ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Ảnh hưởng của báo mạng điện tử đối với sinh viên báo
chí – trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng.
Người thực hiện
: Trần Vũ Ngọc Un
Lớp
: 12CBC1
Khố
: 2012- 2016
Ngành
: Báo chí
Người hướng dẫn : Đặng Hồng Cam Vũ
Đà Nẵng, 05/2016
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 3
1. Lý do chọn đề tài. ...................................................................................... 3
2. Lịch sử nghiên cứu. ................................................................................... 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. ............................................................ 4
4. Phương pháp nghiên cứu. .......................................................................... 5
5. Bố cục đề tài: ............................................................................................. 5
CHƯƠNG MỘT: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ.......... 7
1.1. Khái niệm báo mạng điện tử................................................................... 7
1.2. Những đặc trưng của báo mạng điện tử.................................................. 8
1.2.1. Đa phương tiện ................................................................................. 8
1.2.2. Tính tức thời, phi định kì. ............................................................... 10
1.2.3. Tính tương tác ................................................................................ 11
1.3. Chức năng của báo mạng điện tử ......................................................... 13
1.3.1. Chức năng thông tin ....................................................................... 14
1.3.2. Chức năng tư tưởng ....................................................................... 15
1.3.3. Chức năng văn hóa - giải trí .......................................................... 16
1.3.4. Chức năng phản biện xã hội .......................................................... 17
1.4. Cách đọc báo mạng điện tử của một sinh viên bình thường và một sinh
viên báo chí.................................................................................................. 18
CHƯƠNG HAI: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP .................................................................................................... 20
2.1. Thói quen và xu hướng đọc báo mạng điện tử của sinh viên. .............. 23
2.2. Nhận định của của sinh viên về báo mạng điện tử ............................... 29
2.3. Ảnh hưởng của báo mạng điện tử đối với sinh viên ............................. 34
2.3.1. Ảnh hưởng tích cực ........................................................................ 34
2
2.3.2. Ảnh hưởng tiêu cực ........................................................................ 38
2.4. Đề xuất giải pháp .................................................................................. 40
2.4.1. Cách chọn lọc thông tin ................................................................. 41
2.4.2. Thái độ khi tiếp nhận thông tin ...................................................... 42
2.4.3. Lập diễn dàn chia sẻ thông tin ....................................................... 42
2.4.4. Viết báo mạng điện tử một cách nghiêm túc.................................. 43
KẾT LUẬN .................................................................................................... 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 46
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ................................................................. 48
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Cùng với sự phát triển chung của toàn x ã hội, nhu cầu trao đổi thông tin và
phương tiện truyền thông cũng dần được nâng cao. Sự ra đời và phát triển
vượt bậc c ủa công nghệ thông tin và truyền thông đã thực sự tạo nên cuộc
cách mạng trong lịch sử truyền thông, mở ra những trang mới cho việc truyền
và trao đổi thông tin giữa con người và con người.
Giờ đây, chỉ cần một phương tiện kết nối Internet con người đã có thể vượt
qua các rào cản về khoảng cách địa lý để giao tiếp, tiếp nhận những sự kiện
đang diễn ra trên thế giới một cách nhanh nhất. Có thể nói, sự ra đời của
Internet đã tạo tiền đề cho sự ra đời và phát triển của loại hình báo mạng điện
tử. Với những đặc trưng: đa phương tiện, tức thời và phi định kỳ, báo mạng
điện tử trở thành một loại hình báo chí ưu việt so với các loại hình báo chí
truyền thống.
Tại Việt Nam, từ khi xuất hiện cho đến nay, báo mạng điện tử có ảnh
hưởng sâu rộng đến đời sống của mọi người đặc biệt là sinh viên ngành báo
chí. Với những ảnh hưởng lớn và ngày một sâu rộng của báo mạng điện tử,
cần thiết phải nghiên cứu những ảnh hưởng của báo mạng điện tử đến thế hệ
trẻ. Trên cơ sở đó, đề tài Ảnh hưởng của báo mạng điện tử đối với sinh viê n
báo chí - trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng phân tích ảnh hưởng
của báo mạng điện tử đối với sinh viên báo chí thuộc trường Đại học Sư phạm
Đà Nẵng. Qua việc khảo sát ảnh hưởng của báo mạng điện tử đối với sinh
viên báo chí Đại học Sư ph ạm Đà Nẵng , đề tài nghiên cứu rút ra những xu
hướng đọc báo mạng, ảnh hưởng của báo mạng điện tử đối với sinh viên, từ
đó đưa ra những biện pháp phù hợp nhằm giúp báo mạng có những tác động
tốt hơn đến sinh viên, phát huy những thế mạnh của báo mạng điện tử trong
4
việc định hướng tư tưởng, cung cấp thông tin, phát triển kỹ năng phục vụ cho
nghề nghiệp sau này của sinh viên Báo chí Đại học Sư phạm Đà Nẵng.
2. Lịch sử nghiên cứu.
Về vấn đề báo mạng điện tử đã có một số nghiên cứu như:
- Luận án tiến sĩ “Báo điện tử với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn
hoá Việt Nam hiện nay” Nguyễn Sơn Minh tại Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Khóa luận “Thực trạng thông tin trên báo mạng điện tử hiện nay”
cũng tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc
gia Hà Nội.
