BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGÔ THỊ NHỤY
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ GIÁO KHOA TRONG
SÁCH NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THƠNG
Chun ngành
Mã số
:Ngơn ngữ học
: 60.22.02.40
TĨM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
Đà Nẵng – Năm 2015
Cơng trình được hồn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Người hướng dẫn khoa học: TS. BÙI TRỌNG NGOÃN
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chinh
Phản biện 2: PGS.TS. Hoàng Tất Thắng
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp
thạc sĩ Khoa học xã hội và nhân văn họp tại Đại học Đà Nẵng vào
ngày 6 tháng 12 năm 2015.
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Trung tâm Thông tin-Học liệu, Đại học Đà Nẵng
Thư viện trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Tiếng nói chung giữa người biên soạn với người tiếp nhận, giữa
người dạy và người học là đích của q trình thay đổi sách giáo khoa
trong mấy thập niên qua. Và việc tìm được tiếng nói ấy là một điều
khơng hề dễ. Biết bao nhà nghiên cứu giáo dục, nhà giáo, các bậc phụ
huynh...đã lên tiếng. Khi bộ sách giáo khoa xuất bản 2000 ra đời,
tưởng nó sẽ là tiếng nói chung ấy. Nào ngờ, nó lại nảy sinh những
điểm bất đồng khác để rồi q trình ấy vẫn chưa có hồi kết.
Bên cạnh các môn học khác, Ngữ văn là một trong những mơn học
có vị trí rất đặc biệt trong nhà trường. Nó là một thành phần cấu tạo
của chương trình văn hóa cơ bản trong nhà trường, cùng các mơn khác,
có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những hiểu biết, những kiến thức
cơ bản có hệ thống vững chắc được quy định trong chương trình.
Ngồi chức năng chung đó, mơn Văn còn cung cấp cho học sinh
những kĩ năng, tạo được sự phát triển cân đối, toàn diện về tâm hồn trí
tuệ, về thẩm mĩ và hiểu biết để xây dựng nhân cách cho học sinh.
Là giáo viên, chúng tôi chọn đề tài "Đặc điểm ngôn ngữ giáo
khoa trong sách Ngữ văn trung học phổ thông" nhằm phục vụ cho
công tác giảng dạy. Thứ nhất, việc tìm hiểu sách giáo khoa sẽ giúp
người giáo viên hiểu hơn về đối tượng mà mình tiếp nhận. Từ đó, sẽ
có cái nhìn khách quan hơn và quá trình tiếp nhận sẽ phù hợp hơn.
Thứ hai, trong công tác đổi mới phương pháp giảng dạy hiện nay,
người giáo viên không chỉ giúp học sinh lĩnh hội kiến thức mà còn
giúp học sinh chủ động tích cực sáng tạo. Người giáo viên hiểu được
sách giáo khoa, hiểu được học trị của mình thì sẽ làm tốt được vai
trò là cầu nối giữa sách giáo khoa với học sinh. Đồng thời giúp các
em phát huy được sự sáng tạo của mình tránh thụ động, phụ thuộc.
2
Những lí do trên đã thơi thúc chúng tơi khám phá đề tài đầy thú
vị này. Chúng tôi hi vọng "Đặc điểm ngôn ngữ giáo khoa trong
sách Ngữ văn trung học phổ thơng" sẽ là một cơng trình mang tính
khoa học thực sự.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Sách giáo khoa đã trở thành đối tượng quan tâm không chỉ của
các ban ngành mà còn của các nhà nghiên cứu giáo dục, nhà giáo,
bậc phụ huynh... Về chương trình và SGK, chúng ta thấy trên các
trang báo có rất nhiều ý kiến khen, chê sau mỗi lần cải cách. Tuy
nhiên, các cơng trình chun sâu về SGK lại khơng nhiều. Với đề tài
này, chúng tôi chỉ điểm lại một số cơng trình có liên quan trực tiếp
đến đề tài.
Về kết cấu chương trình mơn Ngữ văn có nhiều cây bút uy tín
như: Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Khắc Phi, Vũ Nho… Các tác giả đều
đồng tình với quan điểm bộ mơn Ngữ văn gồm 3 phân môn: Tiếng
Việt, Làm văn, Văn học.
Về SGK Ngữ văn, nhiều tác giả đã chỉ ra những mặt đạt và chưa
đạt. Các tác giả tiêu biểu như: Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Vinh Hiển,
Tiến Dũng , Đỗ Hữu Châu…
Tóm lại, nghiên cứu về SGK là một vấn đề không mới. Tuy
nhiên, các nhà nghiên cứu chỉ tập trung phân tích về chương trình
cũng như những vấn đề bất cập trong SGK để tìm ra hướng đổi mới.
Cịn về nghiên cứu đặc điểm ngơn ngữ SGK chưa có cơng trình nào
đi sâu, nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ. Vì thế, "Đặc điểm
ngơn ngữ giáo khoa trong sách Ngữ văn trung học phổ thông"
vẫn là một đề tài rất thiết thực cho công việc giảng dạy.
3. Đối tƣợng và phạm vi nhiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:Đặc điểm ngôn ngữ của các bài văn học
sử, các bài tiếng Việt, các bài làm văn, phần ghi nhớ, phần chú thích,
phần hướng dẫn học bài.
3
- Phạm vi nghiên cứu: Với đề tài này, chúng tôi giới hạn phạm vi
nghiên cứu ở SGK Ngữ văn THPT Chương trình chuẩn do Phan
Trọng Luận chủ biên
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích đặc điểm ngơn ngữ của tất cả các bài: văn học sử, các
bài Tiếng Việt, các bài Làm văn, phần ghi nhớ, phần chú thích, phần
hướng dẫn học bài trong 6 tập sách. Tiếp đến thống kê, tập hợp hình
thành các nhóm, các khu vực. Từ đó nhận xét về đặc điểm của chúng
trong mối quan hệ các bài học nói riêng và mối quan hệ với bộ SGK
nói chung.
