1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
VŨ XUÂN TRIỆU
ĐẶC ĐIỂM NGÂM KHÚC VIỆT NAM
THỜI TRUNG ĐẠI
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN PHONG NAM
Đà Nẵng, Năm 2012
2
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong nền văn học quá khứ của dân tộc, cùng với truyện thơ
nôm, hát nói, ngâm khúc, là một trong những sáng tạo đáng tự hào
của văn học trung đại nói riêng và của nền văn học Việt Nam nói
chung. Tìm hiểu thể loại ngâm khúc thông qua đề tài Đặc điểm ngâm
khúc Việt Nam thời trung đại, ta sẽ hiểu thêm về một thời kỳ văn học
với nhiều biến động của lịch sử xã hội Việt Nam.
Đồng thời thực hiện đề tài này cũng là việc làm cần thiết và
hữu ích đối với những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy văn
học. Qua đây, chúng ta có cái nhìn hệ thống về đặc điểm thể loại, tạo
cơ sở chắc chắn về một hướng tiếp cận tác phẩm văn chương và góp
thêm một tiếng nói nhằm xác định đúng giá trị của tác phẩm ngâm
khúc trong nhà trường.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Với tư cách là một đối tượng nghiên cứu của khoa học văn
học, ngâm khúc trung đại Việt Nam đã được nhiều nhà nghiên cứu
văn học quan tâm. Vấn đề tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá những giá
trị nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm Ngâm khúc có một
lịch sử khá lâu dài.
Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến đầu XIX
Có thể kể đến những bài viết, nhận xét của Phan Huy Ích một nhà thơ lúc bấy giờ trong bài viết Tân diễn chinh phụ ngâm khúc
thành ngẫu thuật. Những bậc Nho học như Cao Bá Quát, Lý Văn
Phức. Theo chúng tôi những nhận xét, đánh giá trên chỉ mang tính
thưởng thức, cảm nhận cá nhân của các nhà Nho. Tuy nhiên nó lại có
tác dụng rất lớn trong việc khêu gợi, kích thích lịng say mê tìm hiểu
các tác phẩm ngâm khúc thời trung đại.
Giai đoạn đầu thế kỷ XX đến những năm đầu thập
niên 70
3
Trong giai đoạn này, các tác giả lại tập trung tới việc giới
thiệu, khảo đính và giải thích điển cố của các tác phẩm ngâm khúc.
Có thể kể đến các cơng trình như: Nguyễn Đỗ Mục với Chinh phụ
ngâm khúc diễn giải (Tân Dân xuất bản Hà Nội, 1929); Nguyễn
Quang Oánh với Ngâm khúc chinh phụ - Cung oán - Tì bà (Vĩnh
Hưng Long xuất bản Hà Nội, 1930); Hồng Xuân Hãn với Chinh phụ
ngâm bị khảo (Minh Tân Paris, 1953)... Mặc dù mục đích chính của
các cơng trình trên là khảo chú tuy nhiên các tác giả cũng dành dung
lượng bình giá một cách ngắn gọn khái quát nhất giá trị của các tác
phẩm... Việc nghiên cứu, tìm hiểu, chú giải các tác phẩm ngâm khúc
một cách công phu, tỉ mỉ mang tính chất khoa học của các tác giả đã
giúp người đọc thêm hiểu nội dung của từng tác phẩm, thuận lợi cho
các nhà nghiên cứu trong công tác thống kê, phân tích tác phẩm.
Giai đoạn từ sau thập niên 70 cho đến nay
Các nhà nghiên cứu đã soi chiếu tác phẩm ngâm khúc từ
những góc độ khác nhau để khẳng định giá trị của thể loại ngâm khúc
trong nền văn học cổ Việt Nam. Trong đó có thể kế đến các cơng
trình, bài viết như: Những khúc ngâm chọn lọc (2 tập) của Lương
Văn Đang, Nguyễn Thạch Giang, Nguyên Lộc; Giáo trình văn học
trung đại Việt Nam (tập 2), các tác giả Nguyễn Đăng Na, Đinh Thị
Khang, Trần Quang Minh, Nguyễn Phong Nam, Lã Nhâm Thìn;
Trần Đình Sử với Thi pháp văn học trung đại Việt Nam; Ngơ Văn
Đức với cơng trình nghiên cứu Ngâm khúc q trình hình thành, phát
triển và thi pháp thể loại; Trần Minh Thương với cơng trình Thể loại
ngâm khúc hình thức song thất lục bát trong văn học trung đại Việt
Nam...
Điểm qua các cơng trình kể trên, chúng tơi nhận thấy điểm
chung đó là các tác giả tập trung vào các công việc: làm rõ khái niệm
thể loại ngâm khúc, tiến trình vận động, chức năng chính của thể loại
mà chưa có những khảo sát cụ thể nào chỉ rõ đặc điểm thể loại ngâm
4
khúc trên hai phương diện đặc điểm nội dung và phương thức thể
hiện. Từ những cơng trình kể trên với hệ thống lí thuyết đã định hình
chúng tối tiếp tục triển khai các nội dung liên quan đến đề tài Đặc
điểm ngâm khúc Việt Nam thời trung đại.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để rút ra những luận điểm khoa học trong luận văn, chúng
tôi đặc biệt chú ý đến các tác phẩm: Chinh phụ ngâm khúc (Đặng
Trần Côn - bản dịch Đoàn Thị Điểm); Chinh phu ngâm khúc (Hồng
Liệt Bá Thượng thư bộ Lễ); Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia
Thiều); Ai tư vãn (Lê Ngọc Hân); Văn chiêu hồn (Nguyễn Du); Tự
tình khúc (Cao Bá Nhạ); Bần nữ thán (khuyết danh); Thu dạ lữ hoài
ngâm (Đinh Nhật Thận). Sở dĩ chúng tơi chọn những tác phẩm này vì
đây là những tác phẩm có vai trị lớn trong tiến trình phát triển và
hồn chỉnh thể loại ngâm khúc Việt Nam trung đại.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng một số
phương pháp chủ yếu sau:
Phương pháp lịch sử – xã hội
Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp so sánh
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
nội dung chính của luận văn được chia làm ba chương chính.
