Tải bản đầy đủ (.pdf) (68 trang)

Đặc điểm ngôn ngữ Nguyễn Khải qua Hà Nội trong mắt tôi 10600917

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (654.96 KB, 68 trang )

1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
----------

HỒ THỊ LAN

Đặc điểm ngôn ngữ Nguyễn Khải qua
Hà Nội trong mắt tơi

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP


2

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn học là nghệ thuật của ngơn từ (M. Gorki, trích theo [15, tr.184]).
Ngôn ngữ kết tinh cùng với tài năng của người nghệ sĩ sẽ tạo nên cả vườn hoa
văn học nở rộ. Ngôn từ sắc sảo, giàu ý nghĩa biểu đạt thì sản phẩm tinh thần
trường tồn cùng với lịch sử của thời gian. Ngôn ngữ tạo nên cái riêng, cái độc
đáo và là cánh tay đắc lực nâng tư tưởng của nhà văn lên tầng cao mới. Nó
cũng là một tiêu chuẩn để đánh giá sự thành công của một tác phẩm văn học.
Việc lựa chọn phương tiện ngôn ngữ cho tác phẩm thể hiện đặc điểm và
phong cách riêng của mỗi nhà văn. Vì vậy đặt vấn đề nghiên cứu đặc điểm
ngôn ngữ của văn bản nghệ thuật sẽ giúp chúng ta thẩm định lại tác phẩm và
có những điểm nhìn nhận mới mẻ về những đặc sắc của một nhà văn.
Nguyễn Khải là một trong những cây đại thụ của văn chương Việt Nam
hiện đại. Bản thân tác giả đã tự chia hành trình nghệ thuật của ơng thành hai


thời kỳ và Hà Nội trong mắt tôi được coi là tác phẩm đánh dấu sự chuyển
hướng trong lối viết của Nguyễn Khải. Những vấn đề thời sự, tinh thần công
dân và thế sự là đề tài xuyên suốt của Nguyễn Khải trong giai đoạn 1953 đến
1978. Sau 1978 ngòi bút Nguyễn Khải chuyển hướng sang những vấn đề thế
sự - đời tư. Tính triết luận thay tính chính luận.
Tuy nhiên, đối với các tác phẩm Nguyễn Khải nói chung và Hà Nội trong
mắt tơi nói riêng, giới nghiên cứu hầu như chỉ quan tâm cái mới trong nội
dung đề tài, cái mới trong nội dung thể hiện và cảm hứng thế sự, mà chưa có


3

sự quan tâm thích đáng về mặt ngơn ngữ. Vì vậy, nghiên cứu về đặc điểm
ngôn ngữ Nguyễn Khải qua Hà Nội trong mắt tôi dưới ánh sáng của ngôn
ngữ học là một vấn đề còn bỏ ngỏ, còn là một mảnh đất khá hoang sơ, nhưng
vô cùng độc đáo, hấp dẫn để khám phá.
Bên cạnh đó, một lí do nữa không kém phần quan trọng để chúng tôi quyết
định lựa chọn đề tài Đặc điểm ngôn ngữ Nguyễn Khải qua Hà Nội trong
mắt tơi để tìm hiểu nghiên cứu là lí do nghiệp vụ, nghiên cứu về một tác giả
lớn như Nguyễn Khải sẽ là một cơ hội giúp chúng tôi bổ sung kiến thức
chuyên sâu, phục vụ cho quá trình giảng dạy sau này. Đồng thời qua việc
nghiên cứu đề tài này chúng tơi cịn học tập được cách tiếp cận một vấn đề
khoa học.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nguyễn Khải là cây bút xuất sắc của nền văn xi Việt Nam hiện đại. Nhà
văn đã góp phần rất lớn cho sự phát triển và đổi mới của nền văn học nước
nhà. Ông là cây bút trưởng thành từ trong quân đội. Ngòi bút của Nguyễn
Khải khai mở từ cảm hứng công dân, cảm hứng ngợi ca cho tới cảm hứng thế
sự đời tư. Nhà văn thâm nhập vào từng ngóc ngách của nhiều khía cạnh đời
sống. Nguyễn Khải đã được giới nghiên cứu đi vào bàn luận về cả cuộc đời

lẫn sự nghiệp sáng tác. Riêng tập truyện Hà Nội trong mắt tơi đã có một số
tác giả tiêu biểu như: Lại Nguyên Ân – Trần Đình Sử, Phan Cự Đệ, Trần
Thanh Phương, Đinh Quang Tốn, Bích Thu,… nghiên cứu và có nhiều phát
hiện quan trọng.
Với cơng trình Sống với văn học cùng thời, hai nhà nghiên cứu Lại
Ngun Ân và Trần Đình Sử đã có những nhận định rất xác đáng về năng lực
ngôn ngữ của Nguyễn Khải. Theo Lại Nguyên Ân : Thành công được như thế,
phải nói đến đặc sắc ngơn ngữ của Nguyễn Khải, một thứ ngôn ngữ rất văn


4

xi: nó khơng ưng nống lên thống thiết mà thường pha ngang giọng tưng
tửng, đùa đùa [1, tr.61].
Trần Đình Sử cũng nhận xét về ngôn ngữ của Nguyễn Khải:
Một chất lượng ngôn ngữ đặc sắc như vậy là phương thức rất lợi hại để
phân tích tâm lí [1, tr.62].
Nghiên cứu về ngôn ngữ Nguyễn Khải, Phan Cự Đệ cũng đã khẳng định:
Ngôn ngữ kể chuyện của Nguyễn Khải đôi khi khách quan một cách lạnh lùng
tạo điều kiện cho các sự việc hàng ngày đi thẳng đến người đọc [23, tr.43].
Cũng theo Phan Cự Đệ: Phong cách hiện thực tỉnh táo cũng tạo cho tác
phẩm của Nguyễn Khải có một thứ ngơn ngữ đặc biệt. Đó là thứ ngơn ngữ trí
tuệ, sắc sảo, đánh thẳng vào đối phương khơng kiêng nể… một thứ ngơn ngữ
mang tính chiến đấu, chân thật, khách quan, không cần tô màu một sự mĩ học
lộ liễu nào[23, tr.43 - 44]. Ngôn ngữ trong các tác phẩm của Nguyễn Khải là
thứ ngơn ngữ mang tính triết lí, trí tuệ rất cao. Đó là thứ ngơn ngữ đặc biệt, nó
khơng được tơ lên bằng một gam màu mĩ học, không tượng trưng, mà là một
thứ ngôn ngữ nói thẳng, nói thật, nói trực tiếp vào đối phương và rất chân
thật, khách quan.
Trong bài viết Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải

những năm 80 đến nay, Bích Thu nhận xét về cách sử dụng ngơn ngữ của nhà
văn Nguyễn Khải: Tác giả đã tỏ ra ưu thế trong việc sử dụng khẩu ngữ.
Những ngôn ngữ được chắt lọc trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, ngơn ngữ
mang tính đối thoại [29, tr.13].
Với bài viết Nguyễn Khải với Hà Nội, Đinh Quang Tốn có rất nhiều đánh
giá và phát hiện độc đáo về tập truyện ngắn Hà Nội trong mắt tôi: Hà Nội
trong mắt tôi, tên tập truyện thật kiêu, bởi cái tên ấy gợi một người làm chủ
Hà Nội đứng ở trên cuộc sống và con người mà nhìn, hiểu hết mọi điều như
“đi guốc” trong ruột Hà Nội. Vậy mà cả 10 truyện của tập, truyện nào cũng


