1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRẦN THỊ NGUYỆT
ĐẶC ĐIỂM NGƠN NGỮ
KÝ HỒNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
TỪ GĨC NHÌN PHÂN TÍCH DIỄN NGƠN
TĨM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng - Năm 2014
2
Cơng trình được hồn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trương Thị Nhàn
Phản biện 1: TS. Bùi Trọng Ngỗn
Phản biện 2: PGS.TS. Hồng Tất Thắng
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp
thạc sĩ Khoa học xã hội và nhân văn họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 28
tháng 12 năm 2014
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1.Phân tích diễn ngơn (Discourse Analysis) là một hướng nghiên
cứu có phạm vi và ảnh hưởng rất rộng rãi, bao trùm rất nhiều lĩnh vực.
Những vấn đề PTDN vì thế đã được đề cập dưới những góc độ khác nhau.
Mỗi góc độ, đường hướng PTDN đều có cách tiếp cận riêng nhưng tất cả
đều dựa vào lĩnh vực ngôn ngữ học. Nghiên cứu PTDN bằng cách phân
tích việc sử dụng hệ thống và chức năng của ngơn ngữ trong q trình giao
tiếp xã hội dựa trên những cứ liệu ngôn ngữ cụ thể, và trong những hoàn
cảnh cụ thể giúp làm sáng tỏ lí do, ý nghĩa của diễn ngơn. Ứng dụng lý
thuyết PTDN vào nghiên cứu các thể loại diễn ngôn là một mảnh đất màu
mỡ tuy nhiên vẫn chưa được khai thác nhiều, có hệ thống.Áp dụng lý
thuyết PTDN vào khai thác thể loại ký hứa hẹn mang lại kết quả hấp dẫn.
1.2. Trong số những cây bút ký của nền văn học Việt Nam hiện
đại,Hoàng Phủ Ngọc Tường (1937) là một tác giả tiêu biểu. Ký HPNT vừa
phản ánh được những vấn đề thời sự nóng hổi, đáng quan tâm đang diễn ra
trong cuộc sống hàng ngày vừa thể hiện cái nhìn của một con người ln
muốn tìm hiểu khám phá sự kiện trong chiều sâu của nó. Nét đặc sắc của
ký HPNT còn được tạo nên bởi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ
và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với tư duy đa chiều,… tất cả được
thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa.
1.3.Là một người vốn yêu thích bản chất phản ánh “người thực, việc
thực” của thể ký cũng như yêu mến những tác phẩm ký của HPNT, nhận
thấy PTDN phù hợp để tiếp cận khai thác về thể ký nói chung, ký HPNT
nói riêng nên chúng tôi chọn nghiên cứu “ngôn ngữ ký HPNT” từ góc nhìn
này.Đề tài “Đặc điểm ngơn ngữ ký HPNT từ góc nhìn PTDN” hiện chưa
có ai nghiên cứu nên chúng tôi chọn để nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài “Đặc điểm ngơn ngữ ký HPNT từ góc nhìn PTDN”, chúng
tôi xác định mục tiêu:
2
- Hệ thống hóa những nội dung lý luận về PTDN
- Khảo sát, phân tích nhằm làm sáng tỏ những đặc điểm hình thức
của ngơn ngữ ký HPNT.
- Mong muốn cung cấp một nguồn tài liệu tương đối đầy đủ về “Đặc
điểm ngơn ngữ ký HPNT từ góc nhìn PTDN” dùng để tham khảo.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm hình thức của ngơn ngữ ký HPNT trên các bình
diện: từ ngữ, cấu trúc cú pháp, cấu trúc diễn ngôn, làm rõ giá trị của chúng
từ góc nhìn PTDN.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát các tác phẩm ký của HPNT được tuyển chọn trong tập 2 và
3 của “Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường” (trọn bộ 4 tập) do NXB Trẻ TP
Hồ Chí Minh phát hành năm 2002. Tổng số là 80 tác phẩm.
4. Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng phương pháp miêu tả ngôn ngữ học và lý thuyết PTDN với
các thủ pháp:Các thủ pháp phân loại và hệ thống hóa; Thủ pháp phân tích
vị từ tham tố; Thủ pháp phân tích ngữ cảnh; Thủ pháp phân tích thành tố
trực tiếp; Sử dụng kết hợp các phương tiện miêu tả
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, phần
Nội dung của luận văn được triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Đặc điểm các đơn vị từ ngữ và cú pháp trong ký HPNT từ
góc nhìn PTDN
Chương 3: Đặc điểm cấu trúc diễn ngôn ký HPNT
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Đề tài liên quan đến ba vấn đề sau:
6.1 Những nghiên cứu về lí thuyết PTDN
3
- Người đầu tiên đề cập đến và đưa ra cái tên “PTDN” là Zellig
Harris - và thuật ngữ “PTDN” lần đầu tiên được đưa vào sử dụng năm
1952.
- Ở nước ngồi, cơng trình tiêu biểu nhất có thể kể đến là của hai tác
giả Gillbian Brown – Geogre Yule vào năm 1983 có tên “Phân tích diễn
ngơn”.
-Ở trong nước, GS.TS Trần Ngọc Thêm là người có cơng đầu tiên
trong việc nghiên cứu diễn ngôn.PTDN được tác giả đề cập đến khi nghiên
cứu về “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt”.
- Tiếp thu ý tưởng của người đi trước, các tác giả Diệp Quang Ban và
Nguyễn Hòa đã tiếp cận nghiên cứu PTDN và có nhiều đóng góp về một
hướng tiếp cận PTDN trong ngôn ngữ tiếng Việt.Tác giả Diệp Quang Ban
đáng chú ý với cơng trình “Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản”
(2012); tác giả Nguyễn Hịa với “Phân tích diễn ngơn – một số vấn đề lí
luận và phương pháp”
- Ngồi ra có một số nhà nghiên cứu đề cập đến PTDN khi nghiên
cứu ngôn ngữ học, văn học nhữ Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Thị Ngọc
Minh; Lê Thời Tân; Trần Đình Sử…
Cùng với đó, những cơng trình nghiên cứu áp dụng lý thuyết PTDN
vào khai thác một số thể loại diễn ngôn cũng đã xuất hiện như: Lê Thị
Minh Thục; Trần Bình Tuyên.
6.2 Những nghiên cứu về Hồng Phủ Ngọc Tường và ký của ơng
Tính đến nay đã có đến hàng trăm bài viết về con người và các tác
phẩm của ông đăng trên các báo, tạp chí, trang web cả trong và ngồi nước.