Chương 1: Q trình hình thành và phát triển của ngâm khúc
Việt Nam thời trung đại
Chương 2: Cảm thức thời đại trong ngâm khúc Việt Nam
thời trung đại
Chương 3: Một số đặc điểm ngâm khúc Việt Nam trên
phương diện nghệ thuật
5
Chương 1
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA NGÂM KHÚC VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI
Trong chương này chúng tôi sẽ đi giới thiệu một cách khái
lược quan điểm, sự nhìn nhận của người viết về khái niệm ngâm
khúc, cơ sở hình thành và phát triển của thể loại nhằm xây dựng một
cách hiểu chung nhất cho toàn bộ luận văn.
1.1. Ngâm khúc - một thể loại độc đáo của Văn học trung đại Việt
Nam
Trong toàn bộ di sản văn học cổ Việt Nam thể loại ngâm
khúc được xem là một thể lọa độc đáo và có một vị trí quan trọng
trong việc khẳng định bản sắc riêng của văn hóa, văn học dân tộc.
1.1.1. Khái niệm ngâm khúc
Khi nêu khái niệm về thể loại ngâm khúc Việt Nam thời
trung đại Dương Quảng Hàm viết như sau: "Ngâm là một bài văn tả
những tình cảm ở trong lịng, thứ nhất là những tình buồn, sầu đau,
thương. Các Ngâm khúc trong văn ta vẫn làm theo thể song thất lục
bát" [6, tr.139].
Trần Đình Sử lại cho rằng: Ngâm khúc là một thể loại văn
học trung đại Việt Nam. Tinh thần bi kịch thể hiện ở chỗ tìm lại giá
trị nhân sinh mà không được, không cam chịu mất mát giá trị mà
đành bất lực và do bất lực mà lòng bất lực càng mạnh thêm, day dứt
hơn... [32, tr.185 - 187].
Từ thực tế hướng tiếp cận của đề tài, trên cơ sở kế thừa
những thành quả của những nhà nghiên cứu trước đó, chúng tơi mạnh
dạn nêu lên quan điểm của mình về khái niệm thể loại ngâm khúc
Việt Nam thời trung đại như sau: Ngâm khúc là một thể loại văn học
dân tộc. Đó là những bài thơ trữ tình trường thiên có thể ca, ngâm,
than, vãn... được viết theo thể song thất lục bát, nhằm phản ánh bi
6
kịch tinh thần của con người trong xã hội đã có ý thức về quyền sống
và hạnh phúc trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
1.1.2. Vấn đề phân loại ngâm khúc Việt nam thời trung đại
Việc phân loại các tác phẩm đã trở thành vấn đề có ý nghĩa
quan trọng trong quá trình tiếp cận đối tượng nghiên cứu. Thực tế
qua các nguồn tài liệu mà chúng tôi tiếp cận được, hầu như vấn đề
phân loại các tác phẩm ngâm khúc trung đại Việt Nam còn chưa đi
đến thống nhất. Trong tài liệu với tên gọi Tâm trạng bi kịch của
người đàn ông qua hai tác phẩm "Thu dạ lữ hồi ngâm" và "Tự tình
khúc" đưa ra cách phân loại ngâm khúc Việt Nam thời trung đại gồm
hai nhóm chính. Nhóm thứ nhất là những khúc ngâm phản ánh tâm
trạng bi kịch của những người phụ nữ. Nhóm thứ hai là những khúc
ngâm phản ánh tâm trạng bi kịch của những người nam giới [46].
Một quan điểm phân loại khác mà nhóm các tác giả cuốn Những khúc
ngâm chọn lọc đưa ra đó là: “Cái tơi trữ tình ở đây có khi là cái tơi
của nhân vật (…) nhưng có khi là cái tơi của chính bản thân tác giả
như" [3, tr.13].
Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của những người đi
trước đồng thời gắn với mục đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đề
xuất hướng phân loại ngâm khúc Việt Nam thời trung đại như sau:
Nhóm nhất là những khúc ngâm "trữ tình nhập vai". Nhóm thứ hai là
những khúc ngâm "tự tình".
1.2. Quá trình vận động của ngâm khúc
Qua phần này, chúng tôi sẽ tiến hành phác thảo những nét cơ
bản về điều kiện bên ngoài như cơ sở lịch sử - xã hội, văn hóa - văn
học và những yếu tố nội tại bên trong của văn học có ảnh hưởng đến
q trình hình thành thể loại ngâm khúc Việt Nam thời trung đại.
7
1.2.1. Điều kiện lịch sử - xã hội và sự ra đời của ngâm khúc
Sự biến động của triều đình phong kiến từ kinh tế đến chính
trị xã hội diễn ra ở thế kỷ XVIII - XIX đã kéo theo sự chuyển biến
đáng kể về văn hoá, văn học. Ý thức hệ của nhiều tầng lớp trong xã
hội có sự đổi khác. Con người có những thay đổi từ văn hoá vật chất
đến văn hoá tinh thần. Con người với cá tôi cá nhân đã mạnh mẽ phá
bỏ những giềng mối mà Nho giáo và nhà nước phong kiến áp đặt từ
lâu.
Chính đây là những hạt nhân đầu tiên kiến tạo nên những tư
tưởng nghệ thuật mới những thể loại văn học mới ra đời làm rạng
danh nền văn học cổ điển Việt Nam như: truyện thơ, hát nói... Và
chúng ta cũng không thể không nhắc đến thể loại ngâm khúc ở thời
kỳ này.
1.2.2. Những tiền đề văn học đối với sự phát triển của ngâm khúc
Qua quá trình tiếp biến ngâm khúc đã trở thành thể loại văn
học riêng của dân tộc. Điều này làm cho nó trở nên gần gũi với đời
sống văn hóa - văn học nước nhà từ đó các tác phẩm dễ đi vào lịng
độc giả.
Tiếp theo là sự ảnh hưởng của thể thơ song thất lục bát. Đây
là thể thơ giàu tính nhạc, cấu trúc của thể thơ này rất phù hợp với
việc giải bày, bộc lộ tâm trạng của nhân vật trữ tình. Đặc biệt là tâm
trạng bi kịch tinh thân.
Bên cạnh đó cũng cần chú ý đến một phương diện khác có
tác động khơng nhỏ đến sự hình thành và phát triển của các thể loại
văn học đó chính là q trình tác phẩm đến với công chúng. Về mặt
này, ngâm khúc là thể loại có tính chất diễn xướng [38].
Cuối cùng là sự thay đổi trong lực lượng sáng tác và quan
điểm thẩm mĩ.
