ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM THỊ THANH MAI
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ HỢP ĐỒNG TRONG
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Chun ngành: Ngơn ngữ học
Mã ngành: 82.29.02.0
TĨM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ HỌC
Đà Nẵng- Năm 2019
Cơng trình được hồn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. Bùi Trọng Ngoãn
Phản biện 1:
PGS.TS. Võ Xuân Hào
Phản biện 2:
PGS.TS. Trần Văn Sáng
Luận văn được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn tốt
nghiệp Thạc sĩ Ngôn ngữ học họp tại Trường Đại học sư
phạm vào ngày 18 tháng 10 năm 2019
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Trường Đại học sư phạm- ĐHĐN
Khoa Ngữ Văn Trường Đại học sư phạm- ĐHĐN
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Phân tích diễn ngơn (Discourse Analysis) là một khuynh
hướng nghiên cứu văn bản theo đường hướng ngơn ngữ học chức
năng. Vì vậy, các lí thuyết phân tích diễn ngơn đã có sức hấp dẫn đối
với giới nghiên cứu trong hai thập niên vừa qua. Từ hệ thống lí
thuyết đó, hầu như các loại diễn ngôn phi nghệ thuật và nghệ thuật
đều trở thành đối tượng nghiên cứu. Trong đó ngay cả văn bản hợp
đồng, một dạng văn bản hành chính có tính đặc thù cũng bước đầu
được khảo sát nhận diện.
Văn bản hành chính trong đó có văn bản hợp đồng lưu hành
phổ biến trong mọi hoạt động đời sống xã hội. Văn bản hợp đồng là
cơng cụ pháp lí quan trọng để các chủ thể trong xã hội trao đổi, dịch
chuyển các lợi ích do mình tạo ra và nhận lại những lợi ích vật chất
cần thiết từ các chủ thể khác nhằm thỏa mãn các nhu cầu chính đáng
của mình. Văn bản hợp đồng cũng đóng vai trị quan trọng trong q
trình vận hành của nền kinh tế, vì nó là hình thức pháp lí cơ bản của
sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong xã hội. Nó đã được miêu tả sơ bộ
trong một số sách về phong cách học hoặc là kinh tế nhưng sự nhận
diện đầy đủ về đặc điểm ngơn ngữ và thể thức văn bản của nó chưa
thực sự thỏa mãn nhu cầu hiểu biết. Trong thực tế, hầu như mọi giao
dịch có liên quan đến quyền lợi giữa các đối tác, bao giờ cũng có hợp
đồng như là một căn cứ của quá trình thực hiện nhưng hầu như người
soạn thảo hợp đồng chỉ dựa theo những hợp đồng trước đó như một
dạng khn mẫu kinh nghiệm chứ chưa hẳn là một khn mẫu văn
bản có tính pháp quy.
Hệ thống văn bản hành chính ở một trường đại học nói chung
và Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng nói riêng, vừa là
một đối tượng của hành chính học vừa là một đối tượng của ngôn
2
ngữ học. Làm chủ các thể thức văn bản là một yêu cầu bắt buộc đối
với bộ phận nhân viên văn phịng. Vì lẽ đó, nghiên cứu về các loại
hợp đồng trong một cơ sở không phải là đơn vị kinh tế có thể đem
đến một cách nhìn về sự giống nhau và khác biệt về kiểu loại văn
bản này ở một cơ sở giáo dục đại học với một cơ sở kinh tế.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Tình hình nghiên cứu phân tích diễn ngơn
2.2. Tình hình nghiên cứu văn bản hợp đồng
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tập hợp, thống kê, phân loại và khảo sát các hợp
đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm
– Đại học Đà Nẵng, người viết nhận diện về khuôn mẫu chung, thể
thức văn bản và đặc điểm ngôn ngữ của các kiểu loại hợp đồng trong
hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học
Đà Nẵng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: chúng tôi quan niệm đối tượng nghiên cứu ở đây là
đặc điểm kết cấu văn bản, thể thức văn bản, đặc điểm từ vựng ngữ
pháp, đặc điểm diễn đạt của các văn bản, diễn ngôn
Phạm vi: toàn bộ văn bản hợp đồng tiếng Việt Trường Đại học
Sư phạm – Đại học Đà Nẵng từ năm 2015 đến năm 2018.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích miêu tả: Đề tài áp dụng phương pháp
phân tích miêu tả để làm nổi bật các đặc điểm ngôn ngữ của văn bản
hợp đồng.
- Phương pháp phân tích diễn ngơn: Đề tài phân tích diễn
ngơn trên nhiều bình diện sử dụng các cơng cụ ngơn ngữ sẵn có.
- Ngồi hai phương pháp trên, thủ pháp thống kê, phân loại
nhằm thống kê số lần sử dụng của các đơn vị ngôn ngữ cũng như các
3
kiểu loại câu theo quá trình, các động từ tình thái, các hành vi ngôn
ngữ, các phương thức liên kết … trên ngữ liệu nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp, thủ pháp được
vận dụng kết hợp; tùy từng nội dung nghiên cứu, tùy vào từng đối
tượng cụ thể mà sử dụng ưu tiên một phương pháp, thủ pháp thích
hợp.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Thực hiện đề tài này người làm luận văn mong muốn đem lại
cái nhìn mới về đặc điểm ngơn ngữ trong các văn bản hợp đồng, đặc
biệt là văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường
Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng.