- Tiểu luận “Ảnh hưởng của các bài viết về vấn đề tính dục trên báo
mạng điện tử đối với sinh viên” tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
- Luận văn “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của
người đọc đối với báo điện tử” Nguyễn Thị Cẩm Hương tại Đại học Đà
Nẵng.
Tuy nhiên, đến nay, chưa có một nghiên cứu nào cụ thể về ảnh hưởng của báo
mạng điện tử đối với sinh viên Báo chí, Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung các vấn đề lý luận về báo mạng
điện tử và tác động của báo mạng.
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những ảnh hưởng
của báo mạng điện tử đến sinh viên ngành Báo chí trường Đại học Sư
phạm Đà Nẵng, Đại học Đà Nẵng.
5
4. Phương pháp nghiên cứu.
Để hồn thành khóa luận, tơi đã tiến hành sử dụng các phương pháp
điều tra xã hội học, kết hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định
lượng.
Đầu tiên tôi thực hiện phương phá p phỏng vấn sâu với nhóm đối tượng
được chọn để lấy thông tin từ thực tế cung cấp cho việc thực hiện khóa luận
và bảng hỏi. Yêu cầu của những người được chọn là sinh viên báo chí Đại học
Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, thường xuyên đọc báo mạng điện tử và có quan
điểm cá nhân rõ ràng.
Sau khi có được những thông tin cơ bản từ các câu trả lời phỏng vấn,
tơi tiếp thu nó để hồn thành bảng hỏi. Khi sử dụng bảng hỏi khảo sát, các câu
trả lời được chuẩn hóa theo số đơng, đồng thời đo lường được mức độ của
từng ảnh hưởng của báo mạng điện tử đối với sinh viên Báo chí Đại học Sư
phạm, Đại học Đà Nẵng.
Ngành Báo chí tại Đại học Sư phạm Đà Nẵng hiện nay có 4 khóa, mỗi
khóa thực hiện 50 bài khảo sát, tổng cộng khi hoàn thành thu được 200 bài
khảo sát.
5. Bố cục đề tài:
CHƯƠNG MỘT: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ
1.1. Khái niệm báo mạng điện tử
1.2. Những đặc trưng của báo mạng điện tử
1.2.1. Đa phương tiện.
1.2.2. Tính tức thời, phi định kì.
1.2.3. Tính tương tác
6
1.3. Chức năng của báo mạng điện tử
1.3.1. Chức năng thơng tin
1.3.2. Chức năng tư tưởng
1.3.3. Chức năng văn hóa - giải trí
1.3.4. Chức năng phản biện xã hội
CHƯƠNG HAI: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP
2.1. Thói quen và xu hướng đọc báo mạng điện tử của sinh viên.
2.2. Nhận định của của sinh viên về báo mạng điện tử
2.3. Ảnh hưởng của báo mạng điện tử đối với sinh viên
2.3.1. Ảnh hưởng tích cực
2.3.2. Ảnh hưởng tiêu cực
2.4. Đề xuất giải pháp
2.4.1. Cách chọn lọc thông tin
2.4.2. Thái độ khi tiếp nhận thông tin
2.4.3. Lập diễn dàn chia sẻ thông tin
2.4.4. Viết báo mạng điện tử một cách nghiêm túc
7
CHƯƠNG MỘT:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ
1.1. Khái niệm báo mạng điện tử
Báo mạng điện tử là một loại hình của báo chí, báo chí lại là một loại
hình truyền thơng. Để tìm hiểu rõ về khái niệm báo mạng điện từ, đầu tiên ta
nên tìm hiểu về khái niệm truyền thơng.
Theo Dương Xn Sơn và nhóm tác giả (2008), “Truyền thơng là một
q trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thơng tin, tình cảm, kĩ năng nhằm tạo
sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận th ức”
[3,tr.13].
Truyền thông đại chúng có nhiều loại hình khác nhau, trong đó báo chí
là một loại hình truyền thơng đại chúng sắc bén, có nhiệm vụ định hướng dư
luận xã hội và góp phần cải tạo thực tiễn. Báo mạng điện tử tuy là loại hình ra
đời muộn nhất, nhưng ngày càng khẳng định được vị thế và khả năng của
mình.
Trên thế giới, loại hình báo điện tử này có nhiều tên gọi khác nhau như
“online newpaper” (báo trực tuyến), e-journal (electronic journal – báo điện
tử), “e-zine” (electronic magazine – tạp chí điện tử)... Tại Việt Nam, thuật
ngữ “báo mạng điện tử” được sử dụng phổ biến, bên cạnh các thuật ngữ khác
như: “báo mạng”, “báo trực tuyến”, “báo chí internet”...
Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Trường Giang (2010), “Báo mạng điện tử là
một loại hình báo chí được xâ y dựng dưới hình thức của một trang web và
phát hành trên mạng Internet”. [9, tr28]
8
Báo mạng điện tử được phát hành trên internet, Dương Xuân Sơn
(2014) định nghĩa rằng: “Báo điện tử là hình thức báo chí mới được hình
thành từ sự kết hợp những ưu thế của báo in, báo nói, báo hình, sử dụng yếu
tố công nghệ cao như một nhân tố quyết định, quy trình sản xuất và truyền tải
thơng tin dựa trên nền tảng mạng internet toàn cầu ” [5, tr.234]
Như vậy có thể nói, báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây
dựng dưới hình thức một trang web, được phát hành trên internet. Báo mạng
điện tử khơng những có đầy đủ ưu thế của những loại hình báo chí trước đó
mà thơng tin cịn được cập nhật tức thời hằng ngày, hằng giờ.
