Tải bản đầy đủ (.pdf) (26 trang)

ẨN DỤ TRI NHẬN TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM 10600824

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (527.65 KB, 26 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN NGUYỄN THÙY TRANG

ẨN DỤ TRI NHẬN
TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 82.29.020

TĨM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƠN NGỮ HỌC

Đà Nẵng - Năm 2019


Cơng trình được hồn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN VĂN SÁNG

Phản biện 1: PGS.TS. Bùi Trọng Ngoãn
Phản biện 2: PGS.TS. Võ Xuân Hào

Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
thạc sĩ Ngôn ngữ học họp tại Đại học Sư phạm vào ngày 6 tháng 01 năm
2019.

Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viện trường Đại học Sư phạm - ĐHĐN
- Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư Phạm- ĐHĐN




1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Nghiên cứu ngơn ngữ thơ ca dưới góc nhìn ẩn dụ tri nhận
là lối đi mới trong tiếp cận văn học dưới góc nhìn ngơn ngữ.
1.2. Nguyễn Khoa Điềm qua các tập thơ của mình đã thể hiện
một phong cách nghệ thuật độc đáo. Nghiên cứu một tác giả lớn với
quá trình sáng tác dài, gắn bó với nhiều sự kiện, sự thay đổi của dân
tộc, đất nước và sử dụng nhiều chất liệu văn hóa dân tộc trong thơ ca
như Nguyễn Khoa Điềm, ẩn dụ tri nhận là một hướng đi phù hợp,
mới mẻ. Bên cạnh đó, nhiều tác phẩm của Nguyễn Khoa Điềm đã
được chọn giảng trong chương trình Ngữ văn phổ thơng. Vì thế, đề
tài này cũng sẽ góp thêm nguồn tư liệu cho việc giảng dạy và học tập.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1. Nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận đã bắt đầu từ những
thập kỷ 80 của thế kỉ XX với những tên tuổi của G. Lakoff & M.
Johnson, G. Fauconnier, R. Langacker, M. Turner, W. Chafe, M.
Minsky...
Từ cuối những năm 70 (thế kỉ XX), với cơng trình Metaphors
We live by năm 1980, M. Johnson và Lakoff đã bắt đầu phát triển lí
thuyết về ẩn dụ tri nhận. Mới đây, cơng trình đã được Nguyễn Thị
Kiều Thu (2017) dịch qua tiếng Việt qua cuốn Chúng ta sống bằng
ẩn dụ (NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh).
Cũng bàn về ẩn dụ tri nhận, có cuốn Dẫn luận ngơn ngữ học
(NXB Đại học Quốc gia Hà Nội) do Nguyễn Văn Hiệp và Nguyễn
Hoàng An (2016) dịch từ nguyên bản tiếng Anh Cognitive
Linguistics: An introduction của David Lee.

Ở Việt Nam, người đầu tiên giới thiệu ngơn ngữ học tri nhận
một cách có hệ thống với khung lí thuyết cụ thể là tác giả Lý Toàn


2

Thắng (2005) với cơng trình Ngơn ngữ học tri nhận – từ lý thuyết đại
cương đến thực tiễn tiếng Việt (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội). Bên
cạnh đó có thể kể đến cơng trình Khảo luận ẩn dụ tri nhận (NXB Lao
động xã hội) của Trần Văn Cơ...
2.2. Nghiên cứu ẩn dụ tri nhận và vai trò của ẩn dụ tri nhận
trong sự hành chức cụ thể qua các tác phẩm văn thơ, đã có nhiều
cơng trình đề cập và khảo cứu:
- Luận văn thạc sĩ Ẩn dụ tri nhận trong ca dao của tác giả Bùi
Thị Dung (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2008)
- Luận văn thạc sĩ Ẩn dụ tri nhận trong thơ Nguyễn Duy của
Trịnh Thị Hải Yến, (Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, 2011)
- Luận án tiến sĩ Ngữ văn Ẩn dụ tri nhận trong ca từ Trịnh
Cơng Sơn của tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh (Học viện Khoa học xã
hội, 2014)...
2.3. Tình hình nghiên cứu thơ Nguyễn Khoa Điềm mà chúng
tôi tập hợp được trong điều kiện tư liệu hạn chế có thể chia thành
những loại như sau.
Thứ nhất là bài bình giảng những tác phẩm thơ riêng lẻ.
Thứ hai là những bài nghiên cứu, giới thiệu, bình luận các tập
thơ của Nguyễn Khoa Điềm.
Trong vòng 10 năm trở lại đây đã xuất hiện một vài luận văn
thạc sĩ, luận án tiến sĩ nghiên cứu sâu về thơ Nguyễn Khoa Điềm
dưới các góc nhìn khác nhau:

- Tác giả Lại Thị Hương với Thơ Nguyễn Khoa Điềm từ góc độ
tư duy nghệ thuật (Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007)
- Luận văn thạc sĩ khác Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm


3

của Nguyễn Thị Nhung (Luận văn thạc sĩ văn học, Trường Đại học
Sư phạm Thái Nguyên, 2009)
- Quách Thị Thanh Thủy trong Đặc sắc thơ Nguyễn Khoa
Điềm (Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thái
Nguyên, 2012)
- Tác giả Nguyễn Thị Sao lại tập trung nhìn thơ Nguyễn Khoa
Điềm qua cái nhìn văn hóa với Thơ Nguyễn Khoa Điềm dưới góc
nhìn văn hóa (Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội, 2010)...
Tuy nhiên, chưa có cơng trình nào nghiên cứu chun sâu về
thơ Nguyễn Khoa Điềm dưới góc nhìn ngơn ngữ, đặc biệt là ngôn
ngữ học tri nhận.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các mơ hình ẩn dụ tri
nhận và các loại ẩn dụ tri nhận trong thơ Nguyễn Khoa Điềm.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi tư liệu được khảo sát trong luận văn là những tác
phẩm thơ của Nguyễn Khoa Điềm được in trong tập Nguyễn Khoa
Điềm thơ tuyển, NXB Hội nhà văn, 2013.
4. Mục đích nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu đề tài này, luận văn nhằm đạt được

những mục đích sau:
- Hệ thống hóa những kiến thức lí luận về ẩn dụ tri nhận và cơ
chế nhận biết ẩn dụ tri nhận;
- Tiến hành khảo sát ẩn dụ trong thơ Nguyễn Khoa Điềm dưới
góc độ ngơn ngữ học tri nhận, đồng thời qua cơ chế của ẩn dụ và
nhân sinh quan của nhà thơ, có cơ sở để khẳng định những thành


