Tải bản đầy đủ (.pdf) (26 trang)

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ - VĂN HÓA ĐỊA DANH THÀNH PHỐ TAM KỲ (QUẢNG NAM) 10600906

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (607.58 KB, 26 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
--------------

ĐOÀN THỊ MỸ DUNG

ĐẶC ĐIỂM NGƠN NGỮ - VĂN HĨA
ĐỊA DANH THÀNH PHỐ TAM KỲ (QUẢNG NAM)

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.02.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ HỌC

Đà Nẵng - Năm 2017


Cơng trình được hồn thành tại
Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN

Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN VĂN SÁNG

Phản biện 1: PGS. TS. Dương Quốc Cường
Phản biện 2: TS. Bùi Trọng Ngoãn

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ Ngôn ngữ học họp tại Trường Đại học Sư phạm
ĐHĐN vào ngày 14 tháng 01 năm 2017.

Có thể tìm hiểu luận văn tại:


- Trung tâm Thông tin – Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng


1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài nghiên cứu địa danh
1.1. Địa danh là một hiện tượng xã hội, nhằm để phân biệt
các thực thể địa lý mà trong sinh hoạt, sản xuất con người đã tạo nên.
Địa danh có quan hệ mật thiết với cuộc sống thường nhật của chúng
ta, có liên hệ rộng rãi, gắn bó với các lĩnh vực ngoại giao, quốc
phịng, thương mại, dân chính, trắc họa và nghiên cứu khoa học, ghi
lại dấu ấn phản ánh các giá trị văn hóa lịch sử và đời sống xã hội.
1.2. Trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, cùng với
sự thay đổi của tổ chức hành chính đất nước, Tam Kỳ cũng có những
thay đổi về địa giới và tên gọi. Trước thế kỷ XV, đây vốn là vùng đất
Chiêm Động của vương quốc cổ Chămpa. Thế rồi trong quá trình mở
nước vào phương Nam của dân tộc, vùng đất này từng bước được sáp
nhập vào lãnh thổ của Đại Việt. Ngày nay, Tam Kỳ là thành phố trực
thuộc tỉnh Quảng Nam, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa
học của tỉnh Quảng Nam, và là địa phương có bề dày truyền thống
yêu nước và cách mạng sâu sắc.
1.3. Nghiên cứu địa danh là một lĩnh vực hấp dẫn của ngôn
ngữ học. Tuy nhiên ở nước ta, những nghiên cứu đã có cũng chỉ có
thể là những cơng trình giải quyết những nội dung cụ thể thuộc một
vùng lãnh thổ. Vì thế, nghiên cứu Đặc điểm ngơn ngữ-văn hóa địa
danh thành phố Tam Kỳ (Quảng Nam) mà chúng tôi tiến hành cũng
đi theo định hướng ấy, và nhằm góp phần từng bước hồn thiện lý
thuyết nghiên cứu địa danh trên phạm vi cả nước.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1. Tình hình nghiên cứu địa danh trên thế giới
Vấn đề nghiên cứu địa danh được phát triển từ rất lâu. Tình
hình nghiên cứu địa danh thế giới được Lê Trung Hoa [22] và Trần


2
Văn Sáng [41] tổng thuật một cách chi tiết. chúng tơi có thể tổng
thuật trích lược như sau:
Ở phương Đơng, đặc biệt Trung Quốc, một nước liền kề với
chúng ta, địa danh cũng được quan tâm từ rất sớm. Thời Đông Hán,
Ban Cố đã ghi chép hơn 4000 địa danh trong bộ Hán thư, trong đó có
một số địa danh đã được ơng giải thích rất rõ về nguồn gốc và ý
nghĩa. Đời Bắc Ngụy (380-535 TCN) trong Thủy Kinh chú sớ, Lịch
Đạo Nguyên đã ghi chép hơn 2 vạn địa danh, số được giải thích ngữ
nguyên là hơn 2300 địa danh.
Ở các nước phương tây, bộ môn Địa danh học chính thức ra
đời vào cuối thế kỷ XIX. Năm 1872, J.J.Eghi (Thụy Sĩ ) công bố
chuyên luận Địa danh học. Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Ủy
ban địa danh của các nước Mỹ, Thụy Điển, Anh lần lượt ra đời, góp
phần thúc đẩy sự phát triển khá nhanh chóng của khoa học nghiên
cứu về địa danh.
Bên cạnh những cơng trình của các nhà Địa danh học Xô
Viết, các nhà nghiên cứu địa danh ở một số quốc gia cũng đã có
những đóng góp khơng nhỏ trong lĩnh vực này. Tại Pháp, học giả
Ch.Rostaing (1965) trong tác phẩm Les noms de lieux đã nêu ra hai
nguyên tắc nghiên cứu địa danh. Đó là phải tìm ra các hình thức cổ
của các từ cấu tạo địa danh và muốn biết hình thức từ nguyên của địa
danh thì phải dựa trên kiến thức ngữ âm học địa phương. Chuyên
luận này đã bổ sung những vấn đề mang tính lý luận cho vấn đề mà
A.I.Popov đã nêu ra trước đó.

2.2. Tình hình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu địa danh cũng được quan
tâm từ rất sớm. Theo Lê Trung Hoa [22] và Trần Văn Sáng [41], các
tài liệu cổ thư của Trung Hoa như Tiền Hán thư, Hậu Hán thư, Tấn


