BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ THỊ THANH TÂM
ĐỐI CHIẾU NHÓM ĐỘNG TỪ
THUỘC TRƯỜNG NGHĨA “ĂN” TRONG
TIẾNG VIỆT VÀ CÁC YẾU TỐ TƯƠNG
ĐƯƠNG TRONG TIẾNG ANH
Chuyên ngành: Ngơn ngữ học
Mã số: 60.22.02.40
TĨM TẮT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng – Năm 2015
Cơng trình được hồn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Người hướng dẫn khoa học: TS. Ngũ Thiện Hùng
Phản biện 1: PGS.TS. Trương Thị Diễm
Phản biện 2: PGS.TS. Võ Xuân Hào
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn
tốt nghiệp Thạc sĩ Khoa học xã hội và nhân văn họp tại
Đại Học Đà Nẵng vào ngày 26 tháng 07 năm 2015.
Có thể tìm hiểu Luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với danh từ, động từ là thực từ cơ bản, tiêu biểu trong hệ
thống từ loại tiếng Việt cũng như tiếng Anh. Đồng thời, động từ
được coi là vị từ hoàn chỉnh về nội dung và cấu trúc để tạo nên câu
trọn vẹn, đầy đủ hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ. Trong hệ thống
từ vựng tiếng Việt và tiếng Anh, động từ chiếm số lượng lớn, được
sử dụng với tần số rất cao trong đời sống sinh hoạt hàng ngày bởi nó
gắn liền với các hoạt động, trạng thái, cảm xúc của con người.
Từ “ăn” được coi là một động từ tiêu biểu như vậy, vì nó
được xếp vào nhóm từ chỉ hoạt động cơ bản của con người. Đây là
hoạt động chủ đạo, có ý nghĩa quan trọng và quyết định sự tồn tại
của con người.
Trong tiếng Việt, không chỉ có từ “ăn” mà cịn có rất nhiều từ
khác được dùng để diễn tả hành động “ăn” tùy thuộc vào từng ngữ
cảnh nhất định như: đớp, táp, xực, xơi, nuốt, gặm v.v….Trong tiếng
Anh cũng tương tự như vậy. Việc đối chiếu nhóm động từ thuộc
trường nghĩa “ăn” trong tiếng Việt và các yếu tố tương đương trong
tiếng Anh không nằm ngồi mục đích làm rõ những đặc điểm ngữ
nghĩa, ngữ dụng, khả năng kết hợp, nguyên tắc hoạt động của nó
trong mỗi ngơn ngữ, qua đó rút ra một số nhận xét về sự giống và
khác nhau giữa hai ngơn ngữ.
Chính vì những lí do trên, tơi quyết định chọn đề tài sau để
nghiên cứu: “Đối chiếu nhóm động từ thuộc trường nghĩa “ăn”
trong tiếng Việt và các yếu tố tương đương trong tiếng Anh”.
2
2. Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát và đối chiếu chuyển dịch những đặc điểm ngữ nghĩa,
ngữ dụng của nhóm động từ thuộc trường nghĩa “ăn” trong tiếng
Việt và các yếu tố tương đương trong tiếng Anh.
Chỉ ra được những điểm giống và khác nhau trong việc sử
dụng nhóm động từ thuộc trường nghĩa “ăn” trong tiếng Việt và các
yếu tố tương đương trong tiếng Anh.
Đưa ra những gợi ý giúp học tốt nhóm động từ thuộc trường
nghĩa “ăn” trong hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ
dụng của nhóm động từ thuộc trường nghĩa “ăn” trong tiếng Việt và các
yếu tố tương đương trong tiếng Anh; các điểm giống và khác nhau về
đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của nhóm động từ thuộc trường nghĩa
“ăn” trong tiếng Việt và các yếu tố tương đương trong tiếng Anh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khn khổ có hạn, luận văn chỉ tập trung khảo sát nhóm
động từ thuộc trường nghĩa “ăn” trong tiếng Việt. Đó là những từ
đồng nghĩa với động từ “ăn” và chúng tôi tiến hành nghiên cứu
trường nghĩa này theo 2 phương diện: Phương diện ngữ nghĩa và
phương diện ngữ dụng, phương diện cú pháp ít được đề cập đến.
Sau đó, từ những đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng của các động từ
thuộc trường nghĩa “ăn”, chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu để
rút ra những điểm giống và khác nhau.
3
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
- Tiểu thuyết Đất rừng phương Nam, Đoàn Giỏi, Nxb Kim Đồng.