4

công của tác giả trong việc sử dụng và sáng tạo ngôn ngữ dân tộc.
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đã đạt được, luận văn sẽ đúc
rút ra những bài học cần thiết cho việc dạy và học thơ Nguyễn Khoa
Điềm trong nhà trường phổ thông hiện nay.
5. Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
Luận văn có sử dụng kết hợp các phương pháp và thủ pháp
nghiên cứu sau:
5.1. Phương pháp miêu tả
5.2. Thủ pháp phân tích ngữ nghĩa
5.3. Thủ pháp thống kê, phân loại
6. Đóng góp của đề tài
6.1. Về phương diện lí thuyết
Góp phần củng cố lí thuyết của ngơn ngữ học tri nhận, làm rõ
thêm một số vấn đề lí thuyết về ẩn dụ qua ngơn ngữ thơ Nguyễn
Khoa Điềm. Qua đó cũng góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu khuynh
hướng lí thuyết về ngơn ngữ học tri nhận ở Việt Nam.
6.2. Về phương diện thực tiễn
Lí giải các thao tác tư duy trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, từ đó
thấy được phong cách riêng của nhà thơ.
7. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục,
Luận văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết và những vấn đề liên quan
Chương 2: Mơ hình tri nhận của ẩn dụ tri nhận trong thơ
Nguyễn Khoa Điềm
Chương 3: Một số ẩn dụ tri nhận tiêu biểu trong thơ Nguyễn
Khoa Điềm


5

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
1.1. Ẩn dụ và ẩn dụ tri nhận
1.1.1. Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống
Theo cách hiểu truyền thống, trong các nghiên cứu về ẩn dụ
trong nước và ở nước ngoài, ẩn dụ được xem là cách thức chuyển đổi
tên gọi dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai đối tượng có sự tương
đồng hay giống nhau về khía cạnh nào đó.
1.1.2. Ẩn dụ theo quan điểm của ngơn ngữ học tri nhận
“Từ khi ngành Ngôn ngữ học tri nhận (cognitive linguistics) ra
đời, xuất hiện một cách hiểu mới về ẩn dụ: Ẩn dụ không chỉ là một
phương thức diễn đạt ý nghĩ bằng ngơn từ mà cịn là một phương
thức để tư duy về sự vật. Người ta đặc biệt chú ý đến vai trò của ẩn
dụ đối với nhận thức” [13, tr.49-50].
1.2. Một số vấn đề liên quan đến ngôn ngữ học tri nhận và ẩn dụ
tri nhận
1.2.1. Mơ hình tri nhận và mơ hình văn hóa
“Mơ hình tri nhận là tổng số các ý niệm đã trải qua và đã tích
lũy được cho một lĩnh vực nhất định ở một cá nhân; Mơ hình tri nhận

là phương thức tổ chức và biểu đạt các kiến thức do con người tạo ra
khi tương tác với ngoại giới”. [13, tr.277-278].
Mơ hình văn hóa là “khái niệm liên quan chặt chẽ với mơ hình
tri nhận. Các mơ hình tri nhận khơng có tính phổ qt mà phụ thuộc
vào văn hóa trong đó con người đã sống và trưởng thành. Văn hóa
cung cấp cơ sở cho tất cả các tình huống mà chúng ta có kinh nghiệm
để có thể tạo ra một mơ hình tri nhận”. [13, tr.278-279].
1.2.2. Ý niệm và sự ý niệm hóa


6

Theo các nhà tri nhận, các mơ hình tri nhận được cấu thành bởi
các ý niệm. Trong Từ điển khái niệm ngôn ngữ học, ý niệm được
định nghĩa như sau: “Ý niệm là đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất
của ngôn ngữ học tri nhận. Ý niệm là những biểu tượng tinh thần
phản ánh cách thức chúng ta tri giác thế giới xung quanh và tương tác
với nó”. [13, tr.601].
Một trong những lý thuyết quan trọng của ngôn ngữ học tri
nhận là sự ý niệm hóa. “Ý niệm hóa có thể được hiểu là quá trình
hình thành ý niệm. (...) Quá trình hình thành ý niệm là quá trình phát
triển của nhận thức từ cảm tính sang lí tính, tức là từ trực quan sinh
động đến tư duy trừu tượng”. [13, tr.602].
1.2.3. Cấu trúc của ẩn dụ ý niệm
1.2.3.1. Miền nguồn, miền đích
Một ẩn dụ ý niệm có hai miền ý niệm, ý niệm đích được hiểu
thơng qua ý niệm nguồn.
1.2.3.2. Ánh xạ
Q trình hiểu ý niệm đích thơng qua ý niệm nguồn gọi là sự
chiếu xạ hay ánh xạ. Bản chất của ánh xạ ẩn dụ là ẩn dụ chỉ phản ánh

một phần.
1.2.4. Tính nghiệm thân
Theo các nhà tri nhận, trải nghiệm của con người với thế giới
xung quanh quyết định phương thức con người hiểu biết thế giới.
Thông qua trải nghiệm tương tác với thế giới hiện thực, con người
hình thành những lược đồ hình ảnh cơ bản, tạo nên những mơ hình tri
nhận, dựa vào đó tiến hành phạm trù hóa, xây dựng các ý niệm.
1.2.5. Lược đồ hình ảnh
Những trải nghiệm cơ thể lặp đi lặp lại thường xuyên tạo nên
những cấu trúc tri nhận được gọi là lược đồ hình ảnh.