- Trên cơ sở nội dung khảo sát 6 tập SGK Ngữ văn, người viết
rút ra những đặc điểm cơ bản, ưu điểm và hạn chế về đặc điểm ngơn
ngữ trong 6 tập SGK đó. Đồng thời người viết đề xuất những yêu cầu
bắt buộc để SGK Ngữ văn đảm bảo tính chuẩn mực.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương
pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
6. Cấu trúc đề tài. Đề tài gồm 3 chương chính sau:
Chương 1. Cơ sở lí luận và tổng quan về đối tượng nghiên cứu
Chương 2. Cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ trong sách
giáo khoa Ngữ văn THPT
Chương 3. Một số nhận xét và đề xuất
4
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ
ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
1.1. PHONG CÁCH CHỨC NĂNG NGÔN NGỮ KHOA HỌC
1.1.1. Khái niệm
Trong cuộc sống thường ngày, ta được tiếp xúc và sử dụng nhiều
phong cách ngôn ngữ khác nhau trong đó có phong cách ngơn ngữ
khoa học. Mỗi nhà nghiên cứu có một cách diễn đạt khác nhau về
khái niệm phong cách ngôn ngữ khoa học. Dựa vào các ý kiến của
các tác giả, ta có thể hiểu phong cách ngôn ngữ khoa học là khuôn
mẫu ngôn ngữ được sử dụng để trình bày, kiến giải, tranh
biện…những vấn đề nghiên cứu, phát triển và phổ biến khoa học, gắn
liền với tư duy logic và mang tính trí tuệ cao.
1.1.2. Các kiểu loại văn bản, diễn ngôn của PCKH
Để phân loại các kiểu văn bản, diễn ngôn của phong cách ngôn
ngữ khoa học, các nhà nghiên cứu dựa vào các tiêu chí khác nhau để
thể hiện ý kiến của mình. Dựa vào những cách phân chia của các tác
giả, chúng tôi có thể tạm thời phân chia như sau:
(1) Các văn bản khoa học chuyên sâu: chuyên khảo, luận án,
luận văn, tiểu luận, báo cáo khoa học…
(2) Các văn bản khoa học giáo khoa: sách giáo khoa, thiết kế
bài dạy, giáo trình,…
(3) Các văn bản khoa học phổ cập: các bài báo và sách phổ biến
khoa học kĩ thuật…
1.1.3. Đặc trƣng
Mỗi phong cách ngôn ngữ mang một đặc trưng riêng. Và khi đưa
ra ý kiến, mỗi tác giả cũng gọi tên theo cách riêng của mình. Từ
những ý kiến đó, chúng tơi có thể tạm đưa ra các đặc trưng của
phong cách ngôn ngữ khoa học như sau:
5
(1) Tính khái quát, trừu tượng
(2) Tính trí tuệ hay tính logic cao
(3) Tính chính xác, khách quan, phi cá thể
1.1.4. Đặc điểm ngôn ngữ
a. Đặc điểm ngữ âm, chữ viết
Phong cách ngôn ngữ khoa học yêu cầu nghiêm ngặt về chính
âm, chính tả. Bên cạnh chữ viết cịn cho phép được sử dụng các kí
hiệu, sơ đồ, bảng biểu. Ngoài ra , để đáp ứng yêu cầu phát triển của
thông tin khoa học, phong cách ngôn ngữ này đã khai thác tất cả mọi
tiềm năng của hệ thống ngữ âm tiếng Việt.
b. Đặc điểm về từ vựng, ngữ nghĩa
Về từ ngữ, ngữ nghĩa, thành phần quan trọng nhất của phong cách
ngơn ngữ khoa học đó chính là các thuật ngữ, tức là những từ hoặc
nhóm từ dùng để biểu đạt các khái niệm mang thông tin logic lớn. Và
đặc biệt là các thuật ngữ chuyên ngành. Bên cạnh các thuật ngữ chuyên
ngành, một thành tố quan trọng khác trong phong cách ngôn ngữ khoa
học là từ ngữ khoa học chung, tức là những từ ngữ được dùng nhiều
trong một số liên ngành khoa học. Phong cách ngôn ngữ khoa học cịn
có xu hướng dùng nhiều từ ngữ trừu tượng, đặc biệt là trong các văn
bản khoa học mang tính chất triết học hoặc toán học.
Đồng thời, xuất phát từ khuynh hướng định danh mà danh từ
chiếm tỉ lệ khá lớn trong các từ loại. Để đảm bảo chính xác, khách
quan, từ ngữ trong phong cách ngôn ngữ khoa học chỉ được phép
hiểu một nghĩa và là nghĩa đen, tức là nghĩa sự vật – logic. Trong
mạch trình bày việc thay thế một thuật ngữ bằng các từ đồng nghĩa
hoặc các đại từ là rất hạn chế. Tính chất trung hịa của từ ngữ trong
phong cách ngơn ngữ làm cho phong cách này hồn thành tốt chức
năng thơng báo khách quan và chứng minh thuyết phục, đồng thời
cũng là một dấu hiệu phân biệt nó với ngơn ngữ nghệ thuật.
c. Đặc điểm về ngữ pháp
Đặc điểm ngữ pháp nổi bật của phong cách ngôn ngữ khoa học là
6
việc sử dụng cú pháp chuẩn, chặt chẽ, rõ nghĩa. Điều này để đảm bảo
yêu cầu chính xác, một nghĩa và tránh cách hiểu nước đôi, nước ba.
Phong cách ngôn ngữ khoa học không dùng những kiểu câu giản
lược thành phần, câu đảo vị trí.