- Tiểu thuyết Lều chõng, Ngô Tất Tố, Nxb Văn học.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết được nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, chúng tôi sử
dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại;
- Phương pháp phân tích, miêu tả;
- Phương pháp đối chiếu
5. Bố cục đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn
được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của nhóm động từ
thuộc trường nghĩa “ăn” trong tiếng Việt
Chương 3: Đối chiếu nhóm động từ thuộc trường nghĩa “ăn”
trong tiếng Việt và các yếu tố tương đương trong tiếng Anh
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trong các chức năng sinh lý cơ thể giúp nuôi sống con người
để tồn tại và sinh sôi trên mặt đất này, ăn uống có lẽ chiếm địa vị
quan yếu hàng đầu. Không ăn uống con người không thể sống. Thở
cũng quan trọng, có khi cịn hơn cả ăn uống, vì người ta có thể nhịn
ăn nhiều ngày, nhưng nhịn thở chỉ được vài phút. Tuy nhiên, tạo hóa
dường như đã sắp đặt để cho con người một nguồn cung cấp gần như
4
vơ tận về khí trời và nước uống mà khơng cần phải trả giá hay chỉ trả
giá rất ít. Duy chỉ có miếng ăn là con người phải vất vả lao động hay
đấu tranh mới có. Thành thử, kể từ thuở cịn “ăn lơng ở lỗ”, mối quan
tâm thường trực của xã hội loài người bao giờ cũng là miếng ăn, và
dưới bất cứ hình thức văn minh, kỹ thuật nào, dù là lượm hái, săn
bắt, nông nghiệp, hay kỹ nghệ, hoạt động căn bản của con người
trước hết bao giờ cũng hướng vào mục đích kiếm ăn.
Vì tính cách quan yếu và cơ bản của nó đối với đời sống con
người từ thuở ban sơ, “ăn” chắc hẳn phải là một trong những ý niệm
đầu tiên có mặt trong sự hình thành của ngơn ngữ khi con người bắt
đầu sống quần tụ và có nhu cầu trao đổi, tìm hiểu nhau.
Có lẽ rất ít người Việt chúng ta để ý đến sự kiện “ăn” là một từ
bao hàm nhiều nghĩa nhất và cũng được sử dụng nhiều hơn cả trong
sự cấu thành các từ ngữ, thành ngữ hay tục ngữ có liên quan hay
khơng đến ăn, hiểu theo nghĩa đen, nghĩa là bỏ thức ăn vào miệng,
nhai và nuốt. Các văn liệu phổ thơng hiện đại mà ta có đã chứng
minh sự kiện này. “Việt Nam Từ Điển” của hội Khai Trí Tiến Đức
xuất bản tại Hà Nội năm 1930 - một cơng trình sưu tập có giá trị lịch
sử về ngữ vựng tiếng Việt - đã liệt kê 12 nghĩa khác nhau của từ “ăn”
và hàng trăm thí dụ văn liệu có liên hệ với “ăn” trong hơn năm trang.
Các từ điển tiếng Việt khác, như của Đào Văn Tập hay Nguyễn Văn
Khôn, cũng dành một số trang đáng kể cho từ “ăn”. Gần đây, cuốn
“Từ Điển Tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học Hà Nội cũng đã minh
họa vị trí ưu thế của từ “ăn” qua 12 nghĩa khác nhau của từ này và
liệt kê những từ ngữ và thành ngữ hiện đại có liên quan đến “ăn” trên
5
bốn trang giấy. Sau hết, cuốn “Tục Ngữ Phong Dao” (1 và 2) của Ôn
Như Nguyễn Văn Ngọc – một nổ lực sưu tập coi như đầy đủ nhất từ
xưa đến nay – đã liệt kê gần 200 tục ngữ và ca dao bắt đầu bằng
tiếng “ăn”, và nếu ta kể cả những ca dao hay tục ngữ khác có tiếng
“ăn” ở trong thì thật khơng ngờ tổng số lại lên tới gần một phần
mười của tất cả cái kho tàng văn học dân gian này.
Cơng trình “Ăn, uống, nói, cười và khóc” của Trần Huiền Ân,
tác giả đã nêu lên những việc con người phải làm để sống, sống với
nghĩa hẹp là không chết và nghĩa rộng là tồn tại trong xã hội. Tác giả
đã cắt nghĩa và gợi mở nhiều điều thú vị về các biểu hiện trong ăn,
uống, nói, cười và khóc của người Việt từ kho tàng ca dao tục ngữ
Việt Nam. Những lời ăn tiếng nói này vơ cùng phong phú và phản
ánh văn hóa xã hội của người Việt trong giai đoạn trước đây. Đến
nay, khi xã hội đã văn minh và phát triển hơn thì ca dao tục ngữ trở
thành những câu cửa miệng truyền đời để giáo dục con người sống
có khn phép, lễ nghĩa hoặc tiếp thu những kinh nghiệm để lại.
Tác giả Dương Cường với bài phiếm luận “Nghĩ về chữ… ăn”
thì lại viết về chữ “ăn” như là một sự huyền diệu khi mà trong đời
sống của con người không thể nào lại thiếu được “ăn”. Hay “Ăn”
trong văn hóa Việt của tác giả Lê Phước An lại nói về những nét văn
hóa của người Việt dựa vào ngữ nghĩa của động từ “ăn”.
Trong bài viết “Ăn - một từ kì thú” tác giả Nguyễn Đức Dân
cho rằng “Ăn là một từ cơ bản và có trong ngơn ngữ của mọi dân tộc.