7. Cấu trúc của luận văn
- Chương 1: Những vấn đề chung
- Chương 2: Kết cấu, liên kết văn bản và thể thức văn bản hợp
đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm
– Đại học Đà Nẵng
- Chương 3: Đặc điểm từ vựng ngữ nghĩa, đặc điểm ngữ pháp
và đặc điểm ngữ dụng học của hợp đồng trong hoạt động giáo dục
đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Khái niệm diễn ngơn và văn bản
Theo Nguyễn Hịa, “văn bản là sản phẩm ngơn ngữ ghi nhận
lại q trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết trong một
hồn cảnh giao tiếp cụ thể, cịn diễn ngơn là sự kiện hay q trình
giao tiếp hồn chỉnh thống nhất có mục đích khơng có giới hạn được
sử dụng trong các hồn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể. Như vậy, là một
4
sự kiện giao tiếp hồn chỉnh, diễn ngơn phải có tính chủ đề bộ phận
đến chủ đề chung, có mạch lạc”.
Theo Nguyễn Thiện Giáp, “diễn ngôn và văn bản thường được
coi là đồng nghĩa với nhau để chỉ các sản phẩm của ngơn ngữ, viết
hay nói, dài hay ngắn, tạo nên một tổng thể hợp nhất, trong đó, diễn
ngơn được hiểu là bao trùm văn bản, còn văn bản thiên về sản phẩm
viết nhiều hơn”.
Trong cơng trình Nhập mơn Ngơn ngữ học của Mai Ngọc
Chừ, “diễn ngôn được hiểu là tập hợp gồm một hoặc nhiều phát ngơn
có tính liên kết, thống nhất về đích và nội dung giao tiếp được tạo ra
trong hoạt động giao tiếp”. Diễn ngơn có thể tồn tại ở dạng nói và
dạng viết, chẳng hạn như một bài văn, bài nói chuyện, cuộc đối
thoại, tranh luận… Hình thức của diễn ngơn là chuỗi các yếu tố ngôn
ngữ được lựa chọn và sắp xếp theo những quy tắc nhất định, ứng với
nội dung mà người phát muốn chuyển đến người nhận, cịn nội dung
của diễn ngơn sẽ bao gồm nội dung thông tin và nội dung tình thái.
Trong Dẫn nhập phân tích diến ngơn, thuật ngữ văn bản được
sử dụng để chỉ bất kì cái nào ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao
tiếp. Sự kiện đó tự nó có thể liên quan đến ngơn ngữ nói (ví dụ: một
bài thuyết giáo, một cuộc thoại tình cờ, một cuộc giao dịch mua bán)
hoặc ngơn ngữ viết (ví dụ: một bài thơ, một quảng cáo trên báo, một
áp-phích dán tường..), cịn thuật ngữ diễn ngơn dùng để chỉ việc giải
thuyết sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh.
Như vậy, kể từ khi lí thuyết phân tích diễn ngơn có mặt trong
ngơn ngữ học thì các khái niệm văn bản (text) và diễn ngôn
(discourse) được xác định lại một cách rạch rịi hơn. Theo đó, văn
bản được hiểu là một sản phẩm ngôn ngữ ở trạng thái tĩnh, trong khi
đó, diễn ngơn là sản phẩm ngơn ngữ ở trạng thái động, nghĩa là đặt
nó trong mối quan hệ hành chức, thế phát và thể nhận, mã trong hiện
trường giao tiếp và khơng gian văn hóa.
5
1.1.2. Lí thuyết về phân tích diễn ngơn
Nguyễn Thiện Giáp, trong Dụng học Việt ngữ đã trình bày về
phân tích diễn ngơn như sau: “tập trung vào q trình sử dụng ngôn
ngữ để thể hiện ý định trong ngữ cảnh nào đó. Tất nhiên người ta
quan tâm nhiều hơn đến cấu trúc của diễn ngôn, đặc biệt là chú ý đến
cái tạo ra một văn bản chuẩn tắc. Trong cách nhìn cấu trúc, tiêu điểm
chú ý là những chủ đề như những khâu nối hiển ngôn giữa các câu
trong văn bản có mạch lạc hoặc những yếu tố tổ chức văn bản.”
Diệp Quang Ban, trong Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo
của văn bản cũng đã nêu ra đối tượng và phương pháp của phân tích
diễn ngơn: " phân tích diễn ngôn là đường hướng tiếp cận tài liệu
ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngơn/văn bản) từ tính đa diện
hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngơn từ và ngữ cảnh tình huống,
với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngữ vực (register) mà
nội dung hết sức phong phú và đa dạng (gồm các hiện tượng thuộc
thể loại và phong cách chức năng, phong cách cá nhân, cho đến các
hiện tượng xã hội, văn hóa, dân tộc)".
Nguyễn Thị Hà, trong Nghiên cứu chức năng ngơn ngữ văn
bản quản lí nhà nước cho rằng: “Phân tích diễn ngơn là nghiên cứu
việc sử dụng ngơn ngữ ở cấp độ trên câu”.
Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản hợp đồng tại
Trường Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng, chúng tôi nhận diện
chúng trong tư cách là diễn ngôn nhằm vận dụng những phương tiện
phong phú nhất của khuynh hướng nghiên cứu này để nhận diện một
kiểu văn bản cụ thể trong hoạt động hành chức của chúng.