7

1.2.6. Điển mẫu
Điển mẫu là “những ví dụ đạt nhất” (best axamples) theo quan
điểm của H.Rosch” [13, tr.159].
1.2.7. Không gian tinh thần
1.2.8. Vai trị của văn hóa trong ẩn dụ tri nhận
1.2.9. Phân loại ẩn dụ tri nhận
1.2.9.1. Ẩn dụ cấu trúc
“Ẩn dụ cấu trúc là tạo ra một cấu trúc ý niệm này từ một cấu
trúc ý niệm khác, dùng các từ ngữ thuộc vùng ý niệm này để bàn về ý
niệm khác.” [13, tr.51].
1.2.9.2. Ẩn dụ bản thể
“Kinh nghiệm của con người về các vật thể là cơ sở để tạo ra
ẩn dụ bản thể. Trong loại ẩn dụ này, người ta thường coi các khái
niệm vơ hình, trừu tượng, mơ hồ là những thực thể hữu hình, cụ thể.
Ẩn dụ bản thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn các ý niệm trừu tượng.” [13,
tr.50].

1.2.9.3. Ẩn dụ định hướng
“Ẩn dụ định hướng là các ý niệm ẩn dụ được xây dựng trên cơ
sở định hướng không gian. Ý niệm định hướng là ý niệm được con
người tạo ra sớm nhất và có thể lí giải trực tiếp, như: lên, xuống,
trong, ngoài, tâm, biên, trước, sau,...” [13, tr.51].
1.3. Nguyễn Khoa Điềm và sự nghiệp thơ ca
1.3.1. Con người và cuộc đời
Nguyễn Khoa Điềm sinh trưởng trong một gia đình trí thức có
truyền thống u nước và cách mạng. Sau khi tốt nghiệp Khoa Văn,
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, ông về Nam hoạt động
trong phong trào học sinh, sinh viên thành phố Huế; xây dựng cơ sở
cách mạng, viết báo, làm thơ... cho đến năm 1975. Nguyễn Khoa


8

Điềm từng bị giam tại nhà lao Thừa Phủ. Đến chiến dịch Mậu Thân
1968, ơng được giải thốt, tiếp tục trở lại hoạt động. Vào thời điểm
này, Nguyễn Khoa Điềm mới bắt đầu làm thơ.
Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ
những năm kháng chiến chống đế quốc Mĩ. Thơ Nguyễn Khoa Điềm
giàu chất suy tư, xúc cảm lắng đọng, thể hiện tâm tư của người trí
thức tham gia tích cực vào cuộc chiến đấu của nhân dân. Sự nghiệp
thơ ca của Nguyễn Khoa Điềm chịu sự tác động và ảnh hưởng của
nhiều yếu tố q hương, gia đình, q trình học vấn, cơng việc...
1.3.2. Những chặng đường sáng tạo
1.3.2.1. Từ “Đất ngoại ô” và “Mặt đường khát vọng”...
Nguyễn Khoa Điềm đã có thời gian hai năm gắn bó với phong
trào học sinh sinh viên thành phố Huế khi ông được Thành ủy Huế
phân công công tác vận động thanh niên. Trong quãng thời gian này,

nhà thơ đã cùng hịa mình vào khơng khí tuổi trẻ thành phố những
ngày bị chiếm đóng. Điều này mang đến sự trải nghiệm và những
chất liệu quan trọng để thai nghén và hình thành tập thơ đầu tay Đất
ngoại ô và đặc biệt là tập trường ca nổi tiếng Mặt đường khát vọng.
1.3.2.2. Đến “Ngơi nhà có ngọn lửa ấm” và “Cõi lặng”
Năm 1986, Nguyễn Khoa Điềm vẫn cho ra đời tập thơ Ngơi
nhà có ngọn lửa ấm. Thơ ơng viết ở thời kì này thâm trầm, lặng lẽ
hơn chứ không sôi nổi như trước. Sau một thời gian khá dài, Nguyễn
Khoa Điềm mới cho ra đời tập thơ tiếp theo mang tên Cõi lặng. Đúng
như tên của tập thơ, 56 bài thơ trong đó tạo nên khơng gian của sự
suy ngẫm, chiêm nghiệm về bản thân, về quá khứ đấu tranh hào hùng
của dân tộc, về hiện thực cuộc sống phong phú và phức tạp hôm nay.
1.4. Tiểu kết


9

CHƯƠNG 2
MƠ HÌNH TRI NHẬN CỦA ẨN DỤ TRI NHẬN
TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM
2.1. Hệ thống ẩn dụ tri nhận trong thơ Nguyễn Khoa Điềm
Bảng 2.1. Hệ thống các ẩn dụ ý niệm trong thơ Nguyễn Khoa Điềm
Số lượng biểu
thức ngơn ngữ Số bài xuất
mang tính
hiện/148
TT
ẨN DỤ Ý NIỆM
ẩn dụ/308
Số lần Tỉ lệ Số bài Tỉ lệ

/308 (%)
/148 (%)
CON NGƯỜI
83 26,9
CON NGƯỜI LÀ THỰC
1
VẬT/ CỎ CÂY
49 15,9
36 24,3
CƠ THỂ CON NGƯỜI LÀ
VẬT/ BẦU CHỨA ĐỰNG
2
TÌNH CẢM
30
9,7
27 18,2
CON NGƯỜI LÀ VẺ ĐẸP
3
THIÊN NHIÊN
4
1,3
4
2,7
CUỘC ĐỜI
66 21,4
CUỘC ĐỜI LÀ CUỘC
4
HÀNH TRÌNH
61 19,8
45 30,4

