
và khoa học về những đặc điểm, những giá trị tu từ nổi bật trong ngơn ngữ thơ
Nguyễn Duy. Từ đó, luận văn khẳng định những đóng góp và vị thế của ông trong
8
tiến trình vận động và phát triển của thơ Việt Nam hiện đại. Thơng qua đây, chúng
ta cũng có thể thấy được các phương diện cần thiết khi nghiên cứu ngôn ngữ thơ ca.
6.2. Giá trị thực tiễn
Thực hiện đề tài này chúng tôi hi vọng đây sẽ là nguồn tư liệu bổ ích cho
việc nghiên cứu giảng dạy thơ Nguyễn Duy nói riêng và thơ Việt Nam hiện đại nói
chung trong nhà trường hiện nay. Đây cũng có thể xem là sự tiếp tục thể nghiệm
cho hướng nghiên cứu tác giả tác phẩm từ phương diện ngôn ngữ.
7. Cấu trúc đề tài
Đề tài được thực hiện bao gồm: mở đầu, nội dung, kết luận và tài liệu tham
khảo. Nội dung đề tài triển khai 4 chương như sau:
Chương Một: Cơ sở lí luận của đề tài
Chương Hai: Đặc điểm thẩm mĩ của các phương tiện tu từ từ vựng trong thơ
Nguyễn Duy
Chương Ba: Đặc điểm độc đáo về ngữ âm và cấu trúc ngữ pháp trong thơ
Nguyễn Duy
Chương Bốn: Đặc điểm tu từ nổi bật trong thơ Nguyễn Duy
9
CHƯƠNG MỘT: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.
Ngơn ngữ văn học, ngôn ngữ thơ và các phương tiện, phương thức tu từ
1.1.1. Lí luận chung về ngơn ngữ văn học, ngơn ngữ thơ
Trong văn học nói chung, thơ ca nói riêng, ngơn ngữ mang tính nghệ thuật
đặc thù. M. Gorki từng nói: “Ngơn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”. Quả đúng
là vậy, “ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học. Vì vậy, văn học được
gọi là loại hình nghệ thuật ngơn từ” [39, tr. 215]. Ngôn ngữ nhân dân là cội nguồn
của ngôn ngữ văn học được chọn lọc, rèn giũa qua lao động nghệ thuật của nhà văn,
được nâng lên đến trình độ nghệ thuật. Ngược lại ngơn ngữ văn học góp phần nâng
cao làm phong phú ngơn ngữ nhân dân. “Trong tác phẩm văn học, ngôn ngữ văn
học là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài
năng của nhà văn” [39, tr. 215]. Ngơn ngữ văn học có tính hình tượng và tính thẩm
mĩ, tính chính xác, tính hàm xúc, tính đa nghĩa, tính tạo hình và biểu cảm. Đây là
những thuộc tính đặc biệt, tạo nên sự phân biệt ngơn ngữ văn học, với các hình thái
của hoạt động ngơn ngữ mang ý nghĩa thẩm mĩ khác. Ngôn ngữ văn học thường sử
dụng các phương thức biến đổi và mở rộng để không bị giới hạn ngữ nghĩa khi diễn
đạt. Do vậy, “ý nghĩa của ngôn ngữ vừa xác định vừa mơ hồ, vừa ổn định vừa biến
đổi trong quá trình sử dụng. Đó chính là cơ sở tạo ra đặc điểm của ngôn từ văn học”
[28, tr. 48]. Xét riêng về ngơn ngữ của tác phẩm trữ tình thì đây “là ngôn ngữ được
tổ chức trên cơ sở nhịp điệu, hết sức cô đọng, hàm súc và đặc biệt gợi cảm” [39, tr.
215]. “Ngôn từ trong văn bản văn học tuy có vơ vàn mối quan hệ chằng chịt với đời
sống xã hội, nhưng vẫn là một hiện tượng nghệ thuật thẩm mĩ độc đáo, khác hẳn
ngôn ngữ khoa học và lời nói đời thường. Nó chịu sự chi phối của trí tưởng tượng
và đặc điểm tư duy nghệ thuật của nhà văn, mang dấu ấn thể loại và văn hóa thời
đại” [28, tr. 53].
Thơ là một trong những thể loại của văn học biểu hiện rõ nhất, cao nhất về
nghệ thuật ngôn từ. Ngôn ngữ thơ mang một sứ mệnh vô cùng lớn trong việc làm
nên những áng thơ hay. Đối với các thể loại khác thì người đọc đôi khi chỉ cần đọc
sơ qua để nắm nội dung. Nhưng đối với tác phẩm thơ thì để nắm bắt và hiểu sâu sắc
10
được về nó, chúng ta cần phải men theo từng câu chữ, từng lời thơ. Bởi vì, “thơ ca
là hiện tượng độc đáo của văn học ở cơ chế vận hành bộ máy ngơn ngữ của nó” [7,
tr. 35]. Thơ ca là thể loại chỉ dùng một lượng hữu hạn ngôn ngữ để biểu hiện cái vô
vàn của cuộc sống bao gồm các sự kiện tự nhiên và xã hội cũng như những điều
thầm kín trong tâm linh con người… Đây cũng chính là một vấn đề để đánh giá tài
năng, phong cách của người nghệ sĩ. Và ngôn ngữ thơ chính là hồn cốt của tác
phẩm thơ.
Sự sáng tạo trong thi ca là sự sáng tạo dựa trên các quy luật, những tiền đề
vật chất của ngôn ngữ dân tộc. Tiếng Việt có nhiều đặc điểm chi phối đến vần, luật,
nhịp điệu và tiết tấu trong thơ; có những giá trị riêng về khả năng biểu đạt, biểu hiện
tính nhạc và tính gợi hình, gợi cảm trong thơ. Cho nên, ở thơ ca ngôn ngữ cần được
xét ở cấp độ văn bản và cả cấp độ ngôn ngữ “siêu văn bản”. Thơ là một thể loại của
nghệ thuật ngôn từ. Vậy, thơ ca bắt buộc phải sử dụng đến một loại phương tiện là
ngôn ngữ. Mọi hoạt động của thơ ca không tách rời mọi hoạt động của ngôn ngữ
trên cả hai phương diện: ngôn ngữ với tư cách là một hệ thống cấu trúc và với tư
cách là sản phẩm của lời nói cá nhân. Tất nhiên đó là loại lời nói có tính nghệ thuật.
Thơ ca được trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất. Thơ ca có cách tổ
chức ngơn ngữ có vần điệu và các quy luật phối âm riêng của ngôn ngữ; để phản
ánh cuộc sống tập trung và khái quát nhất dưới dạng các hình tượng nghệ thuật.