Để đáp ứng u cầu thơng tin, phong cách ngôn ngữ khoa học
thường dùng nhiều câu phức và sử dụng với tần số cao các phương
tiện liên kết câu và liên kết văn bản.Để đảm bảo tính khách quan,
phong cách ngơn ngữ khoa học thường dùng câu khuyết chủ ngữ,
hoặc chủ ngữ không xác định.Nghiên cứu khoa học cần những phát
kiến, những sáng tạo, những quan điểm riêng. Để đảm bảo điều đó,
khi trình bày các văn bản khoa học, tác giả thường chọn những cách
thức diễn đạt nêu bật chủ kiến của mình.
d. Đặc điểm diễn đạt
Lời nói khoa học loại bỏ yếu tố cá nhân, khơng có tính chất của
riêng cá nhân. Tính chất trung hòa gắn với xu hướng quy phạm về cả
hai mặt: mặt cấu trúc của văn bản và mặt sử dụng các phương tiện
ngơn ngữ. Các cơng trình khoa học hiện đại được trình bày chủ yếu
trong hình thức độc thoại. Hình thức độc thoại phù hợp trong mức độ
lớn với nội dung và nhiệm vụ của cơng trình khoa học. Bên cạnh đó,
cũng có những cơng trình được trình bày theo hình thức đối thoại.
Kết cấu của văn bản phổ cập luôn theo những khuôn mẫu cố
định. Nhưng những khuôn mẫu ấy lại rất phong phú và người viết có
thể linh hoạt, sáng tạo.
1.2. KHÁI NIỆM SÁCH GIÁO KHOA VÀ ĐẶC ĐIỂM NGÔN
NGỮ GIÁO KHOA
1.2.1. Khái niệm sách giáo khoa
Cho đến nay, sách giáo khoa vẫn là tài liệu chủ yếu, quan trọng
nhất để dạy và học. Do đó, các yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
về cơ bản đã được thể hiện trong nội dung và phương pháp biên soạn
sách giáo khoa. Trong những năm gần đây, trong quá trình biên soạn
chương trình và sách giáo khoa đã chú ý đến quan điểm đổi mới
7
phương pháp dạy học. Phương pháp "lấy học sinh làm trung tâm"
làm cho nội dung và hình thức của sách giáo khoa về cơ bản đã tạo
điều kiện thuận lợi cho học sinh tiếp tục nâng cao năng lực tự học và
giáo viên dạy học theo hướng tổ chức, hướng dẫn học sinh.
1.2.2. Đặc điểm ngôn ngữ giáo khoa
+ Về ngữ âm và chữ viết, người biên soạn phải được đảm bảo
tính nhất qn trong tồn bộ hệ thống sách giáo khoa từng phân môn,
từng cấp học.
+ Về từ ngữ, sách giáo khoa sử dụng từ ngữ chung. Ngoài lớp từ
ngữ chung, sách giáo khoa còn sử dụng một loạt các thuật ngữ.
+ Về ngữ pháp, sách giáo khoa cũng như các dạng kiểu khác
thuộc phong cách ngôn ngữ khoa học là sử dụng cú pháp chuẩn, chặt
chẽ, rõ nghĩa.
+ Về diễn đạt, sách giáo khoa không sử dụng lời nói hàm ngơn.
Chương trình của các lớp học, các cấp học có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau. Chính vì lẽ đó mà trong q trình diễn đạt, người viết sách
thường dùng tiền giả định cho sẵn.
1.3. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN
THPT
Cấu trúc nội dung sách giáo khoa Ngữ văn hiện nay được soạn
theo nguyên tắc tích hợp. Ở cấp Tiểu học mơn học có tên gọi là
Tiếng Việt, tập trung vào hai phần: Tiếng Việt và Văn học. Đến
chương trình Phổ thơng, mơn học với tên gọi Ngữ văn, được cấu trúc
theo ba phần: Tiếng Việt, Tập làm văn và Văn học.
1.3.1. Phân môn Tiếng Việt
Phân mơn Tiếng Việt đưa vào chương trình Trung học phổ thơng
khơng nhiều như chương trình Trung học cơ sở. Ở chương trình
Trung học cơ sở hầu như tuần nào cũng có tiết Tiếng Việt. Và kiến
thức ở chương trình Trung học cơ sở ln là kiến thức mới. Cịn
chương trình Tiếng Việt trong sách giáo khoa Trung học phổ thông
8
một phần là ôn lại kiến thức, một phần cung cấp kiến thức mới.
1.3.2. Phân môn Văn học
Cấu tạo chương trình phần văn học đã coi trọng sự phát triển của
loại thể. Các văn bản theo các loại thể đưa vào chương trình vẫn
được sắp xếp theo các giai đoạn và thời kì phát triển của văn học dân
tộc. Chương trình được xây dựng như một chỉnh thể văn hóa mở thể
hiện cái nhìn xuyên suốt chương trình từ lớp 10 đến lớp 12.
1.3.3. Phân môn Làm văn
So với hai phân mơn Văn học thì phân mơn Làm văn trong sách
giáo khoa chiếm dung lượng ít hơn.
CHƢƠNG 2
CÁCH SỬ DỤNG CÁC PHƢƠNG TIỆN NGÔN NGỮ TRONG
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN THPT
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi tiến hành khảo sát trong 273
bài học của sách giáo khoa Ngữ văn 10, 11, 12.
2.1. CÁCH SỬ DỤNG CÁC PHƢƠNG TIỆN NGỮ ÂM TRONG
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN THPT
Sau khi tiến hành khảo sát 273 bài học, kết quả thu được như sau:
Bảng 2.1. Thống kê số lượng và tỉ lệ sử dụng các yếu tố ngữ âmtrong
sách giáo khoa Ngữ văn THPT
0
Phiên âm
danh từ
riêng
nƣớc
ngồi
620
0%
12,4%
Lỗi
chính
tả
Số
lượng
Tỉ lệ
Viết
tắt
In
nghiêng
In
đậm
Chữ
số
64
2602
1288
420
1,3%
52,1%
25,8%
8,4%
9
2.1.1. Cách phiên âm danh từ riêng nƣớc ngoài
Về việc sử dụng danh từ riêng nước ngồi, hiện có ba cách xử lí.
Qua q trình khảo sát, chúng tơi nhận thấy sách giáo khoa chủ yếu
chọn cách phiên âm. Các âm tiết được viết rời, giữa các âm tiết trong
cùng một bộ phận có dấu gạch nối, các âm tiết không đánh dấu thanh.
Chữ cái đầu của từng bộ phận phải viết hoa.