5
CÁI CHẾT LÀ GIẤC NGỦ
3
1,0
3
2,0
ĐỜI NGƯỜI LÀ MỘT
6
NGÀY
2
0,6
2
1,4
ĐẤT NƯỚC
44 14,3
7
ĐẤT NƯỚC LÀ SINH THỂ
34 11,0
16 10,8
ĐẤT NƯỚC LÀ NHỮNG
8
KHU VỰC
10
3,2
6
4,1
TÌNH YÊU
34 11,0
TÌNH YÊU LÀ CUỘC
9

HÀNH TRÌNH
10
3,2
7
4,7
TÌNH YÊU LÀ SỰ GẦN
10 GŨI
6
1,9
4
2,7


10

TT

11
12
13
14

15
16

17
18

19


20

21

22
23

ẨN DỤ Ý NIỆM

TÌNH YÊU LÀ NHIỆT/
LỬA
TÌNH YÊU LÀ SỨC MẠNH
THIÊN NHIÊN
TÌNH YÊU LÀ SỰ SAY
ĐẮM, KHAO KHÁT
TÌNH YÊU LÀ ÁNH SÁNG
CHIẾN TRANH
CHIẾN TRANH LÀ MÀU
SẮC BUỒN
CHIẾN TRANH LÀ NHIỆT/
LỬA
THỜI GIAN
THỜI GIAN LÀ KẺ LÀM
THAY ĐỔI
THỜI GIAN LÀ SỰ
CHUYỂN ĐỘNG
THỜI GIAN LÀ MỘT
CẢNH ĐẸP MÀ CHÚNG
TA ĐI QUA
TÌNH CẢM/ CẢM XÚC

TÌNH CẢM LÀ NHỮNG VỊ
TRÍ
NHÂN DÂN
NHÂN DÂN LÀ SỨC
MẠNH THỂ CHẤT
LÍ TƯỞNG
LÍ TƯỞNG LÀ NHIỆT/
LỬA
TÌNH ĐỒNG ĐỘI
TÌNH ĐỒNG ĐỘI LÀ SỰ

Số lượng biểu
thức ngơn ngữ Số bài xuất
mang tính
hiện/148
ẩn dụ/308
Số lần Tỉ lệ Số bài Tỉ lệ
/308 (%)
/148 (%)
6

1,9

6

4,1

4

1,3


4

2,7

4
4
25

1,3
1,3
8,1

3
3

2,0
2,0

16

5,2

12

8,1

9
21


2,9
6,8

6

4,1

10

3,2

9

6,1

8

2,6

7

4,7

3
15

1,0
4,9

3


2,0

15
7

4,9
2,3

12

8,1

7
6

2,3
1,9

5

3,4

6
5
5

1,9
1,6
1,6


4

2,7

4

2,7


11

ẨN DỤ Ý NIỆM

TT

24

GẦN GŨI
MẸ
MẸ LÀ NHIỆT/ LỬA

Số lượng biểu
thức ngơn ngữ Số bài xuất
mang tính
hiện/148
ẩn dụ/308
Số lần Tỉ lệ Số bài Tỉ lệ
/308 (%)
/148 (%)

2
2

0,6
0,6

2

1,4

2.2. Các miền đích tiêu biểu trong thơ Nguyễn Khoa Điềm
2.2.1. Miền đích CON NGƯỜI/ CƠ THỂ CON NGƯỜI
Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, miền đích CƠ THỂ CON
NGƯỜI được “mã hóa” bằng một số bộ phận cơ thể như tim, mắt,
lòng, trán, ngực, chân,... Nhà thơ coi cơ thể con người là một bầu
chứa cho các tình cảm như tình yêu quê hương đất nước, tình u,
tình cảm gia đình, tình đồng đội, lí tưởng cách mạng, ý chí chiến
đấu,...
2.2.2. Miền đích CUỘC ĐỜI
Miền đích CUỘC ĐỜI trong ẩn dụ ý niệm CUỘC ĐỜI LÀ
CUỘC HÀNH TRÌNH rất phổ biến trong nhiều nền văn hóa. Cuộc
đời con người giống như một cuộc hành trình từ lúc sinh ra đến khi
nhắm mắt lìa đời. Với Nguyễn Khoa Điềm, cuộc đời là một chuyến
đi, một chặng đường dài mà con người phải kiên trì để đi đến cuối
cùng, tới cái mốc mình mong đợi, để đạt được ước nguyện cao cả của
bản thân:
Tôi lại đi đường này
Để đi cho đến cuối
Khi cái điều mong đợi
Đang vang ở chân trời...

(Tôi lại đi đường này, tr.91)


12

2.2.3. Miền đích ĐẤT NƯỚC
Miền đích ĐẤT NƯỚC trong thơ Nguyễn Khoa Điềm được cụ
thể hóa thơng qua miền nguồn NHỮNG KHU VỰC và SINH THỂ.
Trong tâm thức Nguyễn Khoa Điềm, đất nước được cụ thể hóa qua
những khu vực, những địa danh cụ thể:
Cả người lính đêm này chong mắt trước biên cương
Để giữ lấy phần đất nơi con sinh được gọi là Tổ quốc
(Ngơi nhà có ngọn lửa ấm, tr.207)
Trong sự tri nhận của nhà thơ, đất nước cịn là SINH THỂ.
Khơng chỉ coi đất nước là vật hữu hình, tác giả cịn xem đất nước
như một vật sống, có sức sống, đời sống riêng.
2.2.4. Miền đích TÌNH YÊU
Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, TÌNH YÊU là phạm trù xuất
hiện nhiều ý niệm con nhất. Cụ thể, TÌNH YÊU được tham chiếu đến
từ sáu miền nguồn là: CUỘC HÀNH TRÌNH, SỰ GẦN GŨI,
NHIỆT/ LỬA, SỨC MẠNH THIÊN NHIÊN, SỰ SAY ĐẮM KHAO
KHÁT, ÁNH SÁNG.
2.2.5. Miền đích CHIẾN TRANH
Miền đích CHIẾN TRANH được tham chiếu đến từ hai miền
nguồn là MÀU SẮC BUỒN và NHIỆT/ LỬA. Ví dụ:
- Một thành phố cuối con suối nầy
Uống nước đục ngầu mỗi chiều bom đạn
(Con chim thời gian, tr.37)
- Lửa đã cháy hồng hào mặt đất
Mùa chín tình u, mùa chín hận thù!