3
thư, trong thời kỳ Bắc thuộc, được dùng để phục vụ cho việc tìm hiểu
các địa danh ở Việt Nam. Sau thời kỳ Bắc thuộc, trong thời kỳ phong
kiến độc lập, đặc biệt từ thế kỷ XV trở đi, việc nghiên cứu địa danh
mới được các nhà nghiên cứu Việt Nam thực hiện. Trong thời gian
này, địa danh mới chỉ được các tác giả thu thập, tìm hiểu về nguồn
gốc và ý nghĩa.
Nhìn chung, các cơng trình địa dư được biên soạn trước năm
1945 chủ yếu tập trung vào phân loại, định hình tên gọi và nghiên
cứu nặng về tính hành chính, lịch sử. Các nhà biên soạn chưa chú tâm
vào vấn đề giải thích ý nghĩa của hệ thống này, vì thế những cơng
trình trên là những tư liệu cần thiết, bổ túc cho các nhà nghiên cứu
địa lý lịch sử, ngôn ngữ học lịch sử và địa danh học lịch sử.
Cho đến nay, theo khả năng cập nhật của chúng tơi, đã có
khá nhiều luận văn thạc sĩ nghiên cứu về địa danh trên các vùng địa lí
khác nhau tại các cơ sở đào tạo Sau đị học như Đại học Đà Nẵng, Đại
học Huế, Đại học Vinh, Đại học Quốc gia Hà Nội... Đáng chú ý là
các luận án tiến sĩ đã bảo vệ ở Việt Nam như Địa danh ở Thành phố
Hồ Chí Minh của Lê Trung Hoa (1991), Khảo sát địa danh thành phố
Hải Phòng của Nguyễn Kiên Trường (1996), Nghiên cứu địa danh
Quảng Trị của Từ Thu Mai (2004), Nghiên cứu địa danh Đắc Lắc
của Trần Văn Dũng (2004), Khảo sát các địa danh ở Nghệ An của
Phan Xuân Đạm (2005), Địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc
thiểu số ở tây Thừa Thiên Huế của Trần Văn Sáng (2013), Đặc điểm

ngôn ngữ-văn hóa địa danh Thanh Hóa của Nguyễn Thị Thắng
(2014), Nghiên cứu địa danh Quảng Bình của Nguyễn Đình Hùng
(2014)... Đây là những cơng trình nghiên cứu có những đóng góp
quan trọng, góp phần xác lập khuynh hướng nghiên cứu địa danh
dưới góc nhìn ngơn ngữ học, góp phần nghiên cứu vùng địa danh và


4
phương ngữ cụ thể.
2.3. Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Quảng Nam và thành phố
Tam Kỳ
Nói về Quảng Nam có rất nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu nhưng
chủ yếu nói về vùng đất, con người, văn hóa, ẩm thực xứ Quảng…
chứ chưa có cơng trình nào tìm hiểu về địa danh Tam Kỳ một cách cụ
thể và hệ thống.
Những cơng trình đề cập ít nhiều đến địa danh Quảng Nam
cũng như Tam Kỳ chủ yếu là những cơng trình lịch sử Đảng bộ trong
tỉnh.


Tỉnh ủy Quảng Nam – Thành ủy Đà Nẵng: Lịch sử

Đảng bộ Quảng Nam – Đà Nẵng (1930 – 1975) xuất bản 2006 cũng
có sự thay đổi địa danh ở tỉnh Quảng Nam qua các thời kỳ nhưng
chưa thực sự cụ thể.


Tỉnh ủy Quảng Nam – Thành ủy Đà Nẵng: Địa chí Quảng

Nam – Đà Nẵng xuất bản năm 2010 cũng đã đề cập đến sự thay đổi

địa danh của tỉnh nhưng chưa thật sự cụ thể.


Sở văn hóa thơng tin Quảng Nam, 100 năm phủ lỵ Tam

Kỳ (1906-2006), kỷ yếu hội thảo khoa học, tháng 12/2006.


Sở văn hóa thơng tin Quảng Nam, Văn hóa Quảng Nam –

những giá trị đặc trưng, kỷ yếu hội thảo, 2001.
Ngồi những cơng trình đó cịn có các cơng trình lịch sử Đảng
bộ của các huyện như: Duy Xuyên, Đại Lộc, Tiên Phước, Điện Bàn,
Trà My… tất cả các công trình đó chỉ đề cập sơ lược, khái qt q
trình thay đổi tên, các địa danh đó mà thơi.
Như vậy, cho đến nay chưa có một tác giả nào đặt vấn đề
nghiên cứu về “Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa địa danh thành phố
Tam Kỳ (Quảng Nam)” một cách cụ thể, có hệ thống và đầy đủ theo


5
hướng ngơn ngữ học. Vì vậy, đề tài là hướng nghiên cứu và cách tiếp
cận địa danh một vùng lãnh thổ hoàn toàn mới mẻ.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tên gọi các đối tượng
địa lý tồn tại trên địa bàn toàn thành phố Tam Kỳ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu địa danh ở
thành phố Tam Kỳ trên các mặt: đặc điểm cấu tạo, phương thức định

danh, đặc điểm về ý nghĩa của các yếu tố, một vài đặc điểm về nguồn
gốc biến đổi địa danh, một số đặc trưng văn hóa gắn với địa danh
thành phố Tam Kỳ.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích
- Thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng ta sẽ góp phần bảo
tồn, phát huy văn hóa truyền thống của một vùng lãnh thổ.
- Thông qua việc miêu tả và phân tích địa danh ở thành phố
Tam Kỳ trên các mặt: đặc điểm cấu tạo, phương thức định danh, đặc
điểm ý nghĩa, nguồn gốc và sự biến đổi địa danh, những nét đặc
trong ngơn ngữ - văn hóa gắn với địa danh ở thành phố Tam Kỳ, đề
tài sẽ góp phần nghiên cứu văn hóa xã hội của vùng đất này, cung
cấp những dữ liệu góp phần cho việc nghiên cứu lý thuyết về địa
danh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và cả nước.
4.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có 4 nhiệm vụ cần được
giải quyết:
- Trình bày cơ sở lí luận về địa danh học và tổng quan nghiên
cứu địa danh, vấn đề địa danh, địa bàn nghiên cứu, phương pháp,