“Mỗi nhà thơ khi sáng tạo tác phẩm bao giờ cũng biết lợi dụng những ưu thế của
ngôn ngữ dân tộc; nhằm phát huy triệt để chức năng của các đơn vị ngôn ngữ với tư
cách là cơng cụ có giá trị thơng báo, tác động và biểu cảm…” [7, tr 22]. “Người làm
thơ phải có bộ óc hết sức nhạy bén khi nắm bắt các quy luật của ngôn ngữ. Trong
một khối lượng khổng lồ các đơn vị từ ngữ của dân tộc, thì nhà thơ phải biết lựa
chọn những từ ngữ nào có giá trị nhất để đưa vào câu thơ của mình, làm cho nó có
hiệu quả cao nhất trong việc thơng báo cũng như tác động tới tình cảm của người
đọc. Chỉ có được những “kết hợp từ” hay, khi nhà thơ làm việc một cách chuyên
cần, có sự tính tốn cân nhắc kĩ lưỡng những chữ đem ra sử dụng’’ [7, tr. 35].
11
Ngơn ngữ thơ ca có tính “tương xứng”. Đó là sự “tương xứng về âm thanh, ý
nghĩa” một cách trực tiếp hay gián tiếp trên hai trục: “trục hệ hình và trục cú đoạn”.
“Nhà thơ là người biết chuyển hóa yếu tố ngôn ngữ từ “trạng thái tĩnh” sang “trạng
thái động”. Nghiên cứu “Ngơn ngữ nghệ thuật nói chung và ngơn ngữ thơ nói riêng,
chúng ta cần hết sức chú ý tới quan hệ giữa ngôn ngữ và cảm xúc, giữa nhân thức
và biểu hiện. Giữa nghĩa đã có, đã định hình và nghĩa tiềm năng, tiềm ẩn” [7, tr. 148
- 151]. Ngơn ngữ thơ phải có sự tổ chức cấu tứ, âm thanh một cách có quy luật hài
hịa, cân đối. Ngơn ngữ thơ giàu tính tạo hình và khả năng biểu hiện cao. Phát huy
triệt để tính tạo hình, thì thơ ca hiện đại thường nghiêng về cách “tạo hình để biểu
hiện” [7, tr. 46]. “Phương thức tạo hình là một trong những phương thức cơ bản của
hoạt động thơ ca” [7, tr. 53]. Phương thức này không tồn tại một cách bất biến mà
tồn tại “rất động”, gắn liền với sự phát triển có tính chất lịch sử trong ngôn ngữ xã
hội của dân tộc. Thơ là một nghệ thuật biểu hiện. Những tác phẩm giàu tính biểu
hiện của thơ hiện đại thường để lại những dấu ấn sâu đậm trong lịng bạn đọc. Ngơn
ngữ thơ thường dùng các phương thức tu từ tạo nghĩa thay thế. “Việc dụng các yếu
tố thay thế tạo thông tin mĩ học lại chính là đặc trưng của thơ”. [2, tr. 62]. Hiện thực
hóa phương thức biểu hiện bằng biện pháp chuyển nghĩa, nhà thơ sẽ tạo nên những
hình tượng nghệ thuật. “Việc phân tích hình tượng thơ có thể đứng từ nhiều góc độ
khác nhau. Sẽ là phiến diện, hời hợt nếu chúng ta không chú ý tới cấu trúc hình
tượng được hình thành bằng con đường ngơn ngữ - một trong những khía cạnh quan
trọng làm nên cái riêng của hình tượng thơ ca trong các dân tộc khác nhau. Tìm
hiểu cấu trúc hình tượng thơ, một mặt phải chú ý tới quan hệ kết hợp, mặt khác còn
phải chú ý tới các thao tác liên tưởng, so sánh trong tư duy và cơ chế ngôn ngữ của
tiếng Việt” [7, tr. 110]. Ngôn ngữ thơ cần đến “nghệ thuật tạo những mối liên
tưởng, liên hệ giữa các yếu tố riêng lẻ làm thành tác phẩm; nhằm sử dụng một cách
mĩ học chiều dày của chất liệu ngôn ngữ. Từ lâu cái chiều dày này đã được những
nghệ sĩ bậc thầy của từ ngữ xem là một yếu tố quan trọng” [2, tr. 92]. Như vậy, sẽ
làm nên “tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa”. “Trước mắt chúng ta chỉ là những câu,
những chữ bình dị đến đơn sơ và toàn bộ vấn đề là chiều dày của chất liệu” [2, tr.
12
95]. Các phương thức chuyển nghĩa trong thơ tạo được“sự giản nở của hiện thực”
[2, tr. 123]. Ngôn ngữ thơ cịn có tính nhảy vọt, gián đoạn tạo thành những khoảng
lặng giàu ý nghĩa. Ngôn từ thơ không phải là ngơn từ tuyến tính mà là ngơn từ phức
hợp. “Ngơn từ trong thơ thường phá vỡ logic kết hợp thông thường của ngôn ngữ để
tạo thành những kết hợp mới, gây bất ngờ theo “nguyên tắc lạ hóa”. Những sự kết
hợp lạ hóa đã tạo ra nhiều cảm xúc, cảm giác chỉ có trong thơ” [28, tr. 269]
Ngơn ngữ thơ là ngơn từ được cấu tạo đặc biệt. Đó là ngơn từ có nhịp điệu,
giàu nhạc tính với những âm thanh luyến láy, sự trùng điệp, sự phối hợp bằng trắc
và những cách ngắt nhịp có giá trị gợi cảm. “Nhạc tính của một thi phẩm càng giàu,
tức những tham số thanh học của ngơn ngữ càng có độ tin cậy cao thì hiệu quả lưu
giữ truyền đạt của thi phẩm càng lớn, sức sinh tồn của nó càng mạnh” [2, tr. 152].
Điều làm nên đặc trưng khu biệt của ngôn ngữ thơ so với ngôn ngữ văn xuôi là nhạc
tính trong thơ. Đây cũng là ưu thế tuyệt đối của thơ so với văn xi. “Câu thơ và
vần có một cái duyên mà thậm chí khi lời, ý dở, nhà thơ vẫn quyến rũ người nghe
bằng nhịp điệu và sự cân đối” (Isokrate’s) [2, tr. 133]. Nhạc tính tạo nên sự gợi cảm
và hàm súc cho thơ; gợi ra những điều mà từ ngữ khơng thể nói hết. Nó được thể
hiện qua sự cân đối, sự trầm bổng và sự trùng điệp. Sự cân đối được tạo nên qua sự
tương xứng hài hòa của các dòng thơ, đoạn thơ. Còn sự thay đổi các âm thanh thấp,
cao; bằng, trắc tạo nên sự trầm bổng trong ngôn ngữ thơ. Sự trùng điệp được thể
hiện qua việc dùng vần, phép luyến láy, phép điệp. Qua nhạc tính, người đọc cảm
nhận rõ hơn về cảm xúc của tác giả. Từ đó, quá trình tiếp nhận tác phẩm thơ sẽ trở
nên thuận lợi hơn.