5

đầy yêu thương trân trọng và kính phục những con người Hà Nội [23, tr.375].
Nhà nghiên cứu Đinh Quang Tốn đã có những nhận định đáng giá về tiêu đề
tác phẩm. Tác giả đã khẳng định tiêu đề tác phẩm hay, khơi gợi nên được cốt
lõi của tập truyện. Đề tài mà Nguyễn Khải tập trung là đề tài về Hà Nội. Ơng
đã đưa ra nhận định làm tốt lên được nội dung chính của tập truyện: nói về
vẻ đẹp và cốt cách của người Hà Nội, Nguyễn Khải khi nói về Hà Nội với
một thái độ đầy yêu thương và kính trọng.
Đinh Quang Tốn cịn có một nhận định rất đặc sắc về tập truyện Hà Nội
trong mắt tôi: Hà Nội trong mắt tôi là một tập truyện hay. Mỗi truyện một vấn
đề, mỗi người một nhân cách. Cả tập truyện là tập hợp những nhân cách Hà
Nội. Mỗi người một vẻ, nhưng khơng ai hèn. Có lẽ khơng phải ngẫu nhiên mà
giữa những biến động lớn của cuộc sống, con người bị khủng hoảng nhân
cách trầm trọng, Nguyễn Khải lại tập trung xây dựng những nhân cách sống.
Nhân cách của mỗi con người cũng như bản lĩnh của một dân tộc có lẽ là
điều cốt yếu nhất để khẳng định mình [23, tr.378].
Qua bài viết Nguyễn Khải với Hà Nội trong mắt tơi, Trần Thanh Phương
có nhận định và đánh giá tập truyện như sau: Hà Nội trong mắt tôi không tuân

theo những khuôn mẫu thông thường của truyện ngắn truyền thống địi hỏi
phải có cốt truyện và những pha hấp dẫn ly kỳ của sự thắt nút, cởi nút v.v…Ở
đây vai trò hư cấu dường như bị tước bỏ: toàn chuyện người thực, việc thực
[23, tr.381].
Tác giả đã có cái nhìn ở phương diện nghệ thuật trong tập truyện Hà Nội
trong mắt tơi. Đó là, sự đổi mới của tập truyện không tuân theo nguyên tắc cũ
của cách viết truyện ngắn truyền thống. Yếu tố hư cấu dường như đã bị tước
bỏ và thay vào đó là những con người thực trong cuộc sống hàng ngày.
Những pha hấp dẫn: thắt nút, mở nút, cao trào rất ít xuất hiện trong truyện


6

Nguyễn Khải, mà trong tác phẩm của ông hiện thực hiện lên một cách rõ nét,
những con người thực đang tồn tại trong tác phẩm văn chương của ông.
Cũng theo Trần Thanh Phương: tác giả thường xuyên sử dụng thủ pháp tự
giễu mình, giễu cái nghề của mình và giễu cả bạn bè đồng nghiệp. Nhiều khi
ông mượn lời nhân vật để giễu rồi tự xác nhận. Cách giễu cợt ấy có tác dụng
xóa nhịa khoảng cách giữa nhà văn và nhân vật, kéo độc giả gần lại với
mình, tạo ra sự bình đẳng thân mật, thậm chí có thể vỗ vai cợt nhã nữa
[23, tr.382]. Cái đặc sắc trong việc sử dụng ngơn ngữ của Nguyễn Khải là có
khi sử dụng thủ pháp giễu nhại. Việc sử dụng thủ pháp này, có tác dụng làm
nhịe đi ranh giới giữa nhà văn và nhân vật, làm rút ngắn khoảng cách và tạo
nên cảm giác thân thiện, gần gũi của người đọc khi đến với tác phẩm.
Nhìn chung, một cách khái quát có thể thấy các tác giả trên đều có những
nhận xét rất độc đáo về ngôn ngữ của Nguyễn Khải và tập truyện Hà Nội
trong mắt tôi. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra được ngôn ngữ của Nguyễn Khải
có một đặc điểm chung: sử dụng ngơn ngữ chắt lọc từ lời ăn tiếng nói hằng
ngày, sử dụng khẩu ngữ, ngơn ngữ chân thật, mang tính triết lí và trí tuệ cao.
Tập truyện Hà Nội trong mắt tơi đặc sắc trên cả hai phương diện nội dung và

nghệ thuật. Về phương diện nội dung, đặc sắc của tập truyện được thể hiện ở
chỗ: là tập truyện hay, mỗi truyện nêu lên được một vấn đề, chỉ từ những
trang viết đó thơi mà Nguyễn Khải đã làm tốt lên cả nhân cách cao đẹp của
con người Hà Nội. Đặc sắc ở phương diện nghệ thuật là việc sử dụng thủ
pháp giễu nhại và cách viết truyện của nhà văn không theo khuôn mẫu của
cách viết truyền thống. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra được rất nhiều điều mới
mẻ, bổ ích, bổ sung được rất nhiều kiến thức chuyên sâu cho quá trình giảng
dạy và học tập. Tuy nhiên, các cơng trình đều chỉ nghiên cứu ngơn ngữ của
Nguyễn Khải và tập truyện Hà Nội trong mắt tôi trên lĩnh vực văn học và thi
pháp học, và chưa có một cơng trình nào nghiên cứu đặc điểm ngơn ngữ


7

Nguyễn Khải trong tập truyện Hà Nội trong mắt tôi trên lĩnh vực ngôn ngữ
học. Mặc dầu vậy, các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp cho chúng tơi
một lượng kiến thức bổ ích và gợi hướng đi giúp chúng tôi giải quyết đề tài
này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Đặc điểm ngôn ngữ Nguyễn Khải qua
tập Hà Nội trong mắt tôi.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài : văn bản nghệ thuật tập Hà Nội trong mắt
tôi của Nguyễn Khải.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp,
trong đó đặc biệt chú trọng các phương pháp sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: Khảo sát văn bản, thống kê,
phân loại để tính tỉ lệ.
- Phương pháp phân tích chứng minh: Phân tích các ví dụ để chứng minh
cho các luận điểm.

- Phương pháp miêu tả: Miêu tả từ ngữ, cấu trúc câu, các biện pháp tu từ
để rút ra vai trò, ý nghĩa.
- Phương pháp tổng hợp, khái quát: Khi khảo sát, thống kê, phân tích,
chứng minh thì tổng hợp và khái qt các ý để dễ nắm bắt ý trong bài
khóa luận.
5. Dự kiến đóng góp đề tài
Qua đề tài, Đặc điểm ngơn ngữ Nguyễn Khải qua Hà Nội trong mắt tôi,
chúng tôi hi vọng xác tín cách viết hiện đại của Nguyễn Khải về mặt phong
cách học.
6. Bố cục đề tài