6
cách tiếp cận đặc điểm ngơn ngữ - văn hóa các địa danh ở thành phố
Tam Kỳ.
- Điền dã, khảo sát địa danh thuộc các loại hình khác nhau
được phân bố và tồn tại theo các đối tượng địa lí trong phạm vi địa
bàn thành phố Tam Kỳ.
- Thống kê, miêu tả đặc điểm cấu trúc các địa danh ở thành
phốTam Kỳ trên các phương diện: mơ hình phức thể địa danh, các
đặc điểm ngữ pháp, nguồn gốc của thành tố chung và tên riêng địa

danh.
- Miêu tả đặc điểm định danh các địa danh thành phố Tam Kỳ
ở các khía cạnh phương thức định danh, đặc điểm ngữ nghĩa và giá
trị phản ánh hiện thực của địa danh; đặc trưng văn hóa thể hiện qua
thành tố chung và tên riêng của phức thể địa danh.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tƣ liệu
5.1. Phương pháp nghiên cứu
5.1.1. Phương phương miêu tả
5.1.2. Phương pháp ngôn ngữ học điền dã
5.2. Nguồn tư liệu của luận văn
5.2.1. Tư liệu thành văn được lưu trữ tại các đơn vị hành chính
ở thành phố, phường, xã, khối phố, trên các loại bản đồ.
5.2.2. Tư liệu điền dã trực tiếp ở dưới địa phương trong phạm
vi thành phố Tam Kỳ.
6. Đóng góp của đề tài
- Nghiên cứu địa danh thành phố Tam Kỳ sẽ là sự phản ánh
chung địa danh của người Việt ở Quảng Nam, vừa là sự phản ánh nét
kế thừa của cư dân đã cư trú ở vùng đất này từ thời xa xưa.
- Luận văn sẽ lập được danh mục địa danh thành phố Tam Kỳ
và phân loại địa danh theo các tiêu chí cụ thể.


7
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về địa danh và những vấn đề hữu
quan về địa danh thành phố Tam Kỳ.
Chương 2: Đặc điểm về cấu tạo và ý nghĩa của địa danh thành
phố Tam Kỳ.

Chương 3: Một vài đặc điểm văn hóa của địa danh thành phố Tam Kỳ.
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
HỮU QUAN VỀ ĐỊA DANH THÀNH PHỐ TAM KỲ
1.1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH
1.1.1. Về khái niệm địa danh
Hiện vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về địa danh.
Do đó, khái niệm được chúng tơi sử dụng: Địa danh là những từ,
cụm từ dùng làm tên riêng cho các đối tượng địa lý khác nhau, có vị
trí xác định thiên về không gian hai chiều trên bề mặt trái đất.
1.1.2. Vấn đề phân loại địa danh
Luận văn đã giới thiệu cách phân loại địa danh của các tác giả
trong và ngoài nước:G.P.Xmolixkaja, A.V.Superanskaja, A.Dauzat,
Ch.Rostaing, Nguyễn Văn Âu, Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trường,
Từ Thu Mai, Phan Xuân Đạm. Mỗi tác giả tùy theo mục đích và
phương pháp nghiên cứu riêng mà đưa ra những tiêu chí phân loại
khác nhau.
Căn cứ vào mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và tình
hình thu thập cứ liệu địa danh ở Thành phố Tam Kỳ, luận văn phân
loại địa danh Thành phố Tam Kỳ theo 2 tiêu chí tự nhiên – không tự


8
nhiên và nguồn gốc ngôn ngữ.
1.1.3. Về chức năng của địa danh
Địa danh có ba chức năng cơ bản: Chức năng cá thể hóa đối
tượng; chức năng phản ánh hiện thực; chức năng bảo tồn.
1.1.4. Vị trí của địa danh học trong ngơn ngữ học
Luận văn đã mơ hình hóa vị trí của địa danh học trong ngơn
ngữ học theo quan điểm tán đồng với sơ đồ vị trí địa danh của Lê

Trung Hoa.
1.1.5. Hƣớng tiếp cận khi nghiên cứu địa danh thành phố
Tam Kỳ
Hướng tiếp cận địa danh dưới góc độ ngơn ngữ - văn hóa là
vấn đề thời sự hiện nay, nó phân tích xem địa danh đã phản ánh
những đặc điểm văn hóa, thực tiễn cuộc sống như thế nào, và ngược
lại, văn hóa được phản ánh qua địa danh ra sao. Nghiên cứu địa danh
thành phố Tam Kỳ trong sự tìm hiểu khả năng tương tác giữa địa
danh và các thành tố văn hóa là điểm đến của chúng tơi với mong
muốn góp phần bổ sung cho sự nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn
ngữ và văn hóa trong từng vùng lãnh thổ.
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ ĐỊA BÀN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA
DANH THÀNH PHỐ TAM KỲ
Luận văn đã trình bày những đặc điểm chính về văn hóa, lịch
sử, địa lý, địa giới hành chính, nguồn gốc dân cư, tiếng địa phương
tỉnh Quảng Nam.
- Lịch sử Quảng Nam là lịch sử đầy biến động vì sự nghiệp mở
mang bờ cõi của dân tộc.
- Văn hóa Quảng Nam là kết quả giao thoa tiếp biến, phân chia
và hội tụ của nhiều luồng văn hóa.
- Tiếng địa phương Quảng Nam còn lưu giữ những đảo thổ


9
ngữ, thể hiện một q trình tiếp xúc ngơn ngữ riêng ở địa bàn.
1.3. KẾT QUẢ THU THẬP VÀ PHÂN LOẠI ĐỊA DANH
THÀNH PHỐ TAM KỲ
Loại hình địa danh

