Tải bản đầy đủ (.pdf) (26 trang)

ĐỐI CHIẾU CÁC PHƯƠNG THỨC CHIẾU VẬT TRONG TRUYỆN CƯỜI VIỆT - ANH 10600862

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (374.23 KB, 26 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯƠNG NGỌC HÀ

ĐỐI CHIẾU CÁC PHƯƠNG THỨC
CHIẾU VẬT
TRONG TRUYỆN CƯỜI VIỆT - ANH
Chun ngành: Ngơn ngữ học
Mã số: 60.22.02.40

TĨM TẮT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đà Nẵng – Năm 2015


Cơng trình được hồn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

Người hướng dẫn khoa học:PGS.TS. Trương Thị Diễm

Phản biện 1: TS. Bùi Trọng Ngoãn
Phản biện 2: PGS.TS. Võ Xuân Hào

Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn
tốt nghiệp Thạc sĩ Khoa học xã hội và nhân văn họp tại
Đại Học Đà Nẵng vào ngày 26 tháng 7 năm 2015.

Có thể tìm hiểu Luận văn tại:
- Trung tâm Thơng tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng


- Thư viện trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chiếu vật là phương diện ngữ dụng đầu tiên của diễn ngôn.
“Những biểu thức chiếu vật là những cái neo mà phát ngôn thả vào
ngữ cảnh để móc nối nó với ngữ cảnh”. Hiện tượng chiếu vật là hiện
tượng ngôn ngữ được sử dụng khá rộng rãi không chỉ trong đời sống
hàng ngày, mà còn được sử dụng khá nhiều trong các thể loại văn
học, trong đó có truyện cười.
Truyện cười được hình thành và phát triển cùng với quá trình
lao động và sinh hoạt hàng ngày. Khi tư duy phát triển, con người ý
thức được tầm quan trọng của truyện cười. Học ngoại ngữ thơng qua
các truyện cười cũng có thể xem là một trong những phương thức
nhằm đạt được hiệu quả cao trong giảng dạy ngoại ngữ.
Từ những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Đối chiếu các
phương thức chiếu vật trong truyện cười Việt – Anh” để nghiên cứu.
2. Lịch sử vấn đề
Truyện cười ra đời từ rất sớm do nhu cầu trao đổi thơng tin,
tư tưởng, tình cảm của con người trong quá trình giao tiếp và phục
vụ nhu cầu giao tiếp. Tuy nhiên, những cơng trình nghiên cứu về
truyện cười dưới góc nhìn ngơn ngữ học cịn chưa nhiều. Có thể
điểm qua một số cơng trình nghiên cứu về truyện cười như: “Tiếng
cười dân gian Việt Nam” của Trương Chính – Phong Châu. Cơng
trình “Các phương thức lạ hóa trong nghệ thuật biểu đạt truyện
cười” của tác giả Triều Nguyên. “Tiếng cười Việt Nam” của tác giả
Văn. “Những yếu tố văn hóa trong truyện cười hiện đại Pháp và Việt
Nam” của Trương Thị Kim Châu và Nguyễn Thị Hải. Bài báo khoa

học “Văn hóa ứng xử trong truyện cười Việt Nam và Nhật Bản” của
Lê Quỳnh Như trên tạp chí Văn học nghệ thuật, số 325, 2011. Tác


2
giả Nguyễn Hoàng Yến với bài báo “Hàm ý hội thoại trong các
truyện cười dân gian: Khoe của và Hai kiểu áo” trên tạp chí Ngơn
ngữ và Đời sống, số 3. Luận văn thạc sĩ của Trần Ngọc Châu về
“Truyện cười tiếng Việt nhìn từ lý thuyết hội thoại”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nhằm mục đích nêu ra được những điểm giống nhau và khác
nhau của các phương thức chiếu vật giữa truyện cười tiếng Việt với
truyện cười tiếng Anh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu một số vấn đề lí luận liên quan đến đối tượng
nghiên cứu của đề tài; Khảo sát, thống kê và phân loại các phương
thức chiếu vật trong truyện cười Việt – Anh; Tìm ra những điểm
giống nhau và khác nhau của các phương thức chiếu vật giữa truyện
cười Việt Nam với truyện cười tiếng Anh.
4. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu
4.1. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp khảo sát dữ liệu và thống kê; Phương pháp
phân tích; Phương pháp so sánh – đối chiếu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu là các phương thức chiếu
vật trong “101 truyện đặc sắc” của Đức Anh (Sưu tầm và tuyển
chọn), NXB Văn hóa – Thơng tin, 2012 và “Stories for Reproduction
2” của L.A.Hill, NXB Oxford, 2009.
5. Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Về mặt lí luận, luận văn sẽ cụ thể hóa những lí thuyết về
chiếu vật và phương thức chiếu vật.