Từ ăn trong tiếng Việt cực kì lý thú, phản ánh quá trình nhận thức
đặc biệt của người Việt về hiện tượng ăn”. Bên cạnh đó tác giả còn
6
phân tích những từ ghép “ăn + X” trong tiếng Việt, đây sẽ là cơ sở để
luận văn chỉ ra điểm khác nhau khi đối chiếu động từ ăn trong tiếng
Việt và các chuyển dịch tương đương tiếng Anh.
Cũng liên quan đến động từ ăn, tiểu luận đối chiếu động từ
ăn trong tiếng Việt và tiếng Anh, tác giả chỉ tiến hành so sánh đối
chiếu trên ba động từ eat, have và ăn. Hay trong luận văn Verbs
denoting the concept of “Eating” (English versus Vietnamese),
Trương Thị Huệ cũng so sánh đối chiếu nhóm động từ “ăn” từ Anh
sang Việt trên bình diện cú pháp và ngữ nghĩa để làm sáng tỏ những
điểm giống và khác nhau của hai ngôn ngữ.
Từ những cơng trình nói trên, luận văn sẽ tiếp tục so sánh đối
chiếu với những yếu tố tương đương của động từ “ăn” trong tiếng
Anh và bổ sung thêm phần ý nghĩa ngữ dụng.
7
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. KHÁI NIỆM ĐỘNG TỪ
Về đại thể, động từ được xếp vào số các thực từ, thực ra không
phải tất cả các động từ đều là thực từ. Mức độ thực/hư của lớp động
từ khá phức tạp, có khi lệ thuộc vào trường hợp sử dụng cụ thể. Theo
các tiêu chuẩn định loại, động từ có ý nghĩa q trình hiểu rộng (bao
gồm quá trình động, quá trình tĩnh, quá trình quan hệ) được dùng làm
tên gọi các “quá trình” đó. Động từ có thể kết hợp về phía trước với
các phó từ (tình thái từ) chỉ tính thời gian như đã, đang, sẽ, vừa, tính
phân cực như khơng, tính liên nhân như hãy, đừng, chớ; kết hợp về
phía sau với phó từ chỉ tính thời gian rồi, với phó từ chỉ những tính
tình thái khác nhau như được, mất, phải. Chức năng cú pháp chính
của động từ là làm vị ngữ trong câu. Cũng như danh từ, động từ có
khả năng đảm nhận nhiều chức năng cú pháp khác nhau. Nhưng chức
năng phổ biến và quan trọng nhất là làm vị ngữ trong cấu tạo câu, có
vị trí trực tiếp đứng sau bổ ngữ. Do đó chức năng vị ngữ của động từ
làm thành một tiêu chuẩn đối lập động từ và danh từ trong tiếng Việt.
1.2. PHÂN LOẠI ĐỘNG TỪ
Động từ là một lớp từ lớn và đa dạng về ý nghĩa, cho nên có
thể phân chia theo những phương diện khác nhau. Theo Bài giảng
ngữ pháp tiếng Việt (2003) của Trương Thị Diễm, đối với tiếng Việt,
về mặt ngữ pháp, động từ được phân loại thành các nhóm sau:
+ Nhóm động từ khơng tác động đến đối tượng (nội động từ)
8
+ Nhóm động từ tác động đến đối tượng (ngoại động từ)
+ Nhóm động từ trao nhận
+ Nhóm động từ gây khiến
+ Nhóm động từ chuyển động
+ Nhóm động từ tồn tại hoặc tiêu biến
+ Nhóm động từ chỉ quan hệ so sánh, đối chiếu
+ Nhóm động từ chỉ quan hệ diễn biến theo thời gian
+ Nhóm động từ chỉ quan hệ diễn biến trong khơng gian
+ Nhóm động từ biến hóa
+ Nhóm động từ tình thái
+ Nhóm động từ trạng thái tâm lí
+ Nhóm động từ cảm nghĩ, nói năng
1.3. TỪ ĐỒNG NGHĨA
1.3.1. Bản chất hiện tượng đồng nghĩa
1.3.2. Phân loại các từ đồng nghĩa
a. Từ đồng nghĩa tuyệt đối
b. Từ đồng nghĩa sắc thái
c. Từ đồng nghĩa biểu niệm
9
1.4. Ý NGHĨA BIỂU NIỆM, BIỂU THÁI
1.4.1. Ý nghĩa biểu niệm
Ý nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa
chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất
định. Giữa các nét nghĩa có những quan hệ nhất định. Tập hợp này
ứng với một hoặc một số ý nghĩa biểu vật của từ. Tập hợp các nét
nghĩa phạm trù, khái quát chung cho nhiều từ được gọi là cấu trúc
biểu niệm.
1.4.2. Ý nghĩa biểu thái
Thuộc phạm vi ý nghĩa biểu thái của từ là những nhân tố đánh
giá như to, nhỏ, mạnh, yếu…, nhân tố cảm xúc như dễ chịu, khó chịu,
sợ hãi…, nhân tố thái độ như trọng, khinh, yêu, ghét… mà từ gợi ra
cho người nói và người nghe.