8
1.2.3. Quá trình phát triển của ngâm khúc Việt Nam thời trung đại
Theo Ngơ Văn Đức thì trường hợp tác phẩm Tứ thời khúc
vịnh của Hoàng Sĩ Khải viết vào cuối thế kỷ XVI là hiện tượng báo
hiệu quá trình chuẩn bị cho một thể loại văn học mới ra đời vào giữa
thế kỷ XVIII: Thể loại ngâm khúc [4, tr.43-44].
Đến thế kỷ XVIII, trong quá trình chuẩn bị để trở thành một
thể loại văn học đặc sắc của dân tộc, ngâm khúc Việt Nam thời kỳ
này đã tiếp thu những yếu tố đặc trưng của thơ ca cổ trên tinh thần
sáng tạo.
Mặc dù phát triển rất mạnh mẽ, song ngâm khúc cũng chỉ tồn
tại trong một khoảng thời gian nhất định. Theo Trần Minh Thương
thì có thể xem tác phẩm kết thúc thể loại ngâm khúc của văn học Việt
Nam trung đại là Thu dạ lữ hoài ngâm, nguyên tác bằng Hán tự với
thể song thất lục bát của Nguyễn Văn Cẩm và bản dịch Nơm dưới
hình thức song thất lục bát của Học Canh (đầu thế kỷ XX) [38].
* Tiểu kết:
Với những phân tích trên, đồng thời dõi theo quá trình hình
thành và phát triển của thể loại ngâm khúc Việt Nam thời trung đại
có thể nhận thấy: Thứ nhất, Ngâm khúc Việt Nam thời trung đại là
thể loại trữ tình trường thiên diễn tả nội tâm, tâm trạng bi kịch tinh
thần của con người thời đại. Thứ hai, thể loại này ra đời là "sản
phẩm" của quá trình vận động các tiền đề phát triển văn học bên
ngồi như điều kiện văn hóa, lịch sử xã hội; các yếu tố trong nội tại
của văn học như sự thay đổi trong lực lượng sáng tác, quan điểm
thẩm mỹ... Thứ ba, với tư cách như một thể loại, ngâm khúc giữ một
vị thế quan trọng trong văn học trung đại Việt Nam, đóng góp của nó
cho lịch sử văn học dân tộc là không nhỏ.
9
Chương 2
CẢM THỨC THỜI ĐẠI TRONG NGÂM KHÚC
VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI
Trong các tác phẩm ngâm khúc Việt Nam thời trung đại các
tác giả đặc biệt chú ý đến số phận của con người và thay mặt họ lên
tiếng đòi quyền sống, quyền hạnh phúc... Chúng tôi gọi chung tất cả
vấn đề này là cảm thức thời đại trong ngâm khúc. Với việc tìm hiểu
cảm thức này đặc điểm nội dung của các tác phẩm ngâm khúc sẽ
được soi sáng.
2.1. Bức tranh hiện thực lịch sử - xã hội
Ra đời trong hoàn cảnh xã hội chế độ phong kiến khủng
hoảng trầm trọng, nhiều giá trị xã hội đã thay đổi, các tác phẩm ngâm
khúc Việt Nam thời trung đại không chỉ là nơi gửi gắm những tâm sự
của con người mà qua đây bức tranh hiện thực xã hội cũng hiện lên
ngồn ngộn dưới ngòi bút của nhà thơ với những sắc diện khác nhau.
2.1.1. Cảnh chiến tranh ly loạn
Đề tài chiến tranh, chinh phu, chinh phụ vốn là một đề tài
phổ quát và truyền thống của văn học trung đại Việt Nam, tiếng nói
ốn trách chiến tranh đã vang lên từ những câu câu thơ trữ tình đầy
ốn hận. Nhưng có lẽ thành cơng nhất khi viết về đề tài này là Chinh
phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn, bản diễn Nơm Đồn Thị Điểm.
Ra đời vào thời kỳ rối ren nhất trong lịch sử nhà nước phong kiến
Việt Nam. Dấu vết của thời đại nổi bật là những cuộc chiến tranh do
nhà nước phong kiến phát động chống lại phong trào nông dân khởi
nghĩa.
Trong tưởng tượng của người chinh phụ chiến tranh là sự
chết chóc. Chiến trường chẳng hề có tiếng ngựa hí, tiếng reo mừng
chiến thắng mà chỉ có hồn tử sĩ ù ù trong gió... Nếu có may mắn có
người trở về thì tóc cũng đã ngã màu. Bên cạnh chiến trường khốc
liệt, đầy oan hồn tử khí để thể hiện rõ hơn sự tang thương mà chiến
10
tranh mang lại, tác phẩm đã khắc họa rất đậm nét cảnh buồng the
trống trải nơi người thiếu phụ đang mịn mỏi chờ chồng... và niềm
đau khổ khơn ngi về thân phận đơn chiếc của người chinh phụ.
Chiến tranh gây nên cảnh loạn ly, sự chết chóc, mỏi mịn, tàn
lụi... Người ở chiến trường chết vì mũi tên, lưỡi kiếm; người ở nhà
chết trong lịng vì mỏi mịn trong vơ vọng. Phản ánh hiện thực bi đát
của cuộc chiến tranh phi nghĩa chính là cách nhà thơ phản kháng
chiến tranh.
2.1.2. Những nỗi oan trái, bất công
Bên cạnh bức tranh hiện thức chiến tranh phi nghĩa, một
mảng hiện thực khác được các tác phẩm ngâm khúc khá quan tâm là
những nỗi hàm oan, bất công của con người.
Qua các tác phẩm ngâm khúc như Thu dạ lữ hồi ngâm, Tự
tình khúc độc giả nhận ra sự bất công của xã hội phong kiến đương
thời khi đã gây ra biết bao nỗi oan trái đắng cay cho những người vốn
được xem là trung thần của triều đình... Và chính sự oan trái do xã
hội mang lại đã đẩy con người tới cảnh: Gửi mình vào chiếu rách một
manh/Nắm xương chơn rấp góc thành/Kiếp nào cỡi được oan tình ấy
đi? (Văn chiêu hồn).
2.1.3. Sự đổ vỡ niềm tin
Trong ngâm khúc Việt Nam thời trung đại con người không
chỉ xuất hiện với những tấn bi kịch mà người đọc còn nhận ra trong
đời sống tinh thần của họ sự khủng hoảng niềm tin một cách sâu sắc.
Sự khủng hoảng niềm tin ấy có lẽ đã trở thành nét tâm lý chung thuộc
về thời đại. Nó xuất phát từ sự suy tàn của chế độ phong kiến, giai
đoạn rệu rã của ý thức hệ Nho giáo. Vua chúa xa xỉ, quan lại tham
tàn, nhân dân thì cực khổ, lầm than.