1.2. Những đặc trưng của báo mạng điện tử
Trước khi tìm hiểu về ảnh hưởng của báo mạng điện tử, ta cần hiểu rõ
những đặc điểm, đặc trưng của báo mạng điện tử, từ đó mới có thể hiểu rõ vì
sao báo mạng điện tử lại tạo ra những tác động kể trên. Có thể phân loại các
đặc trưng của báo mạng điện tử thành 3 đặc trưng cơ bản, đó là tính đa
phương tiện, tính tức thời, phi định kì và tính tương tác.
1.2.1. Đa phương tiện
Đa phương tiện trên báo mạng điện tử là việc dùng nhiều loại phương tiện
(ngôn ngữ văn tự và phi văn tự) để thực hiện và sáng tạo một văn bản báo chí.
Một sản phẩm báo chí đa phương tiện phải mang đến cho cơng chúng từ 2
cách thức truyền tải trở lên. Dù sử dụng nhiều phương tiện hỗ trợ, nhưng văn
bản vẫn là yếu tố chính, quyết định sự thành cơng của báo mạng điện tử.
Khơng kể đến hình ảnh tĩnh và văn bản, thì những ứng dụng của tính đa
phương tiện trên báo mạng điện tử bao gồm những phần chính:
- Khả năng tích hợp hình ảnh động (animation & video)
9
Việc tích hợp video (bao gồm hình ảnh động và âm thanh) là một yêu
cầu quan trọng giúp báo mạng điện tử vượt qua được loại hình báo chí trước
đây. Bản thân video đã mang tính đa phương tiện (gồm cả hình ảnh động và
âm thanh), được kết hợp thêm hình ảnh tĩnh và văn bản, có thể nói báo mạng
điện tử đã tích hợp được t ồn bộ những phương tiện của tất cả các loại hình
báo chí trước .
Ngồi video, báo mạng điện tử cịn có thể tích hợp animation – những
hình ảnh động.
Có thể thấy rằng, khả năng tích hợp video và hình ảnh động kết hợp với
văn bản đã giúp báo mạng điện tử tạo ra những sản phẩm báo chí hấp dẫn và
đáng tin cậy hơn hẳn các loại hình báo chí truyền thống.
- Khả năng tích hợp những chương trình tương tác khác .
Theo hai tác giả Trường Gi ang và Anh Tú (2012), “Những chương
trình tương tác (interactive programs) ở đây được hiểu là một trong những
“phương tiện” truyền tải được tích hợp vào một sản phẩm báo mạng điện tử.
Với những chương trình này, cơng chúng của báo mạng điện tử có thể trực
tiếp tham gia vào sản phẩm báo chí đa phương tiện đó, ví dụ tham gia chơi
một trị chơi (game), trả lời câu hỏi hay làm trắc n ghiệm và có ngay đáp án,
tham gia những chương trình trực tuyến… ” [12]
Thời gian trước , số lượng các sản phẩm báo chí đa phương tiện trên
báo mạng điện tử Việt Nam cịn phần nhiều mang tính giải trí, những thơng
tin chính trị xã hội gần như khơng có yếu tố đa phương tiện. Vậy nhưng hiện
nay báo mạng điện tử tại Việt Nam đã thể hi ện sự thay đổi của mình, yếu tố
đa phương tiện mang tính giải trí vẫn chiếm số đơng và đa phần vẫn là sưu
tầm, phát lại nhưng đã có sự xuất hiện ngày càng nhiều của các infographic v ề
chính trị ( như infographic về chủ tịch nước qua các thời kì ), về sức khỏe
10
(những tip chăm sóc sức khỏe), về lịch sử (mơ phỏng các quá trình, những
diễn biến trong lịch sử) đã thể hiện dấu hiệu chuyển mình của yếu tố đa
phương tiện trên báo mạng điện tử V iệt Nam.
1.2.2. Tính tức thời, phi định kì.
Nguyễn Văn Dững (2013) định nghĩa, “Khoảng cách thời gian từ khi sự
kiện xuất hiện trong cuộc sống cho đến khi công chúng nhận được thông tin
về nó trên báo chí được coi là tính kịp thời”. [11, tr.162]
Theo Dương Xuân Sơn (2014), “Thông tin trên báo điện tử có thể được
cập nhật nhanh chóng, tức thời ở mọi lúc, mọi nơi nên ln “nóng hổi”, mang
tính thời sự cao. Lợi thế này khơng có ở báo viết, phát thanh hay truyền hình” .