1.5. TRƯỜNG NGHĨA
1.5.1. Khái niệm trường nghĩa
Phạm vi những đơn vị từ vựng có quan hệ lẫn nhau về ý nghĩa,
trong đó, đơn vị từ vựng có thể là một từ vị hay một đơn vị thành
ngữ. Các đơn vị từ vựng trong một trường nghĩa phải có chung một
thành tố nghĩa. Sự phân tích các trường nghĩa sẽ bắt đầu sau khi phân
xuất được chúng. Người ta đã nghiên cứu các trường nghĩa như:
quan hệ thân tộc, màu sắc, bộ phận thân thể, động vật... Trong trường
nghĩa, ý nghĩa của mỗi đơn vị từ vựng được xác định trong mối quan
hệ với những đơn vị từ vựng khác cũng thuộc trường ấy.
10
1.5.2. Các trường nghĩa
a. Trường nghĩa biểu vật
Một trường nghĩa biểu vật là một tập hợp những từ đồng nghĩa
về ý nghĩa biểu vật. Để có những căn cứ dựa vào đó mà đưa ra các
nghĩa biểu vật của các từ về trường biểu vật thích hợp, chúng ta chọn
các danh từ làm gốc. Các danh từ này phải có tính khái quát cao, gần
như là tên gọi của các phạm trù biểu vật, như người, động vật, thực
vật, vật thể, chất liệu… Các danh từ này cũng là tên gọi các nét nghĩa
có tác dụng hạn chế ý nghĩa của từ về mặt biểu vật, là những nét
nghĩa cụ thể, thu hẹp ý nghĩa của từ. Như vậy, chúng ta sẽ đưa một
từ vào một trường biểu vật nào đó khi nét nghĩa biểu vật của nó trùng
với tên gọi của danh từ trên.
b. Trường nghĩa biểu niệm
Căn cứ để phân lập các trường biểu niệm là các ý nghĩa biểu
niệm của từ, cấu trúc biểu niệm không chỉ riêng cho từng từ mà
chung cho nhiều từ. Như vậy, một trường biểu niệm là một tập hợp
các từ có chung một cấu trúc biểu niệm. Cũng như các trường biểu
vật, các trường biểu niệm lớn có thể phân chia thành các trường nhỏ
và cũng có những “miền” với mật độ khác nhau. Do có hiện tượng
nhiều nghĩa biểu niệm, cho nên một từ có thể đi vào những trường
biểu niệm (hay đi vào những trường nhỏ) khác nhau. Vì vậy, cũng
giống như các trường biểu vật, các trường biểu niệm có thể giao thoa
với nhau, thẩm thấu vào nhau và cũng có lõi trung tâm với các từ
điển hình và những từ ở những lớp kế cận trung tâm, những từ ở lớp
ngoại vi. Nói tóm lại, vì các ý nghĩa biểu niệm tuy có nguồn gốc ở
11
các khái niệm nhưng không đồng nhất với khái niệm, cho nên các
trường biểu niệm cũng không đồng nhất với tập hợp các khái niệm,
không phải là những sự kiện ý duy thuần túy mà là những sự kiện
ngôn ngữ.
c. Trường nghĩa tuyến tính (trường nghĩa ngang)
Để lập nên các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ
làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những
chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ.
d. Trường liên tưởng
Các từ trong một trường liên tưởng trước hết là những từ cùng
nằm trong trường biểu vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính,
tức là những từ có quan hệ cấu trúc đồng nhất và đối lập về ngữ
nghĩa với từ trung tâm. Song, trong trường liên tưởng cịn có nhiều từ
khác được liên tưởng tới do xuất hiện đồng thời với từ trung tâm
trong những ngữ cảnh có chủ đề tương đối đồng nhất, lặp đi lặp lại.
Điều này khiến cho các trường liên tưởng có tính dân tộc, tính thời
đại và cá nhân.
1.6. THÀNH NGỮ VÀ THÀNH NGỮ TÍNH
1.6.1. Thành ngữ
Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hồn chỉnh về
nghĩa, vừa có tính gợi cảm. Bên cạnh nội dung trí tuệ, các thành ngữ
bao giờ cũng kèm theo các sắc thái bình giá, cảm xúc nhất định, hoặc
là kính trọng, tán thành; hoặc là chê bai khinh rẻ; hoặc là ái ngại, xót
thương…
12
a. Thành ngữ hợp kết
b. Thành ngữ hòa kết
1.6.2. Thành ngữ tính
1.7. LÝ THUYẾT HÀNH ĐỘNG LỜI NĨI
1.7.1. Hành động lời nói là gì?
Thuật ngữ hành động lời nói (speech act) do nhà triết học Anh
là J.Austin định nghĩa và được một nhà triết học khác là J.Searle phát
triển. Các ông tin rằng ngôn ngữ không chỉ được dùng để thơng báo
hoặc miêu tả cái gì đó mà nó thường được dùng để làm cái gì đó, để
thể hiện các hành động. Các hành động được thực hiện bằng lời được
gọi là hành động lời nói.