- Đa số các nhà nghiên cứu đề cập đến chất lửa, tính văn hóa và chất
Huế, thiên nhiên trong ký HPNT: Có thể kể đến ý kiến của các tác giả
Nguyễn Tuân, Trần Mạnh Thường, Trần Đình Sử, Đặng Nhật Minh, Trần
Thùy Mai, Lê Xuân Việt, Lê Đức Dục, Lê Thị Hường
4
- Một số nhà nghiên cứu tập trung tìm hiểu về con người, cá tính
sáng tạo và những đặc điểm chung của ký HPNT. Có thể kể đến ý kiến của
các tác giả như Nguyễn Đăng Mạnh, Đặng Hiển Hoàng Cát, Nguyên Ngọc
Phần lớn các nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở mức độ các bài viết với
những nhận xét chung, khái quát song đã ít nhiều chạm vào những vấn đề
xoay quanh ký HPNT, giúp người đọc có những hình dung và hiểu về ký
của ơng.
- Những năm gần đây xuất hiện những cơng trình khoa học cơng phu
về ký HPNT của các tác giả: Lê Thị Hồng Minh, Ngô Minh Hiền, Nguyễn
Thu Hà, Lê Thị Hải Vân, Trần Thị Hảo. Các cơng trình này chủ yếu đi sâu
vào một vài khía cạnh để nghiên cứu.
6.3. Về nghiên cứu “Đặc điểm ngơn ngữ ký HPNT từ góc nhìn
PTDN”.
Nghiên cứu về ngơn ngữ ký HPNT tiêu biểu có tác giả Nguyễn
Trọng Thảo Ngun với cơng trình khoa học có tên “Đặc điểm ngơn ngữ
ký Hồng Phủ Ngọc Tường”.Hiện tại, đề tài “Đặc điểm ngơn ngữ ký
HPNT từ góc nhìn PTDN” còn rất mới mẻ.Xác định nghiên cứu đề tài này,
chúng tôi mong muốn sẽ thu được kết quả là đưa ra những đặc điểm ngơn
ngữ ký HPNT dưới góc nhìn mới.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 PHÂN TÍCH DIỄN NGƠN
Phân tích diễn ngơn (Discourse Ananlysis) với tư cách là một hướng
nghiên cứu được hình thành một cách khá chật vật vào những năm nửa
cuối thế kỉ XX. Nếu như tên gọi diễn ngơn vốn có từ rất sớm thì khoa học
về PTDN phải đến những năm 60 của thế kỉ này mới bắt đầu manh nha và
trải qua một quá trình tìm kiếm hướng đi khá kĩ lưỡng mới hình thành.
Trên đại thể, cho đến nay các nhà nghiên cứu nhận ra hai giai đoạn trong
5
q trình nghiên cứu diễn ngơn.Đó là giai đoạn “các ngữ pháp văn bản” và
giai đoạn “phân tích diễn ngơn”.
Hiểu được quá trình hình thành PTDN là cơ sở cần thiết để hiểu rõ
các vấn đề lí thuyết trong lí luận này.
1.1.1 Về khái niệm diễn ngôn (Discourse)
Khi bàn về diễn ngơn các nhà nghiên cứu cũng gặp khơng ít khó
khăn để phân biệt giữa hai thuật ngữ "diễn ngơn" và "văn bản".
- "Diễn ngôn" từng được hiểu như văn bản khi chưa cần phân biệt
hai thuật ngữ này.
- Sang giai đoạn thứ hai của nghiên cứu diễn ngôn, khái niệm “diễn
ngôn” được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn. Một số nhà nghiên
cứu định nghĩa “diễn ngôn” trên cơ sở phân biệt “diễn ngơn” và “văn bản”.
Theo đó, “văn bản” (text) là cấu trúc ngơn ngữ mang tính chất tĩnh, cịn
“diễn ngơn” (discourse) là cấu trúc lời nói mang tính động. Song cách hiểu
này chưa giải quyết được vấn đề bản chất của diễn ngôn.
- Cách hiểu “diễn ngôn” được ưa chuộng nhất trong nghiên cứu
PTDN hiện nay đó là cách hiểu diễn ngơn trong mối quan hệ với văn bản
như là quá trình – sản phẩm. Theo đó: “Văn bản là sự thể hiện ngơn từ của
một hành động giao tiếp” và “văn bản là sự thể hiện (representation) của
diễn ngôn” [26, tr.24]; Với cách hiểu này, Nguyễn Hịa định nghĩa: “Diễn
ngơn là sự kiện hay q trình giao tiếp hồn chỉnh thống nhất có mục đích
khơng có giới hạn được sử dụng trong các hồn cảnh giao tiếp xã hội cụ
thể”.
1.1.2. Các bình diện của diễn ngôn
“Diễn ngôn”, với tư cách là một đơn vị giao tiếp ở bận lớn hơn câu,
có hình thức và nội dung. Hình thức của diễn ngơn được tạo thành bởi các
yếu tố của ngôn ngữ, các đơn vị từ vựng, các quy tắc kết học (cú pháp) các
hành vi ngôn ngữ tạo nên diễn ngơn. Ngồi ra, các yếu tố kèm lời và phi
lời cũng được xem là các yếu tố thuộc hình thức của diễn ngơn.
6
Về nội dung, diễn ngơn có hai thành tố: nội dung thơng tin (cịn được
gọi là nội dung miêu tả, tái hiện hiện thực) và nội dung liên cá nhân bao
gồm tất cả các nội dung của diễn ngôn không bị quy định bởi tính đúng –
sai logic.
1.1.3. Chức năng của ngôn ngữ trong diễn ngôn
Theo quan điểm của R. Jakobson, chức năng của ngôn ngữ trong
diễn ngôn bao gồm:
- Chức năng biểu cảm; Chức năng biểu thị hay nhận thức; Chức
năng kêu gọi; Chức năng tiếp xúc; Chức năng siêu ngơn ngữ; Chức năng
thi ca
1.1.4. Khái niệm Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysic)
- Theo Brown và Yule: “PTDN nhất thiết phải phân tích ngơn ngữ
đang sử dụng. Như thế nó khơng thể bị giới hạn trong việc chỉ miêu tả các
hình thức ngơn ngữ độc lập với mục đích hay chức năng mà các mục đích
này được tạo ra các quan hệ giữa người với nhau. Trong khi một số nhà
ngơn ngữ học có thể chỉ tập trung vào việc xác định các tính chất hình
thức của một ngơn ngữ thì nhà PTDN lại khảo sát việc ngơn ngữ đó được
dùng để làm gì”.