[5, tr.246]
Các tin bài trên báo mạng điện tử được cập nhật không theo một chu kì
nào cả . Tin tức được cập nhật nhanh chóng, tức thời ngay khi sự việc đang
hoặc vừa xảy ra. Nội dung thông tin của báo trực tuyến không bị giới hạn
trong khuôn khổ cố định hạn hẹp trên mặt giấy, cũng như không bị giới hạn
bởi những nguyên tắc bất di bất dịch về thời gian phát hành của báo in. Sở dĩ
báo mạng điện tử có đặc trưng này vì điều kiện sản xuất của báo mạng điện tử
không mất nhiều thời gian, không bị chậm trễ do phải qua khâu in ấn và tổ
chức phát hành , ít tốn chi phí so với các loại hình báo chí khác. Trong thời đại
cơng nghệ hiện nay, đơi khi chỉ cần một chiếc smartphone là phóng viên có
thể tác nghiệp ngay lập tức tại hiện trường và gửi bài về tòa soạn.
Với người làm báo mạng điện tử thì áp lực về thời gian là rất lớn. Khác
với các loại hình báo chí khác , thơng tin đều phát hành định kỳ. Báo in phát
hành theo ngày, theo tuần, theo tháng; chương trình phát thanh hay truyền
hình phụ thuộc vào khung gi ờ và thời lượng phát sóng. Đối với báo mạng
điện tử thơng tin ln được cập nhật từng giờ, từng phút thậm chí từng giây .
11
Thời gian ln là tiêu chí “sống cịn” đối với các tờ báo mạng, bạn đọc địi
hỏi thơng tin ngày càng nhanh, mới và nóng . Nếu thơng tin đó đã được các tờ
báo khác đưa cách đây vài phút, có thể tờ báo sẽ khơng đăng tin đó nữa. Vì
vậy tính tức thời là một trong những tiêu chí mà bất kì tờ báo mạng điện tử
nào cũng mong đạt được.
Chính vì áp lực về thời gian , nên khơng phải bài báo nào cũng đạt được
độ hồn chỉnh tuyệt đối. Đôi khi thông tin của một bài báo trên báo mạng điện
tử chỉ là thông tin tạm thời, tương đối vì thơng tin có thể được bổ sung bất cứ
lúc nào. Nếu báo mạng điện tử không cập nhật thơng tin ngay tức thời, họ có
thể mất độc giả vì khi độc giả khơng tìm thấy thơng tin nóng hổi ở tờ báo nà y,
họ có thể dễ dàng cho chuyển sang đọc báo khác và rằng tờ báo này cập nhật
thơng tin khơng thường xun.
1.2.3. Tính tương tác
Hơn bất kì một loại hình báo chí nào khác, báo mạng điện tử có tính
tương tác cao, thể hiện rõ tính đại chúng và thỏa mãn đượ c nhu cầu thông tin
đa chiều của người đọc.
Theo từ điển từ và ngữ Tiếng Việt thì tương tác “là sự tác động qua lại,
có ảnh hưởng lẫn nhau giữa các đối tượng người hoặc vật ”. Vậy tính tương
tác trong báo chí là sự tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau giữa báo chí với
cơng chúng.
Để có được khả năng tương tác này, theo Ths. Mạch Lệ Thu, “Từ khi
xuất hiện năm 1980 đến nay, trong vòng 35 năm, Internet đã tạo ra 3 cuộc
cách mạng từ web 1.0, Truyền thông 2.0 và nay là Truyền thông 3.0”. [8]
Web 1.0 cung cấp thông tin một chiều, web 2.0 đã xuất hiện tính tương
tác khi thơng tin được cung cấp hai chiều và web 3.0 là sự cải tiến của web
12
2.0 lên một tầm cao hơn. Tương tác trên internet càng phát triển , thì tính
tương tác trên báo mạng điện tử càng cao.
Về khả năng tương tác thì có thể nói báo mạng điện tử đang đứng đầu
trong các loại hình báo chí. Có thể nói, nhờ tính tương tác, báo mạng điện tử
đã thốt khỏi thơng tin một chiều của các loại hình báo chí trước. Cơng chúng
báo mạng điện tử không chỉ tiếp nhận thông tin theo cách một chiều mà, có
thể tham gia vào q trình đưa tin, trở thành đồng tác giả của các bài báo
mạng điện tử bằng cách phản hồi tức thời ý kiến của mình, cung cấp thêm các
chi tiết, sự việc liên quan mà phóng viên chưa có điều kiện khai thác hay
tranh luận để mở rộng vấn đề theo các hướng khác nhau. Sự tương tác không
chỉ dừng lại giữa công chúng – tờ báo, tờ báo – công chúng mà cịn giữa cơng
chúng – cơng chúng.
So với việc cơng chúng gửi ý kiến qua thư như trước đây gửi mail rõ
ràng là nhanh chóng và thuận tiện hơn rất nhiều. Thơng qua email, tịa soạn có
thể gửi đến từng độc giả những bản tin tóm tắt theo định kỳ giúp họ tiết kiệm
thời gian và gắn kết hơn với tờ báo. Cũng nhờ vào khả năng tương tác mà tờ
báo có thể thiết lập được các diễn đàn hay thực hiện các cuộc bỏ phiếu, bình
chọn cho cơng tác điều tra xã hội học trở nên vô cùng đơn giản, thuận tiện và
nhanh chóng.
Ngày nay, với sự phát triển của web 3.0, độc giả có thể ngay lập tức thể
hiện ý kiến của mình bằng cách nhận xét (comment) ngay dướ i bài báo. Sự
tranh luận, trao đổi giữa người đọc giúp độ xác thực của thông tin cao hơn.
