ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ THẢO MY
ẨN DỤ BỔ SUNG TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Đà Nẵng, tháng 4/ 2016
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................................ 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.......................................................................... 5
3.1 Đối tượng nghiên cứu ......................................................................................... 5
3.2 Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................ 5
4. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................... 6
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI............................................................. 7
1.1 Lí thuyết về ẩn dụ ............................................................................................... 7
1.1.1 Ẩn dụ dưới góc nhìn của Từ vựng học ........................................................ 7
1.1.2 Ẩn dụ dưới góc nhìn của Phong cách học ................................................... 8
1.2 Ẩn dụ bổ sung từ cách lí giải của phong cách học ............................................. 9
1.2.1 Khái niệm ẩn dụ bổ sung ............................................................................. 9
1.2.2 Cơ chế và nguồn gốc các ẩn dụ bổ sung .................................................... 10
1.3 Giới thiệu về cuộc đời, tác phẩm và phong cách ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ ..
.......................................................................................................................... 12
1.3.1 Cuộc đời Lưu Quang Vũ............................................................................ 12
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác của Lưu Quang Vũ ..................................................... 14
1.3.3 Đặc điểm phong cách ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ ................................. 18
CHƯƠNG II. THỐNG KÊ, PHÂN LOẠI VÀ MIÊU TẢ CÁC ẨN DỤ BỔ SUNG
TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ ............................................................................... 22
2.1 Các tiêu chí và kết quả thống kê phân loại ....................................................... 22
2.1.1 Tiêu chí thống kê phân loại ....................................................................... 22
2.1.2 Kết quả thống kê phân loại ........................................................................ 24
2.2 Đặc điểm hình thái - cấu trúc - ngữ nghĩa của ẩn dụ bổ sung trong thơ Lưu
Quang Vũ .................................................................................................................... 33
2.2.1 Nhóm ẩn dụ chuyển đổi thị giác ................................................................ 33
2.2.2 Nhóm ẩn dụ chuyển đổi thính giác ............................................................ 35
2
2.2.3 Nhóm ẩn dụ chuyển đổi khứu giác ............................................................ 37
2.2.4 Nhóm ẩn dụ chuyển đổi vị giác ................................................................. 38
2.2.5 Nhóm ẩn dụ chuyển đổi xúc giác .............................................................. 40
2.3 Tiểu kết chương 2 ............................................................................................. 41
CHƯƠNG 3. GIÁ TRỊ TU TỪ CỦA ẨN DỤ BỔ SUNG TRONG THƠ LƯU
QUANG VŨ .................................................................................................................. 42
3.1 Nhận xét chung về giá trị diễn đạt và hiệu quả tu từ của ẩn dụ trong thơ ........ 42
3.2. Giá trị diễn đạt và hiệu quả tu từ của ẩn dụ bổ sung trong thơ Lưu Quang Vũ .. 43
3.2.1. Giá trị biểu cảm ............................................................................................. 43
3.2.2. Giá trị thẩm mĩ .............................................................................................. 48
3.2.3. Giá trị hình tượng .......................................................................................... 52
3.2.4. Giá trị nhận thức ............................................................................................ 55
3.3. Ẩn dụ bổ sung như là nhân tố phong cách thơ Lưu Quang Vũ ........................... 56
3.4. Tiểu kết chương 3 ................................................................................................ 59
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 61
PHỤ LỤC ...................................................................................................................... 63
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong biết bao khuôn mặt thơ Việt Nam hiện đại, Lưu Quang Vũ nổi
bật lên như là một trong những hiện tượng thơ của thập niên 60 thế kỉ XX, khi
anh cùng Bằng Việt xuất in chung tập “Hương Cây - Bếp lửa”. Trong dòng
chung của thơ ca kháng chiến chống Mỹ, Lưu Quang Vũ có một giọng điệu
riêng, đã định hình một phong cách rõ nét. Giữa dàn đồng ca của những tiếng thơ
cùng thế hệ, thời kì đầu Lưu Quang Vũ đã góp một tiếng thơ sơi nổi, tươi mới,
mát lành, có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển và đổi mới của thơ ca thời kì
này.
1.2. Sau tập “Hương cây”, thơ ca Lưu Quang Vũ cũng đã thay đổi ít
nhiều, những tươi vui ban đầu dần nhạt nhịa, thơ mang màu sắc thâm trầm,
mang nhiều suy tư và dự cảm với cuộc đời, với số phận. Chính vì thế đã có một
thời gian những tập thơ của Lưu Quang Vũ được coi là không hợp với thời cuộc,
bị coi là lạc điệu, bị đặt sang một bên lề cuộc sống, không được công bố, công
nhận. Đến sau này, khi Lưu Quang Vũ mất đi, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu
quay lại nhìn nhận đúng đắn về thơ Lưu Quang Vũ, cùng với những nỗ lực của
Lưu Khánh Thơ, các tập thơ đã được sưu tầm đầy đủ, tập hợp và công bố rộng
rãi, được rất nhiều bạn đọc yêu mến đón nhận. Có thể nói, những phần chưa
cơng bố, phần riêng lạc điệu ấy mới chính là con người thật nhất, chân thành và
tài hoa, tinh tế nhất của Lưu Quang Vũ, mà bạn đọc ít nhiều cịn chưa biết tới.