Đối mặt với một hiện thực đen tối và thối nát như vậy, con
người bắt đầu hồi nghi về những giá trị mà trước đây mình tôn thờ.
11
Trong Chinh phụ ngâm khúc người đọc nhận ra rằng người
chinh phụ đã có sự thay đổi trong suy nghĩ của mình về cơng danh.
Từ buổi ban đầu, nàng vẫn xem việc chồng tham gia chiến tranh là
một lẽ thường tình và đó là chính nghĩa, là nghĩa vụ của người con
trai thời loạn, là con đường để gia đình nàng "tiến bệ rồng" hưởng
vinh hoa phú quý. Nhưng khi nhận ra đó là những giá trị giả tạo mà
thế lực phong kiến bấy giờ đã bày ra để lừa gạt con người nàng đã
tuyên bố ước muốn đoạn tuyệt với chiến tranh.
Người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc dần dần đánh mất
niềm tin vào những thứ trước đây nàng tin tưởng. Giấc mộng lầu son
giờ đổ vỡ, mọi ảo tưởng, ngộ nhận tiêu tan. Nàng bắt đầu nhận thức
được rằng hóa ra những thứ mà trước đây nàng cho là tốt đẹp, cao
quý lại là những thứ đen tối, xấu xa...
Qua những dẫn liệu trên chúng ta nhận thấy rằng hầu như
trong các tác phẩm ngâm khúc, hệ thống các tư tưởng và quan niệm
về những giá trị cuộc sống được xã hội phong kiến vốn được định
hình từ trước đang dần lung lay. Con người dù ở trong hồn cảnh địa
vị nào cũng khơng cịn tin vào những gì đang tồn tại trước mắt họ.
2.2. Cảm thức về số phận, thân phận con người
Mỗi số phân, thân phận nhân vật trong bất kỳ tác phẩm văn
chương nào cũng là một mảnh ghép của một cuộc đời, là một lát cắt
của cuộc sống. Trong ngâm khúc những con người ấy mang trong
mình những nét tính cách riêng nhưng đều bị chi phối bởi cảm thức
chung của thời đại.
2.2.1. Số phận bi kịch của người phụ nữ
Dưới chế độ phong kiến, người phụ nữ phải chịu nhiều bi
kịch số phận. Cảm thông và thấu hiểu nỗi đau đớn của họ trong xã
hội cũ, các thi nhân xưa đã ghi lại những bi kịch ấy trong các tác
phẩm ngâm khúc. Mỗi con người chịu một nỗi đau riêng. Người cung
nữ mỏi mịn trong cơ độc với số phận "chồng chung" trong chốn
12
thâm cung. Người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm khúc lại bắt đầu
từ chiến tranh. Trong Ai tư vãn là đau nỗi đau của một góa phụ đang
sống trong tâm trạng đầy sợ hãi khi phải đối diện với viễn cảnh mẹ
góa con cơi bơ vơ giữa biển đời giơng tố!...
Có thể thấy mỗi người phụ nữ trong xã hội lúc bấy giờ dù là
người quyền quý hay những thân phận tầm thường trong xã hội họ
đều rơi vào bi kịch. Bi kịch chung nhất của họ là hạnh phúc lứa đôi bị
dang dở, là sự xa cách với những mỏi mịn ngóng trơng.
2.2.2. Những thân phận bé mọn, trn chuyên
Bên cạnh việc nhìn và thấu hiểu bi kịch của người phụ nữ,
trong ngâm khúc Việt Nam thời trung đại các tác giả còn hướng đến
những thân phận bé mọn, nghèo khổ và túng quẫn với bao nỗi lo
toan, dằn vặt, khát khao cuộc sống đời thường. Đến với ngâm khúc
người đọc nhận ra bi kịch của những đứa trẻ "lỗi giờ sinh", nhận ra số
phận của những con người thuộc tầng lớp dưới trong xã hội. Họ xuất
hiện không phải là anh hàn sĩ, chú tiểu đồng hay cô nữ tì nào cả, mà
họ là những người lao động.
Khơng chỉ dừng lại ở việc diễn tả bi kịch của số phận những
kiếp người "Sống nhờ hàng xứ chết vùi đường quan" trong ngâm
khúc Việt Nam thời trung đại còn diễn tả bi kịch tinh thần của con
người khi vướng phải những nỗi oan trái không thể gỡ bỏ được. Họ
phải đối diện với cuộc sống lắm nỗi truân chuyên.
Tựu chung có thể nhận ra rằng, con người với số phận bé
mọn gắn liền với bi kịch tinh thần đã trở thành cảm hứng bao trùm
hàng loạt các tác phẩm ngâm khúc Việt Nam thời trung đại. Khi biểu
hiện xác thực cuộc sống bi thảm của thân phận những con người khác
nhau trong xã hội, các tác giả dường như cùng "sống" trong những
cảnh ngộ ấy, gắn bó mật thiết với nhân vật.
13
2.2.3. Cách lí giải số phận con người
Trước những bi kịch thời đại, số phận con người các tác giả
ngâm khúc Việt Nam thời trung đại đã trăn trở suy nghĩ, tìm kiếm
chân lý. Họ đã suy tư, lí giải bằng tất cả những gì mà thời đại ấy cấp
cho. Trong các tác phẩm ngâm khúc người đọc cũng nhận ra hàng
loạt những lời "tự vấn" của các nhân vật. Cuối cùng họ cho rằng:
sống trong thế giới thực với các thiết chế của thế quyền, thần quyền
con người bị tước đoạt quyền tự do cá nhân, tự do lựa chọn, phải
chấp nhận một sự áp đặt nghiệt ngã, độc đốn của số phận. Cũng
chính từ quan niệm này mà những con người trong ngâm khúc nếu
muốn thoát khỏi bi kịch cuộc đời phải gửi mình vào chốn tiên, Phật...
Với vốn tri thức sách vở, vốn sống phong phú ngoài đời; với
sự suy ngẫm đầy ý vị triết học siêu hình từ triết lí, tư tưởng Phật giáo
và với cả sự từng trải hết nơi phong trần đến chốn lầu son gác tía các
tác giả ngâm khúc đã kết hợp tinh tế, sâu sắc từ nhiều hướng lí giải
cho số phận của tất cả những con người bất hạnh đương thời.