2.1.2. Nhận xét đặc điểm chính tả
Về lỗi chính tả, trong sách Ngữ văn là 0%. Điều đó cho chúng ta
thấy việc đảm bảo về quy tắc chính tả mà sách đã thực hiện.
Về việc viết tắt, có 64 lượt viết tắt chiếm 1,3%. Với tỉ lệ đó,
chúng ta dễ nhận thấy sách Ngữ văn đã hạn chế tối đa việc viết tắt.
Điều này cũng dễ hiểu bởi tính khoa học mà sách Ngữ văn cần đảm
bảo. Sách Ngữ văn chỉ viết tắt các từ ngữ đã quá thông dụng như:
THPT, THCS, NXB, Sđd, Tr.48…..
Về dấu câu, SGK Ngữ văn đã đảm bảo các yêu cầu khi sử dụng
các dấu như: Dấu chấm, dấu phẩy, dấu ngoặc đơn, dấu ngoặc kép,
dấu gạch ngang…
Về việc sử dụng chữ số, sách Ngữ văn sử dụng số lượng không
nhiều. Chủ yếu được sử dụng ở các đề mục, ngày tháng năm, số đếm.
Như vậy, ta có thể khẳng định tính chuẩn xác, khoa học của SGK
Ngữ văn khi đảm bảo yêu cầu về sử dụng ngữ âm, chính tả.
2.2. CÁCH SỬ DỤNG TỪ NGỮ TRONG SÁCH GIÁO KHOA
NGỮ VĂN THPT
2.2.1. Hệ thống thuật ngữ
Tiến hành khảo sát việc sử dụng hệ thống thuật ngữ , chúng tôi
thu được kết quả như sau:
Bảng 2.2. thống kê số lượng và tỉ lệ sử dụng thuật ngữ trong sách
giáo khoa Ngữ văn THPT
Tổng số
Số lượng
Tỉ lệ
320
100%
Thuật ngữ
chuyên ngành
225
71,6%
Thuật ngữ
chung
89
28,4%
10
Nhìn vào bảng thống kê, ta thấy số lượng thuật ngữ được sử dụng
trong sách giáo khoa ngữ văn là khá nhiều(320 thuật ngữ). Trong đó,
thuật ngữ chuyên ngành với số lượng 225 chiếm 71,6%, còn thuật
ngữ chunglà 89 chiếm 28,4%.
a. Thuật ngữ chuyên ngành
Hàng loạt thuật ngữ gọi tên các giai đoạn văn học như: Văn học
dân gian, văn học trung đại, văn học hiện thực, văn học lãng mạn,…
Tên gọi các thể loại văn học cũng được đề cập đến như: thần
thoại, sử thi, truyện ngụ ngôn, …
Sách Ngữ văn còn đề cập đến các thuật ngữ gọi tên các đặc
điểm, tính chất như: tính hiện thực, tính quy phạm, tính chiến đấu,
tính xã hội…
Ngồi ra, các thuật ngữ liên quan đến tác phẩm cũng được nhắc đến
như: tác phẩm, tác giả, tư tưởng, chủ đề, phong cách nghệ thuật…
b. Thuật ngữ chung
Ngoài hàng loạt thuật ngữ chuyên ngành, sách Ngữ văn cũng sử
dụng một số lượng không nhỏ các thuật ngữ chung (89 thuật ngữ,
chiếm 28,4%). Các thuật ngữ như: Quy luật, đặc điểm, tổng thể, hệ
thống, phương pháp, kết cấu, thể loại, phương thức, thủ pháp…
Như vậy, việc sử dụng phong phú các thuật ngữ chung cũng như
thuật ngữ chuyên ngành đã phần nào thể hiện tính khoa học của sách
giáo khoa Ngữ văn.
2.2.2. Các lớp từ vựng xuất hiện với tần số cao
Khảo sát ngẫu nhiên 7 bài văn học sử, chúng tôi nhận thấy các
lớp từ vựng như từ thi ca, từ Hán Việt, từ chính trị xuất hiện với tần
số cao. Kết quả thu được như sau:
a. Từ thi ca
Qua quá trình khảo sát, chúng tôi thu được kết quả như sau:
11
Bảng 2.3. Thống kê số lượng và tỉ lệ sử dụng từ thi ca trong sách
giáo khoa Ngữ văn THPT
Lớp từ vựng
Số lƣợng
Tỉ lệ
Từ ngữ thơng thường
4083
92,3%
Từ thi ca
342
7,7%
Nhìn vào bảng thống kê, ta thấy mức độ sử dụng từ thi ca chiếm
số lượng khá lớn trong sách Ngữ văn(342 từ). Ngữ văn là khoa học
về văn chương, đối tượng của nó là văn chương nên việc sử dụng số
lượng lớn lớp từ ngữ thi ca cũng là một lẽ tất yếu để thể hiện đặc thù
của môn học. Lớp từ ngữ này, chúng ta ít thấy ở các mơn học khác.
Và qua q trình khảo sát, chúng tơi nhận thấy lớp tự vựng này sử
dụng chủ yếu ở các bài văn học sử, phần tiểu dẫn của các bài Văn
học. Các từ ngữ như: Điệu tâm hồn, tri kỉ, tao đàn, văn nhân, chàng,
nàng, đức hạnh, danh tiết…
b. Từ Hán Việt
Sau khi khảo sát, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 2.4. Thống kê số lượng và tỉ lệ sử dụng từ Hán Việt trong sách
giáo khoa Ngữ văn THPT
Lớp từ vựng
Số lƣợng
Tỉ lệ
Từ ngữ thông thường
4180
94,5%
Từ Hán Việt
245
5,5%
Qua bảng khảo sát, chúng ta thấy từ Hán Việt chiếm tỉ lệ cũng
khá lớn trong sách Ngữ văn. Với 245 từ chiếm tỉ lệ 5,5%, từ Hán
Việt cũng đã phần nào thể hiện được đặc thù của môn học. Các từ
Hán Việt như: Xuất dương, bôn ba, mưu sự phục quốc, vĩ đại…
c. Từ chính trị
Khảo sát trong 7 bài văn học sử, chúng tôi cũng thu được kết quả
như sau:
12
Bảng 2.5. Thống kê số lượng và tỉ lệ sử dụng từ chính trị trong sách
giáo khoa Ngữ văn THPT
Lớp từ vựng
Số lƣợng
Tỉ lệ
Từ ngữ thơng thường
4268
96,4%
Từ chính trị
157
3,6%
Qua q trình khảo sát, chúng tơi thấy từ chính trị xuất hiện với
157 từ. Các từ ngữ chính trị như: Phong trào Cần Vương, đường lối
dân chủ, tư sản, chủ trương, cầm quyền, thuộc địa…
Tóm lại, việc sử dụng khá nhiều các lớp từ vựng trên đã tạo nên
nét riêng của môn học Ngữ văn so với các bộ môn khác.