Đó là một tâm hồn thơ ln “đắm đuối” với đời, với người; hồn thơ ấy khi cô
đơn đến tột cùng, khi hạnh phúc đến rợn ngợp; hồn thơ ấy luôn nhạy cảm trước
vạn vật, trước mọi biến chuyển của cuộc đời. Thơ Lưu Quang Vũ chính vì lẽ ấy
2
mà gây một ấn tượng mạnh, một số phận thơ khác biệt hẳn so với những bạn thơ
cùng thời.
Bắt nguồn từ tình yêu dành cho thơ ca và con người tài năng đặc biệt: Lưu
Quang Vũ; khóa luận chọn hướng tiếp cận nghiên cứu thơ Lưu Quang Vũ từ góc
nhìn ngơn ngữ học, thơng qua các hình ảnh ẩn dụ bổ sung xuất hiện trong thơ.
Để qua đó bước đầu khẳng định Lưu Quang Vũ như một cá tính thơ mạnh mẽ,
một phong cách thơ sắc nét trong thơ ca Việt Nam thời kì hiện đại, giúp cho độc
giả có cái nhìn sâu sắc và đa chiều hơn.
2. Lịch sử vấn đề
Chặng đường thơ của Lưu Quang Vũ trải dài từ những năm kháng chiến
chống Mỹ đến những năm tháng thời kì đất nước đổi mới và dừng lại khi Lưu
Quang Vũ qua đời năm 1988. Không kể đến những vần thơ sáng tác từ thuở
thiếu thời, Lưu Quang Vũ được giới văn nghệ cũng như cả nước biết tới với tập
thơ đầu tay in chung với Bằng Việt “Hương cây - Bếp lửa” năm 1968.
Tiếp sau “Hương cây - Bếp lửa”, Lưu Quang Vũ có “Mây trắng của đời
tơi” (1989), Bầy ong trong đêm sâu (1993) và một số tập thơ đã tương đối hoàn
chỉnh “Cuốn sách xếp lầm trang”, “Cỏ tóc tiên”. Mới đây, năm 2008, cuốn “Di
cảo Nhật kí – Thơ” cũng vừa ấn hành.
Theo thời gian, mỗi tác phẩm của Lưu Quang Vũ ra đời kéo theo một sự
chú ý, không chỉ của bạn đọc mà của giới phê bình nói chung. Nhìn chung, Lưu
Quang Vũ nhận được nhiều thiện cảm và kì vọng, sự động viên khích lệ cũng rất
nhiều.
-“Lưu Quang Vũ tài năng và lao động nghệ thuật” cũng của Lưu Khánh
Thơ chủ biên, xuất bản năm 2000, ra đời nhân dịp Lưu Quang Vũ được nhà nước
3
tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đã giới thiệu những bài viết của Hồi Thanh, Lê
Đình Kỵ, Vũ Quần Phương, Phạm Xuân Nguyên, Anh Ngọc, Hoàng Sơn… cho
thấy đánh giá của giới phê bình về Lưu Quang Vũ từ rất nhiều góc độ. Ngay từ
khi tập thơ Hương cây - Bếp lửa in chung với Bằng Việt (1968) ra đời, Lưu
Quang Vũ đã lập tức thu hút được sự chú ý của nhiều nhà phê bình danh tiếng.
Vương Trí Nhàn khẳng định Lưu Quang Vũ là “một nhà thơ thuộc loại bẩm
sinh” [13, tr.63]. Hồi Thanh đã gọi ơng là “một cây bút nhiều triển vọng” [13,
tr.22]. Còn GS Lê Đình Kỵ thì cho rằng: “Thơ Lưu Quang Vũ có một điệu hồn
riêng” [13, tr.29]. Nhà thơ Anh Ngọc cũng đã khẳng định: chỉ chiếm phần nửa
trong tập Hương Cây - Bếp lửa, cũng đủ để Lưu Quang Vũ “có một vị trí vững
vàng bởi một thơ dào dạt, một tài thơ sắc sảo với vẻ hồn nhiên đến như là ngẫu
hứng, với mạch nguồn hình ảnh và từ ngữ đầy trực cảm và đột biến tuôn ra
dường như bất tận” [13, tr.109].
-Cuốn “Đối thoại Tình yêu Xuân Quỳnh Lưu Quang Vũ”, ấn hành năm
2007, tuyển lựa những bài thơ đặc sắc nhất của cả Xuân Quỳnh và Lưu Quang
Vũ, những bài viết của giới phê bình về thơ của Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, và
cả những bức thư thấm đẫm ân tình của hai người. “Đối thoại Tình yêu Xuân
Quỳnh Lưu Quang Vũ” như một cuộc đối thoại bằng thơ giữa Quỳnh và Vũ, đó
cịn là lời đối thoại của họ với đời, với bạn đọc. Những vần thơ ấy nồng nàn tình
u, hạnh phúc lứa đơi, những tình cảm nồng cháy, nóng bỏng.