2.3. Vấn đề hạnh phúc cá nhân, quyền sống con người
Trong văn học, con người mang ý thức cá nhân, ý thức về
quyền sống là sự phản ánh cái tôi của tác giả, là sự giãi bày, diễn tả
thế giới tư tưởng, tình cảm riêng tư của tác giả thơng qua thế giới
nhân vật. "Con nguời trong sáng tác văn học (...) tất nhiên ở các mức
độ khác nhau, đã có ý thức về quyền sống cá nhân, (...). Về mặt này
có thể kể đến con nguời trong các khúc ngâm..." [14, tr.13].
2.3.1. Con người với khát vọng tự do, bình đẳng
Tự do và cơng bằng trong xã hội, ln là khát vọng thường
trực của con người từ xưa cho đến nay. Trong các tác phẩm ngâm
khúc Việt Nam thời trung đại các nhân vật đã bộ lộ khát vọng ấy
trong những hồn cảnh riêng của cá nhân. Đó là khát vọng cuộc sống
hịa bình, tự do của người vợ có chồng tham gia chiến trận, là ước
mong được rửa oan, địi lại cơng bằng của người Nho sĩ, là ao ước
14
được tự do hôn nhân, được đối xử công bằng và tự mình quyết định
hạnh phúc của đời mình của người cung nữ, người bần nữ...
2.3.2. Khát vọng tình yêu và hạnh phúc lứa đơi
Vượt thốt ra khỏi những sự ràng buộc khắc nghiệt của
những lễ giáo phong kiến, ngâm khúc Việt Nam thời trung đại đã trả
lại cho con người đời sống tình cảm phong phú. Con người cá nhân
xuất hiện như một tất yếu để cất tiếng nói bày tỏ những cảm xúc dào
dạt, những khát khao cháy bỏng, những tổn thương tâm hồn day dứt
riêng tư với mong muốn được người tiếp nhận chia sẻ, cảm thông.
Đồng thời họ thể hiện những mối quan tâm mới mang tính chất trần
tục đặc biệt là tình u, hạnh phúc lứa đơi.
Những biểu hiện về đề tài tình u nam nữ trong các tác
phẩm ngâm khúc không phải là một hiện tượng đơn lẻ mà cùng với
những tác phẩm của Hồ Xuân Huơng, Nguyễn Công Trứ, Tú
Xương... đã trở thành một hệ thống trong văn học thời kỳ này.
* Tiểu kết
Tóm lại có thể nhận thấy rằng ngâm khúc Việt Nam thời
trung đại đã phản ánh nhiều mặt đời sống tình cảm của con người
trong xã hội... Ngày nay, khi đọc các tác phẩm ngâm khúc chúng ta
thấy những vấn đề mà các tác phẩm đặt ra khơng cịn giữ được ý
nghĩa của nó như lúc ban đầu. Nhưng ngâm khúc Việt Nam thời
trung đại vẫn đem lại cho người đọc nhiều hứng thú bởi nó gắn liền
với những biến cố đau thương trong đời sống văn học dân tộc. Đồng
thời nó cũng phần nào phản ánh được tình cảm chân thành của con
người. Chính vì vậy nội dung của các tác phẩm ngâm khúc không hề
già cỗi với thời gian.
15
Chương 3
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÂM KHÚC VIỆT NAM
TRÊN PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT
Từ trước đến nay khi đánh giá sự thành công của một tác
phẩm hay một thể loại văn học người ta không chỉ chú ý đến nội
dung mà còn quan tâm cả đến những phương thức nghệ thuật được sử
dụng bởi lẽ văn học bao giờ cũng là sự gắn bó mật thiết giữa nội
dung và hình thức. Một cảm hứng khi bắt gặp một nội hình thức phù
hợp đã cho ra những áng văn giá trị. Điều này cũng cho thấy được tài
năng nghệ thuật của các tác giả.
3.1. Thể song thất lục bát và ngâm khúc
Thể thơ song thất lục bát là một trong những sáng tạo đáng
tự hào của văn học trung đại nói riêng và của nền văn học Việt Nam
nói chung. Từ bước chập chững, "ngập ngừng" dần dần đi đến ổn
định và trở thành một thể thơ cách luật, từ lúc chỉ được dùng để ngâm
nga, ca tụng đến khi trở thành một phương thức của thể loại ngâm
khúc Việt Nam thời trung đại hữu hiệu để diễn tả sâu sắc, tinh tế thế
giới nội tâm của con người.
3.1.1. Cách gieo vần trong thể thơ song thất lục bát ngâm khúc
Trong thơ ca vần là một yếu tố quan trọng. Ngoài khả năng
gắn kết các câu thơ, vần cịn có khả năng kết nối với nhau để tạo
thành một dòng chảy ngữ âm chuyển tải nôi dung bài thơ vào tâm trí
người đọc.
Vần và cách gieo vần trong song thất lục bát là rất phong
phú. Câu thơ vừa có vần bằng lại vừa có vần trắc đan xen lẫn nhau
tạo nên sự chuyển biến nhịp nhàng.
Đây là điều thuận lợi cho các nhà văn trong q trình đi sâu
vào phân tích diễn biến tâm lí của các nhân vật trong tác phẩm. Sự
linh hoạt trong cách gieo vần góp phần quan trọng thể hiện những
cung bậc cảm xúc khác nhau của nhân vật.
16
3.1.2. Cách ngắt nhịp trong thể thơ song thất lục bát ngâm khúc
Nếu như câu thơ thất ngôn của Trung Hoa có lối ngắt nhịp
phổ biến là chẵn trước lẻ sau (4/3 hoặc 2/2/3) thì câu thất của song
thất lục bát có lối ngắt nhịp ngược lại 3/4 hoặc 3/2/2 hoặc 1/2/2/2 bởi
lẽ ta có thể ngắt ba chữ đầu của câu thơ thành 1/2, bốn chữ sau thành
2/2. Nhưng phổ biến thì ta thấy hai câu thất được ngắt thành nhịp 3/4.
Có nghĩa là cách ngắt nhịp lẻ trước chẵn sau.
Chính sự linh hoạt này tạo nên sự phù hợp trong việc thể
hiện tâm trạng nhân vật. Đồng thời chính sự linh hoạt trong nhịp điệu
thơ của thể thơ song thất lục bát tạo thuận lợi cho diễn xướng, ngâm
nga các tác phẩm ngâm khúc.