Ngồi ra cịn có thể thấy, thơ ca là thể loại mang phong cách chức năng ngôn
ngữ riêng biệt bởi “qua nhà thơ người ta có thể nhìn thấy tầm cỡ của thời đại”. (Jivi
Wolker) [2, tr. 32].
Như vậy, tìm hiểu ngôn ngữ thơ là cách tiếp cận đúng đắn và gần nhất để rút
ngắn con đường tiếp nhận văn học, để độc giả tới gần tác giả hơn. Thực hiện đề tài
luận văn này, chúng tôi dựa trên các đặc điểm ngôn ngữ thơ về ngữ âm, từ vựng
13
ngữ nghĩa, ngữ pháp để tìm ra được những đặc điểm trong nghệ thuật ngôn ngữ của
thơ Nguyễn Duy.
1.1.2. Đặc điểm ngơn ngữ thơ và lí thuyết các phương tiện, phương thức tu từ
Thơ là loại hình nghệ thuật ngơn ngữ đặc biệt có những đặc trưng cấu tứ
riêng. Thơ hay thường không bị giới hạn ý nghĩa trong khuôn khổ hữu hạn của ngơn
ngữ diễn đạt. Vì thế, ngơn ngữ thơ khác với lời nói thường và ngơn ngữ văn xi ở
cấu trúc tổ chức biểu đạt của nó. Đặc điểm ngôn ngữ thơ được hiểu là đặc trưng thể
loại, chùm các đặc điểm ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp, đặc điểm tu từ của
nó; nhằm biểu trưng hóa, khái quát hóa hiện thực khách quan theo một cách tổ chức
riêng của thơ ca. Sau đây là những lí luận khái quát về những đặc điểm ấy trong thơ.
a. Về mặt ngữ âm:
Hình thức ngữ âm trong thơ là yếu tố hết sức quan trọng. Trong thơ, các
thuộc tính của ngơn ngữ là cao độ, trường độ, cường độ được lưu giữ truyền đạt
trong khi tổ chức quá trình thi ca sẽ làm nên tiết tấu thơ. Còn các đơn vị âm thanh là
nguyên âm, phụ âm thì được lưu giữ truyền đạt trong khi tổ chức các q trình loại
thể làm nên vần thơ. “Chính dưới hiệu quả của tiết tấu và vần này, đã cho phép xuất
hiện các hợp thành thi pháp chương trình hóa: mang cơ chế tự điều chỉnh. Nhờ thế,
thơ ca đã đi vào quỹ đạo của những hệ bền vững. Đồng thời cũng dưới hiệu quả này
mà chất liệu ngôn ngữ thơ có nét riêng, rất tiêu biểu. Đó là đặc trưng nhạc tính, kiểu
như tiết tấu và hịa thanh trong âm nhạc” [2, tr. 132].
b. Về mặt ngữ pháp:
“Một đặc tính quan trọng của ngơn ngữ thơ là sự phân chia các dòng thơ, khổ
thơ” [28, tr. 283]. Thơ ca cho phép sự tỉnh lược và có thể thiếu vắng những thành
phần ngữ pháp, kể cả những thành phần chính của câu như chủ ngữ, vị ngữ. Thơ sử
dụng các biện pháp tu từ cú pháp, có cả sự kết hợp khơng bình thường, kể cả cánh
ngắt câu lạ mà trong cấu trúc văn xuôi không được phép. Sự kết hợp bất thường đó
đã mở ra những giá trị và ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ trong quá trình diễn đạt,
cũng như trong quá trình tạo lập những phong cách riêng của mỗi thi sĩ. Trong thơ
có sự phân dòng, thể hiện cách tổ chức đặc biệt của ngơn ngữ thơ. Dịng là đơn vị
14
nhịp điệu. Số chữ ít nhiều tạo sự nhanh chậm khác nhau. Các thể thơ truyền thống
có quy định về điều này. Thơng thường câu thơ trùng với dịng thơ khi dòng thơ thể
hiện trọn vẹn một ý.
Ngày nay, cùng với sự hiện đại hóa văn học, thơ được làm theo thể tự do,
không quy định câu chữ, lối vắt dịng theo phương Tây khá phổ biến, nên có khi
hai, ba dòng thơ mới thể hiện một ý, một câu trọn nghĩa. Hoặc trong một dòng lại
gồm nhiều câu. Bài thơ dài, có khi được chia nhiều khổ, nhiều đoạn. Một tứ thơ là
một chỉnh thể nghệ thuật, mà nghĩa của chỉnh thể “lớn hơn tổng số nghĩa của các
yếu tố tạo thành” [2, tr. 73].
c. Về mặt từ vựng – ngữ nghĩa:
Từ vựng - ngữ nghĩa là yếu tố quan trọng cấu thành tác phẩm thơ ca. Ngôn
ngữ thơ phải có sự tinh tế, chọn lọc kĩ càng. Cho nên, nó giàu hình ảnh, sắc thái
biểu cảm và cơ đọng, có một sức mạnh biểu đạt cao. Như vậy, ngôn ngữ thơ mang
những đặc điểm riêng so với ngôn ngữ của các thể loại khác. Người làm thơ cần
rung động, cần có xúc cảm, nên ngơn ngữ thơ mang sự “bão hoà của cảm xúc”. “Sự
lựa chọn từ ngữ, phương thức tu từ trong thơ bao giờ cũng làm cho nội dung cảm
xúc, thái độ đánh giá, sự đồng cảm hoặc phê phán của chủ thể trở nên nổi bật”. [27,
tr. 193]
Trong kho tàng ngôn ngữ dân tộc, vốn từ vựng rất phong phú (từ cũ, từ vay
mượn, từ nghề nghiệp, tiếng lóng, từ địa phương,…). Đây là những phương tiện
hữu hiệu giúp tác giả xây dựng thế giới nghệ thuật trong tác phẩm. Các lớp từ ngữ
được vận dụng một cách linh hoạt, uyển chuyển, hài hòa, sẽ góp phần thể hiện ý đồ
của tác giả, gây ấn tượng trong lịng người đọc. Bên cạnh đó, các biện pháp chuyển
nghĩa (so sánh, ẩn dụ, hốn dụ, nhân hóa, tượng trưng,…) và các phương thức tổ
chức từ (điệp từ, song hành, tương phản, chơi chữ) cũng có vai trị quan trọng trong
việc tạo nên sắc thái biểu hiện của ngơn ngữ thơ. Chính bởi thế nên, ta vẫn thường
coi ngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ “ý tại ngôn ngoại”. Đến với thơ ca chúng ta không
thể chỉ tiếp nhận bằng mắt, bằng tai; mà cịn cần phải có sự rung cảm của xúc cảm
thẩm mĩ, bằng trí tưởng tượng và liên tưởng.