(Mặt đường khát vọng – chương Đất Nước, tr.153)
2.2.6. Miền đích THỜI GIAN
Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, miền đích THỜI GIAN được


13

chiếu xạ qua ba ẩn dụ ý niệm:
- THỜI GIAN LÀ KẺ LÀM THAY ĐỔI
Hôm qua men một lối
Hôm nay nhiều ngã tư
(Tôi lại đi đường này, tr.93)
- THỜI GIAN LÀ SỰ CHUYỂN ĐỘNG
Ta đã đi qua những năm tháng không ngờ
Vô tư quá để bây giờ xao xuyến
(Mặt đường khát vọng – chương Lời chào, tr.137)
- THỜI GIAN LÀ MỘT CẢNH ĐẸP MÀ CHÚNG TA ĐI QUA
Mùa xuân theo em đó
Những cánh rừng hoa lau mênh mơng
(Mùa xn ở A Đời, tr.23)
2.2.7. Miền đích TÌNH CẢM/CẢM XÚC
2.2.8. Miền đích NHÂN DÂN
2.3. Các miền nguồn tiêu biểu trong thơ Nguyễn Khoa Điềm
2.3.1. Các miền nguồn chiếu xạ đến miền đích
Qua khảo sát tư liệu, chúng tôi nhận thấy trong thơ Nguyễn
Khoa Điềm, tương ứng với 11 miền đích là 18 miền nguồn.
2.3.2. Các thuộc tính của miền nguồn chiếu xạ đến miền đích
2.3.2.1. Miền nguồn là THỰC VẬT
Nhóm này tương ứng với ẩn dụ ý niệm CON NGƯỜI LÀ
THỰC VẬT/CỎ CÂY. Qua khảo sát thơ Nguyễn Khoa Điềm, chúng

tôi thấy ẩn dụ ý niệm CON NGƯỜI LÀ THỰC VẬT/ CỎ CÂY có
49 biểu thức ngơn ngữ mang tính ẩn dụ (chiếm tỉ lệ 15,9% tổng số
biểu thức ngôn ngữ).
2.3.2.2. Miền nguồn là CUỘC HÀNH TRÌNH
Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, ẩn dụ ý niệm CUỘC ĐỜI LÀ


14

CUỘC HÀNH TRÌNH chiếm tỉ lệ lớn nhất (61/308 biểu thức ngơn
ngữ mang tính ẩn dụ, chiếm tỉ lệ 19,8%).
Miền nguồn CUỘC HÀNH TRÌNH cịn tương ứng với ẩn dụ ý
niệm TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH. Tương tự như ẩn dụ ý
niệm CUỘC ĐỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH, những thuộc tính của
miền nguồn CUỘC HÀNH TRÌNH được chiếu xạ lên miền đích
TÌNH U.
2.3.2.3. Miền nguồn là VẬT/ BẦU CHỨA
Miền nguồn VẬT/ BẦU CHỨA ứng với ẩn dụ ý niệm CƠ
THỂ CON NGƯỜI LÀ VẬT/ BẦU CHỨA ĐỰNG CẢM XÚC
(trong thơ Nguyễn Khoa Điềm xuất hiện 30/308 biểu thức ngôn ngữ,
chiếm tỉ lệ 9,7%). Có thể minh chứng bằng ví dụ cụ thể: Chúng ta đi,
ngày tháng, đường dài/ Lòng ấm áp mn vàn tình cảm lớn. Lịng
trở thành bầu chứa cho cảm xúc ấm áp.
2.3.2.4. Miền nguồn là SINH THỂ
Miền nguồn SINH THỂ ứng với ẩn dụ ý niệm ĐẤT NƯỚC
LÀ SINH THỂ (trong thơ Nguyễn Khoa Điềm xuất hiện 34/308 biểu
thức ngôn ngữ, chiếm tỉ lệ 11,0%). Những thuộc tính của sinh thể
được chiếu xạ lên miền đích đất nước, được cụ thể hóa qua các biểu
thức ngơn ngữ mới mẻ. Chẳng hạn như ý thơ sau:
Nên hôm nay trước trận cuối cùng đánh thắng

Bước Người về, cả thành phố lắng nghe...
(Nơi Bác từng qua, [11, tr.122])
2.3.2.5. Miền nguồn chiếu xạ đến miền đích TÌNH U
2.3.2.6. Miền nguồn chiếu xạ đến miền đích THỜI GIAN
2.4. Cơ sở kinh nghiệm làm nền tảng cho những mơ hình tri nhận
của ẩn dụ tri nhận trong thơ Nguyễn Khoa Điềm
2.5. Tiểu kết


15

CHƯƠNG 3
MỘT SỐ ẨN DỤ TRI NHẬN TIÊU BIỂU
TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM
3.1. Ẩn dụ ý niệm về con người
3.1.1. Ẩn dụ ý niệm CON NGƯỜI LÀ THỰC VẬT/ CỎ CÂY
Theo thống kê ở bảng 2.2, hoa 9/49 chiếm 18,4 %, cây 9/49
chiếm 18,4 %, tên các loài hoa 2/49 chiếm 4,1 % và các tên gọi cụ
thể của các loại cây và hoa 11/49 chiếm 22,4%. Các loài cây, hoa này
thường đặc trưng cho tính cách, đặc điểm của con người:
Ta là bồ câu trắng
Ta là đoá hướng dương
Ta là vừng mây ấm
Ta là người biết chết cho quê hương...
(Mặt đường khát vọng – chương Xuống đường, tr.157)
Trong chương 2, chúng tơi cũng đã phân tích lược đồ chiếu xạ
giữa miền nguồn thực vật/ cỏ cây tới miền đích con người, một bộ
phận của cây ứng với một bộ phận cơ thể con người. Cũng theo
thống kê ở bảng 2.2, lá xuất hiện nhiều nhất với 9/49 lần, chiếm tỉ lệ
18,4%, tiếp đến là ngọn, rễ, hạt đều xuất hiện 4/49 lần, chiếm tỉ lệ

