Tải bản đầy đủ (.pdf) (26 trang)

ĐẶC ĐIỂM HỒI KÝ NĂM THÁNG NHỌC NHẰN NĂM THÁNG NHỚ THƯƠNG CỦA MA VĂN KHÁNG 10600892

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (245.8 KB, 26 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

THIỀU THỊ THẮM

ĐẶC ĐIỂM HỒI KÝ NĂM THÁNG NHỌC NHẰN
NĂM THÁNG NHỚ THƯƠNG CỦA MA VĂN KHÁNG

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số

: 60.22.34

TÓM TẮT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đà Nẵng - Năm 2013


Cơng trình được hồn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

Người hướng dẫn khoa học : TS. PHAN NGỌC THU

Phản biện 1: TS. Ngô Minh Hiền
Phản biện 2: TS. Bùi Thanh Truyền

Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp Thạc sĩ Khoa học xã hội và Nhân văn họp tại Đại học Đà
Nẵng vào ngày 15 tháng 12 năm 2013


Có thể tìm hiểu luận văn tại :
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hồi ký là thể loại khá quen thuộc và hấp dẫn bởi lẽ bất kể ai
cũng có thể hồi tưởng ghi chép lại những hình ảnh của cuộc sống mà
mình đã trải qua hoặc đã từng chứng kiến và để lại kỷ niệm khó qn
trong cuộc đời mình. Nhưng khơng phải ai cũng viết thành công hồi
ký, và cuốn hồi ký nào ra đời cũng đón nhận được tình cảm của
người đọc. Một tác phẩm ký nghệ thuật phải thực sự mang được
những giá trị nhân văn và thẩm mỹ nhất định. Ở nước ta do những
điều kiện của lịch sử, phải đến những thập niên đầu thế kỷ XX, hồi
ký mới ra đời cùng với tiến trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc.
Nhà văn Ma Văn Kháng từng có nhiều thành công nổi bật với
các tác phẩm truyện ngắn và tiểu thuyết, đã được nhận nhiều giải thưởng
của Hội Nhà văn Việt Nam, của ASEAN năm 1998. Và gần đây, năm
2012, ông đã vinh dự được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh
- giải thưởng cao quý nhất về văn học và nghệ thuật của nước ta. Sau
hành trình sáng tác hơn nửa thế kỷ, bước vào tuổi bảy mươi, đáp ứng sự
chờ đợi của bạn đọc ông đã cho ra đời hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm
tháng nhớ thương, đầy ắp chất liệu hiện thực đời sống - lịch sử - xã hội,
và giàu giá trị thẩm mỹ. Vì thế, việc đi sâu phát hiện những đặc điểm nổi
bật của hồi ký Ma Văn Kháng không chỉ giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc
hơn về cuộc đời lao động nghệ thuật của một tác gia, mà qua đó cịn có
thể thấy được phần nào cả tiến trình vận động và phát triển của nền văn
xuôi hiện đại nước ta từ nửa sau thế kỷ XX cho đến khi bước vào công

cuộc đổi mới hội nhập.
Mặt khác, Ma Văn Kháng cịn là một trong những tác gia có
tác phẩm được chọn đưa vào chương trình dạy học bộ mơn Văn ở
nhà trường phổ thơng các cấp. Do đó, đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu đặc


2
điểm hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương của Ma
Văn Kháng cũng là một việc làm cần thiết, góp phần cung cấp thêm
nguồn tài liệu tham khảo bổ ích, thiết thực cho việc dạy học văn
trong nhà trường.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Những cơng trình, bài viết liên quan gián tiếp đến đề tài
Trong thời gian qua tìm hiểu về Ma Văn Kháng và hành trình
sáng tác của ơng có các bài viết, cơng trình: Ma Văn Kháng - tiểu
thuyết tập 1” của PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện (2003), luận văn thạc
sĩ Cảm hứng bi kịch nhân văn trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng của
Bùi Lan Hương (2004), Giọng điệu nghệ thuật trong tiểu thuyết thời
kì đổi mới của Ma Văn Kháng của Mai Thị Nhung (2008), Một số
vấn đề về tiểu thuyết Việt Nam trong thời kì đầu đổi mới của Phan Cự
Đệ, Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 từ chuyển mình đến thành tựu tác
giả Bùi Như Hải (2009). Ở những bài viết này, các tác giả đi tìm
giọng điệu của Ma văn Kháng trong văn học thời kì đổi mới, từ đó
khẳng định đóng góp và tài năng của ông trong văn học Việt Nam,
đặc biệt là nền văn học đổi mới.
Năm 2011, Hà Linh trong bài viết Nhà văn Ma Văn Kháng:
sống còn để mang thương tích đã nhận xét Ma Văn Kháng là nhà văn
mải miết đi tìm chất thơ của đời sống và cố gắng chuyển nó vào
trong tác phẩm bằng một lối văn giàu nhịp điệu.
Trong năm 2012, Lưu Khánh Thơ đăng bài Ma Văn Kháng –

“kẻ khuấy động” văn đàn; Bình Ngun Trang có bài Nhà văn Ma
Văn Kháng: nửa thế kỷ một mình một ngựa, Xuân Tùng với bài
Người giật giải cây bút vàng. Các tác giả đều đưa ra nhận định: Ma
Văn Kháng vô cùng sung sức ở những đề tài đương đại, không ngừng