3
Về mặt thực tiễn, nếu thành công, luận văn sẽ là nguồn tư
liệu phục vụ trong lĩnh vực giảng dạy nghiên cứu, dịch thuật tiếng
Anh và tiếng Việt.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ
lục, phần Nội dung của luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Đối chiếu phương thức chiếu vật bằng tên riêng
trong truyện cười Việt – Anh
Chương 3: Đối chiếu phương thức chiếu vật bằng biểu thức
miêu tả trong truyện cười Việt – Anh
Chương 4: Đối chiếu phương thức chiếu vật bằng chỉ xuất
trong truyện cười Việt – Anh
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. GIỚI THUYẾT VỀ CHIẾU VẬT
1.1.1. Khái niệm chiếu vật
Theo G.Yule: “Tự thân các từ không quy chiếu đến cái gì cả.
Con người mới làm ra cái việc quy chiếu đó. Thiết tưởng tốt hơn hết
là coi sự quy chiếu như là một hành động trong đó một người nói
hay người viết làm cho người nghe hay người đọc có thể nhận diện
ra nó”[33, tr.17].
1.1.2. Các phương thức chiếu vật
a. Phương thức dùng tên riêng
Tên riêng là tên đặt cho từng cá thể sự vật. Chức năng cơ bản

của tên riêng là chỉ cá thể sự vật đúng với phạm trù cá thể được gọi


4
tên bằng tên riêng đó. Đây là phương thức chiếu vật rõ ràng nhất và
thường chỉ chiếu vật cho một cá thể.
b. Phương thức dùng biểu thức miêu tả
“Miêu tả chiếu vật là ghép các yếu tố phụ vào một tên chung,
nhờ các yếu tố phụ mà tách được sự vật – nghĩa chiếu vật ra khỏi
các sự vật khác cùng loại với chúng” [3, tr.67].
Dựa vào tính chất, biểu thức miêu tả có thể được chia thành
biểu thức miêu tả xác định và biểu thức miêu tả không xác định.
Dựa vào cấu tạo, chúng ta có thể chia các biểu thức miêu tả
thành các loại:
- Biểu thức miêu tả là cụm danh từ gồm phần phụ trước và
danh từ trung tâm.
- Biểu thức miêu tả là cụm danh từ gồm danh từ trung tâm và
phần phụ sau.
- Biểu thức miêu tả là cụm danh từ gồm phần phụ trước,
danh từ trung tâm và phần phụ sau.
c. Phương thức chỉ xuất
Theo G.Yule: “Sự chỉ xuất rõ ràng là một dạng của sự quy
chiếu liên quan chặt chẽ đến ngữ cảnh của người nói, với một sự
khác biệt cơ bản nhất giữa biểu thức chỉ xuất là ở “gần người nói”
đối lại với ở “xa người nói” [33, tr.9].
Ba phạm trù chỉ xuất trong ngôn ngữ là chỉ xuất nhân xưng
(ngôi), chỉ xuất không gian, thời gian và chỉ xuất trong diễn ngôn.
1.2. MỘT VÀI NÉT VỀ TRUYỆN CƯỜI VIỆT - ANH
Truyện cười là những truyện kể về những hiện tượng đáng
cười trong cuộc sống, trong hành vi của người đời, nhằm làm cho

người ta cười.
Truyện cười chia thành hai loại chính: Truyện cười kết chuỗi,
truyện cười khơng kết chuỗi


5
1.2.1. Các truyện cười tiếng Việt được chọn khảo sát ở
luận văn
“101 tuyện cười đặc sắc” do tác giả Đức Anh sưu tầm và
tuyển chọn được nhà xuất bản Văn hóa – Thơng tin xuất bản vào
năm 2012. Tập truyện bao gồm 224 truyện cười với nhiều nội dung
khác nhau.
1.2.2. Các truyện cười tiếng Anh được chọn khảo sát ở
luận văn
“Stories for Reproduction 2” là đợt truyện thứ hai có nội
dung viết về truyện cười của Leslie A.Hill. “Stories for Reproduction
2” gồm 4 tập truyện được L.A.Hill chia theo 4 cấp độ: Introductory
(giới thiệu), Elementary (cơ bản), Intermediate (trung cấp) và
Advanced (nâng cao).
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Tất cả những vấn đề lí thuyết được tìm hiểu, trình bày và vận
dụng trong đề tài đều thống nhất với hệ thống quan niệm về chiếu vật
và các phương thức chiếu vật của tác giả Đỗ Hữu Châu. Đề tài “Đối
chiếu các phương thức chiếu vật trong truyện cười tiếng Việt và
tiếng Anh” được nghiên cứu dựa trên sự tổng hợp nhất quán tất cả
các bình diện lí thuyết trên.


6
CHƯƠNG 2

ĐỐI CHIẾU PHƯƠNG THỨC CHIẾU VẬT
BẰNG TÊN RIÊNG TRONG TRUYỆN CƯỜI VIỆT – ANH
2.1. KHẢO SÁT PHƯƠNG THỨC CHIẾU VẬT BẰNG TÊN
RIÊNG TRONG TRUYỆN CƯỜI VIỆT – ANH
Bảng 2.1. Bảng thống kê tần số sử dụng phương thức chiếu vật bằng
tên riêng trong truyện cười tiếng Việt và tiếng Anh
Truyện
cười

Số truyện sử dụng
phương thức chiếu
vật bằng tên riêng

Tỉ lệ %

Số lượt sử dụng
phương thức chiếu
vật bằng tên riêng

Tiếng Việt

23/224

10,27

70

Tiếng
Anh


93/120

77,5

558

Bảng 2.2. Bảng thống kê lượt sử dụng phương thức chiếu vật bằng
tên riêng có yếu tố phụ và khơng có yếu tố phụ trong truyện cười
tiếng Việt và tiếng Anh
Truyện
cười
Tiếng Việt