Sơ lƣợng


Tỷ lệ %

1 Các đối tượng địa lý tự nhiên

21

1.9%

2 Các đối tượng địa lý cư trú-hành chính

770

71.2%

3 Các cơng trình xây dựng

82

7.6%

4 Các cơng trình giao thơng

209

19.3%

1082

100%


TT

Cộng

Luận văn đã thu thập được 1082 địa danh, các địa danh này
được xác định trên sự phân bố theo không gian trên địa bàn Thành
phố Tam Kỳ (Quảng Nam).
1.4. TIỂU KẾT
1. Luận văn đã cung cấp một bức tranh tồn cảnh lí luận về
vấn đề địa danh học, tình hình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam nói
chung và những vấn đề hữu quan về địa danh thành phố Tam Kỳ nói
riêng.
2. Tam Kỳ là vùng đất có nhiều đặc điểm riêng về lịch sử,
văn hóa, đặc biệt về ngơn ngữ
3. Khảo sát địa danh thành phố Tam Kỳ theo tiêu chí tự
nhiên - không tự nhiên, chúng ta nhận ra các đặc trưng về địa hình tự
nhiên với đầy đủ các loại hình: đồi, núi, sơng, suối, đồng bằng và
biển.
4. Kết quả thống kê các địa danh ở thành phố Tam Kỳ theo
nguồn gốc ngôn ngữ cho thấy rằng, ở Tam Kỳ chứa một tỷ lệ lớn
các địa danh có nguồn gốc Hán Việt. Trong đó có cả địa danh thuần
Việt trong tiếng Việt tồn dân (tiếng Việt văn hóa) và cả những địa
danh thuần Việt là tiếng địa phương. Tuy nhiên, số lượng các yếu tố


10
có nguồn gốc Hán Việt là lớn nhất, đặc biệt trong địa danh cư trú
hành chính.
CHƢƠNG 2

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TẠO VÀ Ý NGHĨA CỦA
ĐỊA DANH THÀNH PHỐ TAM KỲ (QUẢNG NAM)
2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CẤU TẠO ĐỊA DANH VÀ
PHƢƠNG THỨC ĐỊNH DANH
- Về bản chất, phương thức định danh là nhằm trả lời câu hỏi
dựa vào đâu và bằng cách nào để định danh.
- Thao tác định danh gồm: xác định những đặc tính chung để
phân nhóm, tức là lựa chọn thành tố chung (danh từ chung) cho đối
tượng.
- Phương thức định danh, cấu tạo và ý nghĩa của địa danh
ln có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó. Tìm hiểu cấu tạo và ý nghĩa
của địa danh cũng có nghĩa là phân tích cấu tạo của nó về ngữ pháp,
từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ âm. Cấu tạo của một địa danh bao giờ
cũng liên quan đến hai yếu tố: cấu trúc nội bộ và nguyên tắc đặt tên.
Cấu trúc nội bộ là đặc điểm về cấu tạo (hình thức), nguyên tắc đặt
tên là đặc điểm về ý nghĩa (nội dung).
2.2. CẤU TẠO ĐỊA DANH THÀNH PHỐ TAM KỲ
2.2.1. Mơ hình cấu trúc phức thể địa danh
Khi xem xét mơ hình cấu trúc của một phức thể địa danh,
quan điểm của luận văn là một địa danh, hay một phức thể địa danh
luôn gồm 2 thành tố: thành tố chung chỉ loại và tên riêng cụ thể hóa
loại hình địa danh. Cả hai thành tố đều có vai trị và chức năng khác
nhau trong việc tạo lập một phức thể địa danh. Mơ hình hố cấu trúc


11
phức thể địa danh ở thành phố Tam Kỳ như sau:
Thành tố chung (A)

Tên riêng (B)


(loại hình địa danh)

(địa danh – đối tượng khu biệt)

Số lượng âm tiết tối đa

Số lượng âm tiết tối đa

1

2

3

Nghĩa trang liệt

4


1

2

3

4

Tượng Đài


Mẹ

Việt

5

6

7

Nam Anh Hùng

2.2.2. Thành tố chung
a. Về khái niệm thành tố chung
Theo chúng tôi: thành tố chung trong phức thể địa danh là
những danh từ (hay danh ngữ) dùng để chỉ một lớp sự vật, đối tượng
cùng loại hình và cùng thuộc tính bản chất.
b. Cấu tạo của thành tố chung trong địa danh thành phố
Tam Kỳ
Dựa vào các nguồn tư liệu, chúng tôi đã thu thập 1082 địa
danh ghi bằng tiếng Việt với 61 thành tố chung, được thống kê và
phân loại ở Bảng 2.4.
Bảng 2.4. Thống kê cấu tạo thành tố chung của địa danh thành
phố Tam Kỳ
TT

Sô lƣợng âm tiêt

Sô lƣợng thành tố chung Tỷ lệ%


1

Một âm tiết

30

49,2

2

Hai âm tiết

17

27,9

3

Ba âm tiết

9

14,7

4

Bốn âm tiết

5


8,2

Cộng

61

100


12
- Kết quả thống kê tần số xuất hiện của các địa danh thành
phố Tam Kỳ đi kèm với các loại thành tố chung:
Số lƣợng
âm tiết
1 Một âm tiết

TT

2 Hai âm tiết
3 Ba âm tiết

Tỷ lệ
Tỷ lệ %
Ví dụ
xuất hiện
615
56.8 Làng Bún
Thôn Thạch Tân
351
32.4 Địa đạo Ngọc Mỹ

84
7.8 Khu dân cư quốc phòng

4 Bốn âm tiết

32

2.9

Cộng

1082

100%

Nghĩa trang liệt sỹ thành
phố Tam Kỳ

c. Chức năng của thành tố chung
- Chức năng phân biệt các loại hình đối tượng địa lí.
- Chức năng hạn định cho thành tố riêng.
- Chức năng chuyển hóa
2.2.3. Tên riêng (địa danh)
Trong phức thể địa danh, tên riêng là bộ phận đứng thứ hai
sau thành tố chung, có chức năng cụ thể hóa các đối tượng địa lí mà
thành tố chung đã khái quát.
a. Về số lượng các âm tiết trong tên riêng
Trong tổng số 1082 địa danh thu thập được ở thành phố Tam
Kỳ, số lượng các âm tiết trong tên riêng là khác nhau, tên riêng dài
nhất có 7 âm tiết.

b. Các kiểu cấu tạo tên riêng
Tên riêng trong địa danh thành phố Tam Kỳ có hai kiểu cấu
tạo: cấu tạo đơn và cấu tạo phức. Căn cứ vào số lượng các loại hình
địa danh thu thập được, có thể lập bảng thống kê địa danh theo kiểu