15
Thơ hay và đi vào lòng người đọc cần sự lựa chọn từ ngữ phải chính xác,
dùng phương thức tu từ phải có tác dụng làm nội dung thơ, thái độ tình cảm của chủ
thể trữ tình phải trở nên nổi bật. Mỗi chữ trong câu thơ ví như một giọt tâm hồn. Và
quá trình làm thơ là quá trình khổ luyện tìm tịi tích lũy vốn sống.
d. Các phương tiện, phương thức tu từ trong thơ:
Trong thi ca thường sử dụng hết sức phong phú các phương tiện, các phương
thức tu từ.
+ Các nhà Việt ngữ học đã phân chia phương tiện tu từ từ vựng bao gồm: từ
cũ, từ vay mượn, từ địa phương, từ hội thoại (khẩu ngữ), từ thơng tục, tiếng lóng, từ
nghề nghiệp, từ thi ca, từ láy và thành ngữ. Căn cứ theo hệ thống lý thuyết của Đinh
Trọng Lạc trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt”, tập bài giảng
“Phong cách học tiếng Việt” của TS. Bùi Trọng Ngoãn, lưu hành nội bộ ĐH SP ĐH Đà Nẵng và một số tài liệu về lý thuyết ngôn ngữ liên quan khác, chúng tôi xác
định các khái niệm về các phương tiện tu từ trên như sau:
“Từ cũ là từ được dùng từ lâu để chỉ những đối tượng và khái niệm hiện nay
vẫn đang tồn tại” [14, tr. 14]. Trên cơ sở tham khảo các tài liệu liên quan chúng tôi
đồng ý với quan niệm: từ cũ “là những từ hiện nay không thông dụng nữa và được
coi là dấu vết của q trình phát triển ngơn ngữ” [22]. Từ cũ bao gồm từ cổ và từ
lịch sử (từ cổ là những từ có từ đồng nghĩa thay thế làm cho nó lỗi thời; từ lịch sử là
những từ đã trở nên lỗi thời do đối tượng biểu thị của chúng trong hiện thực khách
quan khơng cịn nữa). Trong sáng tác văn thơ, từ cũ thường được sử dụng như một
phương tiện tu từ hữu hiệu để tái tạo những bức tranh hiện thực của q khứ, tạo
khơng khí của thời đại mà tác phẩm phản ánh.
Từ vay mượn là “từ lấy từ tiếng nước ngoài nhưng đã phần nào thích nghi
với những chuẩn mực tiếng Việt, cho nên được dùng một cách thơng thường, mặc
dù người nói cịn cảm thấy rất rõ cái nguồn gốc ngoại lai của nó” [14, tr. 18]. Trong
tiếng Việt có từ vay mượn gốc Hán và gốc Ấn - Âu. Trong tác phẩm văn học, sử
dụng từ vay mượn đúng chỗ sẽ đảm bảo tính chân thực lịch sử của hiện thực cuộc
16
sống xã hội được phản ánh. Đặc biệt là từ Hán Việt được sử dụng cân đối, hài hòa
sẽ tạo được những sắc thái biểu cảm giàu ý nghĩa, màu sắc phong cách độc đáo.
Từ địa phương “là những từ chỉ được dùng trong các phương ngữ, thổ ngữ”
[14, tr. 30]. Nước ta có ba phương ngữ lớn theo địa lí là ba miền Bắc - Trung Nam. Trong ngơn ngữ văn chương, sử dụng từ ngữ địa phương thích hợp sẽ tạo ra
màu sắc địa phương gợi sự hòa nhã, thân tình, tạo một giá trị biểu cảm, hiệu quả
nghệ thuật đặc biệt, làm cho tác phẩm có nét đẹp riêng biệt.
Khẩu ngữ (từ hội thoại) “là những từ được dùng đặc biệt trong lời nói miệng,
trong sinh hoạt hằng ngày, nhất là trong đối thoại” [14, tr. 22]. Khẩu ngữ được coi
là dấu hiệu đặc trưng của phong cách ngơn ngữ sinh hoạt. Nó có năm kiểu cấu tạo:
thêm yếu tố, bớt yếu tố, biến âm, biến nghĩa và ngẫu nhiên [22]. Trong thi ca nó có
đặc điểm tu từ là giàu tính hình ảnh và tính biểu cảm; tái hiện cuộc sống một cách
chân thực, sinh động.
Từ thơng tục “là những từ dùng trong lời nói miệng, có khi thơ lỗ, tục tằn”
[14, tr. 24]. Cần tách biệt từ thông tục với khẩu ngữ. Mặc dù phạm vi sử dụng của
từ thông tục là ngôn ngữ hội thoại nhưng “từ thông tục không nằm trong vốn từ
vựng của ngơn ngữ văn hóa” [22].
Tiếng lóng “là những từ khơng phải tồn dân sử dụng mà chỉ một tầng lớp xã
hội nào đó mà thơi” [14, tr. 26]. Tiếng lóng là dạng đặc biệt tách ra từ biệt ngữ xã
hội. Nếu biệt ngữ là những tữ ngữ độc lập trong hệ thống từ vựng thì tiếng lóng “là
tên gọi chồng lên, hay là những tên gọi song song của các sự vật hiện tượng” [22].
Trong văn học, từ thông tục và tiếng lóng ít được sử dụng. Chúng chỉ được
dùng khi muốn cá tính hóa nhân vật, dẫn lời trực tiếp hoặc muốn tạo dựng khơng
khí suồng sã.
“Từ nghề nghiệp là những từ biểu thị công cụ lao động và q trình sản xuất
của một nghề nào đó, thường được những người trong ngành nghề đó biết và sử
dụng” [14, tr. 28]. Tìm hiểu mở rộng các tài liệu liên quan, chúng tôi đồng ý với
quan niệm: “Từ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị những công cụ, sản phẩm lao
động, quá trình sản xuất, quá trình hành nghề nghiệp một nghề nghiệp nào đó” [22]
17
Chúng là những tên gọi duy nhất của hiện tượng trong thực tế. Chúng khơng có từ
đồng nghĩa trong ngơn ngữ tồn dân. Do đó, chúng dễ dàng thành từ tồn dân khi
nghề đó trở nên phổ biến trong xã hội. Ví dụ như nghề nơng. Trong văn chương
việc dùng lớp từ này có những giá trị biểu đạt riêng. Chúng đóng vai trị là phương
tiện tu từ để miêu tả nghề nghiệp, phương cách sản xuất và cá tính hóa ngơn ngữ
nhân vật; nhằm khắc họa hình tượng văn học, không nhằm cung cấp vốn từ.