Tiếng Anh

Phương thức chiếu vật
bằng tên riêng

Số lượt
xuất hiện

Tỉ lệ %

Có sử dụng các yếu tố phụ

14

20

Khơng sử dụng các yếu tố

phụ

56

80

Có sử dụng các yếu tố phụ

200

35,84

Khơng sử dụng các yếu tố
phụ

358

64,16


7
2.2. NHẬN XÉT CHUNG
Dễ dàng nhận thấy sự chênh lệch khá lớn trong cách thức sử
dụng phương thức chiếu vật bằng tên riêng giữa truyện cười tiếng
Việt và truyện cười tiếng Anh.
Điều này có thể lý giải bằng đặc trưng văn hóa dân tộc.
Người Việt, với tính cộng đồng cao nên trong giao tiếp thường ít chú
trọng đến cái TƠI cá nhân nên người Việt có xu hướng khơng nhắc
nhiều đến tên riêng.
Thêm vào đó, việc coi trọng tính tơn ti trong giao tiếp xã hội

cũng đã khiến cho thói quen xưng và đặc biệt là hô bằng tên riêng là
điều không phổ biến trong cộng đồng Việt và đặc biệt là đối với
người xưa. Người Việt, thậm chí, kiêng nhắc đến tên riêng của ai đó;
khơng cho phép hơ gọi người lớn tuổi hơn bằng tên riêng.
Ngược lại, trong tiếng Anh, do đề cao tính dân chủ trong
giao tiếp xã hội, đề cao cái TÔI cá nhân nên chiếu vật bằng tên riêng
khá phổ biến.
Phương thức chiếu vật bằng tên riêng được xem là phương
thức chiếu vật lí tưởng nhất. Chỉ cần nghe thấy tên riêng đó là người
nghe hay người đọc có thể đốn ra được đối tượng mà người nói,
người viết muốn hướng tới là ai, là cái gì.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nếu chỉ dùng mỗi tên
riêng thì người nghe hay người đọc dễ rơi vào tình trạng mơ hồ chiếu
vật. Vì vậy để tránh tình trạng mơ hồ này, người ta thường dùng các
yếu tố phụ đi kèm với tên riêng.


8
2.3. NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT CỦA
PHƯƠNG THỨC CHIẾU VẬT BẰNG TÊN RIÊNG GIỮA
TRUYỆN CƯỜI VIỆT – ANH
2.3.1. Những điểm tương đồng
Ở cả 2 ngôn ngữ, biểu thức tên riêng có cấu tạo là cụm từ
đều được sử dụng nhiều hơn so với biểu thức tên riêng có cấu tạo là
từ.
Biểu thức tên riêng có cấu tạo là từ chính là tên của các đối
tượng được nhắc đến. Các tên riêng được sử dụng trong biểu thức có
thể là 1 từ đơn hình vị, cũng có thể là 1 từ đa hình vị.
Biểu thức tên riêng cũng có thể là từ chỉ chức vụ của đối
tượng và được sử dụng để chiếu vật đến đối tượng đó.

Biểu thức tên riêng có cấu tạo là cụm từ mà chúng tôi khảo
sát trong truyện cười tiếng Việt và tiếng Anh được phân làm 2 loại:
thành tố phụ trước + tên riêng và tên riêng + thành tố phụ sau.
Thành tố phụ trước có thể là danh từ thân tộc như chú, anh,
em, cơ, hay aunt, uncle,…; có thể là các từ chức nghiệp như thầy hay
captain; có thể là các từ chuyên dùng để xưng hô như thằng hoặc
Mr, Mrs, Miss.
Thành tố phụ sau có thể là định ngữ là danh từ chỉ quan hệ
thân tộc. Chức năng cơ bản của tên riêng là chỉ cá thể sự vật đúng
với phạm trù của cá thể được gọi tên bằng tên riêng đó. Trong cả 2
ngơn ngữ Việt – Anh, chức năng cơ bản này của tên riêng của được
thể hiện rõ nét.
2.3.2. Những điểm dị biệt
Trong truyện cười tiếng Việt, các thành tố phụ trước được sử
dụng trong biểu thức tên riêng có cấu tạo cụm từ là các danh từ thân
tộc, các danh từ chức nghiệp hay số từ + danh từ chỉ đơn vị quy ước
ước chừng lâm thời như đã nói ở trên. Trong khi đó, trong truyện


9
cười tiếng Anh, các thành tố phụ được sử dụng cịn là các mạo từ.
Một điểm khác nữa đó là trong truyện cười tiếng Anh, các
thành tố phụ sau có thể là các con số, trong khi đó, truyện cười tiếng
Việt lại khơng có cách sử dụng này.
Ngồi chức năng cơ bản là để gọi tên sự vật, hiện tượng,
biểu thức tên riêng cịn có một chức năng khác, đó là chức năng
chuyển nghĩa hoán dụ.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Các biểu thức tên riêng có cấu tạo là từ hoặc là cụm từ. Các
biểu thức tên riêng là từ bao gồm: các tên riêng là từ đơn và tên riêng

là từ đa hình vị. Các biểu thức tên riêng gồm trong truyện cười tiếng
Việt và tiếng Anh là cụm từ bao gồm 2 loại: thành tố phụ trước + tên
riêng và tên riêng + thành tố phụ sau.
Trong truyện cười tiếng Việt, các thành tố phụ trước và thành
tố phụ sau chỉ là các danh từ thân tộc, danh từ chỉ chức nghiệp và các
danh từ chung khác. Trong khi đó, trong tiếng Anh, các mạo từ, tính
từ và các con số cũng được sử dụng để làm thành tố phụ trước hoặc
sau trong biểu thức tên riêng.
Chức năng cơ bản của biểu thức tên riêng trong truyện cười
tiếng Việt và tiếng Anh là gọi tên sự vật, hiện tượng được nói đến.
Và chức năng thứ hai của biểu thức tên riêng là chức năng chuyển
nghĩa hoán dụ.