1.1.3. Các đường hướng phân tích diễn ngơn
Trong cơng trình “Phân tích diễn ngơn: một số vấn đề lí luận
và phương pháp”, Nguyễn Hịa đã nêu ra các đường hướng phân tích
diễn ngơn như sau:
a. Đường hướng dụng học
6
b. Đường hướng biến đổi ngôn ngữ
c. Ngôn ngữ học xã hội tương tác
d. Đường hướng dân tộc học giao tiếp
e. Đường hướng phân tích hội thoại
f. Phân tích diễn ngơn trong tâm lí học xã hội
g. Đường hướng phân tích diễn ngơn phê phán
h. Đường hướng giao tiếp liên văn hóa
i. Phương pháp phân tích diễn ngơn tổng hợp
1.1.4. Văn bản hợp đồng
1.1.4.1. Khái niệm hợp đồng
Theo Từ điển tiếng Việt phổ thơng của Viện Ngơn ngữ học
(2005) thì “hợp đồng là sự thỏa thuận, giao ước giữa hai hay nhiều
bên quy định các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia, thường
được viết thành văn bản”
Khái niệm trên đã chỉ ra bản chất của hợp đồng là được tạo
nên bởi hai yếu tố: sự thỏa thuận và sự ràng buộc pháp lí.
1.1.4.2. Ngơn ngữ văn bản hợp đồng
Theo Bhatia, trong cơng trình Language of the Law,
language teaching (1987), thể loại ngôn ngữ luật pháp bao gồm
nhiều tiểu loại khác nhau tùy thuộc vào mục đích giao tiếp, ngữ
cảnh sử dụng, các sự kiện hoặc hoạt động giao tiếp liên quan, mối
quan hệ xã hội hoặc chuyên môn giữa các thành viên tham dự vào
các sự kiện hoặc hoạt động giao tiếp, kiến thức nền của các thành
viên và nhiều yếu tố khác. Các nét khác biệt giữa các tiểu loại này
cũng được phản ánh thông qua nguồn lực ngôn ngữ trong văn bản
được huy động thông qua các quy ước đặc thù, trong những bối
cảnh luật pháp khác nhau. Bhatia đã phân biệt các tiểu loại của
ngôn ngữ luật pháp theo bối cảnh giao tiếp khác nhau với hai phân
nhánh lớn là ngơn ngữ nói và ngơn ngữ viết như sơ đồ các tiểu loại
ngôn ngữ luật pháp sau:
7
Sơ đồ 1.1 Các tiểu loại ngôn ngữ luật pháp
Theo sơ đồ trên, văn bản hợp đồng thuộc phân nhánh ngôn
ngữ viết – luật pháp – khuôn mẫu.
1.1.4.3. Ngữ cảnh và mục đích giao tiếp của văn bản hợp đồng
Thơng thường trong giao tiếp có hai loại hình giao tiếp chính:
giao tiếp trực tiếp (giao tiếp hai chiều) và giao tiếp gián tiếp (giao
tiếp một chiều). Còn đối với văn bản hợp đồng thì yếu tố tham gia
giao tiếp, tức người viết và người đọc văn bản này có tính chất đặc
thù. Bhatia nhấn mạnh vai trị tính chất đặc thù này của văn bản
pháp luật, văn bản hợp đồng và vai trị của nó khi giải thích các
đặc điểm ngôn ngữ của thể loại văn bản pháp luật. Tác giả chỉ ra
rằng đối với các thể loại văn bản khác thì tác giả văn bản vừa là
người phát (originator) vừa là người viết (write) văn bản, trong
khi đó những người viết văn bản hợp đồng chỉ đóng vai trị là
những người soạn thảo, còn người phát lại là các chủ thể hợp
8
đồng. Tương tự như vậy, ở hầu hết các thể loại văn bản khác thì
người đọc (reader) và người tiếp nhận (recipient) là một thì với
văn bản hợp đồng, người đọc thực sự của nó lại là các chủ thể kí
kết và/hoặc các luật sư, những chuyên gia luật pháp có trách nhiệm
viện dẫn trong trường hợp xảy ra sự tranh chấp về hợp đồng, cịn
người tiếp nhận có thể là tất cả những ai quan tâm đến đối tượng giao
dịch của hợp đồng.
Như vậy, nhân tố tham gia giao tiếp đặc biệt như vậy đã tạo
nên một ngữ cảnh riêng cho văn bản. Điều này đặt ra cho người soạn
thảo văn bản yêu cầu phải giải quyết hai vấn đề cùng một lúc, đó là
vừa phải dùng các nguồn lực ngôn ngữ vừa phải dùng các chiến lược
diễn ngôn (ngữ cảnh giao tiếp là yếu tố ngoại tại của diễn ngơn, chi
phối sự hình thành diễn ngơn) để thể hiện, dung hòa được ý muốn
của các chủ thể hợp đồng vốn đối lập nhau về mục đích giao tiếp.
1.1.5. Các lớp từ vựng
Nguyễn Thiện Giáp trong cơng trình Từ vừng học tiếng Việt
(2016) đã phân chia các lớp từ vựng theo các tiêu chí.
-Tiêu chí thứ nhất, xét theo nguồn gốc
- Tiêu chí thứ hai, xét theo phạm vi sử dụng
- Tiêu chí thứ ba, xét theo mức độ sử dụng
- Tiêu chí thứ tư, xét về mặt phong cách học
1.1.6. Các kiểu câu tiếng Việt
1.1.6.1 Câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp
a) Câu đơn
b) Câu ghép
1.1.6.2 Câu phân loại theo mục đích nói
a) Câu tường thuật
b) Câu nghi vấn
c) Câu mệnh lệnh
d) Câu cảm thán
9
1.1.7. Liên kết trong văn bản hợp đồng và mạch lạc trong
văn bản hợp đồng
1.1.7.1. Liên kết trong văn bản hợp đồng
Theo Diệp Quang Ban trong Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo
của văn bản (2009), các phép liên kết trong tiếng Việt bao gồm:
phép nối; phép quy chiếu; phép tỉnh lược và phép thế; và phép liên
kết từ vựng (lặp từ ngữ; dùng từ ngữ đồng nghĩa, gần nghĩa, từ ngữ
trong quan hệ cấp loại và từ ngữ trái nghĩa; phối hợp từ ngữ)
Theo Trần Ngọc Thêm, trong công trình Hệ thống liên kết văn
bản tiếng Việt (2006), liên kết văn bản bao gồm liên kết hình thức và
liên kết nội dung.