8

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính đề tài gồm 3
chương:
Chương 1. Một số vấn đề chung.
Chương 2. Khảo sát và miêu tả đặc điểm ngôn ngữ Nguyễn Khải qua Hà Nội
trong mắt tôi.
Chương 3: Tầm tác động của ngôn ngữ Nguyễn Khải đối với thế giới nghệ
thuật của ông trong tập Hà Nội trong mắt tôi.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Cá tính sáng tạo của nhà văn và phong cách ngơn ngữ của nhà văn
1.1.1. Cá tính sáng tạo của nhà văn
Trong bất cứ một ngành nghề, lĩnh vực nào, sáng tạo là yếu tố quyết
định cho mọi con đường đi tới thành cơng. Nhưng đối với văn chương, cá tính
sáng tạo của nhà văn chiếm vai trò chủ đạo và yếu tố tiên quyết cho việc
thành công hay thất bại trong sự nghiệp của mình. Cá tính sáng tạo là một
hiện tượng lịch sử. Sự hình thành cá tính sáng tạo với tư cách là một đại

lượng thực tại có ý nghĩa rất lớn trong đời sống nghệ thuật. Cá tính sáng tạo là
cách nhìn nhận và cách thể hiện thế giới của cá nhân nhà văn đó. Theo Hà
Minh Đức: Phong cách sáng tạo văn học là tổng thể những đường nét riêng
biệt của một chân dung văn học, là chiều sâu của bản chất của một cá tính
sáng tạo, là những giá trị thẩm mĩ tối ưu mà tác giả, tác phẩm văn học,
khuynh hướng văn học, nền văn học đã đạt được [21, tr.29]. Cá tính sáng tạo
là cái riêng của mỗi nhà văn, là giá trị thẩm mĩ mà kết quả của họ đạt được
trong quá trình sáng tạo. Chính vì thế cá tính sáng tạo của nhà văn là điều kiện
cần để tạo nên kiệt tác văn học. Nhưng không thể đồng nhất cá nhân nhà văn
với cá tính sáng tạo của nhà văn. Theo M.B Khrapchenko: Mối tương quan cá


9

tính sáng tạo và cá nhân nhà văn có thể có những tính chất khác nhau. Hồn
tồn khơng phải tất cả những cái gì là đặc thù của cá nhân người nghệ sĩ
trong sinh hoạt hàng ngày đều được phản ánh trong tác phẩm của anh ta.
Mặt khác, không phải bao giờ và khơng phải tất cả những gì tiêu biểu cho cái
tôi sáng tạo cũng tương ứng một cách trực tiếp với những đặc điểm của con
người thực tại của nhà văn [9, tr.99]. Khi nói về vai trị của cá tính sáng tạo
của nhà văn, Puskin đã từng phát biểu: Văn xi địi hỏi tư tưởng và tư tưởng
thiếu chúng thì cách thể hiện xuất sắc cũng chẳng giúp ích được gì. Những tư
tưởng lớn cổ vũ người nghệ sĩ tìm tịi, sáng tạo, soi sáng con đường của họ,
dẫn tới những đỉnh cao của nghệ thuật. Và mặc dầu, những tư tưởng lớn tự
chúng không tạo ra tài năng, những tài năng nếu có được những tư tưởng ấy
thì sẽ tạo ra những giá trị nghệ thuật lớn. Cá tính sáng tạo của nhà văn thể
hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau trong cuộc sống, trước hết thể hiện ở cách
nhìn của nhà văn đối cuộc sống, ở sự độc đáo và mang cá tính sáng tạo của họ
đối hiện thực. Theo M.B Khrapchenko : Ý niệm về tiếng nói của mình và luận
điểm về sự lí giải cuộc sống theo cách mới trong các tác phẩm của nhà văn có

tài có liên quan hết sức mật thiết với nhau. Nhà văn chỉ có thể nói một lời nói
mới mẻ khi anh ta có được tiếng nói của mình và tiếng nói đó càng mạnh bao
nhiêu, cá tính sáng tạo của nhà nghệ sĩ hiện lên càng rõ nét bao nhiêu thì
cống hiến của anh ta vào nghệ thuật càng lớn bấy nhiêu [9, tr.90 - 91].
Tóm lại, cá tính sáng tạo của nhà văn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình
xây dựng tác phẩm văn học của người nghệ sĩ. Nhờ có cá tính sáng tạo của
nhà văn mà các tác phẩm văn chương có sức hấp dẫn lớn. Cá tính sáng tạo
nhà văn là cái cốt lõi hình thành tư tưởng mới. Chính cái mới đó nó đã giúp
chúng ta nhận ra được cái riêng của nhà nghệ sĩ và cái riêng đó chính là
phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn.
1.1.2. Phong cách ngôn ngữ của nhà văn.


10

1.1.2.1. Phong cách ngôn ngữ của nhà văn theo quan niệm của các nhà lí
luận văn học.
Phong cách là thuật ngữ mang tính đa nghĩa, bởi nó được sử dụng trong
rất nhiều lĩnh vực. Trong cuộc sống bắt gặp rất nhiều thuật ngữ phong cách:
phong cách làm việc; phong cách đi đứng; phong cách nói năng; phong cách
trào lưu; phong cách thời đại; phong cách dân tộc…Trong lĩnh vực ngôn ngữ
có phong cách hành chính; phong cách chính luận; phong cách báo chí; phong
cách nghệ thuật…Đến với văn chương, các nhà văn thường tạo nên dấu ấn
riêng của mình, và điều đó chính là phong cách nghệ thuật, là cái riêng của
mỗi con người. Phong cách nghệ thuật là nét đặc sắc, độc đáo của chỉnh thể
sáng tạo văn học thể hiện trong sự thống nhất hình thức và nội dung. Phong
cách nhà văn là dấu hiệu độc đáo, không lặp lại, đánh dấu những phẩm chất
riêng của một tác giả nào đó, mang lại cho người đọc một sự hưởng thụ thẩm
mĩ độc đáo. Dấu hiệu nhận biết của phong cách chính là ngơn ngữ mà nhà văn
sử dụng. Nó tạo nên những thanh âm riêng, mang bản sắc và cái tơi cá nhân

Nguyễn Khắc Sính đã dẫn lời nhận định của D.X Likhachốp: Phong cách là
một hình thức liên kết của ngôn ngữ, là nguyên tắc cấu trúc tồn bộ nội dung
và tồn bộ hình thức nghệ thuật. Nên ngơn ngữ nghệ thuật có vai trị rất quan
trọng và tạo nên phong cách ngôn ngữ nhà văn [21, tr.23]. Và tác giả cịn dẫn
ý kiến của A.N Xơcơlốp: phong cách là một hiện tượng nghệ thuật, thể hiện
quy luật của nghệ thuật, là phạm trù thẩm mỹ trong tất cả mọi nghệ thuật chứ
không phải nguyên tắc ý thức hệ và chính trị. Bản chất của nó là sự thống
nhất của mọi thành tố nghệ thuật theo những quy luật đặc thù. [21, tr.23]
Phong cách ngôn ngữ của nhà văn hiểu theo nghĩa phổ quát nhất là
kiểu, dáng, vẻ và một cấu trúc mang tính chỉnh thể, chỉ những đặc trưng
tương đối bền vững, mang tính độc đáo và có ý nghĩa trong cách viết của một
nhà văn nào đó.