10
CHƯƠNG 3
ĐỐI CHIẾU PHƯƠNG THỨC CHIẾU VẬT
BẰNG BIỂU THỨC MIÊU TẢ TRONG TRUYỆN CƯỜI
VIỆT - ANH
3.1. KHẢO SÁT PHƯƠNG THỨC CHIẾU VẬT BẰNG BIỂU
THỨC MIÊU TẢ TRONG TRUYỆN CƯỜI VIỆT – ANH
Bảng 3.1. Bảng thống kê tần số sử dụng phương thức chiếu vật
bằng biểu thức miêu tả trong truyện cười tiếng Việt và tiếng Anh
Truyện
cười

Số truyện sử dụng
phương thức chiếu
vật bằng biểu thức
miêu tả


Tỉ lệ

Số lượt sử dụng
phương thức
chiếu vật bằng
biểu thức miêu tả

Tiếng Việt

151/224

67,41%

339

Tiếng Anh

101/120

81,17%

261

Bảng 3.2. Bảng thống kê lượt sử dụng phương thức chiếu vật bằng
biểu thức miêu tả có sử dụng thành phần phụ trước và thành phần
phụ sau trong truyện cười tiếng Việt và tiếng Anh
Truyện
cười


Phương thức chiếu vật bằng
biểu thức miêu tả

Số lượt
xuất
hiện

Tỉ lệ

Tiếng
Việt

Xác định

218

64,31%

Không xác định

121

35,69%

Không cần yếu tố miêu tả đi
kèm

0

0%


29

8,55%

Cần yếu tố
miêu tả đi
kèm

Yếu tố miêu tả
là thành phần
phụ trước


11

Tiếng
Anh

Yếu tố miêu tả
là thành phần
phụ sau

158

46,61%

Yếu tố miêu tả
là thành phần
phụ trước và

thành phần phụ
sau

152

44,83%

Xác định

225

86,2%

Không xác định

36

13,79%

Không cần yếu tố miêu tả đi
kèm

0

17,63%

Yếu tố miêu tả
là thành phần
phụ trước


144

55,17%

Yếu tố miêu tả
là thành phần
phụ sau

3

1,15%

Yếu tố miêu tả
là thành phần
phụ trước và
thành phần phụ
sau

114

43,68%

Cần yếu tố
miêu tả đi
kèm


12
3.2. NHẬN XÉT CHUNG
Dựa vào tính chất, chúng ta có các biểu thức miêu tả chiếu

vật xác định và các biểu thức miêu tả chiếu vật không xác định.
Những biểu thức có “một” ở trước thường là những biểu thức miêu tả
không xác định. Trong tiếng Anh, những biểu thức có “a/an” ở trước
thường là những biểu thức khơng xác định.
Đối với biểu thức miêu tả xác định - những biểu thức mà cả
người nói và người nghe biết vì đã được nhắc đến ở tiền văn - có
nhiều yếu tố trong biểu thức giúp chúng ta xác định đó có phải là
biểu thức miêu tả xác định hay khơng.
Khơng chỉ những biểu thức có “the” đứng trước mới là
những biểu thức miêu tả xác định mà cịn có những yếu tố phụ khác
cũng góp phần giúp cho chúng ta biết đó là những biểu thức miêu tả
xác định.
Các biểu thức miêu tả trong truyện cười tiếng Việt và tiếng
Anh đều là những cụm từ chính phụ có danh từ làm thành tố trung
tâm và các thành tố phụ đi kèm có chức năng thu hẹp phạm vi chiếu
vật của thành tố chính. Dựa vào cấu tạo, chúng ta có 3 loại biểu thức
miêu tả như đã trình bày ở Chương 1.
Trong tiếng Việt, các yếu tố miêu tả là thành phần phụ trước
được sử dụng có thể là các lượng từ, số từ, danh từ chỉ loại chuyên
dùng, danh từ chỉ loại lâm thời. Còn các yếu tố miêu tả là thành phần
phụ sau được sử dụng có thể là tính từ, phó từ, đại từ, chỉ từ hoặc là
cụm danh từ, cụm tính từ, cụm động từ, cụm trạng từ, cụm chủ vị và
mệnh đề.
Trong tiếng Anh, các yếu tố miêu tả là thành phần phụ trước
được sử dụng có thể là các mạo từ, các từ phiếm chỉ (another, other),
các chỉ, các trạng từ (very), các đại từ sở hữu, các đại từ (others,
one,…), các đại từ phiếm chỉ (all, none, any, half, one, some…), các