Trần Ngọc Thêm đã phân loại các phương thức liên kết theo
loại phát ngơn. Có 3 loại phát ngôn: câu tự nghĩa, câu hợp nghĩa và
ngữ trực thuộc.
1.1.7.2. Mạch lạc trong văn bản hợp đồng
Theo Diệp Quang Ban (2009), “mạch lạc là sự nối kết có tính
chất hợp lí về mặt nghĩa và về mặt chức năng, được trình bày trong
quá trình triển khai một văn bản (như một truyện kể, một cuộc thoại,
một bài nói hay một bài viết), nhằm tạo ra những sự kiện nối kết với
nhau hơn là sự liên kết câu với câu”.
Diệp Quang Ban đã nêu ra các biểu hiện của mạch lạc trong
các phạm vi cụ thể:
- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các từ ngữ trong một
câu
- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các đề tài- chủ đề của
các câu
- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các phần nêu đặc
trưng ở những câu có quan hệ nghĩa với nhau
- Mạch lạc biểu hiện trong trật tự hợp lí giữa các câu hay các
mệnh đề
10
- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa từ ngữ trong văn bản
với tình huống bên ngồi văn bản, hay là mạch lạc theo quan hệ
ngoại chiếu.
- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ thích hợp giữa các hành
động nói
- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ lập luận
1.2. Hoạt động đào tạo và liên kết đào tạo tại Trường Đại
học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng
1.2.1. Các loại hợp đồng
- Hợp đồng kinh tế “là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu
giao dịch giữa các bên kí kết về việc thực hiện công việc sản xuất,
trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ
thuật và các thỏa thuận khác có mục đích kinh doanh với quy định rõ
ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để thực hiện kế hoạch của
mình”.
- Hợp đồng dân sự “là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác
lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”.
- Hợp đồng lao động “là sự thỏa thuận giữa người lao động và
người sử dụng lao động về việc làm có trả cơng, điều kiện lao động,
quyền và nghĩa vụ mỗi bên trong quan hệ lao động”.
- Hợp đồng thương mại “là sự thỏa thuận giữa thương nhân
với nhau hoặc giữa các thương nhân với các bên có liên quan nhằm thực
hiện hoạt động thương mại”.
1.2.2. Các hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường
Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng
a) Theo nội dung
- Hợp đồng lao động
- Hợp đồng giảng dạy
- Hợp đồng liên kết đào tạo
- Hợp đồng khoa học
11
- Hợp đồng kinh tế
b) Theo tên gọi
- Nhóm hợp đồng lao động bao gồm: hợp đồng khoán việc;
hợp đồng thuê khoán việc; hợp đồng lao động; hợp đồng thử việc;
hợp đồng làm việc không xác định thời hạn; hợp đồng làm việc xác
định thời hạn; hợp đồng công việc; hợp đồng ghi nhớ.
- Nhóm hợp đồng giảng dạy bao gồm: hợp đồng giảng dạy;
hợp đồng giảng dạy cao học; hợp đồng cao học
- Nhóm hợp đồng liên kết đào tạo bao gồm: hợp đồng đào tạo
bồi dưỡng; hợp đồng tổ chức thi; hợp đồng ơn thi
- Nhóm hợp đồng khoa học: hợp đồng triển khai thực hiện đề
tài KH&CN; hợp đồng khoa học
- Nhóm hợp đồng kinh tế: hợp đồng kinh tế; hợp đồng dịch vụ;
hợp đồng vay vốn; hợp đồng mua quà; hợp đồng đặt tiệc; hợp đồng
cung cấp suất ăn; hợp đồng dịch thuật; hợp đồng thuê chuyên gia;
hợp đồng tư vấn, đánh giá; hợp đồng thuê phiên dịch; hợp đồng triển
khai xây dựng clip video giới thiệu và quảng bá nhà trường; hợp
đồng triển khai xây dựng website cho Trường Đại học Sư phạm- Đại
học Đà Nẵng;…
CHƯƠNG 2
KẾT CẤU, LIÊN KẾT VĂN BẢN VÀ THỂ THỨC VĂN BẢN
HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
2.1. Kết cấu và liên kết văn bản của văn bản hợp đồng
trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm –
Đại học Đà Nẵng
12
2.1.1 Khuôn mẫu văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo
dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng về
phương diện kết cấu.
Nhìn chung, kết cấu của các văn bản hợp đồng trong hoạt
động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà
Nẵng có 5 phần: phần tiêu đề; phần tư cách pháp nhân của các bên
tham gia vào kí kết hợp đồng, các điều khoản về công việc, trách
nhiệm, nghĩa vụ của các bên, điều khoản thi hành và các yếu tố xác
định giá trị pháp lí của hợp đồng.