Nhờ vậy, tòa soạn nhận được nhiều phản hồi kịp thời hơn và có cơ hội kiểm
chứng thơng tin qua comment của độc giả để điều chỉnh hoặc phát triển thơng
tin nhanh hơn các loại hình báo chí khác. Sự tương tác không chỉ giới hạn
13
giữa độc giả và tòa soạn mà còn giữa những độc giả khác, tác giả, tòa soạn và
cả nhân vật trong bài báo.
Để tăng tính tương tác và cạnh tranh thông tin giữa các báo, một số
lượng lớn các tờ báo mạng điện tử lập tài khoản facebook ngày càng nhiều,
giúp đưa các thơng tin nóng và mới nhất của tờ báo đến độc giả. Qua đường
dẫn link của facebook, độc giả có thể tương tác với báo ngay tức thì. Chức
năng tương tác biểu thị khả năng truyền tải thông tin không hạn chế và mức
độ lan tỏa thông tin rất rộng của thông tin báo mạng điện tử.
An Duc Nguyen (2006) cho rằng, “Bản chất tương tác của web giúp
mọi người có thể chia sẻ và bàn luận về tin tức và thông tin với nhau, giúp
người đọc báo mạng điện tử có thể “vơ tình thơng báo” và quan sát những lợi
ích của việc dùng báo mạng điện tử”. [1]
1.3. Chức năng của báo mạng điện tử
Báo chí nói chung và báo mạng điện tử nói riêng đều có chung những
chức năng xã hội . Chính từ những chức năng này đã tạo nên những ảnh hư ởng
của báo mạng đối với sinh viên.
Nguyễn Văn Dững (2013) cho rằng, “Chức năng theo tiếng latinh là
function; có nghĩa là vai trị, bổn phận, nghĩa vụ của cái gì đó đối với sự vật,
hiện tượng nào đó” [11, tr.152]
Chức năng quy định cả hình thức của hoạt đ ộng, cả chất lượng của hoạt
động, cả đặc điểm của hoạt động. Hiểu được chức năng thì mới hiểu được bản
chất của đối tượng nghiên cứu, mới xác định được phương hướng và phương
pháp hoạt động và do đó mới có thể hoạt động một cách phù hợp và có hiệu
quả.
14
Như vậy, chức năng không phải là sự áp đặt một cách chủ quan, mà nó
tồn tại một cách khách quan trên cơ sở của l oại hình. Chức năng của báo chí
có thể hiểu đó có nghĩa là vai trị, bổn phận, nghĩa vụ, trách nhiệm của báo chí
đối với xã hội.
Dương Xuân Sơn và đồng sự (2008) khẳng định rằng, “Bản thân sự ra
đời, tồn tại và phát triển của báo chí đã khẳng định vai trị, tác dụng và ý
nghĩa quan trọng của nó trong xã hội. Tổng hợp những vai trị, tác dụng của
báo chí cũng chính là chức năng xã hội của nó” . [3, tr.74]
1.3.1. Chức năng thông tin
Theo Nguyễn Văn Dững (2013), “Thông tin là chức năng khởi nguồn,
chức năng cơ bản nhất của báo chí. Báo chí ra đời và phát triển, trước hết là
nhằm thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu thông tin của con người và xã hội”
[11, tr.157]
Không phải ngẫu nhiên mà hầu như tất cả mọi người khi đ ược hỏi về
mục đích đọc báo, câu trả lời đều là thơng tin. Mọi chức năng của báo chí đều
được thực hiện thông qua con đường thông tin. Báo chí thơng tin để truyền
đạt quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng. Qua những thông tin về các
vấn đề đang được xã hội quan tâm, từ các vấn đề về văn hóa, kinh tế, xã hội
cũng như những vấn đề gây bất bình trong dư luận , báo chí đã thực hiện vai
trò giám sát, quản lý và phản biện xã hội. Các giá trị văn hóa chỉ có thể tồn tại
và phát triển trong quá trình giao lưu truyền tải thông tin.
Nguyễn Thị Trường Giang (2010) khẳng định, “Báo mạng điện tử giúp
mở cánh cửa tri thức cho mọi đối tượng trong xã hội, giao lưu văn hóa giữa
các dân tộc, quốc gia thuận lợi, thực sự trở thành chiếc cầu nối giữa các nước
trên thế giới với nhau ”. [9, tr.49]
15
Như vậy, với các đặc trưng vượt trội của báo mạng điện tử như: tính đa
phương tiện, tức thời/phi định kỳ..., kết hợp với việc báo mạng điện tử không
bị giới hạn bởi khuôn khổ cũng như không phụ thuộc vào khoảng cách địa lý,
báo mạng điện tử về cơ bản đã thực hiện rất tốt chức năng thông tin của hoạt
động báo chí.
Tuy nhiên theo Đỗ Q Dỗn (2014) cũng lưu ý, “Tùy thuộc vào động
cơ, mục đích và nhận thức của cá nhân, tổ chức sử dụng mà đưa thơng tin lên
internet là tích cực, hoặc tiêu cực hoặc thậm chí là đi ngược lại lợi ích chính
đáng của cộng đồng, xã hội” [6, tr.140]. Bất kì sự việc, hiện tượng nào cũng
có hai mặt và thơng tin trên báo chí cũng tương tự.