3
tìm kiếm những giá trị vĩnh cửu của đời sống, luôn đề cao cái mới,
cái nhân bản làm người.
2.2. Một số bài nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến hồi ký
Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương
Trong năm 2009 xuất hiện nhiều bài nghiên cứu về hồi ký Năm
tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương như: Ma Văn Kháng con
đường hồi ức của Hồ Anh Thái; Ma Văn Kháng và hồi ký tự truyện
mới của PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện; Ma Văn Kháng với hồi ký
“Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương” của Bùi Bình Thi;
Đọc hồi ký Ma Văn Kháng thấy bóng văn nhân của Đinh Hương
Bình và Văn trong hồi ký và hồi ký của một nhà văn của Thi Thi,...
Các tác giả của các bài viết đều cho rằng đây là cuốn sách đầy đủ
trong đó một cuộc đời nhiều nếm trải, phản ánh bức tranh đời sống xã
hội trải dài trong non một thế kỷ với hình thức thể hiện vừa như tâm
sự vừa như kể chuyện. Nhìn chung, các bài viết ấy đều thống nhất ở
thái độ khen ngợi tác phẩm, họ đánh giá cao về chất hiện thực và chất
văn chương của tác phẩm.
Năm 2010 có hai cơng trình nghiên cứu Thể hồi ký tự truyện
trong hồi ký Ma Văn Kháng và Đặng Thị Hạnh của Lê Thị Kim Liên
và Hình tượng tác giả trong hồi ký tự truyện của Tơ Hồi, Nguyễn
Khải, Ma Văn Kháng của Nguyễn Thị Kim Nguyên. Cả hai cuốn đều
khảo sát tác phẩm và chỉ ra rằng đây là cuốn hồi ký - tự truyện đặc
sắc của Ma Văn Kháng.

Có thể nói tìm hiểu về hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm tháng
nhớ thương của Ma Văn Kháng hầu hết chỉ mới dừng lại ở các bài
điểm sách trên tạp chí, trang web chứ chưa có những cơng trình đi
sâu nghiên cứu một cách sâu sắc và hệ thống về đối tượng. Ở luận
văn này, chúng tôi bước đầu nhận diện về tư tưởng và nghệ thuật của


4
tác phẩm để thấy thêm được những đóng góp của nhà văn ở thể tài
này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi sâu làm nổi bật đặc điểm hồi ký của Ma Văn
Kháng trên hai bình diện nội dung và nghệ thuật.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương, Nhà
xuất bản Hội Nhà văn, 2011.
Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu, chúng tơi tham khảo các
tác phẩm khác của Ma Văn Kháng và hồi ký của các tác giả khác để
có thêm cơ sở nhận diện những nét nổi bật trong hồi ký Ma Văn
Kháng.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phương pháp chủ yếu sau: Phương
pháp lịch sử, Phương pháp so sánh, Phương pháp phân tích, tổng
hợp, Phương pháp tiếp cận hệ thống.
5. Đóng góp của luận văn
- Tìm hiểu đặc điểm hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm tháng
nhớ thương của Ma Văn Kháng sẽ giúp người đọc thấy thêm những
đóng góp cũng như vị trí của nhà văn trong nền văn học Việt Nam
hiện đại.

- Luận văn có thể là tư liệu giúp cho việc học tập, giảng dạy và
nghiên cứu của học sinh, sinh viên trong nhà trường.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm có ba chương:


5
Chương 1: Vài nét về thể hồi ký và sự ra đời của hồi ký Năm
tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương
Chương 2: Thế giới hiện thực trong hồi ký Năm tháng nhọc
nhằn năm tháng nhớ thương của Ma Văn Kháng
Chương 3: Phương thức nghệ thuật thể hiện trong hồi ký Năm
tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương của Ma Văn Kháng


6
CHƯƠNG 1
VỀ THỂ HỒI KÝ VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA HỒI KÝ
NĂM THÁNG NHỌC NHẰN, NĂM THÁNG NHỚ THƯƠNG
1.1. VÀI NÉT VỀ THỂ HỒI KÝ
Hồi ký là một thể văn xi tự sự thuộc loại hình ký. Những
năm gần đây, nó trở thành thể loại thu hút được sự quan tâm của
nhiều người và có vị trí quan trọng trong đời sống văn học nói chung
và đời sống văn học ở Việt Nam nói riêng. Hồi ký ra đời trên cơ sở
một hoàn cảnh lịch sử xã hội nhất định, văn nghệ sĩ trở thành một
tầng lớp có vai trị trong xã hội. Chính họ vừa là chủ thể và cũng là
một trong những đối tượng thẩm mỹ của tác phẩm.
Tuy nhiên cũng cần phân biệt hồi ký và tự truyện. Đây là hai
khái niệm rất gần nhau nhưng không hồn tồn trùng khít. Cả hồi ký

và tự truyện đều lấy chất liệu từ thế giới hiện thực hồi ức nhưng hồi
ký có thể thuật lại sự việc khách quan đã qua, cịn tự truyện, nói như
Nguyễn Khải “là tiểu thuyết đi tìm cái tơi đã mất”, do tác giả tự viết
về cuộc đời mình.
Ở phương Tây, hồi ký vốn xuất hiện rất sớm. Nhưng ở nước ta,
phải đến khi văn hóa phương Đơng thực sự tiếp thu và sáp nhập với
văn hóa phương Tây, hồi ký mới ra đời cùng với tiến trình hiện đại
hóa nền văn học dân tộc, bắt đầu từ thế kỷ XX. Trong giai đoạn
1930-1945, Những ngày thơ ấu (Ngun Hồng), Cỏ dại (Tơ Hồi) là
những tập hồi ký - tự truyện đầu tiên đã xuất hiện trong nền văn xuôi
hiện đại nước ta. Nhưng từ năm 1945 đến 1975 một số tác phẩm hồi
ký để lại ấn tượng đáng ghi nhận. Bốn mươi năm nói láo (Vũ Bằng,),
Bước đường viết văn (Nguyên Hồng), Đời viết văn của tơi (Nguyễn
cơng Hoan), Tự truyện (Tơ Hồi), Ta đã làm chi cho đời ta (Vũ
Hoàng Chương).