1.7.2. Các hành động lời nói
a. Hành động ngơn tại
b. Hành động ngơn trung
c. Hành động ngôn tác
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, những vấn đề lý thuyết về động từ, từ đồng
nghĩa, ý nghĩa biểu niệm, biểu thái, trường nghĩa, thành ngữ và thành
ngữ tính, lý thuyết hành động lời nói là những vấn đề lí luận cơ bản,
là cơ sở để luận văn Đối chiếu nhóm động từ thuộc trường nghĩa ăn
trong tiếng Việt và các yếu tố tương đương trong tiếng Anh ở các
chương sau.
13
CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA, NGỮ DỤNG CỦA NHÓM ĐỘNG
TỪ THUỘC TRƯỜNG NGHĨA “ĂN” TRONG TIẾNG VIỆT
Có hàng loạt các hoạt động “có ý thức” mà con người thực
hiện trong cuộc sống mưu sinh (lao động chinh phục tự nhiên, hành
xử với nhau qua các quan hệ xã hội và với chính bản thân mình) và
sự tri nhận chúng thơng qua các dạng thức ngôn ngữ. Những hoạt
động – động tác như vậy nhiều vô kể. Nhưng trong số những hoạt
động ấy, có một số hoạt động được xem như là những hoạt động phổ
quát xét trên phương diện nhận thức luận phản ánh ngôn ngữ như:
“ăn”, “ngủ”, “đi”, “đứng” “nói”, “cười”, “khóc”…
Tuy nhiên, một điều hết sức lý thú là những hoạt động nói trên
là chung cho mọi ngơn ngữ, song ở từng ngơn ngữ cụ thể và hình
thái ngơn ngữ phản ánh cụ thể thì chúng lại được ghi nhận rất khác
nhau. Thoạt đầu ta cho rằng đây là những nét khác nhau thuộc loại
hình ngơn ngữ, do cấu trúc ngôn ngữ quyết định. Song xét trên tổng
thể, toàn cục và ở một phương diện rộng lớn hơn – ngơn ngữ là một
hệ thống ký mã văn hóa – thì dường như sự khác nhau này lại là sự
khác nhau về văn hóa ở từng cộng đồng tộc người nói ngơn ngữ ấy.
2.1. KHẢO SÁT NHĨM ĐỘNG TỪ THUỘC TRƯỜNG NGHĨA
“ĂN” TRONG TIẾNG VIỆT
Phần này chúng tôi tiến hành khảo sát những từ thuộc trường
nghĩa “ăn” trong hai tiểu thuyết Lều chõng của Ngô Tất Tố và Đất
rừng phương Nam của Đoàn Giỏi.
14
2.2. ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA ĐỘNG TỪ THUỘC
TRƯỜNG NGHĨA “ĂN” TRONG TIẾNG VIỆT
Từ là đơn vị ngôn ngữ độc lập, có sẵn, là chỉnh thể gồm hai
mặt âm và nghĩa. Tính độc lập, có sẵn của từ thể hiện ở chỗ từ được
toàn xã hội chấp nhận và sử dụng chứ không phải lâm thời được tạo
nên trong quá trình giao tiếp. Từ là đơn vị nhỏ nhất để tạo câu. Nhà,
xe, tập, viết, xe đạp, hoa hồng… trong tiếng Việt hay worker,
beautiful, book, chair… trong tiếng Anh là tên gọi các sự vật, tính
chất,… tồn tại sẵn trong óc của từng người bản ngữ; khi cần sử dụng
chỉ việc lựa chọn và nhặt ra.
Tương đương với từ là hình vị. Hình vị cũng là đơn vị nhỏ nhất
có âm, có nghĩa nhưng khơng được sử dụng độc lập để tạo câu,
chúng chỉ được dùng để cấu tạo nên từ.
Trong tiếng Việt, động từ “ăn” được sử dụng như là một từ
(độc lập) hoặc như là một hình vị gốc để phái sinh các ngữ hợp kết
hay hòa kết hoặc các đơn vị thành ngữ tính khác.
2.2.1. Trường nghĩa liên tưởng các động từ thuộc trường
nghĩa “ăn”
a. Nhóm sắc thái lịch sự
Các động từ thuộc nhóm này được sử dụng trong những tình
huống quan trọng hoặc theo nghi thức hoặc trong các lời mời, khi
những người trẻ tuổi hơn nói chuyện với người lớn tuổi hơn. Các
động từ trong nhóm bao gồm dùng và xơi.
b. Nhóm sắc thái trung tính
Đây là nhóm bao gồm các động từ có thể được sử dụng trong
15
mọi trường hợp, mọi hồn cảnh, khơng phân biệt địa vị hay tuổi tác
đối với những đối tượng giao tiếp với nhau. Những động từ nằm
trong nhóm này gồm có ăn, nhai, nuốt, gặm, bú.
d. Nhóm sắc thái thân mật, suồng sã
Đây là những động từ không theo một nghi thức nào cả và có
phần thơ tục, chỉ thường được dùng trong những tình huống hội thoại
thân mật. Trong những bài viết hay bài thuyết trình mang tính chất
trịnh trọng sẽ không dùng những từ như thế này. Những động từ nằm
trong nhóm này gồm: chén, nhậu, xực, ngốn, tọng, đớp, táp, ních,
liếm.