1.3.2. Chức năng tư tưởng
Mục đích của chức năng định hướng tư tưởng là tác động vào ý thức xã
hội, hình thành một hệ tư tưởng chính thống với định hướng nhất định. Liên
kết những cá thể riêng lẻ của xã hội thành khối thống nhất trên cơ sở định
hướng chung, thái độ trách nhiệm tích cực để xây dựng và bảo vệ đất nước.
Báo chí là một trong những phương tiện quan trọng của Đảng để thực
hiện chức năng giáo dục chính trị, tư tưởng cho công chúng . Sự giáo dục tư
tưởng trên báo chí thuyết phục cơng chúng bằng việc thơng tin sự kiện, hiện
tượng, quá trình của đời sống xã hội một cách trung thực và khách quan. Sự
phản ánh thông tin một cách kịp thời và hợp lí , tạo nên nhận thức về những
quan điểm về cuộc sống, những lý tưởng xã hội, những giá trị của cuộc sống.
Lê Quốc Lý và đồng sự cho rằng (2011), “Báo chí của ta là công cụ của
Đảng, của nhân dân lao động, của cách mạng, tuyên truyền đắc lực cho đường
lối chính sách của Đảng, đem những quan điểm của Đảng, đem tư tưởng của
chủ nghĩa Mác – Lênin mà tuyên truyền, giáo dục cho quần chúng đông đảo,
16
đấu tranh chống những tư tưởng thù địch và kh ắc phục những tư tưởng sai
lầm” [7, tr. 163]
Để có thể tham gia tích cực vào sự hình thành tư tưởng xã hội, báo chí
tiến hành các hoạt động tuyên truyền, cổ động và tổ chức tập thể. Báo chí
nước ta tuyên tr uyền về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ
nghĩa xã hội; giải thích cho cơng chúng đường lối, chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước về các lĩnh vực của đời sống xã hội. Các hoạt động
tuyên truyền, cổ động và tổ chức của báo chí có mối liên hệ mật thiết với
nhau.
1.3.3. Chức năng văn hóa - giải trí
Truyền thơng là con đường truyền tải các giá trị giao lưu văn hóa hiệu
quả và nhanh chóng nhất . Bởi vì, do những đặc trưng vốn có của mình, báo
chí và truyền thông đại chúng là những kênh t ruyền thông có sức tác động
nhanh chóng và kịp thời nhất; tác động đến đông đảo người nhất; trên phạm
vi rộng nhất; với các phương thức, phương tiện đa dạng và phong phú nhất;
ảnh hưởng thường xuyên và liên tục nhất đến đời sống hằng ngày của cộng
đồng.
Trong xã hội hiện đại, báo mạng điện tử có ưu thế đặc biệt để giáo dục,
nâng cao vốn tri thức văn hóa, giải trí. Tầm ảnh hưởng của báo mạng điện tử
đã vượt ra ngồi khn khổ của một quốc gia, bất chấp biên giới hay mọi rào
cản giữa các quốc gia, dân tộc.
Đây cũng đồng thời là một thách thức đối với việc giáo dục ý thức văn
hóa cơng dân, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa truyền thống, cùng với
việc phổ biến những giá trị văn hóa đích thực, báo chí có khả năng chuyển tải
cả văn hóa khơng phù hợp.
17
Theo Nguyễn Văn Dững (2011), “Báo chí - truyền thơng cần phải là
một bộ lọc hữu ích trong q trình giao lưu, truyền tải các giá trị văn hóa để
có thể tiếp thúc những giá trị văn hóa có lợi cho sự phát triển bền vững của
cộng đồng mình; mặt khác, kích thích năng lực sáng tạo của mỗi cá nhân, làm
phong phú hệ giá trị văn hóa dân tộc; hình thành thói quen tiêu dùng văn hóa
sạch; xây dựng bản lĩnh văn hóa – nhất là cho lớp trẻ trong thời kỳ hội nhập” .
[10, tr.151]
Trong hoạt động thông tin hàng ngày, báo chí một mặt phổ biến kiến
thức mới, truyền bá những tri thức văn hóa tồn diện nhằm nâng cao trình độ
hiểu biết, văn hóa của cơng chúng, mặt khác, giúp cho công chúng sử dụng
thời gian giải trí một cách hữu ích và dễ chịu, tạo điều kiện nghỉ ngơi, tái tạo
sức lao độn g.
1.3.4. Chức năng phản biện xã hội
Để đảm bảo hiệu quả hoạt động quản lý xã hội của nhà nước, thông tin
trên báo chí cần phải có sự phản biện. Trong q trình thực hiện chủ trương,
chính sách nhà nước vào thực tế, các tổ chức, cá nhân có thể gặp nhiều thuận
lợi hoặc khó khăn, thậm chí có đường lối, chủ trương khi thực hiện khơng hợp
lịng dân, hiệu quả kém. Tất cả thực trạng này cần phải được thông báo, phản
ánh, nhanh chóng, đầy đủ và khách quan lên chính quyền, nhà nước để kịp
thời điều chỉnh, bổ sung hoặc hủy bỏ. Ngồi ra, báo chí cùng nhân dân đề
xuất sáng kiến, đưa ra kiến nghị, giải pháp cho hoạt động quản lý của nhà
nước trở nên hiệu quả hơn.