7
Sau 1975, chiến tranh khép lại, cuộc sống trở lại đời thường, nhà
văn có điều kiện nhìn lại cuộc đời mình và sự việc những ngày đã qua của
hồn cảnh lịch sử xã hội, đất nước và nhất là từ ngày công cuộc đổi mới
được phát động, lần lượt nhiều hồi ký của các nhà văn như: Tơ Hồi,
Đặng Thai Mai, Lưu Trong Lư, Huy Cận, Anh Thơ,... Chính sự xuất hiện
nhiều tác phẩm hồi ký của các nhà văn trên văn đàn những năm cuối thập
niên 80 của thế kỷ XX đã tạo nên một mảng sinh động của đời sống văn
học mà có thể nói rằng, trước đó chưa có.
Có thể thấy, giá trị của một tập hồi ký vượt lên cả nhu cầu tự
nói về mình và sự hấp dẫn nghệ thuật là vẻ đẹp nhân cách của người
cầm bút. Bởi “hồi ký là một bức tranh về một thời đại, bên cạnh câu
chuyện của mình, tác giả đi tìm hiểu những mảnh đời khác” và “trong

khi đi tìm hiểu cái tơi, tác giả viết tặng ta một tác phẩm văn học”.
1.2. MA VĂN KHÁNG VÀ SỰ RA ĐỜI HỒI KÝ NĂM THÁNG
NHỌC NHẰN NĂM THÁNG NHỚ THƯƠNG
1.2.1. Con đường từ một nhà giáo đến nhà văn
Ma Văn Kháng sinh ra trong một gia đình tiểu tư sản, bn bán
nhỏ nên ơng được quan tâm chăm sóc, học hành tử tế. Lớn lên, Ma
Văn Kháng lại sớm gặp được ánh sáng cách mạng. Thế nên hành
trình tư tưởng của ông khá thuận chiều.
Sau bốn năm ở nước bạn trở về, ơng lại “ngược dịng nước lũ”
xung phong đi thẳng lên miền Tây Bắc xa xôi và chọn mảnh đất Lào
Cai để dạy học, với ý nguyện góp phần đem ánh sáng đến cho đồng
bào các dân tộc ít người. Hơn hai mươi năm làm nghề dạy học ở
miền núi, chính sự trải nghiệm từ trong cuộc đời nhà giáo ở miền đất
vùng cao này đã dồn nén vốn sống và năng lượng cảm xúc để ông trở
thành nhà văn.


8
Sau ngày đất nước thống nhất 1976, Ma Văn Kháng chuyển về Hà
Nội cơng tác, có dịp tiếp xúc giao lưu với đồng nghiệp, được đến thêm với
nhiều miền quê, được chứng kiến hiện thực ngổn ngang, xô bồ, hỗn tạp
với cả hai mặt trong sự giằng co, tranh chấp tích cực và tiêu cực để vươn
lên với thời cuộc mới. Trong suốt cuộc đời mình đã trải, dù phải hoặc
được phân công đảm trách nhiều công việc nhưng Ma Văn Kháng vẫn
không nguôi niềm say mê “nặng nợ với văn chương”.
Hành trình đời sống và đời văn của Ma Văn Kháng có hai
chặng lớn: hai mươi mốt năm ở Lào Cai và từ năm 1976 đến nay về ở
thủ đô Hà Nội, tương ứng với hai mảng đề tài lớn trong sáng tác của
ông: viết về cuộc sống và con người miền núi trong đấu tranh cách
mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội; viết về cuộc sống đô thị thời hậu

chiến với tất cả những tính chất bề bộn, phức tạp của nó.
Hơn nửa thế kỷ cầm bút, phụng sự cái Đẹp, lấy cái Đẹp làm lí
tưởng để theo đuổi, với rất nhiều “những nhọc nhằn và nhớ thương”
cùng sự lao động không ngừng nghỉ, Ma Văn Kháng đã để lại một sự
nghiệp văn học với hơn chục cuốn tiểu thuyết, khoảng 200 truyện
ngắn và một hồi ký. Nhà văn đã khẳng định được tên tuổi, tài năng
của mình bằng các giải thưởng văn học. Với ơng, viết văn trước tiên
là câu chuyện của tình yêu, của đam mê và tài năng, là dồn nén
những ưu tư cá nhân. Song viết văn còn là thái độ, trách nhiệm và
tình u của một cơng dân với đất nước và dân tộc mình.
Sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong thời kì
mới, đem đến cho nhà văn những nguồn cảm hứng mới và cả những
cách tân trong việc thể hiện tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm, cũng
như sự chuyển đổi hội nhập cả về thể tài, thể loại cùng với ngôn ngữ,
giọng điệu.


9
1.2.2. Về sự ra đời của hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm
tháng nhớ thương
Nhìn lại nửa thế kỷ lao động nghệ thuật trên con đường từ nhà
giáo đến nhà văn với những thành tựu mà Ma Văn Kháng đã đạt
được, khi nhà văn đã bước vào tuổi “xưa nay hiếm” người đọc càng
nhận ra rằng đó khơng chỉ là cái dun với nghề mà đó cịn là kết quả
của một quá trình lao động nghệ thuật bền bỉ, dẻo dai đầy tâm huyết.
Với Ma Văn Kháng, cuốn hồi ký khơng nằm trong dự định
sáng tác từ trước. Ơng đã tâm sự về lí do viết hồi ký vì “tiềm thức đã
ghi nhớ” và “kí ức chưa phai mờ”. Đó chỉ là một cuộc trị chuyện với
chính mình,... một cuộc độc thoại, hoặc giả mở rộng ra là cho người
thân trong gia đình và bạn bè thân thiết thơi.

Là nhà văn đọc nhiều, ham hiểu biết, Ma Văn Kháng đã vừa học
tập kinh nghiệm viết hồi ký của người đi trước, vừa mạnh dạn từ đổi mới
về quan niệm nghệ thuật, đến chủ động tạo ra bút pháp sáng tạo đem lại
một thế giới hồi ức giàu bản sắc, vừa truyền thống, vừa thời sự có sức thu
hút người đọc. Qua từng trang sách hiện lên rõ nét bức tranh của đời sống
xã hội trải dài non một thế kỉ với chân dung phong phú các loại người xuất
hiện trong mối quan hệ với tác giả hoặc trong sự quan sát chăm chú của
ơng theo góc nhìn của người viết văn.
Hồi ký Ma Văn Kháng còn là một nỗi niềm tự bạch của một
nhà văn luôn đau đáu với cuộc đời, tâm huyết với văn chương và bạn
bè nhưng qua đó vẫn thấy một khơng gian xã hội rộng lớn. Ông đã
lấy chính cuộc đời thăng trầm, đầy trải nghiệm của mình để xây dựng
cốt truyện hồn chỉnh, để “tiểu thuyết hóa” mà vẫn hấp dẫn, lơi cuốn
độc giả. Vì vậy, tác phẩm đã thực sự để lại dấu ấn góp phần khẳng
định thêm vị trí và đóng góp của sự nghiệp Ma Văn Kháng trong đời
sống văn học Việt Nam đương đại.


