Tải bản đầy đủ (.pdf) (67 trang)

Đối tượng nghiên cứu trong đề tài là từ láy của thơ Xuân Quỳnh 10600873

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (571.28 KB, 67 trang )

1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
----------

ĐOÀN THỊ TUYẾT TRINH

Đối tượng nghiên cứu trong đề tài là từ láy của
thơ Xuân Quỳnh

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP


2

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo nên tác phẩm văn
học, bởi nó là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ dùng để tạo ra các thông điệp gửi
đến người đọc. Khi sáng tác, các nhà văn, nhà thơ đều hết sức chú trọng đến
việc lựa chọn, thậm chí đắn đo cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định dùng
một từ nào đó. Lịch sử văn học đã chứng minh một tác phẩm văn học có tồn
tại với thời gian hay không là tùy thuộc vào những giá trị mà tác phẩm đó
mang lại, trong đó có khả năng sử dụng ngơn từ của tác giả.
Đã có nhà ngơn ngữ học thống kê tiếng Việt có đến trên dưới 5.000 từ
láy, một khối lượng từ rất lớn làm nên bản sắc riêng của ngôn ngữ Việt. Từ
láy là phương thức cấu tạo từ quan trọng của từ tiếng Việt. Trong hệ thống từ
tiếng Việt từ láy chiếm một số lượng phong phú, điều đó ln thu hút các nhà
nghiên cứu không ngừng khai thác, nghiên cứu về sự đa dạng của nó. Đối với


các tác phẩm văn chương, đặc biệt là thơ ca thì từ láy có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng bởi những giá trị tượng thanh, tượng hình và giá trị biểu cảm. Mỗi từ
láy chứa đựng trong mình một sự thể hiện rất tinh tế và sinh động về sự cảm
thụ chủ quan, về cách đánh giá và thái độ của người nói trước sự vật và hiện
tượng đời sống xã hội. Cho nên, về phương diện sử dụng, từ láy là phương
tiện tạo hình đắc lực của văn học nghệ thuật, đặc biệt là của thơ ca.
Khi nhắc đến thơ ca nói riêng và văn học Việt Nam nói chung người ta
biết đến Xuân Quỳnh là một nữ sĩ đầy tài năng, một tâm hồn thơ nhạy cảm,
thơ Xuân Quỳnh có những nét rất trong sáng, nhẹ nhàng và tinh tế, ngơn ngữ
thơ bình dị, gần gũi với cuộc sống và mang một chiều sâu nội tâm rộng lớn.
Thơ Xuân Quỳnh mang nhiều nét đặc sắc về ngôn từ cũng như những biện


3

pháp nghệ thuật. Có thể nói Xuân Quỳnh là một hiện tượng nổi bật trên bầu
trời thơ ca Việt Nam, là nhà thơ nữ lớn cuối thế kỉ XX. Nghiên cứu về thơ
Xuân Quỳnh giúp chúng ta hiểu hơn về một hồn thơ sâu sắc, một tâm hồn
nhạy cảm và một mẫu người phụ nữ hoàn hảo. Nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh
cũng rất đặc sắc, về ngôn ngữ thơ cũng như các biện pháp nghệ thuật khác.
Đã có khơng ít cơng trình nghiên cứu, những cuộc hội thảo về thơ bà, đặc biệt
thơ Xuân Quỳnh còn được dịch ra các ngơn ngữ nước ngồi. Nghiên cứu về
thơ bà chúng tơi có cơ hội hiểu sâu sắc hơn về một nhà thơ tài năng, về con
người cũng như phong cách thơ ca của Xuân Quỳnh.
Việc sử dụng từ láy trong thơ ca mang lại nhiều tác dụng tích cực, tạo
được âm điệu cho bài thơ một cách nhịp nhàng hơn, giúp người đọc dễ cảm
nhận hơn. Từ láy trong thơ Xuân Quỳnh chiếm một số lượng khá lớn. Khảo
sát, nghiên cứu về từ láy trong thơ Xuân Quỳnh giúp chúng tôi hiểu sâu hơn
về từ láy trong tiếng Việt cũng như là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đặc sắc
trong thơ bà.

Việc nghiên cứu, khảo sát từ láy trong thơ ca là một q trình nghiên cứu
khoa học cơng phu, địi hỏi người nghiên cứu phải có sự kiên trì và nghiêm
túc. Nghiên cứu đề tài này giúp chúng tơi có được những kiến thức quan trọng
cho việc học tập và nghiên sau này.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Từ láy là một hiện tượng đặc biệt của từ tiếng Việt, nó góp phần tạo nên
sự phong phú cho từ tiếng Việt. Từ trước đến nay đã có rất nhiều cơng trình
nghiên cứu về từ láy trong tiếng Việt. Nhưng có lẽ nói đến từ láy chúng ta
khơng thể khơng nhắc đến Hồng Văn Hành - người đã có những cơng trình
nghiên cứu có giá trị về từ láy trong tiếng Việt. Các cơng trình như Từ điển từ
láy tiếng Việt, Từ láy trong tiếng Việt là những cuốn sách cung cấp những
kiến thức về từ láy một cách đầy đủ. Trong cuốn Từ láy trong tiếng Việt vấn