- Diệp Quang Ban đưa ra định nghĩa khái quát: “PTDN là đường
hướng tiếp cận tài liệu ngơn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngơn/văn
bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngơn từ và ngữ
cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực
mà nội dung hết sức phong phú đa dạng (gồm các hiện tượng thuộc thể loại
và phong cách chức năng, phong cách cá nhân, cho đến các hiện tượng xã
hội, văn hóa, dân tộc)
Theo đó, PTDN được đề cập đến như là một phương pháp nghiên
cứu, không bàn đến tư cách một “lí thuyết” của nó.
7
PTDN địi hỏi phải có hệ thống phương pháp và thủ pháp thích hợp
để có thể làm rõ được tính đa dạng, tính phong phú của việc sử dụng ngơn
ngữ.
1.1.5. Ngữ cảnh trong diễn ngơn
Trong lí luận PTDN, ngữ cảnh là một vấn đề rất quan trọng bởi nó có
mặt trong mơ hình tam giác: ngơn ngữ - giao tiếp – ngữ cảnh.
Hiện nay, trong nghiên cứu ngôn ngữ, ngữ cảnh được hiểu: Ngữ
cảnh gồm hai loại: ngữ cảnh ngôn ngữ và ngữ cảnh tình huống. Ngữ cảnh
ngơn ngữ là những hiểu biết về phạm vi đề tài, đối tượng quy chiếu, tiền
giả định hội thoại liên quan đến lượng thơng tin cung cấp trong hoạt động
giao tiếp. Cịn ngữ cảnh tình huống liên quan đến hàng loạt nhân tố thuộc
về tự nhiên và xã hội.Những nhân tố này chi phối đến việc lựa chọn các
yếu tố ngôn ngữ.cách thức nói năng và cả tinh thần, thái độ của người tham
gia giao tiếp. Ngữ cảnh tình huống góp phần giúp hiểu nghĩa của diễn
ngôn.
1.1.6. Quy chiếu trong diễn ngôn
Trong nghiên cứu ngôn ngữ hiện nay, thuật ngữ quy chiếu được các
nhà ngôn ngữ học dùng để chỉ mối quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ với
các sự vật, biến cố, hành động và tính chất.Quy chiếu là hành động sử
dụng ngôn ngữ để chỉ ra những sự vật nào trong thế giới khách quan đang
được đề cập đến trong phát ngơn.Vấn đề quy chiếu chính là vấn đề tạo ta
diễn ngơn.
Có nhiều phương thức quy chiếu được sử dụng trong diễn ngơn,
trong đó chiếu vật là phương tiện đầu tiên của ngữ dụng.Phương thức chiếu
vật là cách thức tổ chức các yếu tố ngôn ngữ để tạo nên các biểu thức chiếu
vật. Gồm 2 nhóm: Dùng tên riêng và dùng miêu tả xác định và Dùng chỉ
xuất
8
1.1.7. Vấn đề phân loại diễn ngôn
Ngôn ngữ tồn tại trong vơ vàn các tình huống giao tiếp nên sẽ có các
dạng diễn ngơn sử dụng theo từng tình huống. Vấn đề phân loại diễn ngơn
vì thế rất phức tạp và trong thực tế có nhiều cách phân loại khác nhau.
Cách phân loại dựa trên ngữ vực được nhiều người chấp nhận. Có
các ngữ vực như:
* Ngữ vực báo chí
* Ngữ vực văn chương
* Ngữ vực chính luận
* Ngữ vực khoa học
* Ngữ vực hội thoại thường ngày
Trong mỗi ngữ vực có các tiểu ngữ vực và các loại diễn ngơn cụ thể.
Vận dụng linh loại lí thuyết phân loại này và lí luận về các tiểu loại
của thể ký ứng dụng vào PTDN ký HPNT, chúng tôi sẽ phân loại các diễn
ngơn ký HPNT dựa trên tính chất tiểu loại và căn cứ vào những diễn ngôn
ký cụ thể.
1.1.8. Cấu trúc diễn ngôn
- Theo Diệp Quang Ban: “Cấu trúc (thuộc) diễn ngơn (structure of
discourse) là một kiểu trúc có trong một số cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu
như đoạn văn, một phần của văn bản hay cấu trúc đề tài. Đối với tồn văn
bản, cấu trúc diễn ngơn là cấu trúc lớn nhất làm cho một văn bản thuộc về
một loại riêng nào đó, như hội thoại, truyện kể, trữ tình, như tín thương
mại v.v…
- Nguyễn Hịa khi bàn đến cấu trúc diễn ngôn lại rất chú ý đến mối
hệ giữa các yếu tố tham gia vào hệ thống cấu trúc ngôn ngữ. Theo tác giả:
“Cấu trúc diễn ngôn là sự tổ chức các yếu tố quan yếu, hay như là mạng
lưới các mối quan hệ tạo bởi các yếu tố tham gia vào hệ thống. Quá trình
tổ chức bao gồm một trật tự nhất định” [12, tr.66].
9
Theo quan niệm của các tác giả có thể khẳng định: việc xem xét cấu
trúc diễn ngôn tức là phải xét về sự tổ chức cả hai mặt hình thức lẫn nội
dung của các yếu tố trong hệ thống (văn bản).
1.2. VÀI NÉT VỀ KÝ VÀ KÝ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
1.2.1. Vài nét về ký
Với ưu thế là những sự thật được lựa chọn và phản ánh một cách
chân thực, tác phẩm ký là tấm gương phản chiếu đời sống trong tồn bộ
dáng vẻ phức tạp, sinh động vốn có của nó.
Về đặc trưng, ký có những đặc trưng cơ bản đó là: Trước hết, ký có
mối liên hệ chặt chẽ với hiện thực đời sống. Thứ hai, ký tôn trọng tính
chính xác của đối tượng miêu tả, nghĩa là viết về người thật việc thật trong
cuộc sống.Một đặc điểm quan trọng nữa của ký là sự tham dự, có mặt,
chứng kiến của cái tôi trong tác phẩm.