10
CHƯƠNG 2
THẾ GIỚI HIỆN THỰC TRONG HỒI KÝ
NĂM THÁNG NHỌC NHẰN NĂM THÁNG NHỚ THƯƠNG
CỦA MA VĂN KHÁNG
2.1. HIỆN THỰC HỒI ỨC VỀ NHỮNG “NĂM THÁNG NHỌC
NHẰN”
2.1.1. Nhọc nhằn trong hoàn cảnh chung của lịch sử đất
nước
So với giai đoạn trước, hầu hết những hồi ký viết sau 1986
hiện thực không chỉ được biểu hiện với xu hướng lãng mạn – sử thi
mà chủ yếu với khát vọng “nhìn thẳng vào sự thật” thế giới hồi ức

được nhớ lại như nó vốn có. Hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm tháng
nhớ thương của Ma Văn Kháng đã thuật lại hành trình một chặng
đường cuộc sống với biết bao chuyện đời, chuyện người mà thế hệ
mình đã được chứng kiến và nếm trải. Trong lớp lớp những câu
chuyện ấy là gương mặt đất nước một thời vừa gian khổ, nhưng cũng
đầy thương cảm, chia sẻ, yêu quý.
Hồi ký của Ma Văn Kháng đã cung cấp cho ta cái nhìn đa
chiều, khơng kém phần chân thực, sinh động về hiện trạng đất nước
những năm trước và trong thời kì đổi mới. Đó là cách nhìn nhận,
đánh giá con người theo định kiến giai cấp của một bộ phận cán bộ
lãnh đạo non kém về trình độ và ấu trĩ máy móc một thời đã đẩy bao
trí thức vào cuộc sống khốn cùng, nghèo khổ, gặp số phận khơng
may. Đó cịn là những năm tháng dài con người bị ám ảnh bởi miếng
cơm, manh áo.
Ngịi bút tâm tình của Ma Văn Kháng như nghẹn ngào, như
thắt lại trước cảnh đất nước những năm dài khổ cực, đau đớn. Song
Ma Văn Kháng không nhằm mục đích ơn nghèo, kể khổ mà cái chính


11
là gợi lại kỷ niệm khó quên của một thời để thấy được từng bước vận
động và phát triển của đời sống đất nước gắn với số phận con người
trong cái nhìn biện chứng.
2.1.2. Nhọc nhằn trong hồn cảnh riêng
Hồi ký văn học Việt Nam từ sau 1986 nói chung bao trùm
trong cảm hứng đời tư thế sự. Hồi ký của Ma Văn Kháng cũng khơng
nằm ngồi quy luật tự biểu hiện ấy. Vốn là người Hà Nội, từ tuổi
thanh xuân Ma Văn Kháng đã tự nguyện lên công tác và lập nghiệp
trên mảnh đất Lào Cai. Va chạm với thực tế nơi quê hương vùng cao
ấy, nhà văn đã ghi lại những gian truân, cực nhọc mà ông cùng gia

đình phải trải qua: đồng lương giáo viên ít ỏi; có lúc ơng bị căn bệnh
thấp khớp nặng, đi đứng khó nhọc; có lúc căn bệnh sốt rét tái phát
tưởng chừng như không qua khỏi.
Việt Nam từ nền kinh tế tập thể bao cấp chuyển sang nền kinh
tế thị trường đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Khơng khí thơng
thống, cởi mở hiện diện khắp mọi nơi. Song mặt trái của nền kinh tế
thị trường với sự chi phối mạnh mẽ của đồng tiền cũng đã làm nảy
sinh những bất cập mới. Những dấu ấn lịch sử thời đại đã tác động
không nhỏ đến đời sống cá nhân của mỗi con người trong đó có bản
thân và gia đình của nhà văn. Đó là sự vất vả vì miếng cơm manh áo,
chỗ ở, những lục đục trong quan hệ gia đình...
Điều đáng q là ở chỗ, nhà văn khơng phải kể lại để kêu ca,
mà cái chính như là nhớ lại những kỷ niệm của một thời gian khổ
không thể nào quên. Người đọc thấy được ở đây một nghị lực sống,
một ý chí vươn lên trong số phận nhà văn hòa đồng với số phận
chung của mọi người.
2.1.3. Nhọc nhằn trong lao động nghệ thuật của nhà văn và
đồng nghiệp


12
Theo từng trang hồi ký của Ma Văn Kháng, ta thấy song song
với dòng chảy lịch sử mà tác giả với tư cách là chứng nhân, lại cũng
là người trong cuộc, ông đã thấu hiểu những nỗi nhọc nhằn của người
sáng tạo văn chương bởi ngoại cảnh và bởi cả đặc thù của lao động
nghệ thuật. Ma Văn Kháng đã nhắc đến rất nhiều bạn bè cùng giới
văn nghệ sĩ và những câu chuyện trắc trở trong nghề nghiệp của cuộc
đời họ.
Có một thời đại mà khơng ít tác phẩm có giá trị, chỉ vì cái tội
dám nói sự thật mà phải “nằm im đắp chiếu”, không được xuất bản,

bị phàn nàn. Trong khi đó, có những cuốn sách viết kịp thời, tạm đọc
được, thể hiện một trình độ thẩm mĩ sơ giản, lồ lộ một ý đồ riêng tư
lại được cho rằng là “có con mắt”, “có tầm nhìn trung ương”. Sự cấm
đốn nặng nề ở thời kì này làm cho các nhà văn bị ám ảnh, bị thui
chột khả năng sáng tạo. Ngay trong Hội Nhà văn cũng đã nảy sinh
khơng ít vấn đề tiêu cực. Việc chạy giải thưởng, chạy chọt để được
kết nạp vào Hội ngày càng trở nên phổ biến. Việc kết nạp hội viên
vào Hội thì cũng phong thanh đây đó đủ thứ chuyện.
Hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương của Ma
Văn Kháng tái hiện những nhọc nhằn, những tai nạn mà chính nhà
văn gặp phải trên con đường lao động nghệ thuật. Đó là khi nhà văn
viết truyện ngắn Mùa cốm bị chê là sai đường lối chính sách; cuốn
sách viết về anh hùng Giàng Pao Là bị thu hồi; Đồng bạc trắng hoa
xòe được viết trong co ro, rét mướt thế mà hơn một năm trời mới có
liên lạc từ nhà xuất bản nhưng nhiều chỗ phải sửa chữa, phải cắt bỏ.
Đặc biệt cuốn Mưa mùa hạ đã gây xơn xao dư luận, có lệnh khơng
cho phát hành cuốn sách. Cuốn Mùa lá rụng trong vườn được Ma
Văn Kháng khi gửi đến nhà xuất bản buộc phải đổi tên gọi, phải cắt
bỏ những đoạn nói về các mặt tiêu cực của xã hội. Thậm chí có nhiều