2.2.3. Các biện pháp tu từ từ vựng, ngữ nghĩa
Sau khi khảo sát các biện pháp tu từ từ vựng, ngữ nghĩa, kết quả
thu được như sau:
Bảng 2.6. Thống kê số lượng và tỉ lệ sử dụng các biện pháp tu từ từ
vựng, ngữ nghĩa trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT
Các biện pháp tu từ
Số lƣợng
Tỉ lệ
Biện pháp hòa hợp
0/412
0%
Biện pháp tương phản
0/412
0%
Biện pháp quy định
0/412
0%
Đột giáng
0/412
0%
Ngoa dụ
0/412
0%
Nói giảm
0/412
0%
Dẫn nhập - tập Kiều
0/412
0%
Chơi chữ
0/412
0%
Phản ngữ
20/ 412
4,9%
Đồng nghĩa kép
35/ 412
8,5%
Liệt kê
357/412
86,6%
a. Biện pháp liệt kê
Biện pháp liệt kê được sử dụng khá nhiều trong các bài học. Sử
dụng biện pháp này, SGK phần nào giúp người tiếp nhận hiểu được
những kiến thức mà người viết muốn truyền đạt. Và qua quá trình
13
khảo sát, chúng tôi nhận thấy biện pháp này được sử dụng chủ yếu ở
các bài văn học sử, ở phần tiểu dẫn của các bài Ngữ văn, hay ở
những yêu cầu cần đạt của các bài Làm văn , Tiếng Việt.
b. Biện pháp đồng nghĩa kép
Biện pháp đồng nghĩa kép chiếm tỉ lệ khơng lớn, chỉ có 8,6%.
Biện pháp này được sử dụng chủ yếu ở phần chú giải. Việc lặp lại từ
ngữ đồng nghĩa hay gần nghĩa nhằm để nhấn mạnh, xoáy sâu làm rõ
một nội dung nhất định nào đó.
c. Biện pháp phản ngữ
Biện pháp phản ngữ chỉ chiếm 4,9%. Việc sử dụng sự trái
ngược nhau về nghĩa nhằm cung cấp nhận thức cho người tiếp nhận
một sự thật chứa đựng mâu thuẫn.
2.3. CÁCH ĐẶT CÂU TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN
THPT
2.3.1. Khảo sát về các kiểu câu
Tiến hành khảo sát, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 2.7. Thống kê số lượng và tỉ lệ sử dụng các kiểu câu trong sách
giáo khoa Ngữ văn THPT
Các kiểu câu
Số lƣợng
Tỉ lệ
Câu đơn
4095
62,5%
Câu ghép
1092
16,7%
Câu tỉnh lược
1365
20,8%
Câu đặc biệt
0
0%
a. Câu đơn
Sách giáo khoa Ngữ văn sử dụng nhiều câu đơn. Câu trong sách
Ngữ văn thường có cấu trúc chuẩn, hồn chỉnh, rõ nghĩa. Chúng tơi
cịn nhận thấy sách Ngữ văn sử dụng nhiều câu đơn có các thành
phần mở rộng.
b. Câu ghép
Sách giáo khoa Ngữ văn sử dụng 16,7% câu ghép trong tổng số
các loại câu. Việc sử dụng nhiều câu ghép cũng nhằm đáp ứng yêu
14
cầu thông tin của văn phong thuộc phong cách ngôn ngữ khoa học.
c. Câu tỉnh lược
Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy sách Ngữ văn cũng sử
dụng một số lượng tương đối lớn câu khuyết chủ ngữ. Chúng tơi tạm
xếp nó vào loại câu tỉnh lược. Và loại câu này thường được sử dụng ở
phần yêu cầu kết quả cần đạt, hoặc ở phần hướng dẫn học bài.
Như vậy, việc sử dụng nhiều câu đơn, câu ghép, câu tỉnh lược mà
không sử dụng câu đặc biệt cũng là nhằm đáp ứng yêu cầu của văn
phong phong cách ngôn ngữ khoa học. Phong cách ngôn ngữ khoa
học phải rõ ràng, tránh sự mập mờ, hiểu nước đôi nước ba. Và sách
giáo khoa Ngữ văn cũng cần đảm bảo yêu cầu đó, đồng thời để q
trình lĩnh hội được thực hiện một cách dễ dàng hơn.
2.3.2. Các biện pháp tu từ cú pháp
Thực hiện việc khảo sát, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 2.8. Thống kê số lượng và tỉ lệ sử dụng các biện pháp tu từ cú
pháp trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT
Biện pháp tu từ
Số lƣợng
Tỉ lệ
Phép im lặng
0
0%
Phép tỉnh lược
0
0%
Phép điệp
98
5,8%
Sử dụng "thì", "mà", "là"
1602
94,2%
a. Phép điệp
Với 98 lượt sử dụng chiếm 5,8%, phép điệp chủ yếu được dùng
trong các bài văn học sử. Và qua q trình khảo sát, chúng tơi thấy
người viết chủ yếu dùng phép điệp cấu trúc.
b. Sử dụng "thì", "mà", "là"
Qua q trình khảo sát, chúng tơi nhận thấy biện pháp này sử
dụng hầu như trong tất cả các phần của môn học: phần tiểu dẫn, phần
hướng dẫn học bài, phần ghi nhớ, phần chú thích… của phân mơn
Tiếng Việt, Làm văn, Ngữ văn. Nhóm từ "thì", "mà", "là" là nhóm từ
15
khá đặc biệt trong tiếng Việt. Nhóm từ này rất gần với phong cách
ngôn ngữ sinh hoạt, rất thường xuyên xuất hiện trong lời ăn tiếng nói
hàng ngày.Việc sử dụng nhóm từ này trong SGK Ngữ văn đã mang
lại hiệu quả cao.