“Từ thi ca là những từ được sử dụng chủ yếu trong thơ văn xưa. Ngày nay
nếu dùng từ thi ca để chỉ con người, sự vật thì thấy kệch cỡm, buồn cười” [14, tr.
13]. Đặc biệt, lớp từ thi ca nếu dùng trong lời nói thường, hay những văn bản khơng
phải mang tính chất văn chương sẽ trở nên kiểu cách, sáo mòn, thiếu tự nhiên, thậm
chí gây cười cho người khác. Tuy nhiên nếu sử dụng từ thi ca đúng lúc, đúng chổ sẽ
mang lại giá trị biểu cảm lớn. Nó mang màu sắc phong cách đặc biệt.
Từ láy là một lớp từ phong phú trong vốn từ vựng tiếng Việt đó là “những từ
được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho
quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa đối, hài hịa với nhau về âm và nghĩa,
có giá trị tượng trưng hóa” [14, tr. 33]. Từ láy có các kiểu cấu tạo là: láy đôi, láy ba,
láy tư. Dựa theo giá trị tu từ ta sẽ có các kiểu dạng sắc thái tu từ của từ láy là: khái
quát hóa về nghĩa, sắc thái hóa về nghĩa, tính tượng thanh, tính tượng hình. Tiếng
Việt là ngơn ngữ đơn lập, vì thế từ láy có vị trí quan trọng trong việc tạo ra ngữ
điệu, tiết tấu cho phát ngôn. Hơn nữa, láy là một phương thức cấu tạo từ rất uyển
chuyển, ngồi thơng tin cơ sở, từ láy ln hàm chứa thông tin giàu sắc thái biểu
cảm. Trong sáng tác văn chương, nhất là trong ngôn ngữ thơ, việc sử dụng từ láy
một cách khéo léo là một thành công lớn, khơng chỉ mang lại nhạc điệu mà cịn góp
phần khơng nhỏ vào việc tăng cường sắc thái trữ tình cho thơ.
“Thành ngữ là những đơn vị định danh biểu thị khái niệm nào đó dựa trên
những hình ảnh, những biểu tượng cụ thể” [14, tr. 37]. Thông qua kết hợp tìm đọc
một số tài liệu khác, chúng tơi hiểu “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có
tính hồn chỉnh về nghĩa vừa có tính gợi cảm được sử dụng như một đơn vị sẵn có”
[22]. Thành ngữ được xây dựng trên cơ cở của phương thức so sánh, ẩn dụ, hoán
18
dụ. Thành ngữ là phương tiện nhằm khắc phục sự hữu hạn của các đơn vị từ và sự
thiếu hàm xúc của lời nói. Nó phản ánh hiện thực khách quan thơng qua hình ảnh sự
vật thực, việc thực nên có tính hình tượng và tính cụ thể. Mỗi thành ngữ khi nói ra
khác với sự diễn đạt bình thường ở chỗ đều kèm một thái độ cảm xúc, một thái độ
đánh giá nào đó; đó là tính gợi cảm rõ nét của nó. Thành ngữ mang tính biểu trưng
cao, nó có tính khái qt hóa cho mọi hành động, mọi tình thế tương tự. Thành ngữ
được sử dụng rộng rãi trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, đó là “cách nói ví von rất
hay, rất có hình ảnh, rất thấm thía” (Hồ Chí Minh). Nó mang màu sắc phong cách rõ
nét. Các nhà thơ, nhà văn nếu biết cách vận dụng chúng khéo léo vào tác phẩm của
mình sẽ tạo được ấn tượng, giá trị tu từ, giá trị biểu đạt lớn.
+ Trong thi ca thường có những đặc điểm tu từ nổi bật đó là các phép so
sánh, ẩn dụ, nhân hóa, vật hóa; phép điệp, phép lặng,… để tăng giá trị biểu đạt.
“So sánh tu từ hay so sánh nghệ thuật là cách công khai đối chiếu các đối
tượng khác loại, có cùng nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả một cách có hình ảnh
và biểu cảm đặc điểm của một đối tượng” [22]. Đây là biện pháp rất hiệu quả để
miêu tả các đối tượng sự vật. Nhờ các hình ảnh dùng để so sánh mà các ý tưởng, các
yếu tố trừu tượng được cụ thể hóa và trở nên gợi cảm. Đây là một cách xây dựng
hình ảnh trong văn chương. Trong cấu trúc của so sánh tu từ, cái được so sánh A là
cái chưa biết, cần được thể hiện làm rõ; cái dùng để so sánh B là cái đã biết, cái
được dùng làm chuẩn. Nguyên tắc của so sánh tu từ là dùng B để sáng tỏ A một
cách cụ thể và hấp dẫn. Biện pháp này gồm các kiểu A như (như là, tựa, tựa như,…)
B; B bao nhiêu, A bấy nhiêu; A là B; So sánh song hành, kiểu A Ø B [22].
“Ẩn dụ tu từ hay ẩn dụ nghệ thuật là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi của
đối tượng này để biểu thị đối tượng kia trên cơ sở liên tưởng về những nét tương
đồng giữa hai đối tượng” [22]. Do vậy nó cũng có hai yếu tố là cái được ẩn dụ và
cái dùng để ẩn dụ. Nhưng trên bề mặt ngôn bản, cái được ẩn dụ khơng xuất hiện
trực tiếp. Do đó, ẩn dụ giống như sự so sánh ngầm. Ẩn dụ có các kiểu dạng là: ẩn
dụ chân thực (là những ẩn dụ được cấu tạo bằng sự so sánh ngầm những nét tương
đồng giữa các sự vật hiên tượng), ẩn dụ bổ sung (còn gọi là ẩn dụ chuyển đổi cảm
19
giác là sự thay thế một cảm giác này bằng một cảm giác khác khi nhận thức và diễn
đạt bằng ngôn ngữ), ẩn dụ tượng trưng (là những ẩn dụ có tính chất tượng trưng,
mang ý nghĩa biểu tượng) [22]. Ẩn dụ mang lại giá trị biểu cảm cao thông qua lối
nói hình ảnh, kín đáo. Nó gợi ra những điều sâu sắc, đó chính là cách tạo chiều sâu
cho ngơn ngữ diễn đạt.