Tuy nhiên, giữa các nhóm hợp đồng khác nhau, tùy thuộc vào
nội dung mà cách trình bày và kết cấu của văn bản hợp đồng sẽ khác
nhau.
a. Nhóm hợp đồng lao động:
Có thể thấy rằng các hợp đồng thuộc nhóm hợp đồng lao động
đều giống nhau về bố cục kết cấu văn bản. Văn bản hợp đồng nào
cũng có năm phần. Điểm khác biệt của các văn bản hợp đồng thuộc
nhóm này là tính chất cơng việc và thời gian thực hiện cơng viêc
trong các các hợp đồng. Chính tính chất công việc và thời gian thực
hiện công việc quy định tên hợp đồng trong nhóm này.
b. Nhóm hợp đồng giảng dạy:
Các loại hợp đồng trong nhóm hợp đồng giảng dạy đều có bố
cục năm phần. Chúng khác nhau ở các điều khoản hợp đồng. Số
lượng các điều khoản và nội dung các điều khoản trong các hợp đồng
là khác nhau. Nếu phần nội dung về kinh phí được đưa thành một
điều khoản riêng trong Hợp đồng giảng dạy cao học thì trong hợp
đồng giảng dạy, kinh phí được đưa vào phần điều khoản phân công
trách nhiệm của hai bên.
c. Nhóm hợp đồng liên kết đào tạo:
Các loại văn bản hợp đồng thuộc nhóm liên kết đào tạo, xét về
mặt kết cấu, có đầy đủ năm phần. Chúng khác nhau về số lượng điều
13
khoản và nội dung điều khoản trong phần thứ ba. Ngoài ra, mặc dù
nội dung phần bốn về các điều khoản thi hành là tương tự nhau trong
các văn bản hợp đồng thuộc nhóm này, nhưng tên tiêu mục của phần
bốn giữa các hợp đồng này là khác nhau (Cam kết, Điều khoản
chung, hoặc khơng có tiêu mục).
d. Nhóm hợp đồng khoa học:
Nhóm hợp đồng khoa học chỉ có hai loại văn bản hợp đồng.
Hai loại văn bản hợp đồng này đều có bố cục là năm phần. Tuy
nhiên, chúng có hai điểm khác nhau: thứ nhất là về các căn cứ pháp
lí trong hợp đồng và thứ hai là về số lượng và nội dung điều khoản
trong phần ba.
e. Nhóm hợp đồng kinh tế:
Về kết cấu, các hợp đồng thuộc nhóm hợp đồng kinh tế đều
giống nhau. Tất cả các hợp đồng nhóm này đều có năm phần. Chúng
chỉ có hai điểm khác nhau: thứ nhất là về các căn cứ pháp lí trong
hợp đồng và thứ hai là về số lượng và nội dung điều khoản trong
phần ba.
2.1.2. Liên kết liên câu trong văn bản hợp đồng trong hoạt
động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà
Nẵng
Câu trong văn bản hành chính, cụ thể ở đây là văn bản hợp
đồng là kiểu cẩu được trình bày theo hình thức mang tính đặc thù.
Điều đó thể hiện ở chỗ: nhiều lần xuống dịng và mỗi lần xuống dịng
có khi chỉ có một cụm từ, một thành phần câu.
Vì thế chúng tơi phải dựa vào logic để xác định một tổ chức
câu. Theo logic học phải là một mệnh đề có nội dung thơng báo mới
được gọi là một câu.
Trong bản hợp đồng có năm điều và có những điều khoản có
đề mục. Khơng kể đến đề mục, dựa vào logic mệnh đề như vừa trình
bày trên, chúng tơi tách phần nội dung của các điều này thành các
14
câu và phân tích mối liên kết của chúng. Trong mỗi nhóm hợp đồng,
chúng tơi tiến hành phân tích một hợp đồng mẫu để nhận diện được
các phương thức liên kết giữa các câu trong văn bản hợp đồng thuộc
nhóm đó.
Sau khi phân tích các hợp đồng mẫu cho từng nhóm hợp đồng,
chúng tơi đã khảo sát ngẫu nhiên 100 hợp đồng tại Trường Đại học
Sư phạm – Đại học Đà Nẵng và nhận thấy bản hợp đồng là kiểu văn
bản mang tính pháp lí cao nên người ta chỉ lựa chọn những đơn vị từ
vựng vừa đủ để diễn tả một cách chặt chẽ nhất. Tuy nhiên, vì tính
pháp lí được đưa lên hàng đầu mà phương diện liên kết trong văn
bản, cả liên kết nội dung lẫn liên kết hình thức đều được coi trọng.
Theo sự khảo sát của chúng tôi, tất cả các phần của văn bản đều có
liên kết. Trong từng phần như vậy, có những trường hợp tổ chức
thành một đoạn văn và liên kết liên câu cũng rất chặt chẽ. Các
phương thức liên kết được sử dụng với tần suất cao để liên kết các
câu trong văn bản hợp đồng tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học
Đà Nẵng là phép lặp, phép liên tưởng và phép tỉnh lược.
Bảng 2.1. Tần số xuất hiện của các phương thức liên kết câu
Phương thức liên kết
Số lần được sử dụng
Phép tỉnh lược
170
Phép lặp
435
Phép liên tưởng
370
Phép thế
85
1.1.3. Liên kết đoạn trong các hợp đồng trong hoạt động
giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
2.1.3.1 Quan niệm về đoạn văn
Trong luận văn này, chúng tôi cho rằng: Đoạn văn là đơn vị
cấu thành văn bản. Nó có thể bao gồm một câu hoặc nhiều câu, diễn
đạt một nội dung nhất định, được bắt đầu bằng chữ viết hoa lùi đầu
dòng và kết thúc bằng dấu chấm câu xuống dòng.