4

đề về từ láy được tác giả nghiên cứu sâu, cung cấp cho người đọc những kiến
thức về từ láy tương đối đầy đủ, cuốn sách chia làm ba phần, phần thứ nhất là
Những cách nhìn khác nhau đối với hiện tượng láy (tr 9-23). Phần thứ hai Từ
láy tiếng Việt (tr 24- 144). Phần thứ ba Mấy kết luận bước đầu (tr 146- 154).
Cuốn Từ điển từ láy tiếng Việt là cuốn sách được tác giả Hoàng Văn Hành
chủ biên, cuốn sách đã tập hợp hầu hết vốn từ láy trong tiếng Việt, với hơn
5000 đơn vị, và 7000 câu trích dẫn nguyên văn từ các tác phẩm văn học, các
báo và tạp chí minh họa cho cách dùng từ trong thực tế. Có thể nói cuốn Từ
điển từ láy tiếng Việt đã giúp cho bạn đọc một cái nhìn tổng quát nhất về hệ
thống từ láy trong tiếng Việt.
Trong cuốn Từ vựng Ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1981 tác giả
Đỗ Hữu Châu đã có những nghiên cứu về từ láy trong tiếng Việt. Từ trang 3445 của cuốn sách, vấn đề về từ láy được tác giả nói đến một cách khá đầy đủ.
Trong cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và từ tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội,
2000, từ trang 130-151 tác giả giành hẳn một chương để nói về từ vựng học

và từ, trong đó có vấn đề về từ láy từ trang 146-149.
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà cũng có bài viết Hiện tượng láy với việc
tạo tính nhạc trong thơ ca in trên Tạp chí ngơn ngữ số 5 năm 2002 từ trang 59
- 64. Bài viết cũng đã có những đánh giá về vai trò quan trọng của từ láy trong
việc sáng tác thơ ca.
Xuân Quỳnh là một tác giả lớn của nền thơ ca Việt Nam, với một tâm hồn
thơ sâu sắc, ngôn ngữ thơ tinh tế gần gũi, giọng thơ đầm ấm. Bà là một hiện
tượng đặc biệt của nền thơ ca dân tộc, sau Hồ Xuân Hương một nữ sĩ tài hoa
xuất chúng, một hiện tượng của nền thơ ca Việt Nam thì có lẽ Xn Quỳnh
được biết đến như là nữ hồng của thơ tình. Về cuộc đời cũng như con đường
thơ Xuân Quỳnh đã có rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu của những nhà lí
luận, phê bình. Tiêu biểu có các cơng trình


5

Trong cuốn Xuân Quỳnh thơ và đời do Vân Long sưu tầm và tuyển chọn
dã tập hợp được rất nhiều bài thơ hay của nữ sĩ Xuân Quỳnh và những bài
viết của một số nhà phê bình, nghiên cứu. Trong đó có bài Cảm nhận về thơ
Xuân Quỳnh của Lưu Khánh Thơ, bài viết này đã phần nào khái quát được
phong cách thơ Xuân Quỳnh cũng như những quan niệm trong sáng tác của
bà. “ Hình như Xn Quỳnh ít phải bận tâm về việc đi tìm hình thức biểu
hiện. Chị cũng không mất công nhiều lắm trong việc lựa chọn hình ảnh, chải
chuốt ngơn ngữ…” [16 tr 245]. “ Điểm đặc sắc hơn trong nghệ thuật thơ Xuân
Quỳnh có lẽ là giọng điệu thơ. Thơ chị có một giọng điệu riêng rất dễ nhận ra.
Giọng điệu ở đây không phải cách nói mà cảm xúc, là giọng điệu của tâm
hồn. Một giọng điệu không kiểu cách, khiên cưỡng, mà ln tự nhiên, phóng
khống…” [16 tr 246].
Cũng trong cuốn này Lại Nguyên Ân có bài Con người và nhà thơ, bài
viết cũng đã cung cấp một số chi tiết về cuộc đời Xuân Quỳnh cũng như con

người nhà thơ, phong cách thơ. “…Từ bài mở đầu tập Chồi biếc in rõ dấu ấn
ca dao, sang những tập thơ sau này, chị đã trở nên lành nghề, thậm chí đã biết
tận dụng cả sự khéo tay, tận dụng những cách cấu tứ của cả nhà thơ cùng lứa
lẫn nhà thơ lớp trước. Và chị đã văn chương hóa khơng ít, hơn nữa, đã cùng
các nhà thơ cùng lứa tạo ra một kiểu “văn chương hóa” mới, một kiểu trang
sức mới. Nhưng cốt cách thơ Xuân Quỳnh, qua mọi biến thái vẫn gắn bó với
những gì đã có nơi chị từ điểm xuất phát. Ấy là giọng thơ ưng phô bày, kể lể,
nhắn nhe, tự tình, ví von, một giọng thơ dù biến hóa đến mức văn hoa kiểu
mẫu vẫn đọng lại cái phần gắn bó với lối nói, lối nghĩ, lối cảm thơng thường
có thể là xa xưa nữa của người Việt, của tiếng Việt. Thơ Xuân Quỳnh bao giờ
cũng dễ hiểu với công chúng đông đảo. Sáng rõ, nhã nhặn, giản dị- là những
đặc tính cho cả trong thơ lẫn văn xuôi.” [16 tr 140-141]


6

Trong cuốn Đến với thơ Xuân Quỳnh do Ngô Viết Dinh tuyển chọn và
biên tập, cũng là một cơng trình tập trung nhiều bài viết, bài phê bình về thơ
Xuân Quỳnh. Một số bài viết tiêu biểu như bài Cuộc đời để lại của Vương Trí
Nhàn. Bài viết là lời kể của tác giả về cuộc nói chuyện giữa tác giả và nhà thơ
Xuân Quỳnh về con đường thơ, phong cách thơ Xuân Quỳnh và những lời
tâm sự của Xuân Quỳnh mà tác giả đã ghi nhận. “… những người có dịp quen
biết riêng tác giả Gió Lào cát trắng đều biết chị có thói quen diễn tả tâm trạng
mình qua thơ đúng đến từng khía cạnh tưởng là nhỏ nhặt. Mỗi bài thơ ra đời,
diễn tả cái lý lịch cụ thể của nó, và nếu chắp các bài thơ đó lại, người ta có thể
có cả cuộc đời Quỳnh…” [7 tr 65]
Trong cuốn này tác giả Mai Quốc Liên cũng có bài viết Vài lời muộn
màng… Là những lời tâm sự, sẻ chia những bình luận về cuộc đời, con người
và thơ Xuân Quỳnh để lại trong kí ức của tác giả. “ Có thể nói rằng sau Xuân
Diệu thời Thơ mới, khơng có nhà thơ nào đã viết thơ tình hay như Xuân