1.2.2. Vài nét về Hồng Phủ Ngọc Tường và ký của ơng
HPNT sinh ra và lớn lên tại thành phố Huế - Mảnh đất từng là kinh
đô của đất nước chứa đựng bao trầm tích văn hóa đã ban tặng cho HPNT
một diện mạo tinh thần độc đáo. Cùng với đó, thời gian học tập, giảng dạy
cũng đã mở ra cho HPNT cơ hội trau dồi lượng tri thức lớn về mọi lĩnh vực
của đời sống.Ngoài ra, những tư tưởng Nho – Phật – Đạo của triết học
phương Đông; tư duy biện chứng, chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism) của
triết học phương Tây, và yếu tố thời đại cũng có ảnh hưởng khơng nhỏ đến
tư tưởng HPNT.
HPNT bộc lộ quan niệm về ký của mình qua bài viết “Một vài suy
nghĩ về thể ký”.Trong đó, ơng bác bỏ quan niệm cho rằng “ký chỉ được
xem là một loại thủ cơng nghiệp mang tính gia công (…), là một sản phẩm
văn học thứ cấp”. Theo ông ký cần nói thực, viết thực, “chuyên chở đến
cho người đọc những hiểu biết cần thiết trên mọi lĩnh vực” và nhiệm vụ
này “đã mở ra cho ký một khả năng tháo vát hiếm có (…)
Ký HPNT được tuyển chọn và giới thiệu trong tập 2 và tập 3 Tuyển
tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nbx Trẻ, năm 2002.
10
Có thể nói mỗi tác phẩm của HPNT là một phức thể của nhiều tiểu
loại ký (bút ký, tùy bút, hồi ký, ký sự, truyện ký, ét - xe), trong đó bút ký
và tùy bút là hai tiểu loại mang phong cách chủ đạo ở hầu hết các tác phẩm
của ông.
Tiểu kết chương 1:
Qua việc tìm hiểu, khái quát các vấn đề trong lí thuyết phân tích diễn
ngơn giúp chúng tôi nắm bắt được cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài.
Cùng với đó, việc hệ thống lại một số vấn đề lý luận về ký, một số nét khái
quát về HPNT và ký của ông giúp chúng tôi hiểu về đối tượng để từ đó có
thể đi vào phân tích, miêu tả những đặc điểm ký HPNT dưới góc nhìn
PTDN.
CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM CÁC ĐƠN VỊ TỪ NGỮ VÀ CÚ PHÁP
TRONG KÝ HỒNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
TỪ GĨC NHÌN PHÂN TÍCH DIỄN NGƠN
2.1. ĐẶC ĐIỂM CÁC LỚP TỪ NGỮ TRONG KÝ HOÀNG PHỦ
NGỌC TƯỜNG
PTDN với tư cách là một hướng nghiên cứu, phân tích ngơn ngữ
trong sử dụng, một phần sẽ tìm hiểu về sự có mặt của các đơn vị từ ngữ
trong diễn ngơn, đồng thời phân tích hoạt động, ý nghĩa của chúng trong
tạo lập giá trị diễn ngơn.
Vì giới hạn của luận văn, trong nội dung này chúng tơi chỉ tập trung
tìm hiểu một số lớp từ ngữ nổi bật trong ký HPNT cụ thể dưới đây:
2.1.1. Lớp từ ngữ quy chiếu nhân vật, địa danh
Các tác phẩm ký HPNT quy chiếu đến rất nhiều đối tượng (nhân vật,
địa danh) là kết quả của những chuyến đi trải nghiệm thực tế về mọi miền
của Tổ quốc cùng với năng lực quan sát, ghi chép tỉ mỉ, cụ thể và trí tưởng
tượng dồi dào của tác giả. Sự xuất hiện của những con người, địa danh thật
trong ký HPNT vừa phản ánh đúng đặc trưng phản ánh chân thực về những
11
vấn đề đời sống xã hội của thể ký, một mặt củng cố độ tin cậy về thông tin
mà tác giả đề cập.
a) Lớp từ ngữ quy chiếu nhân vật
Mỗi tác phẩm ký HPNT từ bút ký trữ tình, bút ký chính luận, tùy bút,
hồi ký, ký sự,… đến những ét – xe đều có các biểu thức ngơn ngữ mang
chức năng quy chiếu nhân vật.
Quy chiếu nhân vật trong ký HPNT có các hình thức:
* Với đối tượng quy chiếu là nhân vật cụ thể:
- Các đối tượng được định danh bằng biểu thức danh từ riêng với các
dạng:
+ Tên riêng đầy đủ (họ + chữ đệm + tên). Ví dụ: Lê Minh Trường,
Trịnh Cơng Sơn, …
+ Chỉ có tên: Sơn, Trường
- Quy chiếu kết hợp hình thức định vị nhân xưng, có các biểu thức:
+ Đại từ xưng hơ + tên: Ví dụ: Anh Sơn, Bà Lan Hữu, Mẹ E, anh
Hữu Mai,…
+ Chỉ có đại từ xưng hơ: Ví dụ: Ơng, anh, bà, chị, cơ, o, mệ…
+ Loại từ xưng hô xã hội + Họ tên.
* Đối tượng quy chiếu là tập thể, quần chúng:
- Danh từ chung chỉ người. Ví dụ: Người dân (ở đây), nhân dân
(quanh vùng), dân …
- Danh từ chung chỉ người + Tên địa danh. Ví dụ: Người dân Vĩnh
Linh, Người dân Gị Nổi, người dân Đất Mũi,...
- Lượng từ + Danh từ chung chỉ người. Ví dụ: Đám người, những
người, các đồng chí, …
- Đại từ nhân xưng. Ví dụ: Họ, chúng ta, chúng tôi,…
Các biểu thức quy chiếu nhân vật trong ký HPNT vừa có ý nghĩa
phản ánh trực tiếp vấn đề, vừa thể hiện vị trí, quan hệ xã hội, thái độ của
tác giả đối với nhân vật được đề cập. Các biểu thức ngôn ngữ được sử
12
dụng linh hoạt giúp cho ngôn ngữ ký HPNT tránh được sự trùng lặp từ ngữ
gây nhàm chán.