8,2%.
Đáng chú ý ẩn dụ ý niệm CON NGƯỜI LÀ THỰC VẬT/ CỎ
CÂY trong thơ Nguyễn Khoa Điềm là nhiều lần, nhà thơ ví mình và
đồng loại là cây đời:
Tơi cũng thích ngắm ... Tơi
Bất động bên đường như một cái cây
Mà từ rễ đến ngọn
Lay động dưới ngôi sao chiều chợt sáng
(Cảm nhận cuối ngày, tr.177)


16

3.1.2. Ẩn dụ ý niệm CƠ THỂ CON NGƯỜI LÀ VẬT/ BẦU
CHỨA ĐỰNG TÌNH CẢM
Ý niệm này được Nguyễn Khoa Điềm cụ thể hóa thành một số
bộ phận như lịng, tim, mắt, trán, chân, ngực, môi, tay, ruột,... Trong
Bảng 2.6, chúng tôi thống kê được tỉ lệ xuất hiện của các bộ phận đó
như sau: lịng 9/30 chiếm 30%, tim 7/30 chiếm 23,3%, mắt 6/30
chiếm 20%, trán và chân 2/30 chiếm 6,7%,...
Nguyễn Khoa Điềm đã ý niệm hóa bộ phận cơ thể lịng là nơi
chứa đựng tình cảm. Đây là bộ phận cơ thể xuất hiện nhiều nhất
trong các biểu thức ngơn ngữ thơ Nguyễn Khoa Điềm. Lịng là bầu
chứa cảm xúc yên tĩnh trong tâm hồn. Nhưng cũng có lúc, lòng biểu
trưng cho tâm trạng nhức nhối, nhiều lo âu của con người trong chiến
tranh:
Chúng ta lớn lên những năm khơng bình n
Dẫu em vẫn màu áo trắng u tin
(...)
Lịng ta khơng bình n

Lịng ta vẫn vẫn đầy khắc khoải...
(Mặt đường khát vọng – chương Tuổi trẻ không yên, tr.140)
Xuất hiện trong các biểu thức ngôn ngữ nhiều sau lòng là
tim/trái tim. Nguyễn Khoa Điềm quan niệm trái tim là nới chứa đựng
tình cảm, cảm xúc của con người, đặc biệt là tình yêu:
Khi yêu em rồi
Anh ném mình vào những khoảng xa
Trái tim ngân bao niềm vui mới
Em ơi, những mùa thu sau cịn đẹp hơn
Tình u ta cịn đẹp hơn
(Những bài thơ tình viết trong chiến tranh – Bài 2, tr.132)


17

Trái tim còn là bầu chứa những cảm xúc trong trẻo, đẹp đẽ của
tình đồng đội thân thiết...
3.2. Ẩn dụ ý niệm về cuộc đời
Nguyễn Khoa Điềm quan niệm cuộc hành trình của cuộc đời
con người là những chuyến đi, trong đó con người là người lữ khách
kiếm tìm hạnh phúc, lí tưởng, lối đi đúng đắn của cuộc đời mình.
Theo thống kê ở Bảng 2.4, hình ảnh đường/ con đường trong cuộc
hành trình xuất hiện nhiều nhất trong các thuộc tính được chiếu xạ về
khơng gian (27/61 biểu thức ngôn ngữ, chiếm tỉ lệ 44,3%), tiếp đến là
núi (3/61, 4,9%), đồng và rừng (2/61, 3,3%)...
Viết về những năm tháng chiến tranh khói lửa, vì thế trong ẩn
dụ ý niệm CUỘC ĐỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH, Nguyễn Khoa
Điềm nói nhiều đến hành trình ra trận qua những con đường:
Và chúng ta với sức trẻ tràn bờ
Chân bay tới những nẻo đường có giặc

Chia điếu thuốc, ngắm chấm lịe quen thuộc
Lịng bập bùng những bếp lửa xa xôi
(Bếp lửa rừng, tr.49)
Lược đồ chiếu xạ những khó khăn trắc trở chính là những trở
ngại trên đường đời được cụ thể hóa bằng những hình ảnh rất thực:
Anh đã đi bao năm
Giữa xiềng xích và gai góc
Bên đạn bom và chất độc
Ăn ngọn rau xanh hái vội bên đường
Ni dưỡng lịng tơn kính thiêng liêng
Về tự do và tình yêu tuổi trẻ
(Những bài thơ tình viết trong chiến tranh – Bài 2, tr.133)
Ở những bài thơ viết ở thời kì sau chiến tranh, khi đất nước đã


18

giải phóng, Nguyễn Khoa Điềm vẫn trăn trở về con đường cuộc đời
mình đi:
Anh trơi đi
Khơng bắt đầu, khơng kết thúc, không bờ bến
Anh mang tự do của nước đến với cuộc đời
Như sông, từ hữu hạn đến vô hạn
Để mãi mãi có mặt
Để sống
Bên người
Phải chăng, Sơng Hương?
(Sơng Hương, tr.295)
3.3. Ẩn dụ ý niệm về đất nước
3.3.1. Ẩn dụ ý niệm ĐẤT NƯỚC LÀ SINH THỂ