13
cấu tạo như sau:
Tên riêng có cấu tạo đơn
Kiểu cấu tạo đơn trong tên riêng là kiểu cấu tạo chỉ có một
âm tiết. Trong tổng số địa danh ở thành phố Tam Kỳ, có 615 /1082
trường hợp tên riêng có cấu tạo đơn, chiếm 56,8 %, được phân bố
khác nhau theo loại hình như kết quả thống kê.
Tên riêng có cấu tạo phức
Tên riêng có cấu tạo phức thường có nhiều âm tiết. Các âm
tiết này tồn tại ở dạng cấu trúc một từ ghép hoặc một cụm từ. Loại
này có 467 /1082 trường hợp, chiếm tới 43,2% tổng số tên riêng
trong phức thể địa danh ở thành phố Tam Kỳ.
* Tên riêng có cấu tạo phức theo quan hệ chính phụ
Số lượng tên riêng có cấu tạo phức theo quan hệ chính phụ
là 275/467 trường hợp, chiếm 58,9 % tổng số địa danh thu thập.
* Tên riêng có cấu tạo phức đẳng lập
Tên riêng có cấu tạo phức theo quan hệ đẳng lập trong địa
danh Tam Kỳ theo kết quả khảo sát là 180/467 trường hợp, chiếm
38,5% .
* Tên riêng có cấu tạo phức theo quan hệ chủ - vị
Tên riêng có cấu tạo phức theo quan hệ chủ-vị trong hệ
thống địa danh ở Tam Kỳ chiếm số lượng rất ít so với các kiểu quan
hệ chính phụ và đẳng lập (12 trường hợp, chiếm 2,6 %).
2.3. PHƢƠNG THỨC ĐỊNH DANH

2.3.1. Phƣơng thức tự tạo
- Định danh dựa vào đặc điểm chính của bản thân đối tượng
- Định danh dựa vào các đặc điểm có liên quan đến đối tượng
2.3.2. Phƣơng thức chuyển hóa
Phương thức chuyển hóa “là phương thức chuyển một địa danh


14
này thành một hoặc nhiều địa danh khác. Trong quá trình chuyển
hóa, địa danh mới có thể giữ ngun dạng của địa danh cũ, hoặc
thêm một vài yếu tố mới.Sau khi chuyển hóa, địa danh cũ có thể mất
đi hoặc cùng tồn tại với địa danh mới” [22, tr.69].
Định danh theo cơ chế chuyển hoá thực chất là phương thức
định danh theo lối gián tiếp. Phương thức định danh này luôn tuân
theo một nguyên tắc: yếu tố được định danh luôn được phái sinh, tạo
ra một yếu tố địa danh sẵn có. Đây là một phương thức biến một địa
danh này thành một địa danh hay nhiều địa danh kia. Có hai loại định
danh theo lối chuyển hố: chuyển hố trong nội bộ một địa danh,
chuyển hoá giữa các loại địa danh khác nhau.
- Định danh theo lối chuyển hoá trong nội bộ một loại địa danh
- Định danh theo lối chuyển hoá giữa các loại địa danh khác nhau
2.4. ĐẶC ĐIỂM VỀ Ý NGHĨA CỦA CÁC YẾU TỐ CẤU TẠO
ĐỊA DANH THÀNH PHỐ TAM KỲ
2.4.1. Vấn đề ý nghĩa của địa danh
- Vấn đề “ ý nghĩa” của địa danh chỉ mang tính tương đối.
Trong cách nhìn chung nhất, mỗi địa danh ra đời đều gắn với một lí
do nhất định.Hay nói cách khác, mỗi địa danh đều mang một ý nghĩa
khác nhau trong việc phản ánh hiện thực.
2.4.2. Đặc điểm ý nghĩa của các yếu tố trong địa danh
a. Tính rõ ràng về nghĩa của các yếu tố thể hiện qua nguồn

gốc ngôn ngữ của địa danh thành phố Tam Kỳ
Những địa danh có ý nghĩa rõ ràng là những địa danh được
tất cả mọi người bản ngữ hiểu một cách dễ dàng. Đây chính là những
kiểu tên gọi rõ lí do tuyệt đối, thường được tạo ra từ sự lựa chọn các
đặc trưng lí do khách quan để định danh. Phần lớn các địa danh
thành phố Tam Kỳ mà chúng tơi khảo sát có ý nghĩa rõ ràng trong sự


15
nhận biết được đối với cư dân bản địa. Trong tổng số 1082 địa danh
thu thập, có 92,8 % (1004/1082) địa danh rõ lí do tuyệt đối, có nghĩa
rõ ràng trên bình diện đồng đại. Đa số các địa danh Hán Việt, thuần
Việt trên địa phận Tam Kỳ đều rõ về nghĩa.
b. Về hiện tượng địa danh chưa được xác định rõ ràng về
nghĩa
Địa danh chưa được xác định rõ ràng về nghĩa là những địa
danh có ý nghĩa mờ nhạt, nghĩa của chúng không rõ ràng ngay cả với
những người bản ngữ, thường chứa các yếu tố ngôn ngữ cổ, ngoại
lai, những yếu tố ngôn ngữ bị biến âm, hoặc các đặc điểm có liên
quan đến đối tượng được định danh cũng khơng cịn hiện diện. Một
số địa danh mang yếu tố của tiếng địa phương Quảng Nam và nhiều
địa danh có nghĩ ngỡ là có nguồn gốc ngơn ngữ các dân tộc thiểu số,
gốc Chăm cổ thường không rõ ràng về nghĩa.
c. Vấn đề phân loại ý nghĩa địa danh thành phố Tam Kỳ
* Về tiêu chí phân loại ý nghĩa địa danh
Luận văn sử dụng tiêu chí phân loại ý nghĩa địa danh của tác
giả A.V. Superanskaja phân chia ý nghĩa địa danh thành 4 loại:
- Địa danh kí hiệu
- Địa danh mơ tả
- Địa danh đăng kí