3.1.3. Luật phối thanh của thể thơ song thất lục bát ngâm khúc
Trong thể thơ song thất lục bát ngâm khúc ta thấy luật phối
thanh rất linh hoạt. Các chữ ở vị trí thứ nhất, thứ hai, thứ tư và thứ
sáu của các câu là những chữ tự do về thanh điệu. Còn các chữ thứ
ba, thứ năm và thứ bảy thì được quy định chặt chẽ về thanh điệu.
Trong đó, các chữ thứ năm và thứ bảy của hai câu thất đối nhau từng
đôi một theo đúng luật bằng - trắc, riêng chữ thứ ba khơng bảo đảm
tính chất ấy. Có trường hợp chữ thứ ba của câu thất trên là thanh
bằng chứ không phải là thanh trắc (vần có thể gieo ở vị trí này). Hai
câu lục bát thì ngược với hai câu thất các chữ thứ nhất, thứ ba, thứ
năm và thứ bảy tự do về thanh điệu còn các chữ thứ hai, thứ tư và thứ
sáu được quy định chặt chẽ về thanh điệu.
Luật phối thanh trong thơ song thất lục bát rất tự do, uyển
chuyển. Sự thay đổi thanh điệu này là cần thiết và phù hợp với thể
loại ngâm khúc Việt Nam thời trung đại. Vần trắc với tính chất
"khơng bằng phẳng" thích hợp với việc diễn tả những cung bậc tình
cảm sâu kín, nhất là tâm trạng đau đớn, bi thương của con người.
Vần bằng tạo cảm giác nhẹ nhàng, mềm mại cho bài thơ, phù hợp để
tạo âm hưởng buồn lặng lẽ, lắng đọng, xa vắng và buồn man mác...
17
3.2. Các thủ pháp từ chương
3.2.1. Nghệ thuật tập cổ
Tập cổ là một đặc trưng nghệ thuật và cũng là một nguyên lý
sáng tác phổ biến trong văn học trung đại của ta nói chung và trong
các tác phẩm ngâm khúc nói riêng. Trong q trình sáng tác, các nhà
thơ đã mượn những thi liệu có sẵn từ trong thơ ca cổ, những nhà thơ
lớn của văn học Trung Quốc như Lí Bạch, Bạch Cư Dị, Thơi Hiệu,
Đỗ Phủ... Mặc dù có tập cổ nhưng các tác phẩm ngâm khúc Việt
Nam thời trung đại căn bản vẫn là sự sáng tạo. Sáng tạo là sử dụng
đúng lúc, đúng chỗ tập cổ. Mặt khác, các tác giả còn cải biên những
tài liệu vay mượn cho phù hợp với thực tế Việt Nam. Do đó, dù tên
đất, tên người, cảnh vật được lấy trong sử sách Trung Quốc nhưng
đọc các tác phẩm ai cũng nhận thấy đó là khúc ngâm của Việt Nam,
viết về con người Việt Nam.
3.2.2. Bút pháp tượng trưng ước lệ
Bên cạnh yếu tố tập cổ, bút pháp tượng trưng ước lệ cũng là
một đặc điểm không thể không nhắc đến trong đặc trưng nghệ thuật
của văn học trung đại.
Trong văn học trung đại nói chung, ngâm khúc nói riêng các
chi tiết không nên chỉ hiểu theo ý nghĩa xác thực của nó mà cần phải
được xem xét trong tính chất ước lệ, tượng trưng thơng qua hệ thống
từ ngữ, hình ảnh đã có quy ước sẵn. Tuy nhiên cũng cần nhấn mạnh
rằng việc sử dụng tính ước lệ trong các tác phẩm ngâm khúc các tác
giả cũng mang tính sáng tạo rất lớn. Điều này thể hiện tài năng và
tấm lòng của các tác giả trong việc thể hiện ý thức dân tộc, xây dựng
nền văn chương nước nhà.
3.2.3. Nghệ thuật trùng điệp
Trong ngâm khúc Việt Nam thời trung đại để tạo hiệu quả
trong việc miêu tả tâm trạng nhân vật, các tác giả đã sử dụng khá
thành công thủ pháp trùng điệp (điệp). Điệp từ, điệp ngữ đựơc sử
18
dụng rất phổ biến và linh hoạt trong các tác phẩm ngâm khúc Việt
Nam thời trung đại. Khi thì điệp trong cùng một câu. Khi thì điệp ở
hai câu liền kề. Khi là lối điệp từ liên hoàn nhằm nhấn mạnh. Khi lại
điệp theo lối gián cách... Bên cạnh phép điệp từ ngữ, nghệ thuật điệp
khổ cũng được các tác giả sử dụng khá nhiều trong các tác phẩm.
Các yếu tố trùng điệp này góp phần tạo sự liên kết chặt chẽ
giữa các dòng thơ, khổ thơ và đoạn thơ trong tác phẩm. Do đó dịng
tâm trạng của nhân vật trữ tình khơng bị gói gọn trong một khổ thơ
mà dàn trải, kéo dài trong toàn tác phẩm. Nhờ lối điệp khổ như vậy mà
người đọc cảm nhận được rõ những nỗi niềm trăn trở cứ trằn đi, trằn lại
trong tâm hồn các nhân vật. Tiếng thảng thốt bởi nỗi đau khổ cứ bất ngờ
ập xuống họ vì thế càng thêm thê thảm.
3.3. Giọng điệu ngâm khúc
Từ xưa, các nhà lý luận phương Đông đã từng nhắc đến
giọng điệu và phong cách nhà văn qua các khái niệm gần gũi như hơi
văn, khí văn, tình điệu… Trần Đình Sử cũng cho rằng giọng điệu là:
sự biểu thị lập trường tư tưởng, cảm xúc chủ thể, là nguyên tắc lí giải
và chiếm lĩnh hiện thực.
Trong luận văn này chúng tôi cố gắng nhận ra những giọng
điệu nghệ thuật thường xuất hiện trong các tác phẩm ngâm khúc Việt
Nam thời trung đại, từ đó tìm hiểu tác dụng của giọng văn trong việc
cấu thành tác phẩm, thái độ của tác giả đối với xã hội đương thời, giá
trị của tác phẩm trong giai đoạn văn học trung đại nói riêng, nền văn
Việt Nam nói chung.