Dương Xuân Sơn (2012) cho rằng, “Báo chí tham gia tích cực vào việc
xây dựng và hoàn thiện đường lối, chủ t rương, chính sách của Đảng, Nhà
nước, các cấp, các ngành trong xã hội. Phản ánh, phân tích kịp thời tình hình
18
thực tế, hiện trạng công việc của các địa phương, cơ sở sản xuất hoặc một vấn
đề nào đó trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước” [4, tr.109]
Báo chí có khả năng to lớn trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng và
các tiêu cực xã hội. Những vấn đề tiêu cực, khuất tất được báo chí đem ra ánh
sáng, báo chí đã đóng góp phần khơng nhỏ vào việc đấu tranh chống tiêu cực
xã hội mà đem lại một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Mặt khác, khi trong dư luận xã hội có nhiều thơng tin trái chiều, gây
hoang mang dư luận về tình hình chính trị hay về một chủ trương, chính sách
của nhà nước, báo chí có nhiệm vụ trấn an dư luận, điều tra làm rõ vấn đề và
định hướng thông tin theo lối đúng đắn.
1.4. Cách đọc báo mạng điện tử của một sinh viên bình thường và
một sinh viên báo chí
Điểm chung của sinh viên là họ đọc báo mạng điện tử khá nhanh, chính
xác là lướt báo chứ ít khi đọc kĩ, đơi khi chỉ đọc tít và sapo chứ khơng đọc
phần nội dung.
Điểm khác nhau lớn nhất trong cách đọc báo của hai đối tượng là sinh
viên bình thường đa phần “cho gì ăn nấy”, thấy gì cũng đọc và hồn tồn tin
tưởng vào những gì mà người khác viết ra. Cịn sinh viên báo chí phần lớn đã
có sự hồi nghi về thông t in mà họ đang được đọc, họ không dễ dàng tin ngay
vào thông tin mà biết chọn lọc và kiểm chứng thông tin hơn sinh viên bình
thường. Ngồi ra họ cịn hiểu về các thể loại, cách hành văn, bố cục bài viết...
để biết đâu là sản phẩm của một nhà báo có nghề và đ âu chỉ là sản phẩm của
người mới tập tành viết báo.
19
Ngoài ra sự khác nhau trong cách đọc báo cũng đến từ mục đích đọc
báo, sinh viên bình thường đọc báo chỉ để lấy thơng tin, cịn sinh viên báo chí
đọc báo ngồi để lấy thơng tin cịn học hỏi nhiều điều cho nghề nghiệp sau
này từ việc nhận thấy lỗi sai để mình khơng mắc phải nữa, cho đến học hỏi
cách viết và gu của tờ báo mà họ nhắm đến. Các chuyên mục bạn đọc viết hay
cư dân mạng trên báo mạng điện tử cũng là nơi mà rất nhiều sinh viên có
được sản phẩm đầu t iên trên báo chí, đó cũng là cơ hội để sinh viên rèn luyện
tốt hơn khả năng viết lách của mình.
TIỂU KẾT CHƯƠNG MỘT:
Những cơ sở lý thuyết được nêu trong chương này sẽ là nền tảng để tác
giả tiến hành phỏng vấn sâu và khảo sát nhằm phát hiện ra những ảnh hưởng
của báo mạng điện tử đến sinh viên báo chí – Trường Đại học Sư phạm – Đại
học Đà Nẵng. Qua đó, đề tài sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả tiếp nhận báo mạng điện tử cho sinh viên báo chí.
20
CHƯƠNG HAI:
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
Như đã giới thiệu ở phần đầu, nghiên cứu này được thực hiện thơng
qua hai bước chính: phỏng vấn sâu và hoàn thành 200 bài khảo sát.
Phỏng vấn sâu được tác giả thực hiện với một nhóm sinh viên đại diện
cho sinh viên báo chí Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng. Dựa trên nền tảng
câu trả lời của các đáp viên, tác giả xây dựng bảng khảo sát để khảo sát ảnh
hưởng của báo mạng điện tử đối với sinh viên. Phỏng vấn sâu gồm 8 câu hỏi
chính:
Câu 1: Anh/Chị có thường xun đọc báo mạng điện tử khô ng?
Câu hỏi này nhằm xác nhận đáp viên có phải là người thường xuyên
theo dõi tin tức trên báo mạng điện tử hay không. Tất cả các đáp viên đều trả
lời họ đọc báo mạng điện tử hằng ngày.
Để khảo sát ảnh hưởng của báo mạng điện tử đối với sinh viên, trước
tiên cần tìm hiểu cách đọc báo, thói quen đọc báo của sinh viên, câu hỏi 2, 3,
4, 5 phục vụ mục đích đó.
Câu 2: Anh/Chị đọc báo mạng điện tử bằng cách nào?
Các câu trả lời của các đáp viên chia làm 3 cách: đọc tin bài trên
facebook, truy cập vào trang báo v à đọc thơng qua ứng dụng trên điện thoại.
Từ đó, hình thành 3 đáp án trên bảng khảo sát.
Câu 3: Anh/Chị đọc báo mạng điện tử vì mục đích gì?