11

Ngôn từ là chất liệu, phương tiện, nền tảng của tác phẩm văn học.
Người nghệ sĩ đều lấy ngôn từ làm phương tiện biểu đạt cho dụng ý nghệ
thuật của mình. Ngơn ngữ là cầu nối chung của nhân loại, dùng làm phương
tiện để giao tiếp hàng ngày. Ngôn ngữ thơng thường khi cách điệu hóa sẽ trở
thành ngơn từ nghệ thuật được gọt giũa, trau chuốt và mang nhiều tầng ý
nghĩa khác nhau. Theo lí luận văn học: Lời văn thực chất là một dạng ngôn từ,
nhưng đã được tổ chức theo quy luật của nghệ thuật về mặt nội dung, phong
cách, thể loại. Ngôn từ nghệ thuật luôn được lựa chọn kỹ càng, được tổ chức
thành văn bản cố định. Đúng như M.Bakhtin khẳng định: Sự miêu tả nghệ
thuật là sự miêu tả trước cái vĩnh hằng, chỉ có ngơn từ, hình ảnh xứng đáng
để ghi nhớ mn đời…Do vậy, ngôn từ văn học là một hiện tượng nghệ thuật
do nghệ sĩ sáng tạo theo quy luật chung của nghệ thuật. Văn bản nghệ thuật
phải truyền đạt một ý nghĩa mà không một phát ngôn đồng nghĩa nào có thể
thay thế được.

M.B Khrapchenco cũng có quan niệm về ngôn ngữ trong văn học: Với
tư cách là một hiện tượng phong cách, ngôn ngữ nghệ thuật th ực hiện một
chức năng phức tạp. Nó tạo ra một hệ thống giọng điệu của tác phẩm văn
học; không một thành tố nào của phong cách tồn tại bên ngoài hệ thống đó
[9, tr.191]. Nhà nghiên cứu đã khẳng định ngơn từ nghệ thuật là thành tố tạo
nên giọng điệu của tác phẩm văn chương. Ngôn ngữ nghệ thuật là dấu hiệu
quan trọng nhận biết phong cách của nhà văn. Ngoài ra, tác giả còn cho rằng:
Bản thân đặc trưng của cách nhìn nhận hình tượng có tính chất cá nhân đối
với thế giới, cũng như vẻ đặc thù của phong cách chủ đạo, đã quyết định việc
lựa chọn những phương tiện ngôn ngữ, cho phép anh ta biểu hiện rõ những
dự đồ sáng tạo của mình [9, tr.195]. Mỗi nhà văn tạo nên ngơn ngữ nghệ
thuật của mình bằng việc xây dựng và ấp ủ ý đồ nghệ thuật của mình. Thông
qua ngôn từ nghệ thuật mà tài năng của nhà văn được đánh giá và kiểm định.


12

Cuối cùng, nhà nghiên cứu này khẳng định vai trò của ngôn ngữ trong nền
văn học: Việc lựa chọn những phương tiện ngôn ngữ, việc tổ chức chúng là
nhằm mục đích thể hiện cái đặc trưng, cái mới, cái bất ngờ trong phạm vi
những hiện tượng những tình cảm con người và những hoạt động mà nhà văn
miêu tả.[9, tr.196]
Trong giáo trình lí luận văn học Hà Minh Đức đã chỉ ra rằng: Ngơn
ngữ đó chính là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của
văn học. Khơng có ngơn ngữ thì khơng có tác phẩm văn học, bởi vì chính
ngơn ngữ chứ khơng phải cái gì khác đã cụ thể hóa và vật chất hóa sự biểu
hiện của chủ đề và tư tưởng, tính cách và cốt truyện… Ngôn ngữ là yếu tố
đầu tiên mà nhà văn sử dụng trong quá trình chuẩn bị và sáng tạo tác phẩm;
nó cũng là yếu tố xuất hiện đầu tiên trong sự tiếp xúc với người đọc, với tác
phẩm, có lẽ vì thế M. Gorki đã viết: Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ,

công cụ chủ yếu của nó – cùng với sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống là
chất liệu của văn học [4, tr.148]. Ngơn từ nghệ thuật chiếm vị trí hết sức quan
trọng trong văn chương. Nếu như khơng có ngơn ngữ sẽ khơng có chất liệu
tạo nên tác phẩm. Ngơn từ nghệ thuật là khâu nối đắc lực giữa người đọc và
tác phẩm. Ngôn ngữ tái hiện được cuộc sống của hiện thực xã hội đưa vào văn
học và tạo nên kiệt tác bất hủ nhờ những kết tinh của ngôn từ nghệ thuật. Nhà
văn lớn của nước Nga Maiacốpxki từng có những câu thơ nói về ngơn từ nghệ
thuật:
Phải phí tốn ngàn cân quặng chữ
Mới thu về một chữ mà thôi
Nhưng chữ ấy làm cho rung động
Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài
Theo Hà Minh Đức và Lê Bá Hán trong cuốn Cơ sở lí luận, (tập 2):
Trong văn học ngôn ngữ không chỉ đơn thuần là một phương tiện chuyển đạt


13

những tư tưởng, ý nghĩa. Ngơn ngữ văn học cịn là chất liệu và ở những nhà
văn ưu tú, chất liệu này in đậm những nét độc đáo của phong cách, gắn liền
sâu sắc những đặc điểm trong tư duy nghệ thuật của nhà văn, một nghệ sĩ cụ
thể của nghệ thuật ngôn từ [5, tr.174]. Ngôn ngữ văn học là chất liệu là công
cụ và cánh tay đắc lực trong việc tạo nên đứa con tinh thần cho mỗi nhà văn.
Ngôn từ là yếu tố đánh giá tư duy của mỗi nhà văn và là yếu tố hình thành nên
phong cách văn chương.
Nguyễn Lai cũng cho rằng: Khơng có ngơn ngữ làm tiền đề, con người
khơng thể có hoạt động định hướng đã đành; khơng có ngơn ngữ con người
khơng sao có điều kiện để tích lũy và kế thừa để sáng tạo. Đặc biệt nếu khơng
có ngơn ngữ, con người khơng sao tạo cho mình một năng lực tiết kiệm tuyệt
vời ở quá trình nhận thức, qua sự thu gọn và rút ngắn cả không gian lẫn thời

gian. Cuối cùng cũng rất rõ ràng, nếu khơng có ngơn ngữ mọi tiền đề cần
thiết để làm hình thành từ bên trong phẩm chất nghệ sĩ của con người không
sao có thể được [10, tr.9]. Ngơn ngữ đóng vai trị hết sức quan trọng. Nó là
tiền đề cho mọi hoạt động suy nghĩ – sáng tạo và sáng tác của nhà văn.
Phương Lựu khẳng định: Sự thật có bao nhiêu yếu tố trong tác phẩm
thì có bấy nhiêu chỗ cho phong cách của từng nhà văn thể hiện vào trong
ngôn ngữ thì một nhà văn độc đáo ở những hệ thống tu từ khác nhau cũng là
điều dễ thấy [15. tr.484].
Tóm lại, Các nhà lí luận văn học đã đưa ra rất nhiều ý kiến khác nhau
về ngôn ngữ. Nhưng có thể kết luận rằng: từ ngơn ngữ văn học có thể xác
định được phong cách nhà văn.
1.1.2.2. Phong cách ngôn ngữ của nhà văn theo quan niệm của các nhà
ngôn ngữ học.
Ngôn ngữ học là chuyên ngành khoa học nghiên cứu đặc điểm bản chất
của các hiện tượng ngôn ngữ. Khi nghiên cứu về phong cách ngôn ngữ của