“Hốn dụ tu từ là cách lâm thời lấy tên gọi của đối tượng này, gọi tên đối
tượng kia dựa vào mối quan hệ logic khách quan giữa hai đối tượng, nhằm nhấn
mạnh đặc điểm của đối tượng đang được thể hiện” [22]. Về cấu tạo nó cũng gồm
hai yếu tố là cái được hoán dụ và cái dùng để hốn dụ. Nhưng trên bề mặt ngơn từ
thì cái được hốn dụ khơng xuất hiện trực tiếp. Có thể kể ra các loại hốn dụ tu từ
chủ yếu là: cải số (quan hệ số lượng với số lượng), cải dung (quan hệ giữa vật chứa
và vật bị chứa), cải danh (quan hệ giữa danh từ riêng và danh từ chung), hoán dụ
xây dựng từ quan hệ giữa bộ phận và toàn thể, vật sở thuộc với chủ thể, ngun
nhân và kết quả. Hốn dụ có tính chất hình ảnh nên có khả năng làm tăng giá trị
biểu cảm. Nó có thể thay thế cho những khái niệm trừu tượng và nói những điều
phức tạp sâu xa bằng cái giản đơn, dễ nhận ra. Hốn dụ nói bằng đặc điểm của đối
tượng và khắc họa đặc điểm đó, khiến cho sự miêu tả gây được ấn tượng sâu sắc
cho người đọc, người nghe.
“Nhân hóa là cách lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu, hoạt động
của con người để biểu thị cho sự vật, làm cho đối tượng trở nên sinh động và gần
gũi hơn” [22]. Nhân hóa có hai loại: miêu tả đối tượng trong những hoạt động trạng
thái, tính chất của con người và coi đối tượng như con người, đối thoại, tâm tình,
giãi bày với chúng. Nhân hóa vừa có chức năng nhận thức và chức năng biểu cảm,
được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong ngôn ngữ sinh hoạt và trong văn chương.
“Phép điệp là biện pháp tu từ lặp lại có nghệ thuật một từ, một ngữ hay một
kiểu cấu trúc ngữ pháp trong nhiều câu nhằm nhấn mạnh một nội dung, tăng cường
nhạc tính và sức biểu cảm” [22]. Dựa vào quy mô cấu tạo ta chia phép điệp bao
gồm điệp từ ngữ và điệp cú pháp (lặp cú pháp). Phép điệp có vai trị rất lớn trong
việc tạo nhạc điệu và sức gợi cảm của thơ.
20
“Phép lặng (ẩn ngữ) là phương thức biểu đạt bằng cách bỏ trống để người
đọc người nghe tự hiểu, không cần diễn đạt bằng lời” [22]. Đây là hình thức diễn
đạt khá đặc biệt, có chức năng biểu cảm; với những khoảng lặng được thể hiện bằng
dấu chấm lửng, những yếu tố có mặt là cơ sở để hiểu phần để trống. Nó như những
cảm xúc lắng đọng hay sự vang ngân, tạo những rung cảm lạ thường.
1.2. Tác giả Nguyễn Duy với con đường sáng tạo thơ văn
1.2.1. Nguyễn Duy – Đời sống, quê hương với văn nghiệp thơ ca
a. Tiểu sử cuộc đời: Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm
1947 (khai sinh 1948) tại xã Đơng Vệ - Đơng Sơn - Thanh Hóa (nay là phường
Đơng Vệ, Tp. Thanh Hóa). Nguyễn Duy sinh ra trên mảnh đất xứ Thanh với những
nghèo khổ vất vả, lam lũ nhưng là khúc ruột miền trung nặng tình người, tình đời.
Những gì mộc mạc, bình dị, chân chất của quê hương đã thấm sâu vào hồn thơ
Nguyễn Duy. Trong trả lời phỏng vấn ở buổi nói chuyện thơ bên Đức năm 2001
ông đã tâm sự: “Tôi sinh ra ở nơng thơn, làm ruộng từ bé, đằm mình trong đất cát
rơm rạ cua ốc và ngôn ngữ của nhà quê. Lớn lên thì đi lang thang nhiều nơi, nhưng
mà cái thần hồn của làng q trong tơi nó cứ nhập vào như lên đồng ấy. Chính thế
mà sau này tơi rất thích làm thơ lục bát. (...) Tơi mài, tơi giũa, tôi thổi vào cái thể
thơ lục bát ấy hồn vía của thế hệ tơi” [32].
Năm 1965, Nguyễn Duy làm tiểu đội trưởng, tiểu đội dân quân trực tại khu
vực cầu Hàm Rồng - một trọng điểm bắn phá ác liệt của không quân Mĩ bấy giờ.
Năm 1966, ông nhập ngũ trở thành lính đường dây của bộ đội thơng tin và làm báo
trong quân đội, tham gia chiến đấu nhiều năm trên các tuyến đường 9, Khe Sanh,
nam Lào và nhiều mặt trận phía Nam lẫn phía Bắc.
Thời gian từ năm 1971 đến năm 1975 ông đã theo học và tốt nghiệp khoa
Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Năm 1976, đất nước thống nhất, ông chuyển ngành về làm ở báo Văn nghệ
giải phóng. Từ 1977 cho đến nay, ông là đại diện thường trú của báo Văn nghệ tại
các tỉnh phía Nam. Hiện nay, ơng đang sống và làm việc tại Tp. Hồ Chí Minh.
21
b. Con đường thơ Nguyễn Duy: Nguyễn Duy làm thơ rất sớm, từ khi đang
cịn là học sinh. Thơ ơng được in lần đầu năm 1967. Ông thuộc thế hệ nhà thơ thời
chống Mĩ và được biết đến với tư cách nhà thơ khi đã khốc áo lính. Năm 1973,
Nguyễn Duy đã đạt giải nhất trong cuộc thi thơ của báo Văn nghệ. Từ đây, sự
nghiệp thơ ông bắt đầu gây tiếng vang nở rộ. Ông lao động sáng tạo nghệ thuật miệt
mài và hăng say suốt quá trình sáng tác của mình. Nguyễn Duy đã tạo nên một sự
nghiệp sáng tạo nghệ thuật đáng nể. Ơng khơng chỉ sáng tác nên một khối lượng thơ
lớn có giá trị mà cịn viết bút kí, tiểu thuyết. Thơ ơng khơng chỉ được đón nhận
trong nước, mà cịn đến với bạn đọc quốc tế ở các chặng đường sáng tạo. Ông đã
đạt giải A về thơ của Hội nhà văn Việt Nam (1985), giải thưởng nhà nước về văn
học nghệ thuật (2007).