Mục đích đọc báo quyết định rất lớn đến cách đọc báo cũng như ảnh
hưởng của việc đọc báo đến sinh viên. Có 2 mục đích được nhiều đáp viên
21
nhắc đến: cập nhật tin tức và giải trí. Ngồi ra cịn một số mục đích khác là tra
cứu bài vở và tăng vốn kiến thức chung.
Câu 4: Anh/Chị thường đọc những báo mạng điện tử nào?
Các báo được nhiều đáp viên nhắc đến là: vnexpress, tuổi t rẻ online,
thanh niên online, vietnamnet, dân trí. Ngồi ra, sinh viên cịn đọc một số báo
theo sở thích như: ngoisao.net, bongda.com.vn
Câu 5: Anh/Chị thường chọn đọc những chuyên mục nào trong báo
mạng điện tử?
Những chuyên mục mà sinh viên chọn đọc cũng ảnh hưởng đến hiệu
quả đọc báo của sinh viên. Hai loại chuyên mục được nhiều đáp viên nhắc
đến: tin mới (thời sự, xã hội) và giải trí. Ngồi ra, sinh viên cịn đọc một số
chun mục khác: khoa học, cơng nghệ, thế giới , thể thao , gia đình , du lịch.
Câu 6: Theo Anh/Chị, những tác động của báo mạng điện tử hiện nay
đối với sinh viên Báo chí là gì?
Đa phần các đáp viên đều cho rằng ảnh hưởng tích cực của việc đọc
báo mạng điện tử là cập nhật tin tức nhanh, giúp sinh viên nắm bắt và quan
tâm đến tình hình thời sự . Ngồi ra, các đáp viên cịn nêu ra một số ảnh hưởng
tích cực khác như: biết thêm nhiều kiến thức bổ ích, tra cứu bài vở và có ích
cho việc viết báo sau này.
Ảnh hưởng tiêu cực được các đáp viên nêu ra nhiều nhất là gây hoang
mang, khó định hướng thơng tin . Những ảnh hưởng tiêu cực khác cũng được
đáp viên nhắc tới: mất thời gian đọc những tin không cần thiết, kích thích sinh
viên đua địi theo những giá trị phù phiếm và bị ảnh hưởng xấu đến cách sử
dụng ngôn ngữ, cách viết.
22
Câu 7: Theo Anh/Chị, việc đọc báo mạng điện tử có những lợi ích gì
cho nghề nghiệp sau này của anh/chị?
Lợi ích rõ ràng nhất và được nhiều đáp viên nhắc tới là việc biết cách
viết một bài báo mạng điện tử (nên thêm vào các yếu tố đa phương tiện, học
cách tiếp cận vấn đề, phát hiện đề tài m ới...). Những lợi ích khác như: hiểu
được “gu” của tờ báo mà sau này sinh viên muốn cộng tác, thấy được những
sai lầm để tránh mắc phải, , nắm bắt tình hình thời sự, rèn luyện kĩ năng viết
bài.
Câu 8: Theo Anh/Chị, cần có những giải pháp gì giúp sinh viên Báo chí
đọc báo mạng điện tử hiệu quả hơn?
Điểm chung giữa các giải pháp mà sinh viên nêu ra chính là sự chọn
lọc thơng tin để đọc và khi đọc phải giữ thái độ tỉnh táo. Ngoài ra, khi sinh
viên cần phải làm việc nghiêm túc, có trách nhiệm khi tham gia vào c ộng tác
viết bài trên báo mạng điện tử.
Trên cơ sở kết quả phỏng vấn sâu, đề tài thiết kế bảng khảo sát với 19
câu hỏi. Khảo sát được tiến hành đối với 200 sinh viên đến từ 4 lớp báo chí
của Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, với ¾ là nữ.
23
Biểu đồ 1: Thông tin sinh viên tham gia khảo sát
Dưới đây là kết quả của cuộc khảo sát.
2.1. Thói quen và xu hướng đọc báo mạng điện tử của sinh viên .
Để nghiên cứu ảnh hưởng của báo mạng điện tử đối với sinh viên,
trước tiên cần phải biết sinh viên hiện nay đang đọc báo như thế nào, phải làm
rõ thói quen và xu hướng sử dụng báo mạng điện tử của sinh viên.
Biểu đồ 2: Mức độ đọc báo mạng điện tử của sinh viên
Dựa theo kết quả khảo sát ở trên, có thể thấy hầu hết sinh viên đều
thường xuyên theo dõi thông tin trên báo mạng điện tử với 65% câu trả lời
đọc báo mạng điện tử hằng ngày. Điều này cho thấy, báo mạng điện tử là
kênh thông tin khá phổ biến của đa số sinh viên báo chí.
24
Biểu đồ 3: Thâm niên đọc báo mạng điện tử của sinh viên
Hơn nửa sinh viên đã đọc báo mạng đi ện tử hơn 2 năm và hơn 10%
sinh viên có hơn 5 năm theo dõi thơng tin trên báo mạng điện tử , đó là một
con số khá tốt đối với độ tuổi trung bình từ 18 đến 22.
Biểu đồ 4: Số phút mỗi ngày sinh viên đọc báo mạng điện tử
Kết quả cho thấy, đ a phần sinh viên dành ra số thời gian khá hợp lý để
đọc báo (từ 15 phút đến 1 giờ) (chiếm 60,5%), đủ để lấy thông tin và không
mất quá nhiều thời gian để đọc báo.