Quỳnh” [7 tr 101].
“Xuân Quỳnh là một nhà thơ bẩm sinh, một nhà thơ vút lên từ số phận, từ
tình yêu, từ những vui buồn đời thường của một thời dữ dội. Người con gái ấy
không có ý định làm một cuộc cách tân thơ, cũng khơng có ý định trau chuốt
nghệ thuật thơ mình, nhưng chị đi trên con đường lớn của thơ, con đường đi
từ trái tim và ở lại giữa trái tim người đời…” [7 tr 106]. Có thể nói những ai
đã quen biết và tiếp xúc với Xn Quỳnh thì đều có những ấn tượng khó phai
về con người này, một người phụ nữ với hồn thơ tinh tế, da diết.
Cuốn Thơ Xuân Quỳnh và những lời bình do Ngân Hà tuyển chọn, NXB
Văn hóa - thơng tin, 2003 là cơng trình tập trung đầy đủ nhất những bài viết
về cuộc đời cũng như sự nghiệp thơ Xuân Quỳnh và những cảm nhận của các
tác giả về thơ Xuân Quỳnh. Trong cuốn sách này có bài viết Nhớ Xuân
Quỳnh, nhớ một giọng thơ của Mã Giang Lân. Bài viết là những cảm nhận rất


7

chân thành của tác giả về thơ Xuân Quỳnh, về những giá trị đặc sắc của thơ ca
mà bà đã để lại.
“Ba mươi năm làm thơ, Xuân Quỳnh để lại những ấn tượng sâu sắc cho
người đọc. Chị đã tạo cho mình một tiếng nói riêng, nhiều thanh điệu: trẻ
trung, hồn nhiên, cởi mở nhưng cũng luôn lo âu, trăn trở, nói nhiều về mình
nhưng cũng cố vươn lên, hịa tình cảm của mình vào cuộc sống chung của
nhân dân, của đất nước. Một tâm hồn thơ nhân hậu mà say mê, sơi nổi, bộc
trực. Chị nói đến tình u tha thiết, chủ động…” [8 tr 139].
Cuốn giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại tập 2, Nguyễn Văn Long chủ
biên là cuốn sách khái quát một cách đầy đủ về đặc điểm của nền văn học
nước ta sau năm 1945, cuốn sách cũng tập trung một số nhà thơ, nhà văn lớn
của Việt Nam sau 1945 về con người cũng như là sự nghiệp sáng tác. Trong
đó có nhà thơ Xuân Quỳnh từ trang 244-261. Trong phần này các tác giả đã

khái quát về cuộc đời của nữ sĩ Xuân Quỳnh và con đường sáng tác của bà.
“…Bà giành nhiều tâm huyết nhất cho đề tài tình yêu và trở thành một trong
những người viết thơ tình hay nhất ở thời đại chúng ta. Không bạo liệt và
chua chát, đáo để như Hồ Xuân Hương, không e ấp như Phan Thị Thanh
Nhàn, khơng nơng nổi dại khờ như Đồn Thị Lam Luyến, trái tim yêu của
Xuân Quỳnh vừa nồng nhiệt, bạo dạn, vừa dịu dàng, đằm thắm, lại có cái
điềm tĩnh, sâu sắc của sự từng trải, biết chấp nhận những cái hữu hạn của
cuộc đời…’ [15 tr 255]
Bên cạnh đó cịn có một số tiểu luận, luận văn nghiên cứu về thơ Xuân
Quỳnh như: Khóa luận tốt nghiệp Tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh do T.S
Nguyễn Khắc Sính hướng dẫn, ĐHSP Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ Thế giới
nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh do T.S Lê Tiến Dũng hướng dẫn, ĐHSP
TP. HCM.


8

Các cơng trình nghiên cứu về thơ Xn Quỳnh từ trước đến nay chiếm số
lượng khá lớn, thơ bà còn được dịch ra nhều thứ tiếng trên thế giới. Tuy nhiên
ở phạm vi khóa luận tốt nghiệp vấn đề từ láy trong thơ Xn Quỳnh vẫn chưa
có cơng trình nghiên cứu nào.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu trong đề tài là từ láy của thơ
Xuân Quỳnh.
Phạm vi nghiên cứu: Tuyển thơ Xuân Quỳnh - Không bao giờ là cuối do
Lưu Khánh Thơ tuyển chọn, NXB Hội nhà văn, 2011.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích ngơn ngữ
- Phương pháp đối chiếu, so sánh

5. Bố cục của khóa luận
Trong khóa luận này ngồi phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung
chúng tôi chia làm 3 chương.
Chương I: Những vấn đề chung
Chương II: Khảo sát, thống kê, phân loại từ láy trong thơ Xuân Quỳnh
Chương III: Vai trò, giá trị của từ láy trong thơ Xuân Quỳnh


9

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Khái quát chung về từ tiếng Việt
1.1.1. Khái niệm từ
Có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm từ tiếng Việt.
Quan niệm của Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm
tiết cố định, bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức
(hoặc kiểu cấu tạo) cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ
pháp nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để cấu tạo câu.” [4 tr
122]
Quan niệm của Hồ Lê: “Từ là đơn vị ngơn ngữ có chức năng định danh
phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mơ phỏng tiếng động, có khả năng kết
hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa.” [13 tr
104]
Quan niệm của Nguyễn Kim Thản: “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có
thể tách ra khỏi các đơn vị của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một
khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và chức năng
ngữ pháp.” [14 tr 38]
Ở đây chúng tôi đồng ý theo quan niệm của Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức
Nghiệu - Hoàng Trọng Phiến: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ

ngữ âm bền vững, hồn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập,
tái hiện tự do các lời nói để tạo câu.” [6 tr 142]
1.1.2. Các kiểu từ Tiếng Việt
1.1.2.1.Từ đơn
Từ đơn là từ do một hình vị tạo nên. Phương thức dùng một tiếng làm một
từ sẽ cho ta các từ đơn. Đó là từ được cấu tạo bằng một tiếng.