* Đối tượng quy chiếu là tác giả:
Trong ký HPNT, quy chiếu đến tác giả xuất hiện thường trực trên các
trang viết. Hình thức quy chiếu đến tác giả chủ yếu và phổ biến nhất đó là
hình thức định danh – xưng tơi (tác giả đóng vai trị người trần thuật ở ngơi
thứ nhất), có một vài trường hợp định danh bằng tên riêng (Ba Hoàng –
Đất Mũi, Anh Ngọc – Như con sông từ nguồn ra biển, Anh Hải – Rất
nhiều ánh lửa) (tác giả xuất hiện với vai trò là một nhân vật trong cuộc trò
chuyện). Quy chiếu đến tác giả trong ký HPNT có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng trong phản ánh đặc trưng của thể loại và biểu hiện phong cách nhà
văn.
b) Lớp từ ngữ quy chiếu địa danh
Hình thức quy chiếu địa danh chủ yếu và tiêu biểu trong ký HPNT đó
là định danh - gọi tên trực tiếp đối tượng với biểu thức ngôn ngữ cụ thể là:
Danh từ chung + tên riêng. Ví dụ: sơng Hương, núi Ngự Bình, đảo Cồn Cỏ,
nũi Bạch Mã, … Hoặc chỉ có tên riêng: Cồn Cỏ, Đất Mũi, Bạch Mã, …
Thông thường biểu thức danh từ riêng + tên riêng xuất hiện khi đối
tượng được nhắc đến lần đầu trong tác phẩm, biểu thức chỉ có tên riêng
được sử dụng khi đối tượng được nhắc lại.
Nét đặc sắc trong quy chiếu địa danh trong ký HPNT đó là tác giả
thường sử dụng những tên riêng khác nhau để gọi tên cùng một đối tượng
được quy chiếu.
2.1.2. Từ láy
Theo khảo sát cho thấy từ láy là lớp từ ngữ rất nổi bật trong ký
HPNT. Từ láy xuất hiện với tần số cao, được sử dụng rất sáng tạo làm nên
một nét đặc sắc của ngơn ngữ ký Hồng Phủ.
13
- Khảo sát trong “Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường”, tập 1 gồm
837 trang, tập 2 gồm 391 trang chúng tơi thấy xuất hiện 3685 lượt từ láy.
Trong số đó có 789 lượt từ láy hồn tồn, chiếm 21,44%, 2896 lượt từ láy
bộ phận, chiếm 78,58%. Trong lớp từ láy bộ phận có 2155 từ láy phụ âm
đầu, chiếm 58,48%, 741 từ láy vần chiếm 20,1%.
- Kết quả khảo sát cho thấy từ láy trong ký HPNT không chỉ phong
phú về số lượng, tiểu loại mà còn khá đa dạng về cấu tạo. Từ láy được
HPNT sử dụng một cách linh hoạt, độc đáo trên các trang viết.
- Trong miêu tả thiên nhiên, những từ láy được sử dụng đã làm cho
bức tranh thiên nhiên thêm sắc nét, những bức tranh hiện lên sinh động với
tất cả đường nét, hình khối, màu sắc. Trong miêu tả cuộc sống, chân dung
con người từ láy được HPNT sử dụng có thể ví như những nét bút chì màu
vừa sắc vừa gọn, phác họa tinh tế những mảng sáng tối, đậm nhạt về cuộc
sống đời thường; với chân dung con người đó là những nét vẽ truyền thần
rất có hồn.
Lớp từ láy được sử dụng với tần số cao trong ký HPNT không chỉ có
giá trị gợi tả, giá trị biểu cảm mà cịn là sự thể hiện đặc sắc về phong cách
ngơn ngữ của HPNT.
2.1.3. Từ địa phương
Trong ký HPNT, từ địa phương xuất hiện khá đa dạng, chứa đựng
những giá trị đặc sắc riêng.
- Khảo sát từ địa phương trên 5 tác phẩm: Rất nhiều ánh lửa, Như
con sông từ nguồn ra biển, Đất Mũi, Người Mỹ trở lại, Miếng trầu đỏ thu
được kết quả thống kê cụ thể như sau:
Bảng 2.1: Từ địa phương trong một số tác phẩm ký HPNT
Hình thức
Số lượng
Ví dụ
Tỉ lệ
TT
1 Đại từ chỉ định và nghi vấn
28
Ni, ri, nớ, rứa, tê,… 23,14
2 Danh từ thân tộc
54
Tui, mệ, mạ, o,…
44,62
3 Đại từ chỉ không gian, thời
3
Ngoải, bữa ni
2,48
gian
4 Ngữ khí từ
14
Chớ, bộ, hỉ,
11,57
nghen,…
5 Một số trường hợp khác
21
Coi, thiệt, nhứt,…
17,36
Tổng
21
100 %
14
Kết quả thống kê phân tích cho thấy, trong các tác phẩm ký HPNT từ
địa phương xuất hiện khá đa dạng.
Từ địa phương có mặt trong ký HPNT vừa có ý nghĩa làm nổi bật
màu sắc địa phương, cá tính hóa nhân vật, vừa phản ánh đúng đặc trưng
ghi chép chân thực về những vấn đề đời sống xã hội của ký. Viết về những
năm kháng chiến chống Mỹ ở dải đất miền Trung (Quảng Trị, Huế, Quảng
Nam), sự xuất hiện của nhiều nhân vật với ngôn ngữ địa phương cùng với
việc sử dụng từ địa phương trong miêu tả của tác giả đã góp phần tái hiện
khơng khí những năm tháng kháng chiến một cách chân thực. Ở phương
diện khác, sự có mặt của lớp từ địa phương trong ký HPNT cũng là yếu tố
góp phần tạo nên phong các nhà văn, giúp người đọc nhận diện một cây
bút tiêu biểu của đất Trung Bộ.
2.1.4. Từ Hán Việt
Cùng với từ láy, từ Hán Việt được sử dụng với tần số dày đặc trong
ký HPNT. Hầu hết các tác phẩm ký HPNT đều có sử dụng từ Hán Việt.
- Khảo sát ngẫu nhiên trên 30 trang, chúng tôi thu được kết quả trung
bình có khoảng 5 từ Hán Việt/ 1 trang. Từ Hán Việt được HPNT sử dụng
nhuần nhuyễn trên từng trang viết. Các lớp từ Hán Việt về lịch sử, văn hóa,
thiên nhiên được sử dụng kết hợp với các từ thuần Việt một cách hài hòa
đến độ nếu khơng chú ý khó có thể nhận ra chúng đã chiếm số lượng khá
lớn như thế nào trong câu.