13

số đếm, các số thứ tự, các tính từ, các danh từ chỉ đơn vị, hoặc là các
cụm danh từ chỉ loại (a piece of, a box of, the sack of,…). Các yếu tố
miêu tả là thành phần phụ sau được sử dụng có thể là các cụm giới từ
hoặc là các mệnh đề quan hệ, mệnh đề so sánh.
3.3. NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT CỦA
PHƯƠNG THỨC CHIẾU VẬT BẰNG BIỂU THỨC MIÊU TẢ
TRONG GIỮA TRUYỆN CƯỜI VIỆT – ANH
3.3.1. Những điểm tương đồng
Cả truyện cười tiếng Việt và truyện cười tiếng Anh đều chia
biểu thức miêu tả dựa vào tính chất và cấu tạo.
Một điểm tương đồng nữa đó là chức năng của các biểu thức
miêu tả trong truyện ở hai ngôn ngữ đều chiếu vật cá thể, tức là một
biểu thức miêu tả chỉ chiếu vật đến một đối tượng hay một sự việc
nào đó.
Ngồi ra, cả truyện cười tiếng Việt lẫn truyện cười tiếng Anh
đều có những biểu thức miêu tả đồng quy chiếu.
Bên cạnh đó, các thành phần phụ được sử dụng trong các
biểu thức miêu trong truyện cười ở hai ngôn ngữ cũng giống nhau,
đó là đều sử dụng các số từ, các danh từ chỉ loại, tính từ, các đại từ,
các mạo từ (quán từ, lượng từ),….
3.3.2. Những điểm dị biệt
Mặc dù các thành phần phụ được sử dụng trong cả truyện
cười tiếng Việt và truyện cười tiếng Anh giống nhau nhưng vị trí của
chúng lại có phần khác nhau. Thêm một điểm khác biệt nữa là tiếng
Việt khơng có kết cấu cụm từ giới từ trong cách sử dụng như trong
tiếng Anh. Trong tiếng Anh, mọi biểu thức miêu tả đều phải có thành
phần phụ đứng trước danh từ trung tâm, trong khi tiếng Việt có thể
khơng cần thành phần phụ trước.



14
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3
Phương thức chiếu vật bằng biểu thức miêu tả trong truyện
cười tiếng Việt và tiếng Anh được phân chia dựa vào cấu tạo và tính
chất. Chức năng cơ bản của các biểu thức miêu tả là quy chiếu cá
thể.
Tất cả các biểu thức miêu tả trong truyện cười tiếng Việt và
tiếng Anh quy chiếu đối tượng muốn nói đến thơng qua chức năng
miêu tả. Các biểu thức miêu tả khơng chỉ có chức năng chiếu vật
trong khơng gian, thời gian mà cịn góp phần làm cho việc diễn đạt
thêm phong phú, hóm hỉnh, tạo những liên tưởng bất ngờ và thú vị.
CHƯƠNG 4
ĐỐI CHIẾU PHƯƠNG THỨC CHIẾU VẬT BẰNG CHỈ XUẤT
TRONG TRUYỆN CƯỜI VIỆT - ANH
4.1. KHẢO SÁT PHƯƠNG THỨC CHIẾU VẬT BẰNG CHỈ
XUẤT TRONG TRUYỆN CƯỜI VIỆT – ANH
Bảng 4.1. Bảng thống kê tần số sử dụng phương thức chiếu vật
bằng chỉ xuất trong truyện cười tiếng Việt và tiếng Anh
Truyện
cười

Số truyện sử dụng
phương thức chiếu
vật bằng chỉ xuất

Tỉ lệ

Số lượt sử dụng
phương thức
chiếu vật bằng

chỉ xuất

Tiếng Việt

223/224

99,56%

2.196

Tiếng Anh

120/120

100%

1.960


15
Bảng 4.2. Bảng thống kê lượt sử dụng phương thức chiếu vật bằng
chỉ xuất nhân xưng, chỉ xuất không gian, thời gian và chỉ xuất trong
diễn ngôn trong truyện cười tiếng Việt và tiếng Anh
Truyện
cười

Tiếng Việt

Tiếng Anh


Phương thức chiếu vật bằng
chỉ xuất

Số lượt
xuất
hiện

Tỉ lệ

nhân xưng

2094

93,99%

không gian, thời gian

103

4,69%

trong diễn ngôn

29

1,32%

nhân xưng

1802


91,94%

không gian, thời gian

104

5,31%

trong diễn ngôn

54

2,76%

4.2. NHẬN XÉT CHUNG
Trong 223 truyện cười tiếng Việt, có 2.196 lượt sử dụng
phương thức chiếu vật bằng chỉ xuất với tần số xuất hiện ở mỗi
truyện khá lớn và đồng đều. Và trong 120 truyện cười tiếng Anh, có
1.960 lượt sử dụng phương thức chiếu vật bằng chỉ xuất với tần số
xuất hiện rất nhiều ở mỗi truyện.
Điều này chứng tỏ vốn từ ngữ trong giao tiếp của người Việt
và người Phương Tây hết sức phong phú và linh hoạt, đồng thời thể
hiện văn hóa giao tiếp tế nhị, tinh tế của mỗi dân tộc.
Ngoài ra, những phương thức chiếu vật bằng chỉ xuất được
sử dụng cịn có những ý nghĩa giao tiếp nhất định. Trong khi việc lựa
chọn sử dụng phương thức chỉ xuất nhân xưng thể hiện một thái độ,
một tình cảm nhất định của người nói đối với người nghe hoặc đối
với đối tượng nhắc đến, thì việc sử dụng phương thức chỉ xuất không
gian, thời gian lại tạo ra những khoảng không gian, thời gian mà