15
2.1.3.2 Các kiểu cấu trúc đoạn văn
a. Phân loại đoạn văn
- Xét về mặt cấu tạo của đoạn văn, Diệp Quang Ban phân chia
đoạn văn làm hai loại: đoạn văn thông thường và đoạn văn bất
thường.
- Xét về mặt nội dung của đoạn văn, đoạn văn gồm hai loại là
đoạn văn có câu chủ đề và đoạn văn khơng có câu chủ đề.
- Xét về kết cấu của đoạn văn, đoạn văn được chia thành các
kiểu sau: đoạn văn có cấu trúc diễn dịch, đoạn văn có cấu trúc quy
nạp, đoạn văn có cấu trúc tổng – phân- hợp, đoạn văn có cấu trúc
song hành, đoạn văn có cấu trúc móc xích và đoạn văn có cấu trúc
đặc biệt.
b. Một số kiểu cấu trúc đoạn văn trong văn bản hợp đồng
trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại
học Đà Nẵng
Cấu trúc đoạn văn của văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo
dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng thường
là cấu trúc diễn dịch, cấu trúc song hành và cấu trúc câu đặc biệt.
Các cấu trúc này thể hiện tính pháp lí chặt chẽ của văn bản hợp đồng.
2.1.3.3 Liên kết đoạn văn trong văn bản hợp đồng trong hoạt
động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà
Nẵng.
Để phân tích liên kết đoạn trong văn bản hợp đồng, chúng tôi
dựa vào kết cấu của văn bản hợp đồng để phân chia các đoạn và phân
tích liên kết giữa các đoạn trong các văn bản hợp đồng tại Trường
Đại học Sư pham – Đại học Đà Nẵng.
Trong 100 hợp đồng được khảo sát, các phương thức liên kết
đoạn được sử dụng với tần suất như trong bảng sau:
16
Bảng 2.2. Tần số xuất hiện của các phương thức liên kết đoạn văn
Phương thức liên kết
Số lần được sử dụng
Phép liên kết khứ chỉ
100
Phép liên kết hồi chỉ
60
Phép lặp
515
Phép liên kết tuyến tính
300
Văn ản hợp đồng thường bao gồm nhiều điều khoản để ràng
buộc trách nhiệm của các bên tham gia kí kết hợp đồng, và các điều
khoản được trình bày thành những điều là những đoạn độc lập với
nhau, liên kết với nhau bằng phép lặp (Điều). Vì vậy, phương thức
liên kết được sử dụng nhiều nhất trong các văn bản hợp đồng trong
hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học
Đà Nẵng là phép lặp (phép lặp từ vựng).
2.2. Thể thức văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục
đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
Thể thức văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo
tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng có thể được mơ hình
hóa như sau:
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Trường Đại học Sư phạm
Số :
Quốc hiệu
Đà Nẵng, ngày.. tháng.. năm
/ HĐ-ĐHSP
TÊN HỢP ĐỒNG
(Trích dẫn nội dung)
Nội dung hợp đồng
Chữ kí (và dấu) của Bên A
Chữ kí (và dấu) của Bên B
Sơ đồ 2.2. Thể thức văn bản hợp đồng tại Trường Đại học Sư
phạm – Đại học Đà Nẵng
17
CHƯƠNG 3
ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA, ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP
VÀ ĐẶC ĐIỂM NGỮ DỤNG CỦA HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT
ĐỘNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ
PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
3.1. Đặc điểm từ vựng ngữ nghĩa của hợp đồng trong hoạt động
giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
3.1.1. Các lớp từ vựng của văn bản hợp đồng trong hoạt
động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà
Nẵng
a) Xét theo tiêu chí nguồn gốc
b) Xét theo tiêu chí phạm vi sử dụng
c) Xét theo tiêu chí mức độ sử dụng
Khảo sát các văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào
tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, chúng tôi nhận
thấy rằng số lượng các thuật ngữ phong cách hành chính- cơng vụ là
rất lớn. Điều này diễn ra là có nguyên do. Thứ nhất, bản thân văn bản
hành chính bao giờ cũng mang tính pháp lí, liên quan đến hoạt động
vận hành xã hội, được thực thi trong khuôn khổ luật pháp; đồng thời
con người trong quan hệ hành chính là con người cơng dân được đặt
trong tư cách pháp nhân. Việc thực thi một văn bản hành chính nào
đó điều được chế tài trong một điều khoản pháp lí nhất định. Vì lẽ
đó, văn bản hành chính phải là nơi chứa đựng đậm đặc nhất từ ngữ
hành chính và khn sáo hành chính. Thứ hai, trong các loại văn bản
hành chính thì văn bản hợp đồng là một dạng đặc thù, vì nếu là một
thơng tư hay một quyết định từ một chủ thể đến một nhóm người
nhất định thì trong văn bản hợp đồng là tư cách pháp nhân của hai
chủ thể Bên A và Bên B. Việc thực thi một văn bản thông báo hay
thơng tư có thể được kiểm tra và đánh giá bằng một hoạt động nào
18
đó. Trong khi đó, việc thực thi một văn bản hợp đồng là phải theo
các điều khoản. Cho nên, văn bản hợp đồng là kiểu văn bản hành
chính mang tính pháp quyền cao. Vì vậy, trong văn bản hợp đồng
ln ln là các lớp từ vựng mang tính xác định cụ thể như là tên
người, chức danh và bao giờ cũng kèm theo những thơng tin pháp lí.