10

Ví dụ: người, hoa, đi, đứng, xấu, đẹp, tơi, bác…
1.1.2.2. Từ phức
Là từ có hai hình vị trở lên, dựa vào phương thức cấu tạo có thể chia từ
phức thành: từ ghép và từ láy.
- Từ ghép
Là từ chứa hai hoặc hơn hai hình vị và khơng có sự hịa phối âm thanh để
tạo nghĩa.
+ Từ ghép đẳng lập: Đây là những từ mà các thành tố cấu tạo có quan hệ
bình đẳng với nhau về nghĩa. Ở đây, có thể lưu ý tới hai khả năng:
Thứ nhất, các thành tố cấu tạo trong từ đều rõ nghĩa, khi dùng mỗi thành
tố để cấu tạo từ đơn thì nghĩa của từ đơn và nghĩa của các thành tố khơng
trùng nhau.
Ví dụ: ăn ở ≠ ăn ≠ ở, ăn nói ≠ ăn ≠ nói.
Thứ hai, một thành tố rõ nghĩa tổ hợp với thành tố không rõ nghĩa. Trong
hầu hết các trường hợp, những yếu tố không rõ nghĩa này vốn rõ nghĩa nhưng
bị bào mòn dần đi ở các mức độ khác nhau. Bằng con đường tìm tịi từ
ngun và lịch sử, người ta thường xác định được nghĩa của chúng.
Ví dụ: chợ búa, bếp núc, đường sá, tre pheo, cỏ rả, sầu muộn, chó má, gà
qué, cá mú, xe cộ, áo xống...
+ Từ ghép chính phụ. Là những từ ghép mà có thành tố cấu tạo này phụ

thuộc vào thành tố cấu tạo kia. Thành tố phụ có vai trị phân loại, chun biệt
hố và sắc thái hố cho thành tố chính.
Ví dụ: tàu hoả, đường sắt, sân bay, hàng không, nông sản, cà chua, máy
cái, dưa hấu, cỏ gà, xấu bụng, tốt mã, lão hoá, xanh lè, đỏ rực, ngay đơ, thẳng
tắp, sưng vù…
-Từ láy


11

Là từ mà khi các yếu tố cấu tạo nên chúng có thành phần ngữ âm lặp lại.
Gồm có phần điệp và phần đối.
Ví dụ: đo đỏ, mênh mơng, lang thang…
1.2. Từ láy trong Tiếng Việt
1.2.1 Khái niệm từ láy
Về từ láy trong tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra nhiều khái
niệm khác nhau.
Theo Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung: “Từ láy là những từ phức
được tạo ra từ phương thức láy âm có tác dụng tạo nghĩa, và để tạo ra nhạc
tính cho sự hịa phối âm thanh đối với một ngôn ngữ giàu nhạc tính như tiếng
Việt, sự láy khơng đơn thuần là sự lặp lại âm tiết ban đầu, mà bao giờ cũng
kèm theo một sự biến đổi âm, thanh nhất định, dù là ít nhất, để tạo ra cái thế
vừa điệp vừa đối, vừa giống nhau lại vừa khác nhau” [1 tr 51]
Theo Đỗ Hữu Châu: “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức
láy, đó là phương thức lặp lại tồn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với
thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc
thanh điệu biến đổi theo hai nhóm: nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh
ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng, của một hình vị hay
đơn vị có nghĩa.”[4 tr 34]
Theo Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu - Hoàng Trọng Phiến: “Một từ

được gọi là từ láy khi các yếu tố cấu tạo nên chúng có thành phần ngữ âm
được lặp lại, nhưng vừa có lặp (cịn gọi là điệp) vừa có biến đổi (cịn gọi là
đối).” [6 tr 146]
Trong khóa luận này chúng tơi thống nhất với quan điểm của Hồng Văn
Hành.
Theo Hồng Văn Hành: “Từ láy nói chung là từ được cấu tạo bằng cách
nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các


12

tiếng trong từ vừa điệp, vừa đối, hài hòa với nhau về âm thanh và về nghĩa, có
giá trị biểu trưng hóa.”[11 tr 27]
1.2.2 Đặc điểm từ láy trong tiếng Việt
1.2.2.1 Đặc điểm về mặt ngữ âm
- Đặc điểm của thành tố cấu tạo nên tiếng láy.
+ Thành tố gốc (tiếng gốc): là một từ có nghĩa, có khả năng tách khỏi từ
láy, đứng độc lập và có thể kết hợp với các thành tố khác để tạo nên một
nghĩa mới.
Ví dụ: nhanh nhẹn, nhanh nhẩu…
Từ nhanh có khả năng đứng độc lập và có nghĩa (đi nhanh, chạy nhanh,
nói nhanh…).
+ Thành tố láy (tiếng láy): là những bộ phận lặp lại hoàn toàn hoặc một
phần (phụ âm đầu, vần) của thành tố gốc.
Ví dụ: - đu đủ, nơi nơi, châu chấu…
- thanh thản, nhẹ nhàng, tung tăng…
- linh tinh, lung tung, lan man…
- Cơ sở cấu tạo từ láy
+ Từ láy hoàn toàn: những từ vừa điệp phụ âm đầu, điệp phần vần có khi
điệp cả thanh điệu.

Ví dụ: chuồn chuồn, nho nhỏ, tim tím…
+ Từ láy bộ phận:
Từ láy phụ âm đầu: những từ điệp phụ âm đầu, đối phần vần, thanh điệu
biến đổi theo quy tắc nhất định.
Ví dụ: nhanh nhẩu, mênh mơng, lạnh lẽo…
Từ láy vần: những từ đối phụ âm đầu, điệp phần vần, thanh điệu biến đổi
theo quy tắc nhất định.
Ví dụ: bâng khuâng, lang thang, lung tung.