Cho đến nay, Nguyễn Duy đã xuất bản các tác phẩm: “Cát trắng” - tập thơ
đầu tay (NXB Quân đội nhân dân, 1973), “Phóng sự 30475” - thơ phóng sự (NXB
Văn nghệ, 1981), “Em Sóng” - kịch thơ (NXB Kim Đồng, 1983), “Ánh trăng” - tập
thơ (NXB Tác phẩm mới, 1984), “Khoảng cách” - tiểu thuyết (NXB Phụ nữ, 1985),
“Nhìn ra bể rộng trời cao” - bút ký (NXB Văn nghệ, 1986), “Mẹ và em” - tập thơ
(NXB Thanh Hóa, 1987), “Đãi cát tìm vàng” - tập thơ (NXB Văn nghệ, 1987), “Tơi
thích làm vua” - bút ký (NXB Văn nghệ, 1988), “Đường xa” - tập thơ (NXB trẻ,
1989), “Quà tặng” - tập thơ (NXB Văn học 1990), “Về” - tập thơ (NXB Hội nhà
văn, 1994), “Sáu & Tám” - tuyển thơ lục bát (NXB Văn học, 1994), “Vợ ơi” - tuyển
thơ tặng vợ (NXB Phụ nữ, 1995), “Tình tang” - tuyển thơ (NXB Văn học, 1995),
“Bụi” - tập thơ (NXB Hội nhà văn, 1997), “Thơ với tuổi thơ” - tuyển thơ (NXB
Kim Đồng, 2002), “Thơ trữ tình” - tuyển thơ (NXB Hội nhà văn, 2004), “36 bài
thơ” - tuyển thơ (NXB Lao động, 2007). Mới đây nhất NXB Hội nhà văn đã xuất
bản tuyển tập “Thơ Nguyễn Duy” năm 2010. Năm 1997, sau khi in tập thơ cuối
cùng (tập thơ “Bụi ) Nguyễn Duy đã tuyên bố ngừng làm thơ là vì khơng muốn lặp
lại mình trong sự sáng tạo. Song khơng phải vì vậy mà cho rằng ơng đã đoạn tuyệt
với thơ. Ơng vẫn khẳng định mình cịn “nặng duyên nợ với thơ” [32].
22
1.2.2. Nguyễn Duy – Gương mặt thơ độc đáo mà hồn hậu
Nguyễn Duy ln say sưa trong hành trình sáng tạo thi ca của mình. Sáng tác
của ơng rất giàu cá tính sáng tạo với chất thơ vừa hiện đại, vừa đậm đà bản sắc dân
tộc. Thơ Nguyễn Duy mang “cái hiền hậu, cái gì rất Việt Nam” [19, tr. 383]. Thơ
ông là sự “dung dị đằm thắm chất dân gian mà vẫn mới lạ, vẫn chân chất, chắc bền
sâu kín” [19, tr. 384]. Tiếng thơ ơng có sự đậm đà, ổn định một phong cách, một
giọng điệu quen đã luôn hấp dẫn đối với người đọc. “Những năm gần đây người đọc
như bắt gặp một Nguyễn Duy khác. Một Nguyễn Duy thích bơng lơn, đùa cợt ngay
cả những lúc cần “trữ tình”, trang nghiêm nhất. Cái nồng hậu, rưng rưng cảm động
trong thơ ông những năm trước đây dường như nhạt dần. Có thể sự thay đổi này tạo
nên màu sắc đa dạng trong giọng điệu trữ tình và phong cách thể hiện của Nguyễn
Duy” [19, tr. 384]. Nguyễn Duy đã được khen là người “khéo tay điều khiển từ”. Ở
các bài thơ về đề tài thời sự xã hội thì những lời nói thường và những thuật ngữ
chính trị - kinh tế - khoa học vẫn được xếp vào đúng chỗ có ý nghĩa. Chúng khơng
hề làm cản trở mạch thơ, mà còn tạo nên hiệu quả, gây hứng thú bất ngờ. Nguyễn
Duy có khả năng ấy nhưng khơng lạm dụng, đúng hơn là khơng có khuynh hướng
đi xa hơn vào lối rẽ này. “Thơ Nguyễn Duy vẫn hướng theo mạch trữ tình thuần
túy, với ngơn ngữ trong sáng của tiếng Việt, tiếng nói người dân” [24, tr. 91].
Thơ Nguyễn Duy có vẻ đẹp giản dị trong nội dung và trong cả cách biểu
hiện. Từ sơn nhận định thơ Nguyễn Duy “viết theo đơn đặt hàng của cuộc sống và
của chính lịng anh. (…) Những dịng thơ, bài thơ có lúc đã đạt được cái trong veo
của nắng mai, cái hào phóng của cơn gió nơi đồng nội, cái ấm áp của lời thổ lộ tâm
tình” [31, tr. 604, 605]. Đọc thơ Nguyễn Duy, ta nhận ra chất liệu làm nên thơ ơng
chủ yếu là những tình tiết quen thuộc của đời sống và những người, những cảnh
bình dị ta vẫn gặp hằng ngày. PGS. TS. Trần Đăng Suyền cũng nhận định: “Nguyễn
Duy với giọng điệu gần với ca dao chân chất, dân giã, tình tứ đơn hậu mà đằm thắm
thâm trầm, sâu sa” [18, tr. 387]. Thơ ông luôn giữ vững bản sắc và phong cách. Ông
luôn ý thức: với ngôn ngữ thơ không chỉ đơn giản là độ dâng trào của cảm xúc, mà
bắt buộc phải tinh lọc qua lăng kính bác học. Đọc thơ Nguyễn Duy, Lê Quang
23
Trang nhận định: “anh khơng muốn thơ mình chỉ là ly nước ngọt, mà phải chứa chất
men như rượu, càng ngấm, càng say” [31, tr. 604].
Nguyễn Duy được đánh giá cao ở thơ lục bát. Nhiều người khơng hiểu vì sao
ông “chuyên trị” thể loại này một cách điêu luyện và vận dụng ca dao vào nó tài
tình đến vậy. Đó là do từ nhỏ ơng sống nơi thơn q dân dã. Nhà thơ đã hịa vào
máu thịt mình những câu ca dao, điệu hò, điệu lý dân quê từ các bà các mẹ, các chị.