Thêm vào đó cịn có lớp từ vựng khác là những từ ngữ biểu thị về
quyền hạn và trách nhiệm là những từ ngữ mang tính pháp lí cao, và
xét về mặt ngữ dụng học nó thuộc lớp tái hiện và điều khiển.
3.1.2. Đặc điểm ngữ nghĩa từ vựng của văn bản hợp đồng
trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm –
Đại học Đà Nẵng
3.1.2.1 Cấu trúc nghĩa của các thuật ngữ hành chính và pháp lí
Thuật ngữ hành chính có nghĩa biểu vật trùng với nghĩa biểu
niệm và khơng có nghĩa biểu thái.
3.1.2.2. Sắc thái biểu cảm của hệ thống từ vựng ở các văn bản
hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư
phạm – Đại học Đà Nẵng
Về mặt nghĩa, từ ngữ hành chính trong các văn bản hợp đồng
trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại
học Đà Nẵng thường có tính trang trọng do dùng nhiều từ Hán- Việt.
3.2. Đặc điểm ngữ pháp của hợp đồng trong hoạt động giáo
dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
3.2.1. Đặc điểm từ pháp
Từ pháp bao gồm từ loại và cấu tạo từ. Trong luận văn này,
chúng tơi chỉ tìm hiểu nghiên cứu đặc điểm từ loại của văn bản hợp
đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo của Trường Đại học Sư phạm
– Đại học Đà Nẵng.
a) Danh từ được sử dụng với tần số cao trong các văn bản hợp
đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo của Trường Đại học Sư
phạm – Đại học Đà Nẵng.
b) Những danh từ đóng vai trị định tố
19
c) Những từ được định danh hóa từ những động từ.
3.2.2. Đặc điểm cú pháp
Có bốn hướng tiếp cận để phân tích câu: phân tích câu theo
hướng cấu trúc, phân tích câu theo hướng ngữ nghĩa, phân tích câu
theo hướng chức năng và phân tích câu theo hướng cấu trúc thông
tin.
3.2.2.1. Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp
Xét theo cấu tạo ngữ pháp, câu được chia thành hai loại: câu
đơn và câu ghép.
3.2.2.2. Phân loại câu theo mục đích nói
Nếu dựa theo mục đích nói, người ta thường có những kiểu
câu như sau: câu tường thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến/ mệnh
lệnh và câu cảm thán. Sau này nếu dựa vào hệ thống hành vi ngôn
ngữ của Austin, thì sự tập hợp và nhận diện các kiểu câu vừa kể càng
có những cơ sở thuyết phục hơn. Nếu phân tích câu trong văn bản
theo mục đich nói của ngữ pháp truyền thống, thì chúng ta có các
kiểu câu như vừa kể trên. Tuy nhiên, đối với văn bản hợp đồng trong
hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học
Đà Nẵng, chỉ có câu tường thuật và câu cầu khiến.
3.3. Đặc điểm ngữ dụng của hợp đồng trong hoạt động giáo
dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
3.3.1. Một số hành vi ngôn ngữ đặc dụng trong văn bản hợp
đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư
phạm – Đại học Đà Nẵng
3.3.1.1. Các khái niệm hành vi ngôn ngữ
a) Hành vi ngôn ngữ và các lớp hành vi ngôn ngữ
Hành vi ngôn ngữ hay cịn gọi là hành động ngơn ngữ là “hành
động được thực hiện nhờ hành vi ngôn ngữ”.
Trong thực tiễn giao tiếp, các hành động ngôn ngữ được thực
hiện một cách phong phú và đa dạng. Để phân loại các hành động
ngôn ngữ, J.R. Searle đã đưa 12 tiêu chí phân loại, trong số đó có 4
20
tiêu chí quan trọng nhất (đích ở lời; hướng khớp ghép; trạng thái tâm
lý và nội dung mệnh đề). Dựa trên các tiêu chí, Searle phân chia 5
lớp hành vi ngôn ngữ.
b) Hành vi ở lời trực tiếp và hành vi ở lời gián tiếp
Hành vi ở lời trực tiếp hay còn gọi là hành động ở lời trực tiếp
là “hành động có sự tương ứng giữa cấu trúc phát ngơn trên bề mặt
với hiệu lực của nó gây nên”, còn hành vi ở lời gián tiếp hay hành
động ở lời gián tiếp là “hành động khơng có sự tương ứng giữa cấu
trúc phát ngôn trên bề mặt với hiệu lực của nó gây nên, hay nói cách
khác là hành động mà trên cấu trúc bề mặt là A nhưng gây một hiệu
lực lại là B.”
3.3.1.2. Hành vi ngôn ngữ trong văn bản hợp đồng trong hoạt
động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà
Nẵng
a) Hành vi ngôn ngữ ở lời trực tiếp
Bảng 3.5. Tần số xuất hiện của các hành vi ngôn ngữ trực tiếp
Hành vi ngôn
Lớp hành vi
Hành vi ngôn
Tần số
ngữ ở lời
ngơn ngữ
ngữ
Trực tiếp
Xác tín
Miêu tả
550
Khẳng định
420
Xác định
340
Cam kết
Cam kết
240
Thỏa thuận
110
Điều khiển
Mời
20
Yêu cầu
50
Bắt buộc
220
b) Hành vi ngôn ngữ ở lời gián tiếp
Bảng 3.6. Tần số xuất hiện của các hành vi ngôn ngữ gián tiếp
Hành vi ngôn ngữ
Hành vi ngôn ngữ
Tần số
gián tiếp
trực tiếp
Cam kết
Miêu tả
450
Khẳng định
420
Xác định
200
21
Mời
20
Yêu cầu
50
Bắt buộc
220
Thỏa thuận
Miêu tả
30
3.3.2. Một số phương tiện tình thái nổi bật trong văn bản
hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư
phạm – Đại học Đà Nẵng
3.3.2.1 Khái niệm tình thái
a) Tình thái trong logic học
b) Tình thái trong ngơn ngữ học
3.3.2.2 Các phương tiện thể hiện tình thái
a) Ngữ âm: thanh điệu, trọng âm cú đoạn, nhịp, sắc thái ngữ
điệu,…
b) Từ vựng:
b1. Động từ tình thái: Động từ tình thái được phân thành các
lớp và tiểu lớp
- Lớp động từ tình thái nhận thức: có ba tiểu lớp.