13
cuộc bàn luận, hội thảo, trao đổi khá sôi nổi bàn bạc về các nhân vật
và nội dung tác phẩm. Ngay cả hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm
tháng nhớ thương cũng không được hiện diện với sự đầy đủ, hoàn
chỉnh như bản gốc lần đầu mà bị hụt đi dăm chục trang.
Từ những nỗi nhọc nhằn ấy, lần theo từng trang hồi ký, qua thế
giới hồi ức của nhà văn, người đọc không chỉ thấy được con đường
lao động nghệ thuật đầy gian khó của tác giả, mà cịn cảm nhận được
một cách sâu sắc cả một chặng đường hiện thực lịch sử sinh động của

đất nước và con người trong suốt cả thời kỳ từ giữa thế kỷ trước đến
lúc bước vào vận hội đổi mới.
2.2. HIỆN THỰC HỒI ỨC VỀ NHỮNG “NĂM THÁNG NHỚ
THƯƠNG”
2.2.1. Nhớ thương và gắn bó sâu nặng với những vùng quê
đã sống và đã đến
Hơn 500 trang hành trình một đời người, một đời văn được mở
đầu bằng buổi lễ Vu Lan với bao hồi tưởng quá vãng ấy đã rất dịu
dàng đưa người đọc trở về với những văn hóa truyền thống phong tục
mang nét riêng của vùng đất quê hương Kim Liên.
Hai mươi năm sống và làm việc, vùng đất Lào Cai đã gắn bó
máu thịt với nhà văn, trở thành quê hương thứ hai của ông và đã để
lại dấu ấn trong rất nhiều sáng tác của ơng. Chính ở vùng đất Lào Cai
biên viễn này, cái tên Ma Văn Kháng trở thành bút danh trong sáng
tác của. Cũng tại mảnh đất biên thùy xa xôi ấy ông đã gặp và kết
dun cùng bà Hồng Thu Phịng, “mối tình đầu ngọt ngào” suốt đời
của ông.
Rời mảnh đất Lào Cai, ông trở về Hà Nội công tác. Biết bao kỉ
niệm, bao tâm trạng khi trở về hòa nhịp trong cuộc sống, khơng khí
của phố phường. Qua những chuyến đi của tác giả, vẻ đẹp của thiên


14
nhiên đất nước – Huế, Đà Lạt, Nha Trang, những vùng đất phương
Nam hiện lên với muôn màu muôn sắc. Không những thế bằng đôi
mắt quan sát tinh tường, sự ghi chép tỉ mỉ, Ma Văn Kháng còn đưa
người đọc đến với vẻ đẹp của nhiều đất nước trên thế giới trong
những chuyến đi công tác: là Mông Cổ, Nhật Bản, là Liên Xô.
Dấu ấn của những vùng đất nơi ông đã đến và đã sống hiện lên
tươi rói qua từng trang hồi ký. Những “vùng miền ấm áp”, “những

khoảng trời xanh trong” đã được Ma Văn Kháng tâm huyết ghi lại,
gom nhặt, gìn giữ và trân trọng như những “hạt bụi vàng”
(Pauxtopxki).
2.2.2. Nhớ thương sâu nặng những người thân yêu trong
gia đình và những bạn văn
Ma Văn Kháng dù ở lứa tuổi nào và ở đâu, trong thời kì nào,
luôn là người nhập cuộc nhiều đau đời nhưng không yếm thế. Ở ông
sự yêu ghét rành rõ và luôn có ý thức cơng dân tích cực. Nhớ về
những ngày đã qua, ông vẫn gọi là những ngày nhớ thương.
Sau những trải nghiệm, những thăng trầm giữa cuộc đời ông
nhận ra sự gắn bó máu thịt với tổ tiên, ơng bà, cha mẹ và trở về với
cộng đồng gia tộc như một phương cách để chống lại sự mặc cảm, cô
đơn. Bởi vậy trong hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ
thương, ông đã dành khá nhiều trang viết về gia đình: về người mẹ,
người vợ hiền Hồng Thu Phịng; cơ con gái đầu lịng giàu ý chí,
nghị lực; cậu con trai tính tình ngay thẳng, chân thành và mạnh mẽ.
Đó là cơ con dâu ln cảm thơng và chia sẻ với gia đình chồng. Cùng
những đứa cháu nội ngoại ngoan ngoãn, khỏe mạnh.
Nổi bật trên những trang hồi ký cịn là hình ảnh của những
người đồng chí bạn bè đầy thương mến; những người thầy; hay
những văn nghệ sĩ mà ông đã gặp ở trường viết văn. Hơn thế, Ma


15
Văn Kháng còn được gặp gỡ với hầu hết các tên tuổi văn học lớn
đương thời đến những nhà văn từ miền Nam ra… Có những người
bạn, đồng nghiệp để lại ấn tượng sâu sắc, đã trở thành những nhân
vật trong sáng tác của nhà văn.
Trong cuộc đời mình, Ma Văn Kháng cảm thấy may mắn khi
có những người bạn tốt. Họ ở bên nhau chia sẻ, giãi bày những niềm

vui nỗi buồn của cuộc sống. Tình bạn của họ còn vượt lên trên cả đời
thường, nâng đỡ, động viên, khích lệ nhau tiến bước trên con đường
nghệ thuật.
Tóm lại, hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương
đã không chỉ thuật lại những sự việc, con người mang được dấu ấn
lịch sử của thời đại đầy nhọc nhằn nhưng cũng đầy thương nhớ. Mặt
khác, tác giả thể hiện sự chiêm nghiệm cùng những nhận thức về
trách nhiệm của người cầm bút trước những vấn đề nhân thế cũng
như ý thức trách nhiệm với cuộc đời, với nghệ thuật của mình.