13

1.2.2.2 Đặc điểm về mặt ngữ nghĩa
Theo Hoàng Văn Hành từ láy trong tiếng Việt xét về mặt ngữ nghĩa có ba
loại:
Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm giản đơn
Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu
Từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm, vừa chuyên biệt hóa về nghĩa
-Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm giản đơn
Từ láy ở nhóm này gồm những từ thuộc nhiều loại khác nhau nhưng đều có
một điểm chung là mơ phỏng âm thanh tự nhiên theo cơ chế láy. Xét về góc độ
ngữ nghĩa có thể chia từ láy biểu trưng hóa ngữ âm giản đơn làm hai loại.
+ Loại thứ nhất: gồm những từ láy là từ tiếng vang thực sự, gần giống với
âm thanh tự nhiên theo cơ chế láy.
Ví dụ: tùng tùng, lộc cộc, oai oái…
+ Loại thứ hai: gồm những từ láy mà sự mô phỏng âm thanh chỉ là hình
thức bên trong cịn chức năng chính của nó là gọi tên sự vật hay hiện tượng từ
quá trình phát ra âm thanh do từ mơ phỏng, đó là những từ tiếng vang, từ
tượng thanh nhưng được chuyển nghĩa theo phép hốn dụ.
Ví dụ: bìm bịp (chim), cút kít (xe), cheo cheo (con)…

Các loại từ láy trên bên cạnh việc mơ phỏng âm thanh cịn có sự mơ
phỏng của khn hình miệng khi phát âm, có giá trị biểu cảm, giá trị gợi tả rất
rõ, sự mô phỏng không phải bắt chước nguyên xi mà phần nào đã được cách
điệu hóa, vì vậy làm cho việc hịa phối âm thanh trong các từ láy có sự biểu
trưng hóa.
-Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu
Đó là những từ như đăm đăm, lồm ngồm, bâng khuâng…Nếu xét trong
mối quan hệ giữa nghĩa của chúng với hiện thực khách quan thì có thể chia
làm hai nhóm:


14

Nhóm thứ nhất: gồm những từ biểu thị sự vật như đu đủ, chuồn chuồn,
châu chấu, bươm bướm…
Nhóm thứ hai: gồm những từ biểu thị thuộc tính ( tính chất, q trình,
trạng thái…) như luộm thuộm, bâng khng, lơi thơi…
Nếu căn cứ vào tính chun biệt hóa hay khơng chun biệt hóa về nghĩa
thì có thể phân thành hai nhóm nhỏ:
+ Nhóm những từ chuyên biệt hóa về nghĩa: đó là những từ chuyên biểu
thị thuộc tính của thuộc tính (thuộc tính bậc hai). Được biểu thị theo hai
hướng:
Thuộc tính được đánh giá theo thang độ, thường gợi tả mức độ, sắc vẻ của
thuộc tính ấy. Ví dụ: trành trạnh (vng), au au (đỏ), dằng dặc (dài), vành
vạnh (trịn)…
Thuộc tính không được đánh giá theo thang độ, thường gợi tả cách thức
diễn ra của q trình ấy. Ví dụ: khư khư (giữ), sa sả (mắng), ngặt nghẽo
(cười)…
+ Nhóm những từ khơng chun biệt hóa về nghĩa: là những từ vừa biểu
thị thuộc tính bậc một, vừa biểu thị thuộc tính bậc hai. Với kiểu cơ cấu nghĩa

này có hai thành tố: thành tố thứ nhất biểu thị một thuộc tính nào đó, thành tố
thứ hai biểu thị thuộc tính của thuộc tính đó.
Ví dụ: mênh mơng: thuộc tính thứ nhất là rộng, thuộc tính thứ hai là mức
độ rộng, da diết: thuộc tính thứ nhất là nhớ, thuộc tính thứ hai chỉ mức độ
nhớ.
-Từ láy vừa biểu trưng hóa về ngữ âm vừa chuyên biệt hóa về
nghĩa
Là những từ mà nghĩa của nó có thể giải thích được khơng chỉ nhờ nghĩa
của tiếng gốc, mà còn nhờ giá trị tạp nghĩa của sự hòa phối ngữ âm trong cấu
tạo của nó. Trong đó điệp và đối khn vần đóng vai trò quan trọng.


15

“Những sắc thái nghĩa ở từ láy rất đa dạng và phong phú. Chúng ít nhiều
tùy thuộc vào bản chất ngữ nghĩa của tiếng gốc. Nếu như tiếng gốc trong từ
láy vốn là động từ thì sắc thái nghĩa phụ thêm ở từ láy sẽ miêu tả phương thức
của hành động hay quá trình mà phương thức được gợi tả là thế này hay thế
kia lại tùy thuộc mơ hình láy, hay cũng có thể nói là tùy thuộc vào tiếng láy
trong tương quan với tiếng gốc do người bản ngữ lựa chọn.” [11 tr 92].
Ví dụ: nhay nháy khác nhấp nháy. Nghĩa của hai từ này đều là nghĩa của
tiếng gốc nhưng có sự biến đổi ngữ âm trong q trình cấu tạo từ.
“ Sở dĩ có thể nói giá trị ngữ nghĩa của tiếng láy tùy thuộc vào mối tương
quan của nó với tiếng gốc là vì nghĩa của nó chính là nghĩa của tiếng gốc,
nhưng bị nhịe đi do những biến đổi ngữ âm trong quá trình cấu tạo từ. Đồng
thời những biến đổi ở vỏ ngữ âm của tiếng láy cốt là để tạo ra sự hòa phối ngữ
âm với tiếng gốc, mà sự hòa phối ngữ âm ấy tự nó lại có giá trị biểu trưng
hóa, có giá trị tạo nghĩa.” [11 tr 92]. Vì vậy trong các từ láy đã bị mất tiếng
gốc thì giá trị biểu trưng hóa ngữ âm vẫn tồn tại.
Ví dụ: rì rào, xào xạc, tập tễnh…

Cơ cấu nghĩa của các từ láy dạng này rất đa dạng, tuy nhiên chúng ta vẫn
có thể giải thích được ở một mức độ nào đó nhờ nghĩa của tiếng gốc, cách hịa
phối âm thanh, ngữ nghĩa của từ. Chúng ta gọi những từ này là từ láy vừa biểu
trưng hóa ngữ âm vừa chuyên biệt hóa về nghĩa.
1.2.3 Cơ sở phân loại từ láy
Theo quan điểm của Hồng Văn Hành thì về mặt cấu tạo của từ láy trong
tiếng Việt nên phân loại theo nhiều hướng.
Thứ nhất là nên lấy số bậc trong q trình cấu tạo từ láy làm tiêu chí. Với
hướng phân loại này ta có hai trường hợp là từ láy bậc một và từ láy bậc hai.
Từ láy bậc một là từ láy đôi: đo đỏ, mênh mông, bâng khuâng…