2.2.2. Trường nghĩa tuyến tính
Động từ “ăn” từ nghĩa 1 là nghĩa gốc cho đến nghĩa 13 là
nghĩa phái sinh đã sự thay đổi rõ rệt ở mỗi nét nghĩa. Trung tâm của
mọi sự biến đổi nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu niệm của từ “ăn” là
nét nghĩa về phương thức hành động và chủ thể hành động. Do vậy
mà từ “ăn” có khả năng sản sinh nghĩa vị cao. Dựa vào phương thức
ghép từ, từ này tạo ra hàng loạt các từ mới khác làm cho số lượng
nghĩa vị, từ vị có từ “ăn” (làm yếu tố gốc) cũng gia tăng. Từ “ăn”
thường trực trong tâm thức của người Việt. Và tiếng Việt có một hệ
thống các khái niệm biểu thị những hoàn cảnh xã hội, các tình trạng
của đời sống con người được diễn đạt qua các từ ghép đẳng lập hai
yếu tố theo mơ hình: A = B + C (trong đó: A = từ ghép; B = ăn và C
= 1 động từ đi kèm biểu thị một hành động). Ngữ nghĩa của những từ
ghép kiểu này thường phản ánh các hoạt động sống cơ bản. Các từ
ghép như thế ln có những ý nghĩa khái quát bên cạnh những ý
16
nghĩa có tính hình tượng. Chẳng hạn: ăn nằm (1. Ăn và nằm; 2.
Chung đụng về xác thịt), ăn diện (ăn và mặc với nghĩa phê phán), ăn
ở (1. Ăn và ở nói chung; 2. Lấy nhau, cùng chung sống; 3. Cư xử,
đối xử)…
Ngoài các từ ghép đẳng lập, chúng ta cũng có hàng loạt các từ
ghép chính phụ theo mơ hình: A = B + C, trong đó: A = từ ghép, B =
ăn, C = 1. Động từ biểu thị các hành vi của con người cho là xấu xa;
2. Danh từ; 3. Tính từ chỉ phẩm chất. Các từ ghép loại này đều đi
theo mơ hình phân nghĩa; tồn bộ nghĩa của từ ghép đã có tính thành
ngữ cao.
2.3.
ĐẶC ĐIỂM NGỮ DỤNG CỦA ĐỘNG TỪ THUỘC
TRƯỜNG NGHĨA “ĂN” TRONG TIẾNG VIỆT
Trong các hoạt động giao tiếp cụ thể, ý nghĩa của từ phụ thuộc
vào nhiều yếu tố ngồi ngơn ngữ, ví dụ như: mối quan hệ giữa người
nói và người nghe, hồn cảnh giao tiếp, các quy định của xã hội về
ứng xử ngôn ngữ, các quan niệm về giá trị văn hóa …Vì vậy, ý nghĩa
ngữ dụng của từ là ý nghĩa được bổ sung vào các thành phần ý nghĩa
biểu vật và ý nghĩa biểu niệm của từ trong các hoạt động giao tiếp
ngôn ngữ cụ thể và nói chung rất khó xác định một cách chắc chắn.
Chính vì lí do này mà khi nói đến ý nghĩa của từ, người ta thường chỉ
tập trung vào hai thành phần ý nghĩa là ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa
biểu niệm. Tuy nhiên, theo một cách hiểu hẹp hơn thì ý nghĩa ngữ
dụng là thành phần ý nghĩa mà nhờ đó từ có thể biểu thị được thái
độ, tình cảm của người nói và tác động đến thái độ, tình cảm của
người nghe.
17
Ví dụ: Các từ “thâm sì”, “trắng dã” của tiếng Việt không chỉ
biểu thị sắc thái “đen” hay “trắng” mà cịn biểu thị thái độ khinh bỉ,
chê bai (khi nói về mơi: “mơi thâm sì” hay về mắt: “mắt trắng dã”).
Theo cách hiểu này thì ý nghĩa ngữ dụng của từ là thái độ, tình
cảm mà một từ có thể gợi ra. Nói chung, ý nghĩa ngữ dụng của từ
thường xuất hiện trong lời nói. Hồn cảnh giao tiếp cụ thể sẽ làm nổi
rõ thành phần ý nghĩa này của từ. Vì vậy, muốn xác định ý nghĩa ngữ
dụng của từ phải căn cứ vào các tình huống giao tiếp ngôn ngữ cụ
thể, tức là dựa vào ngữ cảnh hoặc/và chu cảnh vật lí, trong đó từ
được sử dụng.
Ở cấp độ văn bản, trong hoạt động giao tiếp, “ăn” luôn có
thêm những nét nghĩa văn hóa giao tiếp. Ở đây nghĩa bởi lời
(illocutionary meaning) được chú trọng trên cơ sở cái ý nghĩa tại lời
(locutionary meaning). Cái nghĩa bởi lời này được quy định bởi nét
nghĩa văn hóa của từ “ăn”. Chẳng hạn như với phát ngôn “X (từ
xưng gọi) ăn cơm chưa?” hay “X đang ăn cơm hả?”, xét theo lực
ngơn trung thì đây khơng phải là một câu hỏi mà là một hành động
chào hỏi theo văn hóa, qui ước ngôn từ của cộng đồng giao tiếp ngôn
ngữ văn hóa của người Việt. Hay trong phát ngơn “Đã ăn cơm chưa?