16
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN TRONG HỒI KÝ
NĂM THÁNG NHỌC NHẰN NĂM THÁNG NHỚ THƯƠNG
CỦA MA VĂN KHÁNG
3.1. NGHỆ THUẬT KẾT CẤU
Kết cấu là toàn bộ tổ chức nghệ thuật sinh động của một tác
phẩm văn học, là cách sắp xếp nhào nặn vốn sống của mình để xây
dựng thành những sinh mệnh nghệ thuật, tái hiện bức tranh đời sống
giàu tính khái quát, gửi gắm quan điểm tư tưởng của người cầm bút.
3.1.1. Kết cấu tuyến tính và hồi ức
Hồi ký thuộc loại hình văn xi tự sự nhưng không thuật lại sự
việc đang diễn ra mà thể hiện lại những hình ảnh sự việc đã qua.
Song do khoảng cách về thời gian nên việc nhớ nhớ, quên quên giữa
các sự kiện là chuyện thường tình. Vì vậy về cơ bản, ở rất nhiều hồi
ký vẫn sắp xếp các sự kiện theo trật tự thời gian tuyến tính kiểu
truyền thống nhưng chịu sự chi phối bởi ý định chủ quan của người
viết.
Hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương khơng

nằm ngồi quy luật chung trên đây. Ngay phần mở đầu hồi ký, nhà
văn thể hiện rõ sự sắp xếp đó như việc ơng làm khi sáng tác một
truyện ngắn, một tiểu thuyết. Ma Văn Kháng đã chia tác phẩm của
mình thành 26 chương. Mỗi chương vận động theo một mạch của câu
chuyện, tương ứng theo mạch của tư duy, cho người đọc cái nhìn nổi
cộm về một vấn đề, chứa đựng ý đồ của người viết hồi ký. Mặt khác
để thấy được nét riêng và dụng ý nghệ thuật của Ma Văn Kháng
trong việc sử dụng kết cấu.


17
Trong Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương lại đảo
chiều trật tự thời gian truyện kể. Mở đầu tác phẩm là hiện tại, kết
thúc tác phẩm nhà văn trở về với hiện tại, với cuộc sống đời thường.
Cách mở đầu mang tính nghệ thuật thể hiện một tiểu thuyết gia có
nghề trong việc nhào nặn chất liệu. Kết thúc tác phẩm là niềm hân
hoan, ngây ngất đến tột cùng của tác giả khi được sống trong ngôi
nhà mới. Kết thúc này khiến ta phải suy nghĩ về thân phận của những
người nghệ sĩ.
3.1.2. Kết cấu liên văn bản
Liên văn bản (intertextuality) là một thuật ngữ phổ biến của
chủ nghĩa hậu hiện đại, do nhà lí luận của chủ nghĩa hậu hiện đại
Julia Kristéva định danh vào năm 1967. Bà quan niệm: “Bất kì văn
bản nào cũng tự kiến tạo như một bức khảm ghép các điều viện dẫn,
bất kì văn bản nào cũng là sự hấp thu và biến hóa một văn bản khác”.
Trước hết trong hồi ký của mình, Ma Văn Kháng đã khai thác
có dụng ý cái paratext (bao gồm tiêu đề, tiêu đề phụ, lời mở đầu, lời
đề tặng, lời bạt, chú thích, thơng báo…nghĩa là cái bên lề văn bản).
Nhà văn đã mượn câu thơ của Tú Xương làm lời đề từ cho cuốn sách:
Những là thương cả cho đời bạc/ Nào có căm đâu đến kẻ thù. Đọc

hồi ký, người đọc thấy được cả một nỗi niềm tự bạch của nhà văn
tâm huyết với cuộc đời, với văn chương và với bạn bè trong cõi nhân
thế.
Trong hồi ký, Ma Văn Kháng đã thu nạp nhiều thể loại, nhiều
văn bản khác nhau trong tác phẩm. Nhà văn đã vận dụng đan xen
nhiều thể loại như thơ, ca dao, nhật ký, thậm chí có ý kiến bàn luận
của người khác để tạo nên sức mạnh dồn nén cho sự biểu đạt, và
cũng làm phong phú thêm ý tưởng của tác phẩm. Tính chất tự truyện
cũng được ngòi bút của Ma Văn Kháng thể hiện rõ nét qua tác phẩm.


18
Từ những chương đầu, hồi ký đã mở ra trước mắt người đọc: nguồn
gốc xuất thân, tính cách, phẩm chất tinh thần, nhân cách và bản lĩnh
của nhà giáo, nhà báo, nhà văn Ma Văn Kháng, là con đường lập
thân, lập nghiệp. Không những thế, tác giả cũng tổng hợp kiến thức
của nhiều ngành văn hóa, văn học, đặc biệt là sự am hiểu sâu sắc về
cuộc sống, phong tục của đồng bào các dân tộc miền núi.
Có thể nói, bằng cách vận dụng tổng hợp nhiều kiến thức của
nhiều văn bản khác nhau, đó là sự đan xen của nhiều thể loại văn học,
sự liên kết diễn ngôn Ma Văn Kháng đã chứng tỏ sự nổ lực không
ngừng trong tìm tịi và đổi mới văn chương, tạo nên sự phong phú
cho hiện thực được nói đến.
3.2. NGƠN NGỮ TRẦN THUẬT
Măcxim Gorki cho rằng: “Yếu tố đầu tiên của văn học là ngơn
ngữ, cơng cụ chủ yếu của nó cùng với sự kiện, các hiện tượng của
cuộc sống là chất liệu văn học”. Trong tác phẩm văn học, ngôn từ
mang tính tổ chức cao nhằm tạo nên hiệu quả nghệ thuật. Chính vì
thế khi xem xét giá trị của một tác phẩm văn học người ta không thể
bỏ qua việc nghiên cứu lớp ngôn từ văn bản.