- Từ Hán Việt là sự thể hiện bước phát triển của ngơn ngữ tiếng Việt
trong lịch sử dân tộc. Nó khơng chỉ là ý thức độc lập văn hóa của cha ơng
được cụ thể hóa bằng ngơn ngữ mà cịn là kết quả của một q trình tư duy
ngơn ngữ của người Việt trong sự ý thức tiếp thu, bảo tồn và phát triển văn
hóa. Từ Hán Việt, do đặc trưng trang trọng, cao nhã của nó thường đem lại
sắc thái trang trọng, nghiêm cẩn cho ngôn ngữ. Qua các đoạn văn của
HPNT có thể thấy nhà văn đã giản dị hóa cách dùng từ Hán Việt, sử dụng
15
chúng một cách rất linh hoạt, làm cho câu văn trở nên gần gũi hơn với
người đọc.
2.1.5. Lớp từ nước ngồi
Cùng với những đơn vị ngơn ngữ kể trên, trong ký HPNT cịn có một
số lượng đáng chú ý các đơn vị từ nước ngồi.
Lớp từ nước ngồi có mặt trong ký HPNT chủ yếu là các từ tiếng
Anh, Pháp, La – tinh. Cụ thể, khảo sát trên một số tác phẩm như “Lâm
Triết và cõi mộng du”, “Đà Lạt, Noel 1965 và Đinh Cường”, “Vẻ trầm
mặc của đất đá”, ““Bảy chữ cái” Điềm Phùng Thị”, “Rừng hồi” thu được
57 lần xuất hiện của từ nước ngoài (bao gồm các thuật ngữ khoa học tiếng
nước ngồi). Trong đó, hình thức sử dụng trực tiếp 28 lần, sử dụng để chú
giải 29 lần.
Viết về những vấn đề văn hóa, HPNT hay sử dụng tiếng nước ngoài để
minh họa cho ý tưởng của mình hoặc sử dụng trực tiếp từ nước ngồi đề làm nổi
bật vấn đề.
2.1.6. Thuật ngữ khoa học
- Cùng với các từ nước ngoài được sử dụng để chú giải, minh hoạ
cho ý tưởng của tác giả, sự có mặt của các thuật ngữ khoa học trong ký
HPNT có ý nghĩa giúp diễn đạt chính xác về vấn đề cần thơng báo, một
mặt nó làm cho ngơn ngữ ký HPNT nghiêm cẩn, chính xác như một nhà
khoa học.
Sự có mặt của lớp từ nước ngoài, thuật ngữ khoa học không chỉ là
một yếu tố đơn thuần cung cấp tri thức cho người đọc mà còn làm tăng
hiệu quả thuyết phục của tác phẩm. Sự dụng lớp từ này đáp ứng nhu cầu
phản ánh chân thực về các vấn đề đời sống xã hội của ký cũng như cho
thấynăng lực quan sát, sự hiểu biết, của tác giả về mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội.
2.2. CÚ PHÁP TRONG KÝ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
Do giới hạn của luận văn, chúng tôi chỉ khảo sát đặc điểm câu trên
10 tác phẩm ký HPNT, bao gồm: Ai đã đặt tên cho dòng sông, Rất nhiều
16
ánh lửa, Ngọn núi ảo ảnh, Sử thi buồn, Tính cách Huế, Rượu hồng đào
chưa nhắm đã say, Nguyễn Trãi trước những ngã ba thời đại, Những cuốn
sách tôi đã đọc hồi còn bé, Mượn đá để ngồi, Đốt lò hương giở phím đồng
ngày xưa. Tổng số câu là 1560 (câu).
2.2.1 Câu xét theo mục đích giao tiếp
Bảng 2.3: Đặc điểm câu theo mục đích giao tiếp trong
một số tác phẩm ký Hồng Phủ Ngọc Tường
Mơ hình câu
Số lần xuất hiện
Tỉ lệ %
Câu trần thuật
1428
91,5 %
Câu nghi vấn
68
4,36 %
Câu cầu khiến
43
2,77%
Câu cảm thán
21
1,35 %
1560
100 %
Tổng cộng
- Sự xuất hiện với tần số dày đặc, thể hiện nhiều nội dung khác nhau
của câu trần thuật trong ký HPNT tạo nên những giá trị riêng của việc sử
dụng câu theo mục đích giao tiếp. Câu trần thuật được dùng để xác nhận về
sự tồn tại của sự vật hay các đặc trưng, hoạt động, trạng thái của sự vật vừa
phản ánh đúng đặc trưng ghi chép linh hoạt về mọi vấn đề trong đời sống
xã hội của thể ký. Một mặt, để chuyển tải những nội dung thông tin “mắt
thấy tai nghe” đến với người đọc, tác giả sử dụng câu trần thuật để kể,
miêu tả, và thể hiện quan điểm cũng nói lên thái độ khách quan của mình
trước những vấn đề.
- Không giống như cầu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu
cảm thán xuất hiện với tần số rất thấp trong ký HPNT. Sự có mặt của các
kiểu câu nghi vấn, cầu khiến, cảm thán cho thấy sự linh hoạt và khéo léo
trong sử dụng câu để đạt được mục đích giao tiếp của HPNT
17
2.2.2. Câu xét về cấu tạo
Bảng 2.4: Đặc điểm câu xét theo cấu trúc đề thuyết trong
ký Hoàng Phủ Ngọc Tường
Kiểu câu
Câu đơn
song
phần
Mơ hình cụ thể
Đ/T: Quan hệ
CĐ/T
Đ/T: Đặc trưng
Số
Tỉ lệ G.chú
lượng %
VD…
12 0,8
(1)…
68
4,36
(2)…
(3)…
KĐ (thời gian, không gian,cảnh huống)/CĐ/T
Câu đơn
CĐ/TCĐ-T hoặc CĐ/T…/T
phức hóa
thành
KĐ/CĐ/TCĐ-T
phần
91 5,83
188 12,05
KĐ/CĐCĐ-T/T
hoặc KĐ/ CĐ/T…/T
Câu tỉnh
Đ/…
lược
…/T
Kđ…./T
CĐ/T + CĐ/T
Hai cấu trúc
KĐ/CĐ/T + CĐ/T
đề thuyết
Hai cấu
CĐ/T + CĐ/T + thành
Câu
trúc đề
phần phụ chú
ghép
thuyết có KĐ/CĐ/T + KĐ/CĐ/T +
thành
thành phần phụ chú
phần
KĐ/CĐ/T + CĐ/T +
phụ
thành phần phụ chú
CĐ/T+ Th.phần
Câu đơn + thành phần phụ chú
phụ chú
KĐ/CĐ/T+ Th.phần phụ
chú
Câu đơn + thành phần CĐ/T + Thành phần cảm
cảm thán/ liên kết
thán/liên kết
KĐ/CĐ/T + Thành phần
cảm thán/liên kết
Tổng
67
4,29
(6)…
12
15
30
102
106
88
0,77
0,96
1,92
7,18
6.79
5,64
(7)…
(8)…
(9)…
(10)…
(11)…
(12)…
43
2,76
(13)…
47
3,01
(14)…
(4)…
277 17,11
(5)…
181 12,24 (15)…
176 11,28 (16)…
31
2,43
(17)…
26
1,67
(18)…
1560 100%
18
Kết quả thống kê phân tích cho thấy, ký HPNT xuất hiện đa dạng các
kiểu cấu trúc cú pháp. Theo kết quả khảo sát, trong ký HPNT các kiểu cấu
trúc câu dài (bao gồm câu đơn phức hóa thành phần và câu ghép) xuất hiện
với tần số lớn. Mặc dù là những câu có kết cấu dài nhưng khơng phải dài
dịng theo kiểu rườm rà mà ngược lại rất cơ đọng và mạch lạc biểu hiện
qua nội dung thông báo. Những cấu trúc câu dài được sử dụng để chuyển
tải những ý tưởng trùng điệp, diễn đạt trọn vẹn về những vấn đề có tính
biện chứng mà tác giả muốn thông báo đến người đọc.