16

Từ láy bậc hai là từ láy kép, tương ứng với từ láy ba và từ láy tư: xốp xồm
xộp, bập bà bập bềnh…
Cách phân loại thứ hai là lấy mức độ tác động của cơ chế láy vào tiếng
gốc hay mức độ điệp trong quan hệ giữa các tiếng ở từ láy. Với cách phân loại
này thì chúng ta có từ láy hồn tồn và láy bộ phận.
Từ láy hoàn toàn: chuồn chuồn, vằng vặc, đo đỏ…
Từ láy bộ phận: mênh mang, nhỏ nhắn, linh tinh…
Cách phân loại thứ ba là lấy tính chất điệp hoặc đối khn vần trong việc
phân loại làm căn cứ. Như vậy với cách phân loại này chúng ta có bốn kiểu từ
láy
Từ láy hoàn toàn, điệp vần: nơi nơi, chuồn chuồn, khư khư…
Từ láy hoàn toàn, đối vần: vằng vặc, nườm nượp…
Từ láy bộ phận, điệp vần: lang thang, lao xao, la cà…
Từ láy bộ phận, đối vần: lung lay, rung rinh, bé bỏng…
1.3 Xuân Quỳnh thơ và đời
1.3.1 Cuộc đời Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh sinh ngày 6 tháng 10 năm 1942 tại xã La Khê, huyện Hoài
Đức, tỉnh Hà Tây. Bà xuất thân trong một gia đình cơng chức, mồ cơi mẹ từ
nhỏ, ở với bà nội. Tháng 2 năm 1955, Xuân Quỳnh được tuyển vào Đồn Văn
cơng nhân dân Trung ương và được đào tạo thành diễn viên múa. Bà đã nhiều
lần đi biểu diễn ở nước ngoài và dự Đại hội thanh niên sinh viên thế giới năm
1959 tại Viena (Áo). Từ năm 1962 đến 1964, bà học Trường bồi dưỡng
những người viết văn trẻ (khoá I) của Hội Nhà văn Việt Nam. Sau khi học
xong, làm việc tại báo Văn nghệ, báo Phụ nữ Việt nam. Bà là hội viên từ năm
1967, ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khố III. Năm 1973, bà
kết hơn với nhà viết kịch, nhà thơ Lưu Quang Vũ, trước đó Xuân Quỳnh kết
hôn lần đầu tiên với một nhạc công của Đồn Văn cơng nhân dân Trung ương


17

và đã ly hôn. Từ năm 1978 đến lúc mất bà làm biên tập viên Nhà xuất bản
Tác phẩm mới. Xuân Quỳnh mất ngày 29 tháng 8 năm 1988 trong một tai nạn
giao thông tại đầu cầu Phú Lương, thị xã Hải Dương, tỉnh Hải Dương cùng
với Lưu Quang Vũ và con trai út Lưu Quỳnh Thơ mới 13 tuổi. Xuân Quỳnh
được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001.
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác
Xuân Quỳnh là nhà thơ tài năng, trong suốt quãng đời sáng tác ngắn ngủi
của mình bà đã kịp để lại cho đời những tác phẩm hết sức có giá trị về nội
dung và nghệ thuật. Những vần thơ hết sức tinh tế, và tràn đầy cảm xúc ấy đã
trường tồn trong lòng người đọc cho đến ngày nay và cả mai sau.
Về các tác phẩm thơ:
Tơ tằm – chồi biếc (thơ, in chung, 1963)
Hoa dọc chiến hào (thơ, in chung, 1968)
Gió Lào, cát trắng (thơ, 1974)
Lời ru trên mặt đất (thơ, 1978)

Sân ga chiều em đi (thơ, 1984)
Tự hát (thơ, 1984)
Hoa cỏ may (thơ, 1989)
Thơ Xuân Quỳnh (1992, 1994)
Thơ tình Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ (1994)
Cây trong phố - Chờ trăng (thơ, in chung)
Bầu trời trong quả trứng (thơ thiếu nhi, 1982)
Truyện Lưu Nguyễn (truyện thơ, 1985)
Bên cạnh thơ, Xuân Quỳnh cịn sáng tác văn xi, đặc biệt là mảng truyện
thiếu nhi. Xuân Quỳnh thường viết về những gì gần gũi xung quanh mình,
xung quanh cuộc sống.
Mùa xuân trên cánh đồng (truyện thiếu nhi, 1981)


18

Bến tàu trong thành phố (truyện thiếu nhi, 1984)
Vẫn có ông trăng khác (truyện thiếu nhi, 1986)
Tuyển tập truyện thiếu nhi (1995)
1.3.3 Ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh
Một nhà thơ nữ với giọng thơ trữ tình, tinh tế và sâu sắc, những vần thơ
của bà đã cho chúng ta một sự trải nghiệm phong phú. Đó là những cảm xúc
tình u dâng trào, một trái tim khao khát yêu và được u, đó những tình
cảm sâu sắc, chân thành của con người và một tâm hồn đầy nội cảm đó là
những gì ta cảm nhận qua những vần thơ của bà.
Thơ Xuân Quỳnh nổi tiếng với sự tinh tế, trong sáng, nhẹ nhàng, thơ bà
cịn tốt lên một tình u da diết và một sự đồng cảm trong tâm hồn con
người, giàu cảm xúc với những cung bậc khác nhau như chính tính cách ln
hết mình của Xn Quỳnh. Những bài thơ khi hạnh phúc đắm say, lúc đau
khổ tột cùng, lúc suy tư của nhà thơ ln gần gũi vì được viết với sự đằm