3.3.1. Giọng buồn sầu, chua xót
Như chúng tơi đã đề cập đến từ đầu, nội dung cảm hứng của
các tác phẩm ngâm khúc Việt Nam thời trung đại là phản ánh bi kịch
tinh thần của những con người nhỏ bé trong xã hội. Vì vậy chúng tơi
cho rằng giọng buồn sầu, cảm thương là chất giọng chủ đạo trong các
tác phẩm. Đầu tiên có thể nhận thấy chất giọng này được biểu hiện
19
ngay bên ngồi thơng qua một loạt tính từ thể hiện tâm trang như:
nhớ, mong, thương, xót, buồn, rầu, sầu, thảm xuất hiện một cách hệ
thống trong các tác phẩm. Bên cạnh hệ thống những từ ngữ biểu hiện
trực tiếp tâm trạng của nhân vật, chất giọng này còn được biểu hiện
qua hệ thống câu cảm thán, câu mỉa.
Khơi nguồn cho chất giọng buồn sầu cảm thương trong các
tác phẩm ngâm khúc là do mối hoài cảm vốn dồn nén, tích tụ, chất
chứa sâu trong lịng tác giả. Do vậy, giọng buồn sầu, chua xót trong
ngâm khúc là tiếng lịng trào dâng của nhà văn trước những cảnh
huống của hiện thực đời sống.
3.3.2. Giọng tự vấn, nghiệm suy (triết luận)
Một điều mà người đọc khi tiếp cận với các tác phẩm ngâm
khúc đều khơng dưới một lần bắt gặp đó chính là những câu hỏi được
đặt ra hàng loạt. Mỗi câu hỏi như là lời tự vấn bản thân của nhân vật,
vừa như là lời chất vấn đối với người đọc, người nghe, chất vấn cả xã
hội, cả cuộc đời.
Không phân tích, phát biểu về những điều quy mơ, tác giả
các khúc ngâm để nhân vật của mình suy tư, chiêm nghiệm, nhận
định về những điều bình thường diễn ra trong thực tế, gắn với hiện
thực cuộc sống, số phận con người. Những nghiệm suy ấy tuy chưa
thực sự sắc sảo nhưng đó là những chiêm nghiệm đầy trầm tư, suy
tưởng không kém phần xác đáng, sâu sắc được "chắt" ra từ những trải
nghiệm của những kiếp người khác nhau trong xã hội bấy giờ. Đó
chính là những điều rất đáng được trân trọng.
3.4. Nghệ thuật sử dụng ngôn từ
Ngôn từ là một trong những yếu tố góp phần khơng nhỏ
trong việc tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm văn chương, nhất là đối với
tác phẩm trữ tình. Việc lựa chọn từ ngữ nh thế nào phụ thuộc vào tài
năng, sự hiểu biết của nhà thơ và thể loại văn học được lựa chọn.
20
Qua việc tìm hiểu các tác phẩm ngâm khúc, chúng tơi nhận thấy
yếu tố ngơn từ nghệ thuật có những đặc trưng riêng so với các thể loại
văn học trung đại khác.
3.4.1. Sử dụng khẩu ngữ
Trong các tác phẩm ngâm khúc các nhà thơ sử dụng một số
lượng lớn các từ ngữ thông tục trong đời sống hàng ngày như: đứa,
thằng cháu, trêu, tưởng, xui, cũng khá, mừng trộm...và các ngữ tự do
như:, ví chẳng thể, rày hẳn bảo, gái trai chi, dầu có biết chăng... Tất
cả điều đó làm cho khúc ngâm trở nên gần gũi, dễ hiểu bởi nó gần
với lời ăn, tiếng nói của nhân dân ta.
Cùng với hệ thống điển tích, điển cố Hán Việt, thi liệu cổ,...
hệ thống khẩu ngữ trong các tác phẩm đã góp phần khơng nhỏ trong
việc tạo nên những thành cơng nghệ thuật cho ngâm khúc Việt Nam
thời trung đại. Việc kết hợp hài hồ hai hệ thỗng ngơn ngữ bác học
và bình dân đã tạo cho khúc ngâm phong vị vừa trang trọng, cổ điển
vừa gần gũi, giản dị. Chính điều này đã góp tạo nên sức hấp dẫn độc
đáo riêng cho thể loại ngâm khúc.
3.4.2.Việc sử dụng hệ thống từ láy
Trong ngâm khúc Việt Nam thời trung đại người đọc cũng dễ
dàng nhận thấy các tác giả sử dụng khá nhiều từ láy với các kiểu kết
hợp khác nhau, khi là lớp từ láy hoàn toàn, khi lại là láy phụ âm đầu,
láy vần.
Việc sử dụng sáng tạo từ láy có vai trị quan trọng của từ láy
trong việc diễn tả tâm trạng của nhân vật. Có khi sự với xuất hiện của
từ láy làm cho tâm trạng của nhân vật trữ tình được cụ thể hố. Có
khi làm cho nỗi buồn đau nh- dài thêm đến vô tận...
* Tiểu kết:
Trong chương này với mong muốn phác thảo đặc điểm của
hệ thống thi pháp thể loại ngâm khúc Việt Nam thời trung đại chúng
tôi đặc biệt quan tâm đến các đặc điểm: Thể thơ song thất lục bát,
21
việc sử dụng sáng tạo một số thủ pháp nghệ thuật, giọng điệu, nghệ
thuật sử dụng từ ngữ. Ngoài những đặc điểm nghệ thuật của thể loại
ngâm khúc Việt Nam thời trung đại mà chúng tôi đề cập đến trong
luận văn, trong một số cơng trình khác các tác giả cịn đề cập đến một
số yếu tố khác như: Ngơ Văn Đức đề cập đến các đặc điểm: Kết cấu,
nhân vật trữ tình, khơng gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, lời
thơ...; Trần Minh Thương lại chú trọng đến yếu tố trữ tình, yếu tố tự
sự...