- Lớp động từ tình thái đạo nghĩa
b2. Phó từ:
b3. Tình thái ngữ: Hình như, có lẽ, phải chăng,…
b4.Tiểu từ tính thái cuối câu: à, ư, nhỉ, nhé…
b5. Các quán ngữ tình thái: gì thì gì,cực chẳng đã, đời nào…
c) Ngữ pháp: cấu trúc câu, trật tự từ, hệ thống các kết từ…
3.3.2.3 Các phương tiện từ vựng – ngữ pháp thể hiện tính tình
thái trong văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
Văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng là văn bản hành chính,
có tính pháp lí; các từ ngữ được sử dụng phải minh bạch, nghiêm túc,
khách quan, không gây nhầm lẫn dẫn đến nhiều cách hiểu mà thống
22
nhất một cách hiểu cho các bên. Vì vậy, nó loại trừ mọi dấu hiệu chữ
viết mang nghĩa tình thái. Do đó, trong phần này, chúng tơi chỉ trình
bày các phương tiện từ vựng – ngữ pháp thể hiện tính tình thái.
a) Các phương tiện từ vựng thể hiện tình thái trong văn bản
hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư
phạm – Đại học Đà Nẵng
Phương tiện từ vựng được sử dụng để biểu hiện tình thái trong
văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại
học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng chủ yếu là các động từ tính thái.
Các phương tiện từ vựng biểu hiện nghĩa tình thái khác như phó từ,
tình thái ngữ và tiểu từ tình thái cuối câu hầu như khơng xuất hiện
trong các văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng. Các động từ tình thái
ở đây là các từ thuộc lớp từ vựng khuyến lệnh biểu hiện nghĩa tình
thái nhận thức.
b) Các phương tiện ngữ pháp thể hiện tình thái trong văn bản
hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư
phạm – Đại học Đà Nẵng
Ngồi việc sử dụng các động từ tình thái để biểu thị ý nghí
tình thái, văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng sử dụng kiểu câu ghép,
đặc biệt là câu ghép chỉ điều kiện – kết quả để tạo ra ý nghĩa tình thái
ràng buộc các bên vào các trách nhiệm thực thi hợp đồng.
Bảng 3.7. Tần số xuất hiện các phương tiện từ vựng và ngữ pháp
biểu thị nghĩa tình thái
Phương tiện biểu thị nghĩa tình thái
Động từ/ Kết từ
Tần số
Động từ tình thái
Phải
190
được
20
Câu ghép
nếu
90
Thì
30
23
KẾT LUẬN
1. Nói một cách khách quan, hợp đồng kinh tế với tính pháp lí
của nó đã đạt đến sự chặt chẽ trong lí lẽ và sự minh bạch trong ngôn
ngữ, nhưng về phương diện ngôn ngữ học, diễn ngôn hợp đồng kinh
tế chưa thực sự được khám phá ở từng kiểu văn bản. Đề tài này là
một nghiên cứu trường hợp vận dụng hệ thống lí thuyết đã có soi
chiếu vào một số kiểu văn bản hợp đồng ở một cơ sở giáo dục đại
học; vì thế, người viết vừa có điều kiện để có cái nhìn bao qt về
kiểu loại văn bản hợp đồng nói chung lại vừa nhận diện được đặc
điểm riêng biệt trong tổ chức ngôn ngữ của diễn ngôn hợp đồng
trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại
học Đà Nẵng.
Trong hai chương, chương 2 và chương 3, chúng tơi đã tìm
hiểu về diễn ngơn văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào
tạo tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng trên tất cả sáu
bình diện: kết cấu văn bản, liên kết văn bản, thể thức văn bản, đặc
điểm từ vựng- ngữ nghĩa, đặc điểm ngữ pháp và đặc điểm ngữ dụng.
Ở mỗi bình diện, chúng tơi đã phân tích và nhận được kết quả cụ thể.
Và từ đó, phần nào giải mã được tồn bộ cơ cấu ngơn ngữ của các
văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại Trường Đại
học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng.
2. Nếu nói một cách chi tiết hơn, thì các phương diện kết cấu
văn bản, văn bản hợp đồng trong hoạt động giáo dục đào tạo tại
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng có năm phần: phần thứ
nhất là tiêu đề, phần thứ hai là thông tin nhân thân mang tính pháp lí
của các bên tham gia kí kết hợp đồng, phần thứ ba là các điều khoản
nội dung hợp đồng, phần thứ tư là các điều khoản thi hành và phần
thứ năm là các yếu tố xác định giá trị pháp lí của hợp đồng. Tuy
nhiên, do tính chất khốn việc mà các điều khoản thường ít và do
tính chất nội bộ mà tính chế tài khơng được đặt thành một mục riêng.