14

nhà văn, các nhà ngơn ngữ học cũng có những quan niệm tương đối thống
nhất. Theo nhóm tác giả Võ Bình – Lê Anh Hiền – Cù Đình Tú – Nguyễn
Thái Hịa (1982): Ngơn ngữ là chung nhưng vận dụng ngôn ngữ là cái riêng
của từng người. Mỗi người do sở trường, thị hiếu, tập quán, tâm lí, cá tính
hoặc do cơng phu luyện tập, mà hình thành những cách diễn đạt khác nhau.
Người này thích những từ mà người khác khơng thích, nhà văn nọ có những
cách đặt câu mà người khác khơng có [2, tr.16]. Ngơn ngữ là tài sản chung
của mọi người, là sản phẩm của mọi hoạt động giao tiếp, nhưng sử dụng ngôn
ngữ ngữ như thế nào là năng lực và trí tuệ riêng của mỗi con người. Đinh
Trọng Lạc đã từng nói: Cá thể hóa trong ngơn ngữ nghệ thuật chính là cái
độc đáo, đặc sắc không lặp lại, cái riêng của tất cả yếu tố trong sáng tác: lối

nghĩ, lối cảm, lối thể hiện, những đặc trưng riêng trong cách sử dụng từ ngữ,
ngữ pháp, kết cấu đoạn mạch, thủ pháp tu từ [10, tr.153]. Ngôn ngữ nghệ
thuật được quan niệm là cái độc đáo, cái riêng của người viết và không lặp lại.
Trong cơng trình nghiên cứu Từ ngơn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ
thuật Đào Thản đã nhận định: Từ ngôn ngữ chung đến ngơn ngữ nghệ thuật là
cả q trình tìm kiếm, thu nạp để rồi thơng qua sự lựa chọn, mài giũa mà
phát huy phát triển các yếu tố, phương tiện và khả năng cao nhất của ngôn
ngữ, nhằm thỏa mãn mọi yêu cầu riêng của phong cách [23, tr.14].
Theo Phan Ngọc: Một tác giả chỉ có một phong cách riêng, khi đọc một
vài câu người ta đoán biết tác giả là ai, khi cái phong cách mà nhà văn xây
dựng lên góp phần vào truyền thống văn học, trở thành mẫu mực cho nhiều
người học tập. Muốn làm được điều đó, tác giả phải thực hiện được một sự
đổi mới trong việc kế thừa, để đẩy được việc kế thừa sang một bước nữa
[18, tr.34].
Cũng theo Phan Ngọc, một nhà văn khi được gọi là có phong cách, khi
đọc vài câu người ta nhận ra là của ai. Cái riêng của nhà văn được ấn đậm vào


15

trong ngôn ngữ và được lặp đi lặp lại tạo thành sở trường trong việc sử dụng
ngôn ngữ và biến nó thành tài sản riêng của bản thân mình.
Cù Đình Tú quan niệm rằng: Dấu ấn phong cách tác giả là cái thuộc
về đặc điểm bản thể, thuộc về điều kiện bắt buộc của ngôn ngữ văn chương.
Theo tác giả: ngơn ngữ văn chương nói chung và ngơn ngữ của nhà văn nói
riêng phải vừa giống mọi người, vừa khác mọi người. Sự giống mọi người là
cái thuộc về điều kiện nền tảng, sự khác ngôn ngữ mọi người này là dấu hiệu
xác định phong cách của tác giả.
Nhìn chung, các nhà ngôn ngữ đều đưa ra những nhận định khác nhau
ở từng khía cạnh của phong cách ngơn ngữ nhà văn. Nhưng hầu như dưới

nghiên cứu đều có quan điểm thống nhất phong cách ngôn ngữ nhà văn là cái
riêng, cái độc đáo trong việc sử dụng ngôn ngữ của nhà văn, là các yếu tố
ngôn ngữ được lặp đi lặp lại thành tần số cao và có khả năng khu biệt và
người đọc nhận diện được tác giả là ai khi chỉ cần đọc ít chữ.
1.2. Giới thiệu về Nguyễn Khải và tập Hà Nội trong mắt tôi
1.2.1. Nguyễn Khải – đời người, đời văn
Nguyễn Khải tên khai sinh là Nguyễn Mạnh Khải. Ông sinh ngày 3
tháng 12 năm 1930, tại Hà Nội, trong gia đình viên chức. Quê nội ông sống ở
phố Hàng Than, thành phố Nam Định; quê ngoại ở xã Hiếu Nam, huyện Tiên
Lữ, tỉnh Hưng n. Thuở nhỏ ơng sống ở q ngoại, có thời gian học ở Hải
Phòng và Hà Nội. Nguyễn Khải là con vợ lẻ trong gia đình viên chức, nên
tuổi thơ của nhà văn gặp rất nhiều thiệt thòi, mất mát.
Nguyễn Khải học xong năm thứ ba ở trường trung học tại Hà Nội thì
kháng chiến chống pháp bùng nổ, ông rời thành phố, cùng mẹ và em tản cư về
quê ngoại. Năm 16 tuổi, ông tham gia kháng chiến ở thị xã Hưng Yên. Năm
1948, ông làm y tá đồng thời có viết bài cho tờ Dân quân Hưng n. Nhờ
vậy, năm 1949, ơng được điều lên làm phóng viên cho tờ báo này. Cuối năm


16

1950 Nguyễn Khải đi dự lớp nghiên cứu văn nghệ tại Thanh Hóa, do Hội văn
nghệ Trung ương và Chi hội văn nghệ Liên Khu Bốn, tổ chức ở Thanh Hóa.
Ở đây ơng được quen với nhà văn Nguyễn Tn. Tháng 5 năm 1951, Nguyễn
Khải được cử đi dự trại viết của hai Chi hội Văn nghệ liên khu Ba và Liên
Khu Bốn, tổ chức ở Kim Tân, Thanh Hóa. Lần này, ông được gặp nhà văn
Nam Cao và Nguyễn Huy Tưởng. Năm 1955 Tổng cục chính trị cử ơng tham
gia trại viết truyện anh hùng. Năm 1956 Nguyễn Khải chuyển hẳn công tác về
tờ sinh hoạt văn nghệ của Tổng cục chính trị (từ 1957 là Tạp chí văn nghệ
quân đội). Sau năm 1975 Nguyễn Khải sống và làm việc tại Thành phố Hồ

Chí Minh. Nhiều năm ơng Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam.
Nguyễn Khải là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957). Từ
Đại hội lần thứ II (1963) cho đến hai kì Đại hội III (1983) và Đại hội IV
(1989), ơng là Uỷ viên Ban chấp hành, rồi Ủy viên Ban thường vụ Hội Nhà
văn Việt Nam.
Nguyễn Khải đã để lại cho đời rất nhiều tác phẩm có giá trị và là nhà
văn lớn của dân tộc Việt Nam. Tên tuổi của nhà văn thật sự được chú ý từ tiểu
thuyết Xung đột. Nguyễn Khải thuộc số những cây bút hàng đầu của văn xuôi
Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám. Hành trình sáng tác của Nguyễn Khải
tiêu biểu cho q trình vận động của văn học nước ta. Ơng là nhà văn mang
phong cách rất riêng biệt, luôn xông xáo và bám sát các vấn đề thời sự, ngôn
ngữ triết lí rất cao, khả năng phân tích tâm lí rất sắc sảo. Đời văn của Nguyễn
Khải thể hiện qua hai cuộc hành trình, từ 1955 – 1978 và từ 1978 đến nay.
Mỗi chặng đường nhà văn đều gặt hái những thành tựu nhất định.
Những tác phẩm chính của Nguyễn Khải.
Truyện ngắn: Mùa lạc (1960), Tầm nhìn xa (1963), chủ tịch huyện (1972),
Một thời gió bụi (1993), Hà Nội trong mắt tôi (1995), Sống ở đời (2002)


17

Tiểu thuyết: Đường trong mây (1970), Ra đảo (1970), Chiến sĩ (1973), Cha
và con (1979), Gặp gỡ cuối năm (1982), Thời gian của người (1985), Thượng
đế thì cười (2004)
Nguyễn Khải rất thành cơng trong sự nghiệp văn chương của mình.
Cống hiến của ông đã được ghi nhận ở nhiều giải thưởng, trong đó có giải
thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật năm 2000 và giải thưởng
ASEAN năm 2000. Nhà văn đã qua đời năm 2008 do cơn đau tim.
1.2.2. Hà Nội trong mắt tôi - Tác phẩm đánh dấu sự chuyển hướng trên
hành trình sáng tạo của Nguyễn Khải.