16
người đối thoại dễ dàng hình dung và dễ dàng tham gia vào cuộc
thoại hơn.
Phương thức chỉ xuất bao gồm ba phạm trù: Chỉ xuất nhân
xưng (chỉ xuất về ngôi); Chỉ xuất không gian, thời gian; Chỉ xuất
trong diễn ngôn.
a. Chỉ xuất nhân xưng (chỉ xuất về ngôi)
Chỉ xuất nhân xưng trong tiếng Việt là một trong những vấn
đề hóc búa nhất đối với các nhà ngơn ngữ bởi nó chịu ảnh hưởng và
chi phối của các yếu tố như quan hệ liên nhân, ngữ vực và phép lịch
sự. Theo Diệp Quang Ban [1], chỉ xuất về ngôi trong tiếng Việt bao
gồm nhân xưng từ đích thực, danh từ chỉ quan hệ thân tộc, danh từ
chỉ chức vị và một số từ, tổ hợp từ khác.
· Nhân xưng từ đích thực
Nhân xưng từ đích thực được dùng để quy chiếu đế các vai
tham gia vào quá trình giao tiếp. Vai tham gia trong một sự kiện lời
nói gồm có: ngơi thứ nhất - vai người nói, ngơi thứ hai - vai người
nghe và ngôi thứ ba - không phải người nói cũng khơng phải người
nghe”.
Chỉ xuất vai người nói có thể là bản thân người nói được
biểu thị qua các đại từ nhân xưng ngơi thứ nhất số ít như tơi, ta, tao,
mình,… trong tiếng Việt và I, me, mine, myself,… trong tiếng Anh,
hay là người nói và một hoặc một số đối tượng hiện hữu hoặc không
hiện hữu tạo sự kiện lời nói được biểu thị qua các đại từ nhân xưng
ngôi thứ nhất số nhiều như ta, chúng ta, chúng tơi, chúng tớ, chúng
mình, chúng tao,… trong tiếng Việt và we, our, us, ourselves,… trong
tiếng Anh.
Từ những ví dụ trên, chúng ta dễ dàng nhận ra ta trong ví dụ

(1) và me trong ví dụ (2) là chỉ xuất vai người nói, trong khi đó
chúng tơi trong ví dụ (3), chúng ta trong ví dụ (4) và we trong ví dụ


17
(5), ví dụ (6) là chỉ xuất người nói và một hoặc một số đối tượng hiện
hữu hoặc không hiện hữu trong sự kiện lời nói. Theo Yule, đại từ
nhân xưng ngơi thứ nhất số nhiều có thể bao gộp người nghe hoặc
ngoại trừ người nghe. Như vậy, chúng tôi trong ví dụ (3) và we trong
ví dụ (5) là đại từ nhân xưng số nhiều ngoại trừ, và chúng ta trong ví
dụ (4) và we trong ví dụ (6) là đại từ nhân xưng số nhiều bao gộp.
Chỉ xuất vai người nghe được biểu hiện qua các đại từ nhân
xưng như mày, mi, chúng mày, chúng bay, bay… trong tiếng Việt và
you, yourself, yourselves trong tiếng Anh.
Chỉ xuất vai ngơi thứ ba khơng chỉ đến người nói hay người
nghe, mà là một đối tượng nào đó liên quan đến sự kiện lời nói. Chỉ
xuất ngơi thứ ba số ít biểu thị qua các đại từ nó, hắn, y, thị, nàng,…
trong tiếng Việt và he, she, it, him, her, its, himself, herself,… trong
tiếng Anh, và chỉ xuất ngôi thứ ba số nhiều biểu thị qua các đại từ
họ, bọn họ, chúng nó, chúng, bọn chúng,… trong tiếng Việt và they,
them, their, themselves,… trong tiếng Anh.
· Danh từ chỉ quan hệ thân tộc
Hầu hết các danh từ chỉ quan hệ thân tộc đều được dùng làm
từ xưng hô. Những danh từ thân tộc như ông, bà, bố, chú, bác, cô,
cậu, anh, chị, em, con, cháu… trong tiếng Việt và mother,
grandfather, father, mummy,… được dùng như những cụm từ chỉ
xuất. Ngoài ra, cả một số danh từ chỉ quan hệ bạn bè hay quan hệ
ngôi thứ như bạn, ngài, cô, thầy, giáo sư, phu nhân, tướng quân,…
trong tiếng Việt và sir, God, madam,… cũng được sử dụng như
những cụm từ chỉ xuất.

Chúng ta cũng dễ dàng nhận ra khi vai của người nói chuyển
thành vai của người nghe thì các chỉ xuất về ngôi cũng biến đổi theo
cho phù hợp.