thắm của một người phụ nữ vừa làm thơ vừa làm vợ, làm mẹ.
Thơ Xuân Quỳnh giàu tình cảm, tình cảm sâu và tinh tế nhưng lẩn khuất
phía sau tình cảm ấy lại là tư tưởng có tính khái qt, triết lý (Cơn mưa khơng
phải của mình, Đồi đá ong và cây bạch đàn, Chuyện cổ tích về lồi người,
Những người mẹ khơng có lỗi...) Đấy là những triết lý nảy sinh từ đời sống
mà bà đã chiêm nghiệm được.
Thơ Xuân Quỳnh hướng nội, rất tâm trạng cá nhân, thơ là đời sống đích
thực, đời sống của bà trong những năm đất nước còn chia cắt, còn chiến tranh,
còn gian khổ, là những lo toan con cái, cơm nước, cửa nhà của một người phụ
nữ, người phụ nữ làm thơ thường ngược xuôi trên mọi ngả đường bom đạn.
Nét riêng của Xuân Quỳnh so với thế hệ nhà thơ hiện đại cùng thời chính là ở
khía cạnh nội tâm đó, thơ chị là thơ mang tâm trạng. Tâm trạng thơ Xuân
Quỳnh là tâm trạng nảy sinh từ đời sống của chính chị, từ hồn cảnh của riêng


19

chị. Xuân Quỳnh có tài tỏa lên các chi tiết ngẫu nhiên quan sát được từ đời
sống, biến các chi tiết đời trở nên thơ, có sức gợi, sức cảm kì lạ (Trời trở rét,
Khơng đề, Gió Lào cát trắng, Mùa hoa doi, Hoa cỏ may...)
Ngôn ngữ thơ không cầu kỳ, hoa mỹ mà rất giản dị, chân thành như chính
nỗi lịng của Xn Quỳnh. Tịếng thơ chính là tiếng lịng của chị, tiếng hát của
trái tim đang dặt dìu theo sóng nhạc tình u. Đọc thơ Xn Quỳnh ta có cảm
giác như là nước tn ra từ mạch nguồn trong trẻo, mát lành và vô tận, là
hương tỏa ra từ vườn hoa đương thì hương sắc.
Có thể nói ngơn ngữ thơ Xuân Quỳnh rất phong phú, ngôn ngữ thơ mang
một âm hưởng nhẹ nhàng, sâu lắng nhưng cũng có khi vui tươi, trẻ trung và
cũng có khi triết lí sâu sắc. Thơ bà đã thể hiện được một tâm hồn chân thật,
sâu sắc và nồng nàn, tạo cho người đọc một cảm giác nhẹ nhàng và có một sự
đồng cảm khi cảm nhận. Cũng vì vậy mà thơ Xuân Quỳnh đã đi vào tâm hồn

biết bao thế hệ người Việt và đã để lại trong lòng mỗi người vẻ đẹp của một
hồn thơ trữ tình, lãng mạn.
Xuân Quỳnh đã tạo ra một phong cách thơ riêng, một giọng thơ trữ tình
đằm thắm khơng hịa lẫn với bất kì một giọng thơ nào. Ngôn ngữ thơ Xuân
Quỳnh là thứ ngôn ngữ bình dị, trong sáng, thơ bà tạo cho người đọc một cảm
giác yên bình như được đắm mình trong dịng suối mát lành. Vừa có sự nhẹ
nhàng, trong sáng nhưng cũng xen lẫn những triết lí, lo âu. Có thể nói ngơn
ngữ thơ Xn Quỳnh là sự kết hợp của nhiều loại gia vị đặc sắc để tạo nên
một món ăn tinh thần hồn hảo.


20

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT, THỐNG KÊ, PHÂN LOẠI TỪ LÁY
TRONG THƠ XUÂN QUỲNH
2.1 Khảo sát thống kê
2.1.1 Giới hạn khảo sát
Trong khóa luận này chúng tơi đi vào khảo sát từ láy trong 100 bài thơ
của nhà thơ Xuân Quỳnh in trong tuyển thơ Không bao giờ là cuối của nhà
xuất bản Hội nhà văn, 2011.
2.1.2 Số lượng và tần số xuất hiện của từ láy
Trong 100 bài thơ in trong tuyển thơ Khơng bao giờ là cuối thì có đến 94
bài có sử dụng từ láy với 388 lượt dùng của 217 từ láy.
Bảng 2.1: Số lượng và tần số xuất hiện của từ láy trong thơ Xuân
Quỳnh
1.Ào ạt