Nguyễn Khải là nhà văn lớn của dân tộc Việt Nam, bản thân tác giả đã
chia cuộc hành trình sáng tác của mình thành hai giai đoạn, từ năm 1953 đến
1978 chủ đề chính trong sáng tác của ơng là vấn đề thời sự và cảm hứng công
dân, giai đoạn thứ hai: từ năm 1978 đến nay cảm hứng trong mạch văn của
Nguyễn Khải là mang tính triết luận và đi vào mạch nguồn cuộc sống với thế
sự đời tư. Hà Nội trong mắt tôi là tác phẩm đánh dấu sự chuyển hướng trong
mạch truyện của nhà văn. Tập truyện gồm mười truyện ngắn và mỗi truyện có
vấn đề sự kiện khác nhau, nhưng đều mang hương sắc của Hà Nội từ con
người, phong tục, tập quán, lối quy cách ứng xử của con người Hà Thành. Hà
Nội trong mắt tôi là tập truyện được giới nghiên cứu đánh giá rất cao, đem lại
tiếng vang rất lớn trong nền văn xuôi nước nhà. Nguyễn Khải là nhà văn nổi
tiếng với rất nhiều tập truyện ngắn và tiểu thuyết nhưng Hà Nội trong mắt tôi
là tập truyện tạo nên được sức chuyển biến mới mẻ trong sự đổi mới và sự
vận động trong tư tưởng sáng tác của Nguyễn Khải. Hà Nội trong mắt tôi
được sáng tác 1995 là tác phẩm đánh dấu cho sự chuyển hướng đi trong hành
trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Khải. Tập truyện gặt hái rất nhiều thành
công trên phương diện nội dung thể hiện, mỗi truyện trình bày vấn đề sự kiện
riêng. Đó là, bà cơ suốt đời chăm lo giữ gìn gia phong, gia thế của một dòng


18

họ (Nếp nhà); một bà cụ Mặn chỉ là người đàn bà tầm thường thôi nhưng cách
ứng xử một đời không thay đổi của bà lại không tầm thường (Người của ngày
xưa); một cơ Hiền từ thưở cịn con gái cho đến lúc già đã sống đúng với
phong cách quý phái và tư thế thanh lịch, sang trọng của người Hà Nội ( Một
người Hà Nội) v.v…Mỗi truyện là một vấn đề được bàn đến, mười truyện là
mười sự kiện khác nhau, được Nguyễn Khải xây dựng rất thành công. Hà Nội
trong mắt tôi được Trần Thanh Phương nhận xét: Lần đầu tiên sau hơn nữa
thế kỷ, những nhân vật thuộc các gia đình thế gia vọng tộc ở Hà Nội từ trước

cách mạng tháng Tám mới xuất hiện trở lại trên trang viết của Nguyễn Khải ở
vị trí trang trọng [23, tr.379]. Hà Nội trong mắt tôi là tập truyện hay. Mỗi
truyện là một vấn đề, một nhân cách. Cả tập truyện là tập hợp những nhân
cách người Hà Nội. Tập truyện như khơi gợi lên được nhiều nét đẹp mang
tính trọn vẹn của người Hà Nội. Tập truyện được nhà văn viết trong khi nhân
phẩm con người trong xã hội đang trên đà suy thoái về nhân cách, phẩm hạnh
của mình. Nhưng tập truyện ra đời như là luồng sáng về nhân cách đang lấp
lánh xua tan đi những cái xấu, cái nhơ bẩn trong xã hội. Nguyễn Khải xây
dựng nên những nét đẹp của người Hà Nội như muốn khẳng định được giá trị
cao đẹp của con người Việt không bao giờ mất đi. Khi đi vào chiều sâu hơn
nữa, Nguyễn Khải đang khẳng định chính bản thân nhà văn. Tập truyện ngắn
Hà Nội trong mắt tôi không chỉ đặc sắc trên phương diện nội dung mà nghệ
thuật cũng được đánh giá rất cao. Nguyễn Khải khi viết tập truyện ngắn này
đã không đi theo cách viết truyện truyền thống. Ơng có cách thể hiện rất độc
đáo là chỉ đi sâu vào khai thác những việc thật, người thật; các yếu tố hư cấu,
tượng trưng dường như nhường chỗ cho những sự việc hằng ngày đi vào trang
văn một cách cao đẹp. Giọng văn rất nhẹ nhàng đơn hậu, khơng sắc sảo, lạnh
lùng. Nhìn chung, Hà Nội trong mắt tôi là tập truyện ngắn rất đặc sắc trong
việc chủ yếu tập trung khắc họa những nhân vật nữ, đại diện cho vẻ đẹp của


19

con người Hà Nội. Tập truyện đã thay đổi nhãn quan trong q trình sáng tạo
của nhà văn và nó được giới trẻ đơng đảo đón nhận. Tác phẩm đem lại thành
cơng lớn trong bước chuyển mình của nhà văn về tư tưởng.

Chương 2. KHẢO SÁT VÀ MIÊU TẢ ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ
NGUYỄN KHẢI QUA HÀ NỘI TRONG MẮT TÔI
2.1. Các lớp từ vựng, các biện pháp tu từ ngữ nghĩa

Từ tiếng Việt xét từ góc độ từ vựng học được chia thành các lớp từ theo
các tiêu chí như theo nguồn gốc gồm có từ thuần Việt, từ gốc Hán, từ gốc Ấn
- Âu; dựa theo đối tượng sử dụng bao gồm: từ toàn dân, từ địa phương, biệt
ngữ và tiếng lóng, từ nghề nghiệp, thuật ngữ khoa học; xét theo thời gian sử
dụng gồm: từ cổ và từ lịch sử, từ mới và nghĩa mới, thành ngữ và quán ngữ.
Tuy nhiên xét ở góc độ phong cách học thì các nhà ngơn ngữ học khảo
sát giá trị tu từ của các lớp từ như: những từ ngữ có điệu tính tu từ cao (từ thi
ca, từ cũ, từ Hán Việt, từ gốc Ấn – Âu); nhóm biệt ngữ, thành ngữ, từ láy;
nhóm những từ có điệu tính tu từ thấp: từ hội thoại, từ thông tục, từ nghề
nghiệp, từ địa phương.
Tuy nhiên trong quá trình khảo sát tập truyện ngắn Hà Nội trong mắt
tôi, chúng tôi nhận thấy rằng: chỉ có một số hiện tượng sau đây là nổi bật
nhất. Đó là cách dùng các lớp từ như: từ Hán Việt, từ láy, thành ngữ và
cách dùng các phương thức tu từ như so sánh tu từ, nhân hóa, hốn dụ.
2.1.1. Các lớp từ vựng
2.1.1.1. Từ Hán Việt
a. Khảo sát, thống kê, phân loại
Từ Hán Việt là từ vay mượn ở tiếng Hán, phát âm theo cách Việt Nam
[11, tr.15]. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát và tính tốn từ Hán Việt trong tập