Ở Bảng 2.7, chúng tơi đã đưa ra các thuộc tính được chiếu xạ
giữa miền nguồn và miền đích trong ẩn dụ ý niệm ĐẤT NƯỚC LÀ
SINH THỂ trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, gồm sự tương đồng về các
hoạt động tự thân (như đi, lớn, ru, ngủ, dậy, hồi sinh, lắng nghe, nở
hoa, trở mình, nói,...), về các hoạt động tác động đến đối tượng khác
(gọi, hiểu), về bộ phận (vai), về trạng thái cảm xúc (đau khổ, buồn,
thương nhớ), về tình trạng (gian nguy, chơ vơ,...),...
Nguyễn Khoa Điềm đã chiếu xạ những thuộc tính của sinh thể
đến đất nước để vẽ lên chân dung, hình hài cụ thể, sinh động của đất
nước những năm chiến tranh:
Những tiếng kèn
Nấc lên giữa bốn bức tường địa ngục
Ngoài cửa kia những đứa em giơ tay gầy chầu chực
Cuối đường kia rung đất tiếng bom rơi
Đất nước đau thương giận cho anh điệu nhạc


19

Chẳng chia buồn, như một kẻ xa xôi
(Con gà đất, cây kèn và khẩu súng, tr.55)
3.3.2. Ẩn dụ ý niệm ĐẤT NƯỚC LÀ NHỮNG KHU VỰC
Trong tâm thức Nguyễn Khoa Điềm, đất nước không phải là một
khái niệm chung chung. Đất nước được cụ thể hóa qua những khu
vực, những địa danh cụ thể, những miền đất mà nhà thơ đã gắn bó, đã
sinh sống và làm việc với nhiều kỉ niệm thân thương. Lối tư duy này
cho thấy tình yêu quê hương đất nước của Nguyễn Khoa Điềm rất
sâu sắc và rõ ràng. Từ sự chiếu xạ giữa miền nguồn khu vực và miền
đích đất nước, Tổ quốc chính là một phần đất cụ thể mà biết bao thế
hệ người dân Việt Nam phải tranh đấu, giữ gìn:

Đất dưới chân ta là Hà Nội
Trời trên đầu ta là Hà Nội
Mỗi chúng ta một trái tim nóng hổi
Kiên gan bám trụ cuộc đời...
(Đứng vững trên mặt đất ngàn năm, tr.104)
3.4. Ẩn dụ ý niệm về tình yêu
3.4.1. Ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH
Miền nguồn CUỘC HÀNH TRÌNH chiếu xạ đến miền đích
TÌNH U ở góc độ hai người cùng đi chung một con đường. Tuy
nhiên con đường tình u trong thơ Nguyễn Khoa Điềm thường
khơng phải là con đường mà đơi bạn trẻ được sóng bước, bên nhau,
mà đó là con đường cách xa vì sự chia ly trong chiến tranh:
Anh dặn em ngày chiến thắng
Con đường nào anh đợi đón em về
Anh nói trăm lần anh sẽ sống
Và trẻ hoài như buổi mới chia ly...
(Buổi hò hẹn lớn lao, tr.45-46)


20

3.4.2. Ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỰ GẦN GŨI
Theo khảo sát ở Bảng 2.8, ý niệm sự gần gũi được Nguyễn
Khoa Điềm thể hiện qua hình ảnh mắt (66,7%), thịt da, tay, mặt, tâm
hồn (33,3%), tim, ngực, tóc (16,7%). Ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ
SỰ GẦN GŨI có miền nguồn và miền đích tương đối trừu tượng.
Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện sự gần gũi ấy qua ánh mắt trao gửi
cho nhau. Cũng theo thống kê ở Bảng 2.8, các từ ngữ biểu đạt ý niệm
trạng thái gắn bó của đơi lứa u nhau xuất hiện khá nhiều như: tràn,
mang, ấm nồng, san sẻ, bên, ôm, hôn, cầm,... :

Em sẽ về bên anh
Cho tay tràn trên mặt
Mặt em tràn nước mắt
Mắt em hồn của anh
(Những bài thơ tình viết trong chiến tranh - Bài 4, tr.136)
3.4.3. Ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ NHIỆT/ LỬA
Từ bản chất vật lí của ngọn lửa là khả năng đốt cháy và gây
bỏng, Nguyễn Khoa Điềm chiếu xạ sang tình yêu, biểu đạt nỗi nhớ
da diết:
Chắc những đứa con của Âu Cơ từng lên rừng xuống bể
Cũng không nhớ thương nhau nhiều như ta nhỉ?
Anh nhớ em làm mỗi ngọn lửa cũng nhớ em
Lửa cháy trong Trường Sơn bao đêm
(Trên núi sơng, tr.126-127)
3.4.4. Ẩn dụ ý niệm TÌNH U LÀ SỨC MẠNH THIÊN NHIÊN
Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, ơng đã phóng chiếu các hiện
tượng thiên nhiên như nắng, sương, giơng, gió, mưa,... cùng
những trạng thái cảm xúc nhớ thương, buồn,... đến tình u, mượn
thiên nhiên nói hộ lịng mình, để thể hiện một tình yêu nồng nàn,


21

mãnh liệt:
Yêu em yêu cả khoảng trời
Sương giăng buổi sớm, nắng dời chiều hôm
Tháng tư giông chuyển bồn chồn
Hạt mưa vây ấm nỗi buồn cách xa
(Khoảng trời yêu dấu, tr.42)
3.4.5. Ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỰ SAY ĐẮM, KHAO