- Địa danh ước vọng
* Các nhóm ý nghĩa trong địa danh thành phố Tam Kỳ
Căn cứ vào tư liệu thu thập, luận văn phân chia địa danh ở
thành phố Tam Kỳ thành:
- Nhóm địa danh khơng có nghĩa từ vựng
- Nhóm các địa danh mang ý nghĩa mơ tả (ý nghĩa từ vựng)
- Nhóm các địa danh mang ý nghĩa liên tưởng (ý nghĩa ngữ dụng)


16
2.5. TIỂU KẾT
1. Cũng như các nơi khác, địa danh ở Tam Kỳ (Quảng Nam)
được tạo ra chủ yếu bởi hai phương thức định danh phổ biến: phương
thức tự tạo và phương thức chuyển hố. Phương thức tự tạo đóng vai
trò chủ đạo trong việc tạo ra phần lớn các địa danh ở Thành phốTam
Kỳ (Quảng Nam).
2. Mơ hình cấu trúc địa danh Tam Kỳ (Quảng Nam) thể hiện
đặc trưng chung của địa danh trên cả nước. Mỗi phức thể địa danh
ln có hai thành tố: thành tố chung và tên riêng. Giữa chúng có
quan hệ gắn bó qua lại lẫn nhau, giữa cái chung và cái riêng, cái tổng
thể và cái cụ thể, cái hạn định và cái được hạn định.
3.Tên riêng trong địa danh Tam Kỳ (Quảng Nam) được cấu
tạo bởi các từ đơn, từ ghép hoặc cụm từ phái sinh với ba kiểu quan
hệ: chính phụ, đẳng lập, chủ-vị.
CHƢƠNG 3
MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ - VĂN HÓA CỦA
ĐỊA DANH THÀNH PHỐ TAM KỲ
3.1. DẪN NHẬP
Địa danh tuy là một hiện tượng ngơn ngữ học, nhưng nó
chính là hình thức thể hiện văn hóa của một cộng đồng cư dân đã

từng hiện diện trong vùng lãnh thổ có các địa danh. Địa danh được
sinh ra, phát triển cùng văn hóa và cũng là một hiện tượng văn hóa,
bởi vì ngơn ngữ là sản phẩm/ thành phần của văn hóa: “chính trị đi
qua, văn hóa ở lại” (Les poliques passent, les cultures restent).
Đặc trưng văn hóa của địa danh thành phố Tam Kỳ (Quảng
Nam) trong chương này được trình bày từ cách tiếp cận liên ngành
ngơn ngữ - văn hóa về một vùng địa lý có sự giao thoa, tiếp biến,


17
phân chia, hội tụ từ nhiều nền văn hóa của các lớp cư dân sinh sống
trên địa bàn. Đây là những nội dung liên quan mật thiết với đặc điểm
ý nghĩa của các thành tố cấu tạo nên địa danh.
3.2. MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HĨA VÀ NGƠN NGỮ
TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH
3.2.1.Về khái niệm văn hóa
Để có một khái niệm công cụ nghiên cứu địa danh, chúng tôi
lựa chọn cách định nghĩa về văn hóa sau đây của Trần Ngọc Thêm:
“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do
con người sáng tạo ra và tích luỹ qua q trình hoạt động thực tiễn,
trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã
hội” .
3.2.2. Ngôn ngữ trong mối quan hệ với văn hóa
Từ góc độ ngơn ngữ học cho thấy, mối quan hệ giữa văn hóa
và ngơn ngữ, thường được thể hiện trong 3 phương diện sau:
a. Ngôn ngữ biểu hiện (express) hiện thực văn hóa.
b. Ngơn ngữ là hiện thân (embody) của hiện thực văn hóa.
c. Ngơn ngữ biểu trưng (symbolize) hiện thực văn hóa.
3.2.3. Địa danh và văn hóa
Địa danh là một hiện tượng ngơn ngữ, về bản chất nó là một

hiện tượng văn hóa. Địa danh phát triển cùng văn hóa. Khi tìm hiểu
đặc trưng văn hóa thể hiện trong địa danh, chúng ta thường đề cập
đến những khía cạnh cụ thể sau:
- Đặc trưng văn hóa thể hiện qua thành tố ngơn ngữ trong địa
danh.
- Sự thể hiện các dạng tồn tại của văn hóa trong địa danh.
- Sự thể hiện các phương diện văn hóa trong địa danh qua
ngữ nghĩa và giá trị phản ánh hiện thực.


18
3.3. ĐẶC TRƢNG NGƠN NGỮ-VĂN HỐ THỂ HIỆN TRONG
ĐỊA DANH THÀNH PHỐ TAM KỲ
3.3.1. Thành tố chung trong phức thể địa danh phản ánh
đặc trƣng địa - văn hóa của vùng đất
Với 61 thành tố chung được thống kê và phân chia theo các
loại hình địa danh và nguồn gốc ngơn ngữ ở Tam Kỳ (Quảng Nam),
chúng ta có được bức tranh địa danh sinh động, phản ánh đặc trưng
địa hình địa vật của khơng gian văn hóa nơi đây, có sự phong phú về
các đối tượng địa lý gồm: núi, sơng, ruộng, đồng, gị, bãi, đồi, biển,
hồ,...
3.3.2. Đặc trƣng văn hóa thể hiện qua ý nghĩa và sự phản
ánh hiện thực của tên riêng địa danh
a. Sự phản ánh phương diện khơng gian văn hóa trong địa
danh
- Phản ánh đặc điểm địa hình tự nhiên
- Phản ánh tên các lồi động- thực vật có trên địa bàn cư trú
b. Sự phản ánh các giá trị văn hóa lịch sử của địa danh ở
Tam Kỳ
- Phản ánh quá trình di trú

- Phản ánh các biến cố lịch sử đã xảy ra trên vùng đất chứa
địa danh
- Phản ánh những thay đổi về địa giới hành chính trên địa
bàn
c. Sự phản ánh đặc điểm chủ thể văn hóa của địa danh ở
thành phố Tam Kỳ
- Địa danh phản ánh tên người
- Phản ánh đặc điểm tâm lý văn hóa tộc người
- Phản ánh những tác động về mặt chính trị, xã hội, tôn giáo,