2.4. CÁCH DIỄN ĐẠT TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN
THPT
2.4.1. Cách tổ chức ý trong câu
Để đảm bảo tính chính xác, khách quan, SGK nói chung SGK
Ngữ văn nói riêng thường sử dụng những câu văn có lối diễn đạt
thuận, lối diễn đạt quen thuộc.
a. Đặt trạng ngữ lên đầu câu
Chúng tôi thống kê ngẫu nhiên 20 bài Văn học trong quyển Ngữ
văn 11, tập 2, kết quả thu được như sau:
Bảng 2.9. Thống kê số lượng và tỉ lệ sử dụng câu có sử dụng trạng
ngữ trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT
Câu có trạng
Câu có trạng ngữ
ngữ
đầu câu
Số lượng
235 câu
215 câu
Tỉ lệ
100%
91,5%
b. Chủ ngữ đứng trước vị ngữ
Khảo sát ngẫu nhiên 10 bài Văn học trong sách Ngữ văn 10, tập
2 và 10 bài Văn học trong Ngữ văn 11 tập 2, chúng tôi thu được kết
quả như sau:
Bảng 2.10. Thống kê số lượng và tỉ lệ sử dụng câu có chủ ngữ đứng
trước vị ngữ trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT
Câu
Câu có chủ ngữ đứng
trƣớc vị ngữ
Số lượng
825 câu
542 câu
Tỉ lệ
100%
65,7%
2.4.2. Cách liên kết câu và liên kết đoạn
Qua q trình khảo sát, chúng tơi nhận thấy người biên soạn đã
16
sử dụng khá đa dạng các yếu tố để liên kết câu và liên kết đoạn.
Chính các yếu tố ấy làm cho mỗi bài học trở thành một thể thống
nhất, trở thành một văn bản hoàn chỉnh.
a. Các yếu tố liên kết câu
Để liên kết các câu trong một văn bản, người biện soạn sách đã
sử dụng hầu như toàn bộ các phương tiện để liên kết. Khảo sát ngẫu
nhiên 50 bài học, kết quả thu được như sau:
Bảng 2.11. Thống kê số lượng và tỉ lệ sử dụng cách liên kết câu
trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT
Số lƣợng
Tỉ lệ
Phép lặp
125
22,2%
Phép thế
213
37,8%
Phép đối
0
0%
Phép liên tưởng
0
0%
Phép tuyến tính
68
12%
Phép tỉnh lược
0
0%
Phép nối
158
28%
b. Các yếu tố liên kết đoạn
Bảng 2.12. Thống kê số lượng và tỉ lệ sử dụng cách liên kết đoạn
trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT
Số lƣợng
Tỉ lệ
Các từ chỉ trình tự
45
22,2%
Dùng các đại từ để thay thế
52
25,6%
Dùng các từ ngữ có ý nghĩa tổng kết hoặc
56
27,6%
khái quát
Dùng câu nối để liên kết
15
7,4%
Dùng các từ ngữ chỉ sự đối lập, tương phản
35
17,2%
2.4.3. Dùng các từ ngữ chỉ sự đối lập, tƣơng phản: Cách sử
dụng câu văn có hình ảnh và câu văn có hàm ngơn
Qua q trình khảo sát, chúng tôi thu được kết quả như sau:
17
Bảng 2.13. Thống kê số lượng và tỉ lệ sử dụng câu văn có hình ảnh
và câu văn hàm ngơn trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT
Số lƣợng
34/989
109/989
Tỉ lệ
3,4%
11%
Câu văn hàm ngơn
Câu văn có hình ảnh
a. Câu văn hàm ngơn
Mơn Ngữ văn là khoa học về văn chương nên trong sách Ngữ
văn sử dụng 3,4% câu văn hàm ngôn cũng là một điều phù hợp.
b. Các câu văn có hình ảnh
Khảo sát việc sử dụng các câu văn có hình ảnh, chúng tơi thu
được 109 câu văn có tính chất như thế. Và hầu như các câu có hình
ảnh đều tập trung ở phần tiểu dẫn của mỗi bài học về tác phẩm, hoặc
ở những bài văn học sử.
18
CHƢƠNG 3
MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ ĐỀ XUẤT
3.1. CÁC PHƢƠNG DIỆN ĐẠT CHUẨN VÀ KHÔNG ĐẠT
CHUẨN CỦA NGÔN NGỮ TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ
VĂN THPT
3.1.1. Phƣơng diện ngữ âm
Qua khảo sát 273 bài học của sách Ngữ văn THPT, chúng tơi
thấy hầu hết việc sử dụng ngữ âm, chính tả đều đạt chuẩn. Soạn giả
rất quan tâm đến việc thống nhất việc sử dụng ngữ âm, chính tả trong
các bài học, trong các chương và trong từng khối lớp.
Tuy nhiên ở một số trường hợp, chúng tôi thấy vẫn cần phải trao
đổi thêm. Đặc biệt là vấn đề phiên âm tiếng nước ngoài. Khi phiên
âm cũng cần giới thiệu thêm phần nguyên dạng, bởi khi phiên âm sẽ
khiến học sinh khó tra cứu thơng tin.
3.1.2. Phƣơng diện từ vựng
Về phương diện từ ngữ, các soạn giả đều quan tâm đến đúng
mức. Việc lựa chọn các từ ngữ để triển khai, diễn đạt ý phần nào dễ
hiểu, rõ ràng. Các từ ngữ trừu tượng, từ Hán Việt khó đều được chú
thích rõ ràng. Việc lựa chọn các lớp từ ngữ để biên soạn sách đã tạo
được đặc thù của môn học. Từ ngữ trong SGK Ngữ văn vừa quen
thuộc để dễ tiếp nhận vừa mới mẻ để dung nạp thêm từ mới.