- Các kiểu cấu trúc được sử dụng đa dạng, linh hoạt nhằm thực hiện
được mục đích thơng báo những nội dung mà tác giả muốn chuyển tải đến
người đọc.
Tiểu kết chương 2: Qua việc khảo sát, phân tích các đơn vị từ ngữ
và cú pháp trong ký HPNT cho thấy, cảm thức ngôn ngữ và cách dùng từ,
đặt câu của NPNT đã tạo nên một văn phong đẹp đẽ, hài hịa,vừa giàu cảm
xúc trữ tình, đậm chất triết lí vừa mang sắc thái chính xác, rành mạch của
tư duy khoa học. Sức quan sát, khả năng tư duy và độ nhạy cảm của tâm
hồn đã kết tinh thành một ma lực sáng tạo ngôn ngữ cho HPNT.
CHƯƠNG 3
ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC DIỄN NGƠN
KÝ HỒNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
3.1. CẤU TRÚC DIỄN NGƠN TRONG KÝ HỒNG PHỦ NGỌC
TƯỜNG
Khảo sát 80 tác phẩm ký HPNT cho thấy tất cả các tác phẩm đều có
cấu trúc bao gồm các bộ phận: nhan đề, phần mở đầu, phần phát triển nội
dung và phần kết.
19
3.1.1. Nhan đề
Về phương diện hình thức biểu đạt, nhan đề ký HPNT có sự phân bố
khá rộng rãi.
Bảng 3.1:Hình thức biểu đạt nhan đề ký HPNT
Kiểu cấu trúc
Số lần
Ví dụ
39
Rừng hồi, Đời rừng, Miếng trầu đỏ, 48,75
Danh ngữ
Tỉ lệ %
Rừng nước mặn, Đất Mũi, Côn Sơn…
Động ngữ
12
Chế ngự cát, Mượn đá để ngồi, Tiếc 15
rừng, Tưởng niệm Diana, …
Tính ngữ
1
Rất nhiều ánh lửa
1,25
Câu nghi vấn
1
Ai đã đặt tên cho dịng sơng?
1,25
Câu trần thuật
27
Người Mỹ trở lại, Rượu hồng đào chưa 33,75
nhắm đã say, Đêm chong đèn ngồi nhớ
lại, Phùng Quán lạy dưa, …
Về cấu trúc nội dung, đầu đề ký HPNT có thể khái quát dưới dạng:
Bảng 3.2: Cấu trúc nội dung nhan đề ký HPNT
Cấu trúc đầu đề
Số lần xuất hiện
Tỉ lệ %
Đầu đề có tính thơng tin
43
53,75
Đầu đề gợi
37
46,25
3.1.2. Phần mở đầu
Theo khảo sát, có thể khái quát lên các kiểu mở đầu thường gặp
trong ký HPNT đó là:
- Mở đầu trực tiếp với hình thức dẫn dắt bằng câu văn liên quan trực
tiếp tới vấn đề, nêu rõ vấn đề định bàn luận và nêu giới hạn của vấn đề.
- Kiểu mở đầu trực tiếp có thêm phần dẫn dắt về thời gian, không
gian.
- Kiểu mở đầu gián tiếp bằng cách dẫn dắt đến vấn đề, sự việc bằng
những suy nghĩ, cảm xúc riêng của tác giả.
20
- Kiểu mở đầu gián tiếp bằng hình thức tự sự của nhân vật tôi – tác
giả.
3.1.3. Phần phát triển nội dung
Cấu trúc nội dung tổng thể của tác phẩm bao gộp cấu trúc của các
đoạn văn, có dạng sơ đồ hóa dưới dạng:
A = A1 (x1 + y1 + z1) + A2( x2+ y2 + z2) + A3 (x3 + y3 + z3) +….+…
An (xn + yn + zn).
Trong đó, A là cấu trúc tổng thể của mỗi diễn ngôn ký; A1 , A2, A3,…
An là các đoạn văn diễn đạt chủ đề con, x1, y1 , z1; x2, y2, z2; x3 , y3, z3; xn ,
yn , zn lần lượt là các yếu tố tham gia phát triển nội dung trong từng đoạn
văn (đoạn văn thể hiện chủ đề con).
Về cơ bản, các yếu tố tham gia phát triển nội dung văn bản ký HPNT
bao gồm: - Thông tin nền với các dạng thơng tin nền chỉ hồn cảnh và
thông tin lịch sử:
- Thông tin bằng chứng/ chi tiết hóa
- Yếu tố “bình
- Yếu tố cảm xúc
Về tổng quan, mỗi đoạn văn trong ký HPNT đều có mặt các yếu tố
kể trên, các yếu tố được tổ chức ít khi theo một trật tự cụ thể nhất định mà
thường kết hợp với nhau, có thể bao hàm nhau.