Thơ lục bát của ông rất nổi bật bởi nó được viết theo phong cách rất hiện đại, câu
thơ vừa phóng túng lại vừa uyển chuyển, lời thơ chặt chẽ. Ông đã được đánh giá là
người có cơng làm mới thể thơ truyền thống này. Nguyễn Duy không những đã
đánh thức thơ lục bát mà ơng cịn có cơng làm mới, làm hiện đại thể loại thơ cổ
truyền của dân tộc. Nguyễn Quang Sáng nhận xét: “thơ lục bát Nguyễn Duy khơng
rơi vào tình trạng quen tay, nó có sự chuyển động biến đổi trong câu chữ. Phải
chăng đó là do chuyển động trong nội tâm mà ứa ra câu chữ. Dù ở đâu Nguyễn Duy
vẫn bắt được cái thần của con người và cái hồn của cây cỏ chỉ là nhờ vào thế giới
nội tâm phong phú và năng động của chính mình” [31, tr. 604]. Sự gắn bó, gia cơng
chăm chút thể thơ truyền thống ấy, cho ta thấy hồn thơ Nguyễn Duy là một hồn thơ
nặng ân tình, một hồn thơ mang sự chân chất của một cái tôi “thảo dân thi sĩ”.
(theo lời của Chu Văn Sơn trong bài “ Nguyễn Duy thi sĩ thảo dân” [38, tr. 403])
Tiểu kết:
Như vậy, ngơn ngữ thơ ca có những đặc điểm riêng trong cơ chế bộ máy vận
hành và cơ chế ấy có tính “mở”. Dựa trên tính mở ấy, mỗi nhà thơ sẽ nhờ vào đó mà
sáng tạo nên thế giới thơ của riêng mình. Song sự sáng tạo đều phải luôn luôn ăn
khớp với cái khung cốt yếu của cơ chế thơ thì thơ đó mới tồn tại được.
Nguyễn Duy đã vận dụng được tính “mở” trong vận hành ngơn ngữ thơ của
mình. Ơng là một cây bút thơ độc đáo. Sự nghiệp thơ ơng đã là đóng góp quan trọng
cho nền thơ ca nói chung và ngơn ngữ thơ nói riêng. Điều này đã được khẳng định
và kiểm nghiệm qua mấy mươi năm “mắc bệnh thơ” (Tập ru con) của ông.
24
CHƯƠNG HAI: ĐẶC ĐIỂM THẨM MĨ CỦA CÁC PHƯƠNG TIỆN TU TỪ
TỪ VỰNG TRONG THƠ NGUYỄN DUY
2.1. Đặc điểm thẩm mĩ của từ vựng trong thơ Nguyễn Duy xét theo nguồn gốc,
phạm vi sử dụng
2.1.1. Từ cũ (từ cổ và từ lịch sử)
Từ cũ hiện nay rất ít dùng, nhưng trong thơ ca lớp từ này vẫn sử dụng. Thơ
Nguyễn Duy cũng không ngoại lệ. Khảo sát 45 bài thơ trong tuyển tập “Thơ trữ
tình” của ơng, chúng tơi thu được kết quả cụ thể trình bày theo bảng sau:
Tên bài thơ
STT
Từ cũ và nghĩa của nó
1
Được yêu như thể ca dao
mây mưa (thú vui xác thịt)
2
Đi ngang Thành Nội
thần công (súng đại bác thời xưa)
3
Nhớ bạn
sa (từ từ rơi thẳng xuống)
4
Một góc chiều Hà Nội
kinh thành (thành xây bảo vệ kinh đơ thời
xưa)
5
Nha Trang có một mối tình
lõa thể (khỏa thân)
6
Kiêng
phàm trần (cõi trần tục, cõi đời thực)
7
Mỗi
thầy đồ (người làm nghề dạy chữ Nho thời
trước)
8
Giọt trời
chăng (biểu thị ý phủ định), khế ước (giấy
giao kèo việc mua bán, thuê, vay…)
9
Thương nhớ thơ ngây
cai tù (người trông coi tù nhân)
10
Vợ ơi
kinh kì (kinh đơ), mn (vạn)
11
Rơi và nhặt
phu (người làm thuê nặng nhọc dưới thời
phong kiến, thực dân)
12
Yêu
ưu phiền (buồn xen lẫn lo âu, khơng n
trong lịng)
13
Em ơi, gió…
ong bướm (chỉ kẻ chơi bời, ve vãn phụ nữ)
14
Vợ ốm
thi nhân (nhà thơ), quốc gia (nước nhà), việc
25
thiên việc địa (nhiều việc lung tung)
15
Thời gian
một mai (một ngày nào đó sắp tới), quan tịa
(thẩm phán)
Tổng dùng 20 mục từ
Qua kết quả khảo sát trên, chúng tơi tính tỉ lệ phần trăm số bài dùng từ cũ
trên tổng số bài khảo sát là 33,33 %; và tỉ lệ phần trăm số từ trên bài là 44, 44%.
Với những tỉ lệ này cho thấy: Nguyễn Duy đã có khả năng “tận dụng” được cả vốn
từ cũ của dân tộc. Chúng đi vào thơ ông không phải là ngẫu nhiên. Khảo sát nghĩa
của chúng trong ngữ cảnh thơ cụ thể, chúng tôi nhận ra việc nhà thơ vận dụng từ cũ
vào thơ không những không hề làm cho câu thơ trở nên khó hiểu, khơ cứng; mà
ngược lại, chúng có tác dụng mang lại sắc thái tu từ cho sự diễn đạt, diễn tả thành
công lớp ý nghĩa mà tác giả muốn đan cài vào. Đó là sự tinh tế trong ý thơ, là sự
giản dị trong ngôn từ nghệ thuật, sự khéo léo trong điều khiển câu chữ. Phân tích
một dẫn chứng cụ thể sau, ta sẽ thấy rõ điều này:
“Này em mình tự dọn mình
ta ân xá tội với tình cho ta
thời gian lướt thướt quan tịa
một mai trắng án thiên hà cả thôi”
(Thời gian)
Trong đoạn thơ trên, ta thấy Nguyễn Duy đã dùng kết hợp hai từ cũ là “quan
tòa”, “một mai” đứng cạnh một loạt những từ Hán Việt (thiên hà, thời gian, ân xá,
án, tội) sẽ tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật trọn vẹn. Nếu thay chúng bằng những từ
hiện thời là “thẩm phán”, “rồi đây” thì sẽ giảm đi đáng kể cái sắc thái về sự chiêm
nghiệm, sự suy tư lắng đọng về những điều đã qua của bước đi thời gian. Việc dùng
từ như vậy khiến ta có cách cảm về đoạn thơ đó là một sự trải lịng, là sự ngẫm suy
về quá khứ xa vắng mà thời gian đã cuốn đi. Phải chăng, nhà thơ đang dằn lịng
mình, tự an ủi mình, khi đứng ở hiện tại nhìn lại dịng chảy thời gian. Có dùng
những từ cũ ấy, thì việc diễn đạt này mới thực sự có hồn, mới tạo được không gian
thơ cho sự cảm nhận. Đồng thời, qua việc cảm nhận những đoạn thơ như vậy từ