20

truyện Hà Nội trong mắt tôi, cụ thể là khảo sát ở 10 tập truyện ngắn: Nếp nhà;
Chúng tôi và bọn hắn; Đất kinh kỳ; Người vợ; Người của ngày xưa; Tiền;
Danh phận; Nghệ nhân ở làng; Nắng chiều; Đời khổ, kết quả cụ thể là có 98
từ Hán Việt với tần số xuất hiện là 109 lượt. Trong đó Nếp nhà có 17 từ Hán
Việt; Chúng tơi và bọn hắn 7 từ; Đất kinh kỳ 8 từ; Người vợ 8 từ; Người của
ngày xưa 56 từ; Tiền 13 từ; Danh phận 22 từ; Nghệ nhân ở làng 8 từ; Nắng
chiều 12 từ; Đời khổ 2 từ. Với con số này, chúng ta thấy rằng: từ Hán Việt

được sử dụng rất nhiều, khá phổ biến trong tập truyện Hà Nội trong mắt tơi.
Ví dụ 1: Ngun tắc làm chúc thư của bà công khai và công bằng,
không phân biệt trai gái và trưởng thứ [30, tr.13].
Ví dụ 2: Hai anh em một người của triều đình, một người của đường
phố chỉ biết tin nhau qua các bà vợ, chứ tự họ khơng mấy khi muốn giáp mặt
[30, tr.69].
Ví dụ 3: Chúng tơi chỉ quan tâm tới chuyện chính trị, chuyện chiến
tranh, chuyện cơ quan và thăng tiến, sự lên lương của người này hay người
kia với những mong chờ phấp phỏng của chính bản thân mình [30, tr.91].
Ví dụ 4: Chỉ là chuyện giảm tô và cải cách ruộng đất thơi [30, tr.95].
Ví dụ 5: Nhân nghĩa hão, sĩ diện dởm, người khổ càng khổ hơn vì có
ai chịu đưa tay cho kẻ bất hạnh víu đi [30, tr.134].
Ví dụ 6: Thời Mỹ lại đòi chỉ gã con cho các gia đình quan lại, mơn
đăng hộ đối là dở hơi hết sức [30, tr.134]
Ví dụ 7: Và tơi thầm cảm ơn chi Đại, một bà chị hễ mở miệng nói là ai
cũng ngán nhưng ai cũng thương vì khẩu xà tâm phật [30, tr.148].
b. Nhận xét
Từ Hán Việt đóng vai trị rất quan trọng trong việc đưa lại thành cơng
cho một tập truyện ngắn. Từ Hán Việt đã đi vào văn thơ của chúng ta như một
luồng sinh khí mới. Vốn từ Hán Việt có nét nghĩa biểu hiện cho sự sang trọng


21

quý phái nên nó đã được người Việt từ xưa đến nay rất hay sử dụng. Trải qua
biết bao nhiêu thế kỉ, từ Hán Việt ngày càng được sử dụng và đóng vai trị rất
quan trọng trong giao tiếp của con người. Chính vì vậy, Nguyễn Khải đã tận
dụng lợi thế của vốn từ Hán Việt để vận dụng một cách sáng tạo vào việc sử
dụng ngôn từ để viết văn. Đối với tập truyện Hà Nội trong mắt tôi, việc nhà
văn sử dụng rất nhiều từ Hán Việt có tác dụng rất lớn cho việc chuyển tải nội

dung văn bản nghệ thuật này. Từ Hán Việt đã giúp cho tập truyện Hà Nội
trong mắt tôi mang âm hưởng quý phái và sang trọng. Với tập truyện này,
Nguyễn Khải đang đi tìm lại những tinh hoa của vẻ đẹp thị thành trong thời
kỳ kinh tế thị trường. Nhưng vẻ đẹp, nhân cách của con người Hà Nội vẫn
không mất đi. Ngược dòng về với thời gian để viết lên những trang truyện
ngắn nói về đất Hà Thành, Nguyễn Khải đã rất sắc sảo và biết cách lựa chọn
vốn từ để phục vụ cho việc viết tập truyện ngắn này. Khi đi về tìm lại vẻ đẹp
xưa thì việc sử dụng ngơn ngữ Hán Việt là rất hợp lí, thể hiện sự trang trọng,
tao nhã và phù hợp với nội dung thể hiện của tập truyện.
2.1.1.2. Từ láy
a. Khảo sát, thống kê, phân loại
Khi khảo sát 10 truyện ngắn trong tập Hà Nội trong mắt tôi chúng tôi
thu được 243 từ láy. Trong đó Nếp nhà có 16 từ; Chúng tơi và bọn hắn 22 từ;
Đất kinh kỳ 29 từ; Người vợ 13 từ; Người của ngày xưa 10 từ;Tiền 26 từ;
Danh phận 9 từ; Nghệ nhân ở làng 9 từ; Nắng chiều 27 từ; Đời khổ 24 từ.
Kết quả khảo sát cho thấy trong vốn từ láy Nguyễn Khải sử dụng, từ
láy đơi chiếm tồn bộ. Nó đóng một vai trò rất quan trọng tạo nên giàu màu
sắc và nhạc điệu cho tập truyện ngắn Hà Nội trong mắt tôi.
Từ láy là từ loại chiếm vị trí hết sức quan trọng trong việc tạo ra ngữ
điệu, tiết tấu cho phát ngôn.
b. Đặc điểm tu từ của từ láy trong truyện ngắn Nguyễn Khải


22

b1. Sắc thái hóa về nghĩa
- Các từ láy khái quát về đặc điểm tính chất của từng đối tượng: trờn trợn, nhã
nhặn, thẳng thắn, bướng bỉnh, sắc sảo, ngây ngơ, điềm đạm, ngú ngớ, lầm
lũi,…
Ví dụ: Nói chuyện với bà tôi vẫn trờn trợn như ngày nào được hầu chuyện

cụ Nguyễn [30, tr.5].
- Các từ láy chỉ mức độ của một trạng thái đặc điểm: lẩy bẩy, méo mó, nhầy
nhụa, nhớp nháp, lù lù, lốm đốm, lơ lững, sần sùi,…
Ví dụ: Mấy hơm trước trời ấm nhưng hơi nồm, chỗ nào cũng lép nhép nhầy
nhụa đến khó chịu [30, tr.14].
b2. Các từ láy có tính tượng thanh
- Các từ láy mô phỏng âm thanh của con người: cọc cạch, sùm sụp, hề hề,
phăm phăm, thầm thầm thì thì,…
Ví dụ: Nhà rất rộng, phố vắng người, chỉ có hai chú cháu ngồi với nhau mà
anh ta cứ nói thầm thầm thì thì như sợ người ngồi đồng nghe thấy
[30, tr.95].
- Các từ láy miêu tả âm thanh của động vật: cóc cách, ro ro, chịm chõm,…
Ví dụ: Khơng có nhiều muỗi nhưng chỉ một con lọt vào ống chiếu kêu ro ro
là hết ngủ [30, tr.108].
b3 Các từ láy có tính tượng hình
- Các từ láy miêu tả hình dáng, dáng vẻ con người: lom khom, lợt lạt, nhũn
nhặn, nhàn nhã, thong thả, điềm đạm, thiết tha, ngơ ngác,…
Ví dụ: Tơi lặng lẽ ngắm nghía ơng anh rể ngồi lom khom trên ghế, cây gậy
kẹp trong đùi, vừa nhìn vợ làm cơm, vừa kể chuyện Đông Tây kim cổ, chuyện
vui và cả chuyện buồn, giọng kể ngọt ngào, âu yếm, còn bà vợ chạy lui chạy
tới, quay trước quay sau, hai bàn tay không lúc nào ngưng nghỉ, chốc lại quay
mặt về phía ơng chồng, hỏi một cách thơ ngây, một cách nũng nịu