Sự tổ chức các yếu tố quan yếu trong đoạn văn ký HPNT cũng bị chi
phối bởi đặc trưng của tiểu loại.Bút ký và tùy bút là hai tiểu loại mang
phong cách chủ đạo ở hầu hết các tác phẩm của HPNT. Loại ký này chủ
yếu thể hiện những cảm xúc và suy nghĩ chủ quan của nhà văn trước những
sự kiện của đời sống khách quan, hoặc xen kẽ kết hợp giữa việc biểu hiện,
bình luận, suy tưởng với miêu tả, kể chuyện. Vì thế, các yếu tố phát triển
nội dung đoạn văn của ký HPNT thường là các yếu tố kể, tả, bình được kết
hợp với nhau.
- Sự tổ chức các yếu tố quan yếu trong mỗi đoạn văn của ký HPNT
phản ánh đúng đặc điểm hình thức ghi chép linh hoạt của ký. Về tổ chức
21
các yếu tố nội dung, ký khơng theo một hình thức cụ thể nào song khơng vì
thế mà đoạn văn, cấu trúc diễn ngơn ký mất đi tính chặt chẽ. Các yếu tố
quan yếu trong văn bản ký HPNT luôn được tác giả tổ chức hướng đến làm
sáng tỏ chủ đề. Điều này cũng biểu hiện tư duy nghệ thuật logic, sắc sảo
của ngòi bút HPNT.
3.1.4. Phần kết luận
Kết quả khảo sát cho thấy các tác phẩm ký HPNT đều có phần kết
luận riêng. Các hình thức kết luận thường gặp đó là: kết tóm tắt, kết lặp lại
chủ đề, kết mang tính suy nghiệm, triết lý; kết là một câu trích dẫn; kết đề
xuất - kiến nghị; kết bằng diễn biến tự sự.
3.1. MẠCH LẠC TRONG KÝ HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
3.2.1. Mạch lạc được tạo bởi liên kết hình thức
Bảng 3.3: Tần suất sử dụng các phép liên kết trong ký HPNT
STT
Phương tiện
Tỉ lệ %
1
Phép lặp từ vựng
27,15
2
Phép thế đại từ
21,06
3
Phép tuyến tính
21,42
4
Phép liên tưởng
10,78
5
Phép nối liên tố
7,63
6
Phép thế đồng nghĩa
6,86
7
Phép đối
3,38
8
Phép tỉnh lược
1,67
3.2.2. Mạch lạc trong tổ chức nội dung
Mạch lạc còn được tạo bởi các yếu tố quan yếu trong phát triển nội
dung. Trong mỗi tác phẩm ký HPNT, cách tổ chức các yếu tố nội dung có
trình tự, theo kết cấu nhất định đã tạo nên mạch lạc cho diễn ngôn. Qua
khảo sát cho thấy, cách tổ chức các yếu tố nội dung thường gặp trong ký
HPNT đó là tổ chức theo theo trình tự thời gian, không gian và đặt trong
mối quan hệ tương đồng, tương phản.
22
Tiểu kết chương 3
Về cơ bản, cấu trúc tất cả các tác phẩm ký HPNT, ngồi nhan đề,
gồm có 3 phần: phần mở đầu, phần phát triển nội dung và phần kết thúc.
Quan hệ giữa nhan đề và nội dung tác phẩm ký là mối quan hệ giữa việc
thông báo chủ đề và diễn giải chủ đề. Qua phân tích cho thấy quan hệ giữa
nhan đề và nội dung các tác phẩm ký HPNT khá chặt chẽ. Sự tổ chức các
yếu tố nội dung trong tác phẩm không výợt ra ngồi phạm vi chủ ðề mà
nhan ðề thơng báo. Hình thức nhan đề các tác phẩm ký dù là trực tiếp hay
gián tiếp đều có tính khái qt về chủ đề tác phẩm.
Mạch lạc trong diễn ngôn ký HPNT được tạo nên bởi việc tác giả
luôn chú trọng tổ chức các yếu tố nội dung trong tác phẩm và sự có mặt
của các phép liên kết trong từng đoạn văn.
23
KẾT LUẬN
Qua những tìm hiểu, phân tích, có để nêu lên một số kết luận sau:
1. Qua khảo sát cho thấy các hình thức ngơn ngữ: từ ngữ và cấu trúc
cú pháp được sử dụng trong ký HPNT rất đa dạng và linh hoạt. Sự có mặt
của các lớp từ ngữ, cấu trúc cú pháp trong ký HPNT một mặt phản ánh
đúng đực trưng phản ánh hiện thực qua hình thức ghi chép linh hoạt của
ký, mặt khác nói lên những nét riêng trong phong cách của Hoàng Phủ. Về
cấu trúc diễn ngôn, sự tổ chức cấu trúc diễn ngôn ký Hồng Phủ vừa điển
hình cho cấu trúc chung của thể ký vừa là biểu hiện của tư duy, sáng tạo
của nhà văn.
2. Nghiên cứu “Đặc điểm ngôn ngữ ký HPNT từ góc nhìn PTDN”,
một mặt đã làm sáng tỏ được phần nào về phương thức ứng dụng lí thuyết
PTDN vào nghiên cứu văn học, báo chí. Ở đây là cách tiếp cận nghiên cứu
diễn ngôn xét trong đặc trưng của thể loại.Phương pháp tiếp cận vừa giúp
chúng tôi làm rõ những đặc điểm hình thức và giá trị ngơn ngữ ký HPNT
nói chung vừa thấy được những nét riêng về phong cách viết ký của tác
giả.
3. HPNT từng viết: “Mẹ thường nói đùa với con rằng mẹ sinh con
nhằm ngày trùng cửu, nên tâm hồn con lúc nào cũng lãng đãng, nửa buồn,
nửa vui giống như mùa thu”, qua việc phân tích ngơn ngữ được sử dụng
trong ký của ông, chúng ta phần nào cảm nhận được chút “lãng đãng, nửa
buồn, nửa vui” trong tâm hồn nhà văn. Cái sự “lãng đãng” biểu hiện qua
từng câu văn dài với cách dùng từ uyển chuyển, bay bổng, cái sự “nửa
buồn nửa vui” là thái độ trước những vấn đề cuộc sống. Là người có tri
thức uyên thâm, am hiểu nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề trong đời sống lại
thấu đạt những tư tưởng triết học có tính biện chứng, HPNT đã khái qt
lên nhiều vấn đề có tính triết lí. Những tư tưởng của ơng được diễn đạt
dưới hình thức ngôn ngữ phù hợp trở nên đầy thuyết phục, không mang