KẾT LUẬN
Mỗi tác phẩm nghệ thuật là cơng trình nghệ thuật mang cá
tính sáng tạo, gửi gắm những ký thác tâm sự riêng của nhà văn. Tuy
nhiên khi được xếp chung vào cùng một thể loại ít nhiều chúng cũng
có những đặc điểm chung nhất. Tìm hiểu đặc điểm ngâm khúc Việt
Nam thời trung đại thực chất là hành trình đi tìm những đặc điểm
chung nhất của thể loại thông qua những tác phẩm cụ thể. Đây chính
là cơ sở giúp độc giả có được cái nhìn bao quát nhất và tiếp cận tác
phẩm theo đúng giá trị thể loại, tránh sự ngộ nhận, võ đốn. Từ đây
cách định vị đối tượng tìm hiểu cũng rõ ràng và cụ thể hơn. Qua ba
chương của luận văn chúng tôi rút ra được một số kết luận như sau:
Thứ nhất về cách định vị, gọi tên thể loại ngâm khúc Việt
Nam thời trung đại, có thể nhận thấy rằng: số phận của thể loại thơ
trữ tình ngâm khúc cũng giống như số phận của bất cứ một thể loại
văn học nào. Nó hình thành, tồn tại, phát triển và tàn lụi trong những
điều kiện lịch sử văn hóa, xã hội nhất định. Ấy là cuộc khủng hoảng
trầm trọng trong cơ cấu xã hội phong kiến Việt Nam và ý thức hệ của
nó vào thế kỷ XVIII, là sự phát triển mạnh mẽ của trào lưu nhân đạo
chủ nghĩa. Tất cả những ảnh hưởng đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư
tưởng tâm hồn con người. Và thế là người ta tìm đến một thể loại mới
22
- thơ trữ tình ngâm khúc để giãi bày những tâm trạng của mình. Đến
cuối thế kỷ XIX, khi hồn cảnh xã hội thay đổi, tâm lí thời đại thay
đổi thể loại ngâm khúc phải nhường lại vị trí của mình cho thể loại
văn học khác có khả năng đáp ứng được nhu cầu bức thiết của thời
đại. Đến đây coi như ngâm khúc đã hoàn thành được sứ mạng văn
học của mình. Dõi theo quá trình từ khi ra đời, tồn tại, phát triển cực
thịnh rồi chấm dứt có thể gọi tên ngâm khúc Việt Nam thời trung đại
như sau: Ngâm khúc là một thể loại văn học dân tộc. Đó là những bài
thơ trữ tình trường thiên có thể ca, ngâm, than, vãn... được viết theo
thể song thất lục bát, nhằm phản ánh bi kịch tinh thần của con người
trong xã hội đã có ý thức về quyền sống và hạnh phúc trong một giai
đoạn lịch sử nhất định.
Thứ hai về đặc điểm nội dung, với mỗi số phận nhân vật
trong những hoàn cảnh khác nhau được phản ánh trong tác phẩm
ngâm khúc, người đọc nhận ra được bức tranh hiện thực xã hội tương
đối đa diện với những trạng huống khác nhau của con người. Qua
đây ngòi bút nhân đạo chủ nghĩa của các nhà thơ cũng được bộc lộ
một cách khá rõ nét. Bằng sự trải nghiệm của các nhà thơ trong suốt
quãng đời dài trên những đề tài cụ thể, những con người cụ thể các
tác giả đã cho người đọc nhận ra được bản chất của xã hội, của đời
sống. Và ngâm khúc Việt Nam thời trung đại là cách các nhà thơ
mượn đển nói lên "những điều trơng thấy mà đau đớn lịng" của thời
đại lúc bấy giờ. Cùng với đó các tác phẩm ngâm khúc cũng phản ánh
sự rạn nứt, đổ vỡ nghiêm trọng của ý thức hệ phong kiến Nho giáo
đương thời. Con người thời đại đã trở nên hoài nghi những giá trị quy
chuẩn trước đó. Tư tưởng cá nhân trong thời kỳ này cũng trỗi dậy
mạnh mẽ. Con người có ý thức về quyền sống, quyền được yêu
thương, tự do, hạnh phúc... Nhưng cuối cùng những khát vọng, ước
mơ chính đáng đó khơng được đáp đền. Con người thời đại vẫn phải
chịu những tấn bi kịch khác nhau trong mọi hoàn cảnh của cuộc
23
sống. Đây cũng chính là cảm thức thời đại trong ngâm khúc Việt
Nam thời trung đại. Vì vậy, tìm đến với ngâm khúc, người ta có thể
quên văn mà vẫn nhớ chuyện đời.
Thứ ba về đặc điểm nghệ thuật, là một thể loại văn chương
cổ ngâm khúc Việt Nam thời trung đại chịu ảnh hưởng không nhỏ
của hệ thống thi pháp mang tính chất quy phạm của văn chương
trung đại. Tuy nhiên nó cũng có những đặc trưng riêng tạo nên dấu
ấn thế loại. Điều đầu tiên cần khẳng định rằng ngâm khúc đã chọn
được một hình thức thơ phù hợp để bộc lộ các chức năng nội dung
của thể loại đó là thể thơ song thất lục bát. Đây là sự lựa chọn có chủ
ý cho một nhu cầu biểu đạt mới của các tác giả ngâm khúc. Thể thơ
song thất lục bát với những ưu thế của mình hồn tồn có khả năng
diễn đạt những tâm sự thầm kín, thể hiện những cung bậc cảm xúc
trong tâm hồn con người. Một cảm hứng mới bắt gặp một hình thức
biểu hiện phù hợp đã tạo nên những áng thơ trữ tình bất hủ. Và cũng
qua hàng loạt khúc ngâm, song thất lục bát khơng chỉ hồn thành “sứ
mệnh” mà thời đại trao cho mà còn tự khẳng định và vinh danh, làm
rạng rỡ một thể thơ dân tộc. Bên cạnh việc lựa chọn thể thơ đắc dụng,
các tác giả ngâm khúc còn vận dụng sáng tạo nghệ thuật văn chương
trung đại như nghệ thuật tập cổ, tượng trưng ước lệ, nghệ thuật trùng
điệp, việc kết hợp thành công hệ thống ngơn ngữ bác học và bình
dân... Những đặc điểm nghệ thuật trên đã góp phần quan trọng thể
hiện tâm trạng của các nhân vật. Đồng thời nó cũng góp phần khẳng
định khả năng sáng tạo của các tác giả. Ngồi ra ngâm khúc Việt
Nam trung đại cịn mang giọng điệu riêng, cách sử dụng từ ngữ riêng
khó lẫn so với các thể loại văn học trung đại khác.
Đi vào tìm hiểu, nghiên cứu các thể loại ngâm khúc Việt
Nam thời trung đại là vấn đề khó. Chúng tơi đã cố gắng khảo sát, tìm
hiểu, xác định đặc điểm nội dung và nghệ thuật của thể loại qua một
số tác phẩm tiêu biểu. Nhưng những cố gắng trên đây của chúng tôi
24
mới chỉ là bước đầu. Việc nghiên cứu ngâm khúc Việt Nam thời
trung đại đòi hỏi tâm lực của nhiều nhà nghiên cứu. Chúng tôi hy
vọng tiếp tục đề tài này, góp phần nghiên cứu nó ở một cấp độ cao
hơn.