3.2.1. Ngôn ngữ dung dị, tự nhiên, dân dã
Với thể loại hồi ký, người viết cũng chính là người thuật lại sự
việc trong một hoàn cảnh cụ thể, nên trước hết cần phải thể hiện qua
ngơn ngữ một cách tự nhiên, chính xác mà gần gũi. Để thể hiện điều
ấy, Ma Văn Kháng đã sử dụng khá nhiều ngôn ngữ đời thường với
những lời ăn, tiếng nói của cuộc sống thích hợp với khơng gian, thời
gian của tình và cảnh.
Khơng những thế, trong hồi ký Ma Văn Kháng còn khéo vận
dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ, ngạn ngữ và cả những lối nói quen
thuộc của dân gian để nói về nhân tình thế thái. Ngay cả những từ


19
mang tính khẩu ngữ cũng được dùng triệt. Hơn thế, ông đã vận dụng
kiểu nói tách từ quen thuộc của người dân Việt Nam vừa tạo nhạc
điệu, vừa nhấn mạnh. Qua đó ký ức của nhà văn được tái dựng như
cuộc sống đang bước đi, đang biểu hiện.
3.2.2. Ngôn ngữ đan xen giữa lời kể, lời cảm và miêu tả
Hồi ký là thể loại thuộc loại hình ký kể lại những biến cố xảy
ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến. Do
vậy, ngôn ngữ kể trong hồi ký là thành phần rất quan trọng. Tuy
nhiên nếu chỉ kể khơng, dịng sự việc cứ thế đắp đổi, hiển hiện thì hồi
ký sẽ rất nhàm chán, khơ khan Vì vậy để chuỗi sự việc được sinh
động, người viết hồi ký đã sử dụng linh hoạt kết hợp ngôn ngữ kể,
miêu tả và bộc lộ cảm xúc.
Với Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương của Ma Văn
Kháng, bạn đọc cảm thấy thích thú khi được sống trong buổi lễ Vu
Lan linh thiêng, thanh tịnh. Với Lào Cai – miền đất biên thùy xa xôi,
ông vẫn dành một tình cảm thiêng liêng, dạt dào cảm xúc. Khi viết về
những vùng đất khác nhau, tác giả đã vận dụng kết hợp linh hoạt các

ngơn ngữ. Ơng chỉn chu, trau chuốt trong ngôn từ, gọt giũa từng từ,
từng chữ để câu văn ngắn gọn, súc tích.
Như vậy, bằng ngơn ngữ kể, xen lẫn tả và bộc lộ cảm xúc qua
từng đoạn văn, trang văn, người đọc biết thêm được vẻ đẹp của nhiều
vùng đất, cuộc sống của con người cũng như hiểu được tình cảm của
chính tác giả với quê hương, xứ sở.
3.3. GIỌNG ĐIỆU
Giọng điệu nghệ thuật là phương tiện biểu hiện quan trọng của
tác phẩm văn học, là yếu tố có vai trị thống nhất mọi yếu tố khác của
hình thức tác phẩm vào một chỉnh thể. Chính giọng điệu góp phần
khu biệt đặc trưng của mỗi một nhà văn, mỗi một khuynh hướng sáng


20
tác. Nhà văn biết sử dụng giọng điệu phù hợp sẽ kể hay hơn, thể hiện
sâu sắc hơn ý tưởng thẩm mĩ của mình.
3.3.1. Giọng cảm thán trữ tình
Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương, cái tên đã gợi
lên cả một nỗi niềm hồi niệm, một sự tâm tình. Ma Văn Kháng quan
niệm viết hồi ký là “một cuộc trị chuyện với chính mình” nên giọng
điệu xun suốt hồi ký là giọng trữ tình. Đặc biệt nhất là khi tác giả
viết về quê hương, gia đình: về người cha có bàn tay vàng chí thú với
nghề cắt tóc; người mẹ góa bụa tần tảo ni con, ni cháu; những
người họ hàng, bà con cô bác, anh chị em ruột thân thương, những
đứa con ngoan trai gái dâu rể chịu nhiều thiệt thịi, cơ cực trong đời
sống vật chất. Đó là “những tháng ngày một đi không trở lại, những
năm tháng nhọc nhằn, những năm tháng nhớ thương”!
Trong cuốn hồi ký, Ma Văn Kháng đã nhắc đến rất nhiều bạn
bè văn chương. Người nhắc nhiều, người nhắc ít nhưng ai ông cũng
dành những tình cảm rất chân thành, nồng hậu. Bởi bạn bè văn

chương chính là cái khơng gian tinh thần vô cùng quý giá và thiêng
liêng với ông “đồng nghiệp ơi, người là niềm vui, nỗi buồn, là số
phận ngọt ngào cay đắng, là sinh mệnh của ta đấy!”
Xuyên suốt những trang hồi ký, nổi bật lên là chân dung con
người nhà văn khiêm nhường, chân thành, bao dung độ lượng, nặng
tình nặng nghĩa, hết lịng với gia đình, với bạn bè, với cả văn chương.
Giọng điệu trữ tình đã tạo nên những trang văn dạt dào cảm xúc, đem
đến sự rung động cho người đọc.
3.3.2. Giọng phẫn nộ, chua xót, giễu nhại
Ngay lời đề từ của tác phẩm, Ma Văn Kháng đã xác định một
giọng điệu trần thuật là giọng trữ tình xen lẫn xót xa, thấm thía, ngậm
ngùi: “Những là thương cho cả đời bạc/ Nào có căm đâu đến kẻ thù”.