19
tín ngưỡng trong cách đặt địa danh
- Phản ánh đặc trưng văn hóa sản xuất
d. Đặc trưng văn hóa thể hiện qua các yếu tố ngôn ngữ của
địa danh ở thành phố Tam Kỳ
Địa danh, sản phẩm của tư duy con người thông qua ngôn
ngữ của một hay nhiều dân tộc, chịu sự tác động mạnh mẽ của qui
luật ngôn ngữ. Ngơn ngữ tạo ra địa danh có thể thay đổi nhưng địa
danh vẫn bảo tồn nguyên vẹn những giá trị ngôn ngữ học như thủa
ban đầu mới đặt tên. Vì vậy, địa danh là nguồn ngữ liệu quý giá để
nghiên cứu ngôn ngữ trên phương diện xã hội-ngôn ngữ học đặc thù.
Liên quan đến sự phản ánh đặc trưng văn hóa của địa bàn qua các
yếu tố ngơn ngữ trong địa danh, chúng tôi sẽ đề cập đến các yếu tố
mang tính cá thể, riêng biệt đã làm nên màu sắc, diện mạo và những
đặc trưng văn hóa riêng của thành phố Tam Kỳ. Đó là các yếu tố
thuộc tiếng địa phương thể hiện rõ nét trong địa danh ở Tam Kỳ với
những đặc điểm về ngữ âm, từ vựng và chữ viết.
Địa danh phản ánh sự biến âm của tiếng địa phương Tam Kỳ
so với tiếng Việt phổ thơng.

Địa danh thể hiện q trình biến đổi, tiếp xúc, vay mượn ngôn ngữ
tạo nên các tên gọi, các biến thể ngữ âm - chữ viết của cùng một địa danh.
3.4. TIỂU KẾT
Việc nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của địa danh
ở Tam Kỳ đã góp phần đào sâu những tầng văn hóa ẩn chứa đằng sau
các địa danh qua các thời kỳ khác nhau trong lịch sử của một vùng
đất, thể hiện ở những điểm chính sau:
- Có sự hội nhập, đan xen văn hóa của những lớp cư dân có
nguồn gốc ngơn ngữ khác nhau sinh sống trên địa bàn: văn hố Việt,
văn hóa Hán, văn hóa Chăm. Đây là hệ quả của q trình cộng cư


20
của các lớp cư dân đến từ các vùng văn hóa khác nhau và lớp cư dân
bản địa từ ngàn xưa.
- Địa danh Tam Kỳ, với chức năng bảo tồn, được xem như
những tấm bia hóa thạch, đã lưu giữ và phản ánh những giá trị ngơn
ngữ - văn hóa của các tộc người từng hiện diện trên địa bàn, thể hiện
sự biến âm của tiếng Tam Kỳ so với TPT, là nguồn cứ liệu quý giá
cho việc nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, đặc biệt là các quá trình biến
đổi ngữ âm của tiếng Việt qua từng giai đoạn.
- Nghiên cứu cũng cho thấy việc quốc ngữ hóa về cách viết địa
danh ở nước ta là cần thiết và có giá trị về mặt tổng thể. Tuy nhiên,
điều đó sẽ là khó khăn cho việc nhận diện những đặc trưng của ngữ
âm địa phương phản ánh trong địa danh, làm “mờ” đi nét nghĩa của
địa danh tiếng địa phương, đặc biệt các địa danh tiếng dân tộc thiểu
số, nếu khơng nói là làm sai lệch cách hiểu về nguồn gốc, ý nghĩa các
địa danh này đối với những người không phải là chủ thể sáng tạo ra
các địa danh đó.
KẾT LUẬN

Xuất phát từ cách tiếp cận liên ngành, nghiên cứu địa danh
dưới góc nhìn ngơn ngữ học; từ thực tế khảo sát, mơ tả và phân tích
hệ thống địa danh thu thập ở thành phố Tam Kỳ, luận văn đi đến
những kết luận sau:
1. Luận văn đã cung cấp một bức tranh tồn cảnh lí luận về
vấn đề địa danh học, tình hình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam và ở
địa phương Tam Kỳ, xác định cách tiếp cận hợp lý để nghiên cứu địa
danh Tam Kỳ, góp phần khẳng định vai trò và giá trị của phương
pháp miêu tả nội dung địa danh trên cơ sở vận dụng tri thức của
nhiều ngành khoa học như: văn hóa, lịch sử, địa lí và ngơn ngữ. Địa


21
danh Tam Kỳ là sự phản ánh chung địa danh của người Việt, vừa là
sự phản ánh nét kế thừa của cư dân ở vùng đất này thời xa xưa. Lần
đầu tiên, toàn bộ địa danh Tam Kỳ được thống kê, mơ tả và khái qt
một cách tồn diện.
2. Về đặc điểm cấu tạo, luận văn đã nêu rõ những nét khu
biệt của các thành tố trong địa danh ở Tam Kỳ. Mỗi phức thể địa
danh ln ln có hai thành tố: thành tố chung và tên riêng (địa
danh), tồn tại gắn bó với nhau theo quan hệ giữa cái được hạn định
và cái hạn định. Trong đó, thành tố chung là cái được hạn định, có
chức năng khái quát hóa đối tượng địa lí, tên riêng là cái hạn định, có
chức năng cụ thể hóa, khu biệt những đối tượng thuộc loại hình địa
danh mà thành tố chung đã khái quát.
3. Về mặt định danh và đặc điểm ngữ nghĩa, địa danh thành
phố Tam Kỳ sử dụng phương thức định danh tự tạo, phương thức
chuyển hóa, trong đó, phương thức tự tạo là phổ biến, dựa trên
những cơ sở định danh khác nhau (về màu sắc, động thực vật, hình
dáng, kích thước, cấu trúc, các sự kiện, sự vật liên quan đến đối