KHÁT
Sự say đắm khao khát là một trạng thái khó hình dung. Qua
những biểu thức ngơn ngữ trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, ta có thể
cảm nhận được sự say đắm khao khát đó qua những trạng thái được
cụ thể hóa như nhớ, mong,... Nỗi nhớ là tâm trạng điển hình nhất của
tình cảm lứa đơi khi xa cách:
Anh nhớ em. Như khơng có nỗi nhớ nào lớn hơn trong đời
anh – nỗi cô đơn khủng khiếp
(Giữa ngày xa cách, tr.238)
3.4.6. Ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ ÁNH SÁNG
Ở ẩn dụ ý niệm này, những thuộc tính của ánh sáng được chiếu
xạ lên miền đích TÌNH U để làm nổi bật ý nghĩa quan trọng của
tình yêu trong cuộc sống con người. Ánh sáng chiếu rọi nguồn sống,
sức sống, giống như tình yêu làm cuộc đời chúng ta tươi đẹp, rạng
ngời hơn:
Lịng anh bát ngát ngày dài
Mênh mơng hoa lá mang hồi nắng em
Hỡi người con gái dịu hiền
Hố thân làm mặt trời bên cuộc đời
(Khoảng trời yêu dấu, tr.41)
3.5. Tiểu kết


22

KẾT LUẬN
Luận văn đã hệ thống những vấn đề lí luận cơ bản về ẩn dụ tri
nhận và mơ hình tri nhận, mơ hình văn hóa, ý niệm, ý niệm hóa,
nghiệm thân, lược đồ hình ảnh, điển mẫu, khơng gian tinh thần, các
kiểu loại ẩn dụ tri nhận,... Từ nền tảng lí thuyết đó, chúng tơi tiến

hành khảo sát 148 bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm trong tập Nguyễn
Khoa Điềm thơ tuyển, tìm hiểu mơ hình tri nhận và phân tích cũng ẩn
dụ ý niệm tiêu biểu nhất. Từ cơ sở lí luận và thực tiễn đó, chúng tơi
rút ra một số kết luận như sau:
1. Ẩn dụ tri nhận là hình thái tư duy của con người về thế giới,
là công cụ hữu hiệu để con người ý niệm hóa các khái niệm trừu
tượng. Trong q trình tri nhận, các lược đồ ý niệm tổ chức kiến
thức, từ đó tạo ra những mơ hình tri nhận. Các mơ hình tri nhận được
cấu thành bởi các ý niệm. Ý niệm khơng chỉ là kết quả của q trình
phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người mà cịn là sản
phẩm của q trình tri nhận, nó vừa có tính nhân loại vừa có tính dân
tộc vì nó gắn chặt với ngơn ngữ và văn hóa của dân tộc. Ý niệm hóa
là q trình hình thành ý niệm. Trong mơ hình ẩn dụ ý niệm, miền
đích được hiểu nhờ vào miền nguồn. Q trình hiểu ý niệm đích
thơng qua ý niệm nguồn gọi là sự chiếu xạ hay ánh xạ. Ẩn dụ tri nhận
được chia thành ba loại dựa trên chức năng tri nhận: ẩn dụ cấu trúc
(Structural Metaphor), ẩn dụ bản thể (Ontological Metaphor) và ẩn
dụ định hướng (Orientation Metaphor). Ẩn dụ tri nhận gắn liền với
đặc trưng văn hóa tinh thần của người bản ngữ.
2. Luận văn đã đi sâu tìm hiểu các phương thức thiết lập và các
thành tố cấu trúc mơ hình tri nhận trong thơ Nguyễn Khoa Điềm;
phân loại và lí giải con đường tri giác của các ẩn dụ ý niệm xuất hiện


23

trong thơ Nguyễn Khoa Điềm; minh chứng mối quan hệ nội tại giữa
ngơn ngữ - văn hóa – tư duy được thể hiện trong những ý niệm về con
người, cuộc đời, đất nước, tình yêu,... trong thơ Nguyễn Khoa Điềm.
Từ kết quả thu được ở Chương 2 và Chương 3 khi tiến hành

phân loại và phân tích mơ hình tri nhận cũng như các ẩn dụ ý niệm
trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, có thể thấy trong thơ Nguyễn Khoa
Điềm, tập trung nhất là hai loại ẩn dụ cấu trúc và ẩn dụ bản thể.
Các kết quả nghiên cứu ở Chương 2 và Chương 3 cũng cho
thấy trong tư duy của Nguyễn Khoa Điềm, những ý niệm về con
người, cuộc đời, đất nước, tình yêu chiếm ưu thế. Điều này thể hiện
nhân sinh quan, thế giới quan của Nguyễn Khoa Điềm. Những biểu
thức ngơn ngữ là những ví dụ minh họa, lí giải cụ thể cho các ẩn dụ ý
niệm. Quá trình chiếu xạ bao giờ cũng đi từ miền nguồn cụ thể đến
miền đích trừu tượng.
Trong q trình ý niệm hóa, Nguyễn Khoa Điềm đã chuyển
những đặc điểm của các đối tượng trong cuộc sống như thực vật/ cỏ
cây, bầu chứa để chiếu xạ đến con người. Nhà thơ coi cơ thể con
người là một bầu chứa cho các tình cảm như tình yêu quê hương đất
nước, tình yêu, tình cảm gia đình, tình đồng đội, lí tưởng cách mạng,
ý chí chiến đấu,... Qua những trải nghiệm của con người trong cuộc
sống, qua sự gắn bó với cỏ cây hoa lá, Nguyễn Khoa Điềm tri giác
CON NGƯỜI LÀ THỰC VÂT/ CỎ CÂY. Những thuộc tính tiêu
biểu của cây cỏ như tên gọi, màu sắc, giai đoạn sinh trưởng, các bộ
phận,... được chiếu xạ sang miền đích con người. Ẩn dụ ý niệm về
cuộc đời trong thơ Nguyễn Khoa Điềm chiếm một số lượng lớn.
Miền nguồn cuộc đời trong thơ Nguyễn Khoa Điềm được chiếu xạ
đến ba miền đích, đó là: CUỘC HÀNH TRÌNH, GIẤC NGỦ và
MỘT NGÀY. Thực ra, hai miền nguồn sau là miền nguồn “phái


×