Tới giờ cơm rồi đấy?”, nếu xét theo hồn cảnh và thời điểm mà
người nói nói ra câu trên, thì có lẽ là người nói muốn đuổi khéo
khách về mà khơng làm phật lịng và thất lễ với khách. Như vậy, đây
không phải là một câu hỏi thông thường là đã ăn cơm chưa mà nó
hàm ẩn ý đuổi khéo hay nhắc khéo người nghe nên đi về vì người nói
khơng muốn tiếp tục cuộc hội thoại.
18
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Trong Chương 2, chúng tôi đã khảo sát, phân tích trường nghĩa
liên tưởng, trường nghĩa tuyến tính trong đặc điểm ngữ nghĩa và
trình bày cách hiểu của mình về khía cạnh thái độ, tình cảm của
người nói tác động đến thái độ, tình cảm của người nghe dưới sự ảnh
hưởng của văn hóa trong đặc điểm ngữ dụng của nhóm động từ ăn
trong tiếng Việt.
19
CHƯƠNG 3
ĐỐI CHIẾU NHÓM ĐỘNG TỪ THUỘC TRƯỜNG NGHĨA
“ĂN” TRONG TIẾNG VIỆT VÀ CÁC YẾU TỐ TƯƠNG
ĐƯƠNG TRONG TIẾNG ANH
3.1. TRÊN BÌNH DIỆN NGỮ NGHĨA
3.1.1. Nghĩa biểu niệm
Trong phần này chúng tơi tiến hành chuyển dịch (trên bình
diện nghĩa biểu niệm) từ Việt sang Anh nhóm động từ thuộc trường
nghĩa ăn và cho ví dụ.
3.1.2. Nghĩa biểu thái
Trong phần này chúng tơi tiến hành chuyển dịch (trên bình
diện nghĩa biểu thái) từ Việt sang Anh nhóm động từ thuộc trường
nghĩa ăn và cho ví dụ.
3.2. TRÊN BÌNH DIỆN NGỮ DỤNG
Hiện nay, trong việc học ngoại ngữ, Dịch là một trong những
mơn mà người học thường gặp nhiều khó khăn. Nhất là khi trong
tiếng Việt có nhiều từ đồng nghĩa nên người dịch thường gặp rất
nhiều khó khăn để dịch sao cho thật chính xác những từ này trong
từng trường hợp cụ thể. Điều này là do để có thể dịch từ ngơn ngữ
này sang ngơn ngữ khác thì người dịch không chỉ cần biết về từ
vựng, vững về ngữ pháp, hiểu về văn hóa của hai nước mà cịn nắm
rõ ý nghĩa ngữ dụng trong từng ngữ cảnh. Ý nghĩa ngữ dụng là thành
phần ý nghĩa mà nhờ đó từ có thể biểu thị được thái độ, tình cảm của
người nói và tác động đến thái độ, tình cảm của người nghe.
20
Động từ “ăn” trong tiếng Việt đối chiếu chuyển dịch sang
tiếng Anh mang những đặc điểm ngữ dụng sau:
3.2.1. Diễn đạt tương đương về nghĩa của động từ “ăn” vẫn
còn khi chuyển dịch sang tiếng Anh
- Trong ca dao, tục ngữ.
3.2.2. Diễn đạt tương đương về nghĩa của động từ “ăn” bị
mất khi chuyển dịch sang tiếng Anh
- Khi động từ ăn kết hợp với một từ khác (động từ): ăn học, ăn
ở, ăn chơi, ăn diện…nghĩa của động từ ăn bị mờ đi do từ đi sau nó.
- Khi động từ ăn kết hợp với một từ khác: ăn cánh, ăn ảnh, ăn
sương…nghĩa của động từ ăn hoàn toàn khác so với nghĩa nguồn.
3.3. NHỮNG ĐIỂM GIỐNG VÀ KHÁC NHAU CỦA ĐỘNG TỪ
THUỘC TRƯỜNG NGHĨA “ĂN” TRONG TIẾNG VIỆT QUA
ĐỐI CHIẾU VỚI CÁC YẾU TỐ TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG
TIẾNG ANH
3.3.1. Giống nhau
- Xét trên bình diện ngữ nghĩa, động từ “ăn” trong cả tiếng
Việt và tiếng Anh đều giống nhau về mặt nghĩa biểu thái. Cụ thể là nó
được chia làm 3 nhóm:
+ Nhóm sắc thái lịch sự: dùng, xơi, to have, to eat.
+ Nhóm sắc thái trung tính: ăn, nhai, nuốt, gặm, bú, to eat, to
feed, to take, to swallow, to gulp, to chew, to gnaw, to nibble, to
suck.
21
+ Nhóm sắc thái thân mật, suồng sã: nhậu, đớp, táp, tọng, ních,
ngốn, liếm, chén, xực, to lap, to cram, to fill, to stuff, to gobble, to
lick, to feast.