3

14. Bỡ ngỡ


2

2.Âm thầm

2

15.Bụi bặm

1

3.Ầm ầm

3

16.Bướng bỉnh

1

4.Bàng hoàng

5

17.Chan chát

1

5.Bạn bè

2


18.Chắc chắn

1

6.Bập bùng

1

19.Chắt chiu

2

7.Bè bạn

3

20.Châu chấu

1

8.Bát ngát

4

21.Che chở

2

9.Biền biệt


1

22.Chi chít

1

10.Bé bỏng

2

23.Chênh vênh

1

11.Bộn bề

1

24.Chống váng

1

12.Bồi hồi

1

25.Chói chang

1


13.Bơ vơ

1

26.Chở che

3


21

27. Chống váng

1

51.Gìn giữ

1

28. Chói chang

1

52.Gian nan

2

29. Chở che


3

53. Gần gũi

1

30. Chơ vơ

1

54. Gập ghềnh

1

31. Chuồn chuồn

3

55. Gìn giữ

1

32. Cỏn con

1

56. Gian nan

2


33. Cồ cộ

1

57. Giăng giăng

1

34. Cồn cào

1

58. Giâu gia

1

35. Của cải

1

59. Giục giã

1

36. Da diết

4

60. Gọn gàng


1

37. Dãi dầu

1

61. Hóm hỉnh

1

38. Dạt dào

1

62. Hối hả

2

39. Day dứt

1

63. Hồi hộp

3

40.Dữ dội

3


64.Khắc khoải

1

41.Đau đớn

4

65.Khe khẽ

1

42.Đăm đắm

1

66.Khó khăn

1

43.Đâu đâu

1

67.Lạ lùng

2

44.Đầm ấm


1

68.Lang thang

4

45.Đất đai

1

69.Lao xao

1

46.Êm đềm

2

70.Lay lắt

1

47.Gắt gao

1

71.Lặng lẽ

5


48.Gặp gỡ

1

72.Lầm lụi

2

49.Gần gũi

1

73.Lấm tấm

1

50.Gập ghềnh

1

74.Lấp lánh

1


22

75.Le lói

2


99.Mịn màng

1

76.Leng keng

1

100.Miên man

1

77.Lẻ loi

1

101.Mỏng manh

1

78.Linh tinh

1

102.Mỏng mảnh

3

79. Lấp lánh


1

103.Mơng mênh

2

80. Le lói

2

104.Mới mẻ

3

81. Lẻ loi

1

105. Mịn màng

1

82. Leng keng

1

106. Miên man

1


83. Linh tinh

1

107. Mỏng manh

1

84. Loang loáng

2

108. Mỏng mảnh

3

85. Loay hoay

1

109. Mông mênh

2

86.Lung tung

1

110. Mới mẻ


3

87.Luôn luôn

1

111. Mượt mà

1

88.Lưu luyến

2

112. Nao nao

1

89.Mạnh mẽ

1

113. Náo nức

2

90. Lung lay

2


114.Ngọt ngào

2

91. Lung tung

1

115.Ngổn ngang

5

92. Luôn luôn

1

116.Ngột ngạt

2

93. Lưu luyến

2

117.Ngờ ngợ

2

94. Luyến luyến


1

118.Nham nhở

2

95.Mất mát

1

119.Nhăn nhó

1

96.Mấp mơ

1

120.Nhấp nhơ

1

97.Mênh mang

4

121.Nho nhỏ

3


98.Mênh mơng

12

122.Nhọc nhằn

4


23

123.Nhỏ nhắn

1

147.Rạo rực

2

124.Nhỏ nhen

1

148.Rầm rầm

2

125.Nhỏ nhoi


5

149.Rì rào

1

126.Nhộn nhịp

1

150.Ríu ra ríu rít

1

127.Nhột nhạt

1

151.Ríu rít

2

128.Nhởn nhơ

2

152.Roi rói

1


129.Nhức nhối

1

153.Rón rén

1

130.Nơ nức

1

154.Rộn ràng

1

131.Nơn nao

1

155.Rúc rích

1

132.Nồng nàn

2

156.Rung rinh


1

133.Nơi nơi

1

157.Rung rung

1

134.Nức nở

2

158.Run rẩy

1

135.Nườm nượp

1

159.Rực rỡ

8

136.Om sịm

1


160.Sàn sạt

1

137.Ồn ào

2

161.Sạch sẽ

1

138.Phảng phất

2

162.Sặc sỡ

1

139.Phá phách

1

163.Sặc sụa

1

140.Phơ phất


1

164.Sôi nổi

1

141.Quang quác

1

165.Sột soạt

1

142.Quây quần

2

166.Sung sướng

2

143.Rào rào

1

167.Tảo tần

1


144.Rạng rỡ

1

168.Tần ngần

1

145.Rải rác

1

169.Tần tảo

1

146.Rã rời

1

170.Tha thiết

4


24

171.Thanh thản

1


195.Trẻ trung

2

172.Thao thiết

1

196.Triền miên

1

173.Thao thức

2

197.Trơ trọi

2

174.Thăm thẳm

2

198.Uyển chuyển

1

175.Thắc mắc


1

199.Vằng vặc

1

176.Thắm thiết

1

200.Vẩn vơ

1

177.Thầm thì

1

201.Vất vả

2

178.Thầm thĩ

1

202.Viễn vơng

1


179.Thấp thống

1

203.Vĩnh viễn

4

180.Thì thầm

2

204.Vội vã

1

181.Thiết tha

1

205.Vỗ về

1

182.Thiệt thịi

1

206.Vời vợi


5

183.Thiu thiu

1

207.Vu vơ

1

184.Thơi thúc

1

208.Vụng về

1

185.Thờ ơ

1

209.Vun vút

1

186.Thưa thớt

1


210.Xa xơi

4

187.Tim tím

1

211.Xao xuyến

2

188.Tít tắp

4

212.Xào xạc

3

189.Tối tăm

1

213.Xăm xăm

1

190.Tơi tả


1

214.Xình xịch

1

191.Túm tụm

1

216.Xơn xao

6

192.Trăn trở

2

216.Xốn xang

1

193.Trằn trọc

1

217.Xúm xít

1


194.Trập trùng

2


25

2.2 Phân loại từ láy
2.2.1 Phân loại từ láy theo cấu tạo ngữ âm
Dựa vào số lượng âm tiết, phân loại từ láy trong thơ Xuân Quỳnh như
sau:
2.2.2.1.Từ láy bậc một
“Từ láy bậc một chính là từ láy đơi. Đó là những từ mà khi cấu tạo tiếng
gốc được nhân đôi một bước sao cho giữa tiếng láy và tiếng gốc có được sự
hịa phối ngữ âm thể hiện ở quy tắc điệp và đối” [10 tr 39]
a. Láy hoàn toàn: “Đặc trưng chung của từ láy hoàn toàn là trong cấu tạo
của nó tiếng gốc được lặp lại tồn bộ ở tiếng láy” [10 tr39]
Đối với từ láy hoàn tồn thì được chia làm hai loại: Từ láy hồn toàn điệp
vần và từ láy hoàn toàn đối vần.
- Từ láy hoàn toàn, điệp vần: “Đặc trưng của những từ láy thuộc mẫu này
là điệp phụ âm đầu, khuôn vần và thanh” [10 tr41]
- Từ láy hoàn toàn, đối vần: “Đặc trưng của từ láy hoàn toàn, đối vần là
điệp phụ âm đầu và đối khuôn vần nhờ sự biến dạng theo quy tắc chuyển đổi
chính âm hoặc phụ âm cuối.” [10 tr41]
Xét theo mức độ biến đổi âm thanh của tiếng láy so với tiếng gốc thì phân
loại từ láy hoàn toàn theo ba dạng tiêu biểu sau:
-Lặp lại hồn tồn tiếng gốc
-Có sự khác biệt về thanh điệu
-Có sự khác biệt về phụ âm cuối



×