Tuy nhiên ở một số trường hợp, chúng tôi muốn bổ sung và trao
đổi thêm:
- Thứ nhất,Ở SGK Ngữ văn 11 tập 1, bài học "Bài ca ngất
ngưởng" của Nguyễn Cơng Trứ, trang 38 có chú thích từ "Thái
thượng". Soạn giả dịch: " Người thái thượng: ý nói cũng như người
thượng cổ, không quan tâm chuyện được mất".
- Thứ hai, Sách Ngữ văn 11 tập 1, trang 21 có bài "Thu điếu"
của Nguyễn Khuyến, soạn giả dịch là "Câu cá mùa thu".
19
- Thứ ba, Ở SGK 10 tập 1 trang 138 có bài "Quốc tộ" của Pháp
Thuận. Ở phần tiểu dẫn, soạn giả có ghi: " Tác phẩm của ơng hiện
cịn một bài thơ trả lời Lê Đại Hành hỏi về vận nước".
- Thứ tư, ở Ở SGK 10 tập 2 trang 131 có bài "Các thao tác nghị
luận". Soạn giả dùng thuật ngữ "thao tác".
- Thứ năm, dùng từ không nhất quán.Ở SGK Ngữ văn 10 tập 1,
trang 123 bài "Viết bài làm văn số 3", có đề: "Hãy hóa thân vào
những que diêm để kể lại câu chuyện theo diễn biến và kết thúc
truyện ngắn Cô bé bán diêm của An-đéc-xen."
3.1.3. Phƣơng diện ngữ pháp
Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy các soạn giả đã quan
tâm đúng mức đến việc đặt câu. Nhìn chung, các loại câu được sử
dụng trong SGK Ngữ văn đều đảm bảo yêu cầu về ngữ pháp. Tuy
nhiên vẫn còn một vài trường hợp chúng tôi muốn trao đổi thêm.
- Trường hợp thứ nhất, ở SGK Ngữ văn 10, tập 2, trang 55, bài
"Chuyện chức phán sự đền Tản Viên" có câu: "Ơng để lại tác phẩm
nổi tiếng là Truyền kì mạn lục, qua tác phẩm có thể thấy được quan
điểm sống và tấm lịng của ơng với cuộc đời."
- Trường hợp thứ hai, ở SGK Ngữ văn 11, tập 1, trang 3, bài
"Vào phủ chúa Trịnh" có câu: "Qua tác phẩm, có thể thấy Lê Hữu
Trác còn là một nhà văn, nhà thơ với những đóng góp đáng ghi nhận
cho văn học nước nhà.".
3.1.4. Phƣơng diện diễn đạt
Lối diễn đạt quen thuộc mà các soạn giả sử dụng phần nào tạo
điều kiện thuận lợi trong việc tiếp nhận, song vẫn có những trường
hợp mà chúng tôi xin được trao đổi thêm.
- Trường hợp thứ nhất, trong bài "Thao tác lập luận bình luận",
SGK Ngữ văn 11 tập 2, trang 71 có câu: "Nguyễn Trường Tộ có lí do
để viết Xin lập khoa luật không, nếu vào lúc bấy giờ, ai nấy đều đã
thống nhất rằng muốn trị nước thì phải dựa vào luật chứ không phải
20
vào những lời nói sng trên giấy về trung hiếu hay lễ nghĩa, rằng
luật pháp là công bằng và cũng là đạo đức?"
- Trường hợp thứ hai, trong bài "Đọc Tiểu Thanh kí" của
Nguyễn Du trang 132 SGK Ngữ văn 10, tập 1 có chú thích: "(2) Ý
nói: Người đẹp linh thiêng nên chết đi vẫn khiến người đời thương
tiếc."
- Trường hợp thứ ba, SGK Ngữ văn 10, tập 1, bài "Lập dàn ý bài
văn tự sự" có đưa ra ngữ liệu tác phẩm "Rừng xà nu".
- Trường hợp thứ tư, một số bài học sắp xếp khơng hợp lí.
- Trường hợp thứ năm, ở chương trình lớp 10, các bài học về văn
bản thuyết minh, chủ yếu học thuyết minh văn bản văn học nhưng
khi luyện tập lại thuyết minh vấn đề xã hội.
- Trường hợp thứ sáu, ở Ngữ văn 10 tập 2, trang 128 có ghi:
"Khơng có ngơn ngữ nào là khơng ít nhiều mang dấu ấn của tác giả".
3.2. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT
Sau khi nghiên cứu, phân tích đặc điểm ngơn ngữ giáo khoa
trong sách Ngữ văn THPT, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số yêu
cầu, đề xuất.
3.2.1. Yêu cầu cao về sự gắn gọn, dễ hiểu
- Các nhà soạn sách nên biên soạn tỉ mỉ, rõ ràng hơn phần tiểu
dẫn, phần chú thích, câu hỏi hướng dẫn học bài để cả giáo viên và
học sinh có được một tư liệu học tập, tham khảo tốt nhất để phục vụ
tốt hơn việc dạy và học bộ môn Ngữ văn.
- Với bộ môn Tiếng Việt và Làm văn, các soạn giả nên tinh luyện
hơn phần lí thuyết. Cần ngắn gọn, dễ hiểu chứ không nên dài dòng,
đưa vào quá nhiều kiến thức. Đồng thời nên tăng cường thêm phần
bài tập trong mỗi tiết học. Ngoài ra cần đưa thêm những tiết bài tập
hoàn toàn để đảm bảo yêu cầu "học đi đôi với hành."