tượng,.). Trong địa danh tiếng Việt, lối định danh gián tiếp có tính
chất ẩn dụ hóa, hốn dụ hóa thường chiếm tỉ lệ cao hơn rất nhiều so
với lối định danh trực tiếp, nhất là địa danh gốc Hán Việt; trong khi
đó, đối với địa danh thuần Việt, lối định danh trực tiếp lại chiếm đa
số. Điều này cho thấy địa danh tiếng Việt, nhất là địa danh Hán Việt,
có xu hướng lựa chọn mỹ từ với ý nghĩa tốt đẹp, trừu tượng để định
danh; còn địa danh gốc thuần Việt lại thiên về sử dụng các từ ngữ có
ý nghĩa trung hịa, mộc mạc, dễ hiểu đối với người bản ngữ. Điều
này phản ánh lối tư duy khác nhau của mỗi tộc người trong cách định
danh.


22
Địa danh Tam Kỳ hầu hết có “nghĩa” và được quy về 3 loại ý
nghĩa: ý nghĩa từ vựng-mô tả, ý nghĩa ngữ pháp và ý nghĩa liên
tưởng. Bất cứ địa danh có nghĩa nào cũng có ý nghĩa từ vựng-mô tả
và ý nghĩa ngữ pháp (về từ loại), nhưng khơng phải địa danh nào
cũng có ý nghĩa liên tưởng. Địa danh kí hiệu thường khơng có ý
nghĩa từ vựng, nhưng vẫn có thể có ý nghĩa liên tưởng. Mỗi địa danh
ra đời ít nhiều đều có tính lí do, đó có thể là lí do khách quan dễ nhận
biết, song cũng có thể là lí do chủ quan, liên quan đến chủ thể định
danh, khó nhận biết. Điều này chỉ ra rằng những địa danh có ý nghĩa
rõ ràng thường là những địa danh mà các lí do định danh cũng được
tìm ra dễ dàng; cịn những địa danh khơng rõ ràng về nghĩa thì việc
chỉ ra lí do định danh của những địa danh ấy là không đơn giản.
Một đặc điểm khác về ý nghĩa trong địa danh Tam Kỳ liên
quan đến mảng địa danh được cấu tạo bởi các yếu tố thuộc tiếng địa
phương. Từ địa phương Tam Kỳ với những sắc thái biểu đạt vừa
tương đồng vừa khác biệt với TPT, đã tạo nên một bức tranh về ý
nghĩa độc đáo trong địa danh ở Tam Kỳ. Sự phong phú của các từ

khác nhau trong việc truyền tải cùng một nội dung trong phương ngữ
Tam Kỳ cho phép chủ thể định danh có nhiều lựa chọn trong việc gọi
tên sự vật hiện tượng. Trong địa danh Tam Kỳ, trường hợp cùng một
đối tượng địa lí nhưng được định danh với nhiều tên gọi khác nhau
khá phổ biến. Chính điều này giúp chúng ta nhận diện được giá trị
phản ánh hiện thực thông qua các địa danh đó.
4.Về đặc trưng văn hóa, địa danh Tam Kỳ phản ánh sự hội
nhập, đan xen ngơn ngữ - văn hố của những lớp cư dân có nguồn
gốc khác nhau sinh sống trên địa bàn. Những sự giao thoa, tiếp xúc
và vay mượn ngơn ngữ - văn hố giữa các tộc người (gốc thuần Việt,
gốc Hán, gốc Chăm) qua địa danh trở thành những vật dẫn văn hoá,


23
ký thác nhiều giá trị lịch sử quan trọng cũng như đặc điểm tâm lí tộc
người của các chủ thể định danh. Đặc điểm của thành phố Tam Kỳ là
tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam, nên loại hình địa danh tự nhiên không
nhiều (phản ánh qua các thành tố chung) như: biển, sông, suối, hồ,
mương... nhưng cũng cho thấy sự hài hìa hịa sơng - núi, với tên
nhiều lồi động thực vật được phản ánh một cách sinh động qua địa
danh ở Tam Kỳ.
Liên quan đến giá trị phản ánh hiện thực, quá trình khảo sát
hệ thống địa danh ở Tam Kỳ cịn cho thấy có những đối tượng địa lý
ở Tam Kỳ vẫn chưa có tên gọi, hoặc có tên gọi, nhưng chỉ tồn tại
trong tâm thức đời sống cộng đồng, chưa chính thức đi vào văn bản
nhà nước. Ngồi ra có những địa danh tiếng địa phương Tam Kỳ bị
“biến dạng” qua thời gian, khơng cịn ý nghĩa, lý do đặt tên ban đầu
cũng mờ nhạt, chỉ được sử dụng theo “thói quen” để đánh dấu, phân
biệt đối tượng. Những địa danh cổ, địa danh thuần Việt gốc các vùng
thổ ngữ ở Tam Kỳ rất có giá trị cho việc nghiên cứu đặc trưng văn

hóa vùng miền và ngữ âm lịch sử tiếng Việt, nhưng đa số đã “bị”
chuẩn hóa theo chính tả tiếng Việt, có nguy cơ bị “lãng quên” dần.
Đối với những trường hợp này, để đưa địa danh về đúng giá trị, chức
năng vốn có của nó, luận văn đề xuất những giải pháp sau:
Thứ nhất, khảo sát toàn diện những vùng/đối tượng địa lý
trên địa bàn tỉnh Tam Kỳ chưa có tên gọi chính thức, thống kê phân
loại và đề xuất cách đặt tên cho chúng sao cho phù hợp với văn hóa ngơn ngữ của địa phương.
Thứ hai, thu thập tối đa, bảo tồn nguyên dạng các địa danh
tiếng Việt cổ, địa danh tiếng địa phương và tiếng DTTS (nếu có,
chẳng hạn gốc Chăm cổ) ở Tam Kỳ, điều chỉnh lại các địa danh bị sai
lạc về âm và chữ viết để nhận diện chính xác về các giá trị phản ánh


×