23

[30, tr.148].
- Các từ láy miêu tả dáng vẻ của sự vật: lừng lững, lấp ló, méo mó, lốm đốm,
sần sùi,…
Ví dụ: Có mấy người đàn ơng cịn trẻ, mặt rất dài, dáng rất cao, ra vào lừng

lững như không có việc gì làm. Và một người đàn bà đã đứng tuổi, quanh
năm mặc áo dài đen, tó búi, mặt rất đẹp và buồn đứng lấp ló phía trong
[30, tr.76].
c. Nhận xét
Từ láy là từ mang màu sắc tu từ cao trong tiếng Việt nhằm diễn đạt một
cách tối đa điều mà nhà văn muốn nói tới. Trong q trình sáng tạo nghệ thuật
Nguyễn Khải đã vận dụng rất thành công giá trị nghệ thuật của các từ láy vào
trong truyện ngắn của mình. Ơng vận dụng linh hoạt các lớp từ láy giàu màu
sắc tu từ. Sự vận dụng linh hoạt các lớp từ láy giàu màu sắc, âm thanh và hình
ảnh đã giúp cho câu văn của Nguyễn Khải giàu tính nhạc điệu. Chúng ta phải
nhận thấy rằng, lớp từ láy trong tập truyện Hà Nội trong mắt tôi xuất hiện rất
nhiều và mang nhiều sắc thái biểu cảm khác nhau. Các từ láy chỉ tính cách
của con người như: lèo tèo, nhã nhặn, thẳng thắn, bướng bỉnh, sắc sảo, hoạnh
họe, ngây ngô, nhàn nhã,…Những từ chỉ tâm trạng thái độ của con người: lẩy
bẩy, ngú ngớ, mếu máo, vui vẻ, phấp phỏng,…Những từ láy chỉ hành động
của con người: xin xỏ, van vỉ, gạ gẫm, thầm thầm thì thì, hề hề, hể
hả,…Chính hệ thống từ láy này, chứng tỏ Nguyễn Khải rất tinh vi trong việc
hiểu biết đặc điểm tính cách của mỗi con người.
Nguyễn Khải sử dụng khá nhiều lớp từ láy để làm chất liệu ngôn từ khi
xây dựng lên văn bản nghệ thuật Hà Nội trong mắt tơi. Các từ láy có tác dụng
làm cho câu văn bớt đi phần nào khô khan, tẻ nhạt. Mà nó tưới thêm vào đó
một luồng hơi nước làm mát rượi ngôn ngữ của văn xuôi. Từ láy có vai trị rất


24

lớn làm cho ngôn từ của tập truyện ngắn mềm mại hơn, mang sắc thái biểu
cảm cao hơn.

2.1.1.3. Thành ngữ

Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hồn chỉnh về nghĩa,
vừa có tính gợi cảm, được sử dụng như một đơn vị sẵn có [18, tr.32].
a. Khảo sát, thống kê, phân loại
Qua khảo sát, thống kê 10 truyện ngắn trong tập truyện Hà Nội trong
mắt tôi, chúng tơi đã thu được 9 thành ngữ.
Ví dụ 1: Chị sống lầm lũi, nhẫn nại với một niềm tin dai dẳng: “Sơng
có khúc người có lúc, khơng ai sướng được mãi, cũng không ai phải khổ mãi.
Miễn là các con phải được ăn học”. [30, tr.58].
Ví dụ 2: Cụ bảo: Tôi nghiệm ra cứ dăm ba chục năm hay năm bảy chục
năm lại có một lần thay đổi thời thế để chia lại của cải và danh vị trong thiên
hạ, để có dịp ơn đền ốn trả cho thuận với cái lẽ chuyển vận bù trừ của trời
đất [30, tr.67].
Ví dụ 3: Mấy chục đời đều có người làm quan, oán nhiều ơn ít, lấy
đâu ra phúc [30, tr.67].
Ví dụ 4: Bây giờ chúng nó thích kiếm tiền một cách táo tợn, nguy hiểm,
thắng thì làm vua thua thì đi tù, ăn cơm muối hoặc chết cũng chả sao
[30, tr.90].
Ví dụ 5: Chị Đại cười: giẫy nẩy như đỉa phải vơi. Mặt mũi đỏ nhừ đỏ
tử. Gái chưa chồng nói chuyện hơn nhân ai chả thế [30, tr. 138].
Ví dụ 6: Giàu vì bạn sang vì vợ, có một bà vợ như tơi ơng chồng cũng
hóa hèn, chị nói thế [30, tr.152].


25

Ví dụ 7: Chỉ trong có một tháng người chị rộc hẳn, già hẳn, chị nhìn nó
khóc: “Con thẳng da bụng mẹ chùng da mắt, nuôi con hai chục năm trời
mà con trả công cha nghĩa mẹ thế này ư?”[30, tr.159].
Ví dụ 8: Ai đánh giá, khơng có tác giả, khơng có địa chỉ, chỉ biết một
lúc nào đó dư luận chợt bùng lên để đánh giá về một con người, là bia miệng

đấy, trăm năm bia đá thì mịn, nghìn năm bia miệng… [30, tr.36].
b.Nhận xét
Nguyễn Khải đã rất thành công khi sử dụng các thành ngữ vào việc xét
nó là nguồn ngữ liệu để xây dựng nên văn bản nghệ thuật Hà Nội trong mắt
tơi. Thành ngữ có một vai trị rất lớn. Nó là phương tiện nhằm khắc phục sự
hữu hạn của các từ và tính khơng hàm súc của lời nói. Thành ngữ phản ánh
hiện thực khách quan thơng qua hình ảnh vật thực, việc thực nên có tính hình
tượng và tính cụ thể. Chính vì thành ngữ mang đặc điểm riêng. Nên khi
Nguyễn Khải vận dụng vào để xây dựng nên tập truyện ngắn thì nó góp phần
tạo nên tính logic cao. Mỗi một thành ngữ, nó đều mang tính biểu cảm,
thường kèm theo sau một thái độ cảm xúc, một thái độ đánh giá.
2.1.2. Các biện pháp tu từ ngữ nghĩa
Bảng 2.1
Các phương tiện tu từ ngữ

Số lần sử dụng

Tỉ lệ (%)

So sánh tu từ

45

77,2

Nhân hóa

5

8,6


Hốn dụ

8

14,2

nghĩa

2.1.2.1. So sánh tu từ


×