21
Viết về những thói bất cơng ngang trái của một thời đoạn, Ma
Văn Kháng không giấu nổi sự căm phẫn cùng thái độ mỉa mai, giễu
cợt. Khi nói về cái hèn kém của văn nghệ một thời, nhà văn vừa bức
xúc, vừa ngậm ngùi, xót xa. Sau này qua những trải nghiệm, ơng
chua xót nhận ra rằng: đó là điều đã thành phổ biến ở nước ta và các
nước trước đây trong phe xã hội chủ nghĩa. Nhiều năm công tác ở
Hội Nhà văn, Ma Văn Kháng ngậm ngùi nhận ra rằng cái tập thể đó
gồm rất nhiều cá thể độc đáo pha tạp.
Nhà văn nói về chuyến đi Liên Xơ của mình bằng một giọng
điệu đầy hài hước, mỉa mai nhưng cũng khơng khỏi chua xót. Tồn
cán bộ cấp cao mà phải đi mượn giày dép, cả tháng trời chỉ có mỗi
một bộ quần áo. Khi tới nước bạn, không phải là học mà là mua bán,
trao đổi hàng hóa để kiếm chút lợi nhuận. Bên cạnh đó người đọc
như cũng cảm thấy ngột ngạt, bức xúc khi nhà văn kể về việc xin
nhà, xây nhà cùng với những phiền tối và nhiêu khê.

Có thể nói việc sử dụng giọng phẫn nộ, mỉa mai, giễu cợt
trong hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương của Ma
Văn Kháng nêu bật những vấn đề của một thời, tạo nên bức tranh
sinh động, chân thực của muôn mặt đời sống.
3.3.3. Giọng trải nghiệm, sẻ chia
Dù hồi ký của ai, nói về vấn đề gì chung quy lại cũng là nơi để
người viết muốn chia sẻ, tâm tình, bộc bạch sau cả chặng đường đời
trải nghiệm với bao thăng trầm, đa đoan của kiếp người. Ở Năm
tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương, ta nhận thấy sự từng trải
qua bao khúc gập ghềnh, quanh co của đời nhà văn Ma Văn Kháng.
Bằng sự trải nghiệm và hiểu biết của bản thân, ơng thấu đáo lí giải
những ngày nghèo khó, khốn khổ ấy là hệ quả tất yếu của con đường


22
lịch sử hiện thực, không phải đơn thuần là lỗi lầm của tệ quan liêu,
của chế độ kinh tế tập trung, bao cấp.
Trong thiên hồi ký – tự truyện của mình, nhà văn đã dành khá
nhiều trang thể hiện những suy nghĩ, trải nghiệm về cuộc đời; bằng
sự hiểu biết sâu sắc Ma Văn Kháng đã xác định cho mình một chủ
trương sống “tơi vẫn là tơi”, “có một lối sống giản dị, khiêm
nhường... để lặng lẽ học tập tích lũy, viết lách”, “không thiên vị,
không phe cánh, vuông vức, bằng phẳng”.
Ma Văn Kháng đã dùng giọng điệu tâm tình, sẻ chia để nói về
nghề văn, đúc rút những kinh nghiệm của mình sau hơn năm mươi
năm lao động có ý thức với nghề “Sức hấp dẫn của nghề văn với tôi,
trước hết là ở sự cặm cụi âm thầm với con chữ, để tạo nên một chế
phẩm văn chương hồn thiện, đẹp lỗng lẫy nguy nga”; “Tính độc đáo
của văn chương và sự sáng tạo có tính thần thánh có thể đó là nguồn
cảm hứng cuốn hút mãi mãi tơi”.v.v. Từ đó, ơng quan niệm về sáng

tác: “q trình sáng tác là một quá trình nhập đồng, thăng hoa và đau
đáu dằn vặt, nhưng là xa lìa hồn tồn tục lụy phàm trần, với những
gắng gỏi trên sức của mình”. Từ ý thức và trải nghiệm với nghề, Ma
Văn Kháng đã đưa ra những suy nghĩ, quan điểm về truyện ngắn
“viết truyện ngắn rất mệt”. Còn viết tiểu thuyết với Ma Văn Kháng
“là cuộc đi săn hổ dữ”.
Chúng tôi đi sâu tìm hiểu nghệ thuật hồi ký Năm tháng nhọc
nhằn năm tháng nhớ thương trên những phương diện: kết cấu, ngôn
ngữ, giọng điệu. Đây cũng là phương diện để thể hiện nội dung đồng
thời cũng là yếu tố nhằm bộc lộ phong cách văn xuôi của tác giả,
mang đến sự hấp dẫn cho cuốn hồi ký.


23
KẾT LUẬN
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Ma Văn Kháng thuộc
thế hệ nhà văn xuất hiện và trưởng thành cùng với sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cuộc chiến tranh giải phóng
giành độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc. Ông cũng là một trong
những nhà văn giàu bút lực và đã có nhiều thành tựu trong các thể
loại truyện ngắn và tiểu thuyết với cảm hứng lãng mạn sử thi.
Từ sau ngày đất nước hồn tồn giải phóng, Ma Văn Kháng đã
nhạy cảm trước yêu cầu mới của cuộc sống và bạn đọc thời hậu
chiến, những tác phẩm của ông đã góp phần báo hiệu xu thế đổi mới
của nền văn học. Hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ
thương của Ma Văn Kháng ra đời không chỉ là một bản tự thuật về
cuộc đời của người viết trong những năm tháng khơng thể nào qn,
mà cịn ơm chứa một bức tranh hiện thực được phát hiện một cách
chân thật của đời sống đất nước nói chung và đời sống văn nghệ nói
riêng. Vì thế, tác phẩm hồi ký vừa giàu chất tự truyện và cũng vừa

giàu chất tiểu thuyết, là một thành công mới của nhà văn, chắc sẽ còn
tạo được sức hấp dẫn cho nhiều thế hệ bạn đọc.
Mặt khác, ở nước ta thể loại hồi ký ra đời chậm và cũng phát
triển chưa nhiều, Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương ra đời
cũng là một đóng góp có giá trị, góp phần làm phong phú hơn cho thể
tài hồi ký trong nền văn học Việt Nam đương đại. Qua câu chuyện
cuộc đời đầy nếm trải của mình, nhà văn đã tái hiện một cách chân
thực và sinh động gương mặt đất nước trước, trong và sau thời kì đổi
mới, một thời kì đầy nhọc nhằn nhưng cũng đầy nhớ thương. Qua đó
người đọc cũng thấy được con đường, hành trình đến với văn chương
cùng những trăn trở, tìm tịi, những nỗi niềm tha thiết của ơng về
nghiệp cầm bút. Đây là cuốn hồi ký của một nhà văn chân thật cùng


×