- Xét trên bình diện ngữ dụng, động từ “ăn” trong cả tiếng Việt
và tiếng Anh đều mang những ý nghĩa ngữ dụng do sự ảnh hưởng
của văn hóa Việt và văn hóa Anh.
3.3.2. Khác nhau
- Trong trường hợp sử dụng văn phong khẩu ngữ, động từ ăn
trong tiếng Việt và tiếng Anh thường có những hình thức hiện thực
(linguistic/syntactic realization) khác nhau.
a. Nhóm mang sắc thái lịch sự
Trong tiếng Việt, dùng và xơi được dùng trong cả văn viết và
văn nói, đặc biệt trong những tình huống trang trọng hay trong những
lời mời và thường được dùng kèm với từ “mời” phía trước. Trong
một số câu khơng phải là mời mọc hay khơng phải trong những tình
huống trang trọng thì nghĩa của từ xơi có thể thay đổi ít nhiều.
Nhưng trong tiếng Anh, ingest và consume là những động từ trang
trọng nhưng hiếm khi được sử dụng trong văn nói mà thường được
sử dụng trong văn viết.
b. Nhóm mang sắc thái trung tính
- Những động từ ăn này mang sắc thái trung tính trong tiếng
Anh nhưng lại mang sắc thái thân mật, suồng sã trong tiếng Việt.
- Khi kết hợp với từng loại thức ăn khác nhau thì sắc thái của
động từ này cũng khác nhau.
22
- Trong tiếng Việt, những từ mang sắc thái thân mật suồng sã
thường chỉ được dùng khi đối tượng được nói đến là người thân, bạn
bè hoặc đồng nghiệp nhưng trong tiếng Anh sẽ khác khi có bổ ngữ đi
kèm. Hơn nữa, - Trong tiếng Việt có nhiều từ ghép “ăn + X”, trong
đó X là động từ (ăn mặc, ăn ở, ăn nhậu), tính từ (ăn già, ăn non, ăn
mặn)… vai trò của ăn và X như nhau nhưng tổ hợp này có thể nói về
một điều X khái quát. Điều này trong tiếng Anh rất hiếm gặp.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3
Thuật ngữ “đối chiếu” thường được dùng để chỉ phương pháp
hoặc phân ngành nghiên cứu lấy đối tượng chủ yếu là hai hay nhiều
ngơn ngữ. Mục đích của nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ là làm sáng
tỏ những nét tương đồng và không tương đồng hay chỉ làm sáng tỏ
những nét không tương đồng của hai hay nhiều ngôn ngữ. Vì “ăn” là
một phạm trù nói chung của tất cả các loại hình ngơn ngữ, để diễn tả
hành động “ăn” trong tiếng Việt và tiếng Anh chúng ta có một số
lượng khá phong phú các từ để sử dụng tùy vào từng cảm xúc và
cách thể hiện trong từng ngữ cảnh của từng chủ thể nên trong chương
này, quá trình đối chiếu động từ “ăn” trong tiếng Việt và các yếu tố
tương đương trong tiếng Anh cũng không nằm ngồi mục đích tìm ra
được những điểm giống và khác nhau trên bình diện ngữ nghĩa và
ngữ dụng của hai ngôn ngữ.
23
KẾT LUẬN
Qua q trình đối chiếu nhóm động từ thuộc trường nghĩa “ăn”
trong tiếng Việt và các yếu tố tương đương trong tiếng Anh về mặt
ngữ nghĩa và ngữ dụng, chúng tôi đã đi đến kết luận.
Cũng tương tự như các hoạt động thường thấy của con người:
cười, nói, ngủ… Ăn là một phạm trù nói chung của tất cả các loại hình
ngơn ngữ. Để diễn tả hành động ăn (cho thức ăn vào miệng nhai để
nuôi sống cơ thể) trong tiếng Việt và tiếng Anh, chúng ta có một số
lượng khá phong phú các từ để sử dụng tùy vào từng cảm xúc và cách
thể hiện trong từng ngữ cảnh của từng chủ thể. Điểm giống nhau khi
đối chiếu nhóm động từ ăn trong tiếng Việt và các yếu tố tương đương
trong tiếng Anh đó là: Động từ “ăn” trong tiếng Việt và cả trong tiếng
Anh đều được chia thành 3 nhóm, có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Điểm khác nhau:
- Một số động từ “ăn” trong tiếng Việt thuộc nhóm sắc thái
này nhưng những yếu tố tương đương của nó trong tiếng Anh lại
thuộc nhóm sắc thái khác.
- Động từ “ăn” có bỗ ngữ đi kèm trong tiếng Anh có nghĩa
hồn tồn khác với trong tiếng Việt, đa số nghĩa của động từ “ăn”
được sử dụng là nghĩa đen, cảm xúc của người nói, người viết khơng
rõ. Nó được dùng khi nói chuyện với người lớn tuối hơn, người thân
trong gia đình, bạn bè thân quen. Tuy nhiên trong tiếng Việt thì
phạm vi sử dụng hạn chế hơn, đặc biệt, chúng ta không dùng động từ