18
· Danh từ chỉ chức vị và một số từ, tổ hợp từ khác
Ngoài lớp danh từ thân tộc, một số danh từ chỉ chức vị, nghề
nghiệp như cảnh sát, giám đốc, đốc công, bác sĩ, thầy đồ, quan tổng
đốc, chủ khách sạn, phó lí, lí trưởng, chú tiểu, quan, viên đại úy,…
trong truyện cười tiếng Việt và the shopkeeper, waiter, the dentist,
doctor, the police, porter, the navy, professor,… trong truyện cười
tiếng Anh được sử dụng để làm từ xưng hơ cho ngơi thứ hai.
Ngồi ra, các từ chỉ xuất khơng gian này cũng có thể kết hợp
với các danh từ để tạo nên các cụm từ chỉ xuất về ngơi, như dịng thư
này, người đàn ơng đó, bà nọ, thằng này, cái quần này,… trong
truyện cười tiếng Việt và these same fish, that job, this car, those
fish,… trong tiếng Anh.
b. Chỉ xuất không gian, thời gian
Trong truyện cười tiếng Việt, những từ chỉ xuất khơng gian
ngồi văn bản khơng đi kèm với danh từ gồm có đây, đấy, đó, kia,…
Trong tiếng Anh, việc định vị không gian được xác định thơng qua
các hình thức this, that, these, those, here, there.
Có hai loại mốc trong chỉ xuất: Mốc đơn chia khơng gian
chỉ xuất thành ba vùng: Vùng gần người nói, do đây, này biểu thị;
vùng xa người nói, do kia, kìa biểu thị; vùng trung độ – khơng gần
khơng xa người nói, do đó, nọ biểu thị. Mốc đơi cũng chia không
gian chỉ xuất thành ba vùng: vùng gần người nói, xa người đối
thoại, do đây, này biểu thị; vùng gần người đối thoại, xa người nói,
do đấy, ấy biểu thị; vùng xa cả người nói lẫn người đối thoại, do

kia, kìa biểu thị.
Tiếng Việt gọi điểm “hiện tại” bằng chỉ định từ bây giờ và
nay, cịn “khơng hiện tại” được gọi bằng chỉ định từ bấy giờ. Bấy giờ
được dùng để chỉ cả điểm trước “hiện tại” hay điểm trong “quá khứ”,
và điểm sau “hiện tại” hay điểm trong “tương lai”. Trong tiếng Anh,


19
điểm “hiện tại” được gọi bằng now và “không hiện tại” được gọi
bằng then. Then cũng được sử dụng để chỉ cả điểm trong “quá khứ”
lẫn điểm trong “tương lai” đối với điểm “hiện tại” của người nói.
· Từ chỉ thời điểm hiện tại
Trong truyện cười tiếng Việt, chỉ từ đi kèm với thực từ để
chỉ thời điểm hiện tại là từ nay và từ này. Nay dùng với từ hôm và từ
năm… như trong hôm nay, năm nay…; này dùng với các đơn vị từ
chỉ thời gian khác như trong tháng này, lúc này, lần này.
Tuy nhiên, this khi dùng với các đơn vị chỉ thời gian trên
không những chỉ thời điểm ở hiện tại mà cịn có thể chỉ thời điểm ở
quá khứ hoặc tương lai.
· Từ chỉ thời điểm quá khứ
Để chỉ thời điểm quá khứ, tiếng Việt chủ yếu dùng các thực
từ thời gian kết hợp với các từ như qua trong tối qua, chiều qua;
trước trong lúc trước. Các chỉ từ nãy, kia, nọ được dùng để chỉ thời
điểm trong quá khứ. Kết hợp với một số thực từ chỉ thời gian không
xác định, chỉ từ nãy chỉ thời điểm trong quá khứ gần như trong lúc
nãy. Chỉ từ kia kết hợp với thực từ chỉ thời gian xác định để chỉ thời
điểm trước cách thời điểm hiện tại một đơn vị đo thời gian xác định,
như trong hơm kia.
Ngồi ra, trong tiếng Việt, các thực từ chỉ thời gian còn kết
hợp với ấy để chỉ thời điểm trong quá khứ, như trong hôm ấy, tối

hôm ấy, lúc ấy.
· Từ chỉ thời điểm tương lai

Để chỉ thời điểm trong tương lai, tiếng Việt không dùng
chỉ từ mà dùng thực từ thời gian kết hợp với từ chỉ vị trí hay từ
chỉ hướng như sau và số từ trong nhiều tổ hợp, như một tháng
sau, sáu tháng sau.


20
c. Chỉ xuất trong diễn ngôn
Trong tiếng Việt, đại từ (nội chiếu) để chỉ xuất trong diễn
ngôn. Đại từ được hiểu là từ thay thế cho từ ngữ rõ nghĩa khác bên
trong diễn ngôn, tức là từ quy chiếu trong văn bản hay nội chiếu
(endophora). Khi cần thay thế cho động từ, tính từ và câu, ngồi
nhân xưng từ ngơi thứ ba và chỉ từ, trong tiếng Việt cũng sử dụng
các đại từ thế, vậy, có khi kèm theo như vào phía trước.
Ngồi ra, đại từ thế kết hợp được về phía sau với một số đại
từ chỉ định để tạo nên những tổ hợp như thế này, thế nọ, thế đấy, thế
kia,… Vậy khơng có khả năng này.
Trong tiếng Anh, so được sử dụng để chỉ xuất trong diễn
ngôn. Trong đó, so có thể thay thế cho động từ, tính từ hoặc câu. Một
điều lưu ý là cần phân biệt so là chỉ xuất trong diễn ngôn với so là
liên từ. Ví dụ:
4.3. NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT CỦA
PHƯƠNG THỨC CHIẾU VẬT BẰNG CHỈ XUẤT GIỮA
TRUYỆN CƯỜI VIỆT - ANH
4.3.1. Những điểm tương đồng
Trong biểu thức chiếu vật chỉ xuất nhân xưng, cả tiếng Việt
và tiếng Anh đều có các đại từ nhân xưng đều được chia làm ba ngôi

rõ ràng: ngôi thứ nhất - vai người nói (tơi, tớ, chúng tao, I, we,…);
ngơi thứ hai - vai người nghe (mày, mi, you,…); và ngôi thứ ba - đối
tượng được nói đến trong q trình giao tiếp (nó, hắn, he, she, it,…).
Ở ngơi thứ nhất số nhiều, cả hai ngơn ngữ đều có sự phân biệt giữa
đại từ chỉ xuất bao gộp và đại từ chỉ xuất ngoại trừ. Đối với ngôi thứ
ba, ở cả truyện cười tiếng Việt và truyện cười tiếng Anh cũng có sự
phân biệt về giống.