3.2.2. Luôn luôn lấy tính chuẩn mực của văn phạm tiếng
Việt làm tiêu chí
21
SGK Ngữ văn không chỉ đảm bảo mục tiêu giáo dục nói chung
mà cịn phải đảm nhiệm trọng trách riêng của bộ môn. Thông qua
những tác phẩm văn học đặc sắc, môn Văn giúp học sinh phát triển
năng lực thẩm mĩ, khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu
hiểu giá trị nhân bản và thân phận của con người. Giúp học sinh phát
triển năng lực tư duy, đặc biệt là tư duy phản biện, sự tự tin, tính tự
lập và tinh thần cộng đồng. Đó là những điểm phân biệt văn học với
các mơn học khác. Vì thế, SGK Ngữ văn phải ln ln lấy tính
chuẩn mực của văn phạm tiếng Việt làm tiêu chí.
3.2.3. Ln ln qn triệt tƣ tƣởng lấy ngƣời học làm
trung tâm
Sách giáo khoa phải viết làm sao cho học sinh hiểu. Để đạt
được điều đó, chúng tơi thiết nghĩ các soạn giả phải chú ý tới cách
diễn đạt, tránh kiểu diễn đạt mơ hồ, gây nhiễu thông tin. Và khi lựa
chọn từ ngữ trong dãy đồng nghĩa phải chọn từ ngữ phổ biến nhất.
Thêm nữa, khi biên soạn, các soạn giả nên chăng căn cứ vào tâm lí
học lứa tuổi, tâm lí học tiếp nhận. Có như thế sách giáo khoa mới đạt
chuẩn và hướng đến vấn đề tự học cho học sinh.
22
KẾT LUẬN
"Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển
tồn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ
bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình
thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư
cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên
hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc".Để đảm bảo mục tiêu đó, người giáo viên phải làm tốt nhiệm
vụ là cầu nối giữa SGK với học sinh. Vì thế nghiên cứu, tìm hiểu về
SGK để hiểu rõ về SGK – công cụ giảng dạy và học tập – là một
công việc rất cần thiết đối với người giáo viên. SGK có những chức
năng riêng biệt khác với các loại sách khác nên làm việc với SGK
cũng cần có sự khác biệt. Người giáo viên phải biết khai thác và phát
huy những ưu thế đồng thời thấy được những hạn chế của SGK để có
được những định hướng đúng đắn, khoa học.
Ngữ văn là một nghệ thuật của cuộc sống, là quà tặng tinh thần,
là kim chỉ nam của những tâm hồn đang lớn. Ngôn ngữ trong SGK
Ngữ văn vừa đảm bảo tính khoa học lại vừa mang đặc thù riêng. Với
những đặc điểm ngôn ngữ được sử dụng trong các bài học, SGK Ngữ
văn đã cho thấy nét riêng biệt, sự độc đáo không thể trộn lẫn với bất
kì ngơn ngữ trong mơn học nào khác.
Với đề tài Luận văn: "Đặc điểm ngôn ngữ giáo khoa trong
sách Ngữ văn THPT", chúng tôi đã tập trung tiến hành nghiên cứu
và khảo sát đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của SGK Ngữ văn trên các
phương diện khác nhau. Đó là phương diện ngữ âm, từ vựng, ngữ
pháp, diễn đạt. Cụ thể như sau:
Ở chương 1, chúng tơi trình bày một số khái niệm và cơ sở lí
luận để phục vụ cho đề tài. Đó là các vấn đề về phong cách chức
năng ngôn ngữ khoa học và về sách giáo khoa. Trong đó chúng tơi đi
23
sâu vào đặc trung, đặc điểm ngôn ngữ khoa học, khái niệm SGK và
đặc điểm ngôn ngữ SGK. Đây là những cơ sở lí luận cần thiết để
chúng tơi có thể nghiên cứu đề tài đúng hướng, đúng trọng tâm.
Ngoài ra, ở chương này, chúng tôi cũng giới thiệu chung về SGK
Ngữ văn. Từ đó có cái nhìn chung nhất về đối tượng mà chúng tôi sẽ
nghiên cứu, triển khai ở chương 2.
Ở chương 2, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, khảo sát, phân tích
đặc điểm ngơn ngữ giáo khoa của sách Ngữ văn trên các phương
diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, diễn đạt. Về phương diện ngữ âm,
SGK Ngữ văn đã đảm bảo các yêu cầu về chính âm, chính tả. Các
yêu cầu về chữ hoa, chữ thường, in nghiêng, in đậm, dấu câu, các
thanh, phiên âm tên riêng nước ngồi…có sự thống nhất trong tất cả
các bài, các chương và các khối lớp. Về phương diện từ vựng, kết
quả của việc khảo sát các lớp từ: hệ thống thuật ngữ, từ thi ca, từ Hán
Việt, từ chính trị…cho thấy sự phong phú mang tính đặc thù của bộ
mơn. Mặt khác, chúng tơi cịn thấy được việc chú trọng sử dụng các
biện pháp tu từ từ vựng, ngữ nghĩa của các nhà soạn giả để tăng thêm
tính đặc thù của ngôn ngữ SGK Ngữ Văn. Về phương diện ngữ pháp,
SGK Ngữ văn đã sử dụng hầu hết các kiểu cấu trúc câu tiếng Việt
nhằm đạt được hiệu quả giao tiếp cao nhất. Trong q trình khảo sát,
chúng tơi nhận thấy việc sử dụng câu đơn vẫn chiếm tỉ lệ lớn nhất.
Đặc điểm này cho thấy SGK Ngữ văn đang định hướng đến vấn đề
"tự học" cho học sinh. Trong phương diện ngữ pháp, chúng tơi cịn
tìm ra được nét riêng của SGK Ngữ văn ở việc sử dụng các biện pháp
tu từ cú pháp. Cuối cùng, về phương diện diễn đạt, kết quả thu được
của việc khảo sát là việc dùng lối diễn đạt quen thuộc, lối diễn đạt
thuận, sử dụng những câu văn có hình ảnh. Lối diễn đạt này không
chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận mà còn định hướng đến
nét đặc thù khi học bộ môn Ngữ văn. Với kết quả khi làm việc với
chương 2, chúng tôi sẽ đưa ra một số ý kiến, nhận xét ở chương 3.