21
Danh từ chỉ chức vị, nghề nghiệp và các chỉ từ không gian
đều được sử dụng để chỉ xuất ngôi thứ hai và ngơi thứ ba trong q
trình giao tiếp.
Để chỉ xuất không gian, cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh đều có
thể sử dụng các từ chỉ khơng gian ngồi văn bản (như đây, đó, kia,…
trong tiếng Việt và here, there trong tiếng Anh) hoặc có thể kết hợp
các chỉ từ không gian với các danh từ khác (như này, đó, kia,… trong
tiếng Việt và this, that, these, those trong tiếng Anh).
4.3.2. Những điểm dị biệt
Điểm khác biệt thứ nhất trong cách thức sử dụng phương
thức chiếu vật bằng chỉ xuất trong truyện cười tiếng Việt và tiếng
Anh là các biểu thức chỉ xuất có sự sắp xếp trật tự của các từ khơng
giống nhau.
Trong tiếng Anh có sự phân biệt về cách, như chủ thể cách,
khách thể cách và sở hữu cách, trong khi đó tiếng Việt lại khơng có
sự phân biệt này.
Trong tiếng Việt, việc dùng đại từ nhân xưng trong xưng hơ
khơng thật phổ biến vì nó chịu sự tác động của yếu tố phi ngôn ngữ
như tuổi tác, quan hệ liên nhân và xã hội của những vai tham gia vào
sự kiện lời nói. Thay vào đó, tiếng Việt sử dụng phần lớn các danh từ

chỉ quan hệ thân tộc và các danh từ chỉ chức vị nghề nghiệp. Trong
khi đó, đa số từ chỉ xuất về ngơi trong tiếng Anh là nhân xưng từ
đích thực do ít chịu ảnh hưởng của các yếu tố phi ngôn ngữ như tuổi
tác, quan hệ liên nhân và xã hội.
Tiếng Việt có sự đối lập tam phân, trong khi tiếng Anh chỉ
có sự đối lập lưỡng phân trong việc chỉ xuất về không gian.


22
TIỂU KẾT CHƯƠNG 4
Phương thức chiếu vật bằng chỉ xuất trong truyện cười tiếng
Việt và tiếng Anh được phân chia thành ba phạm trù: chỉ xuất nhân
xưng, chỉ xuất không gian, thời gian và chỉ xuất trong diễn ngôn.
Chức năng cơ bản của các phương thức chỉ xuất là quy chiếu đến các
vai người nói, người nghe và đối tượng thứ ba hoặc sự vật, sự việc
được nhắc đến trong quá trình giao tiếp.
Tất cả các biểu thức chỉ xuất trong truyện cười tiếng Việt và
tiếng Anh đều có tính chất chỉ hiệu, quy chiếu đối tượng muốn nói
đến thơng qua chức năng định vị.


23
KẾT LUẬN
Từ việc nghiên cứu khái niệm về chiếu vật và các phương
thức chiếu vật trong truyện Việt – Anh, chúng tơi có thể rút ra những
kết luận sau đây:
1. Chiếu vật là hiện tượng ngôn ngữ thu hút sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ. Phương thức chiếu vật được sử
dụng rộng rãi không chỉ trong đời sống hàng ngày mà còn được sử
dụng linh hoạt và khéo léo trong các tác phẩm văn học. Truyện cười

là một trong những thể loại văn học ra đời và gắn bó với đời sống
sinh hoạt hằng ngày của con người. Nó khơng chỉ đem lại những
tiếng cười sảng khối giúp con người thư giãn sau những ngày lao
động mệt nhọc, mà cịn phản ánh tư duy và trí tuệ sâu sắc của lồi
người. Vì vậy, chúng tơi đã đi vào tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề về
cách thức sử dụng những phương thức chiếu vật trong truyện cười
tiếng Việt và đối chiếu với truyện cười tiếng Anh.
2. Trên cơ sở phân tích các dữ liệu khảo sát được, chúng tôi
nhận thấy: các phương thức chiếu vật trong truyện cười tiếng Việt và
tiếng Anh bao gồm phương thức chiếu vật bằng tên riêng, phương
thức chiếu vật bằng biểu thức miêu tả và phương thức chiếu vật bằng
chỉ xuất phong phú về số lượng, đa dạng về thể loại và linh hoạt
trong cách thức cấu tạo cũng như sử dụng. Việc tìm hiểu các phương
thức chiếu vật trong truyện cười có ý nghĩa to lớn đối với việc học
tập, nghiên cứu và ứng dụng các tri thức dụng học vào thực tiễn cuộc
sống.
3. Đối chiếu các phương thức chiếu vật trong truyện cười
tiếng Việt với các phương thức chiếu vật trong truyện cười tiếng Anh
là nhằm tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau trong cách thức
sử dụng cũng như cấu tạo của mỗi phương thức ở mỗi ngôn ngữ.


×