Năm 2008, kỉ niệm 20 năm ngày mất của Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh,
cuốn “Di cảo Nhật kí – thơ” của Lưu Quang Vũ đã được Lưu Khánh Thơ biên
soạn và công bố một phần lớn những tác phẩm, cũng như bút tích của anh trong
toàn bộ khối lượng Di cảo đồ sộ. Những bài thơ và bút tích của Lưu Quang Vũ
4
vừa gợi lại hồi ức một chặng đường lịch sử của đất nước vừa gợi niềm xót xa
thương cảm cho số phận của một con người tài hoa.
“Di cảo Nhật kí – thơ” cịn là những lời kể, những tản mạn của người
thân về Lưu Quang Vũ; những lời kể ấy đã vẽ lại một cách chân thực con người
và tâm hồn Lưu Quang Vũ. Trong những dòng chấp bút “Lan man nhớ một thời”
Bùi Vũ Minh đã nói thay lời của rất nhiều con người đã từng tiếp xúc với Vũ hay
mới chỉ biết Vũ qua thơ và kịch: “Vũ đi xa lắm rồi, nhưng anh đã để lại bao điều
khơng thể mất trong lịng những người u mến anh”. [14, tr.325].Cùng với niềm
tiếc thương vô bờ dành cho Lưu Quang Vũ, Anh Chi đã nói: “Thơ Lưu Quang
Vũ cịn tươi rịng lâu dài trong lịng người đời. Nhìn vườn cây trong phố Hà Nội,
biết còn thơ anh; gặp mưa mù mịt, thương thơ anh bao nhiêu; gặp trẻ con cơ nhỡ,
thấy trọng thơ anh quá; khi trời quá xanh trên đầu, lại yêu thơ Lưu Quang Vũ
thật nhiều...” [14, tr.340]
Trong bài viết “Nhớ về Lưu Quang Vũ - những khoảnh khắc chợt hiện”,
Ngô Thảo nhớ lại nhiều kỉ niệm giữa những người đồng nghiệp với nhau, nhưng
có một nhận định về tác phẩm Lưu Quang Vũ, bao gồm cả kịch, thơ, văn xi rất
thú vị có tính bao quát lớn: “Hai mươi năm chưa phải là dài, nhưng đất nước và
thế giới đã có nhiều biến động về chính trị, xã hội khiến cho nhiều thước đo giá
trị đã thay đổi, nhưng nhiều tác phẩm của Lưu Quang Vũ không sợ những thước
đo mới mẻ (tác giả luận văn nhấn mạnh): thấm đượm nhân văn, hướng thiện, đầy
tình yêu với cuộc sống, con người, đất nước luôn là những giá trị nghệ thuật tôn
trọng”. [14, tr.314]
Việc nghiên cứu thơ Lưu Quang Vũ, cho đến nay, chưa có một chun
luận chun sâu nào, ngồi một số đề tài khóa luận, luận văn thạc sĩ. Hướng
5
nghiên cứu các ẩn dụ bổ sung trong thơ Lưu Quang Vũ, cho đến nay, vẫn còn là
một đề tài hồn tồn mới.
Bên cạnh đó, lý thuyết về ẩn dụ cũng là một vấn đề được nhiều chuyên
ngành quan tâm như từ vựng học, ngữ nghĩa học, phong cách học và đã thu được
nhiều thành tựu. Vấn đề ẩn dụ và ẩn dụ bổ sung được đề cập đến khá nhiều trong
các giáo trình Đại học, Trung học của Đỗ Hữu Châu (1962), Đinh Trọng Lạc
(1964), Cù Đình Tú (1975) và trong các cơng trình nghiên cứu văn học của các
tác giả Hà Minh Đức (1974), Trần Đình Sử (1995), Lê Trí Viễn (1998)...
Do đó, khóa luận này chỉ mong muốn tìm được một cách nhìn tổng qt
phong cách ngơn ngữ thơ của Lưu Quang Vũ, chỉ ra nét đặc trưng tiêu biểu của
Lưu Quang Vũ trong các tiếng thơ cùng thế hệ, và khẳng định Lưu Quang Vũ
như một gương mặt thơ tiêu biểu của thời kì thơ ca kháng chiến chống Mỹ cũng
như thơ ca Việt Nam của thế kỉ XX.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Ẩn dụ bổ sung trong thơ Lưu Quang
Vũ.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu ẩn dụ bổ sung trong thơ Lữu Quang Vũ trên các
phương diện: Phương diện hình thái-cấu trúc và phương diện giá trị tu từ, từ đó
chỉ ra nét đặc trưng trong phong cách thơ Lưu Quang Vũ qua việc sử dụng các
ẩn dụ.
Phạm vi khảo sát của đề tài là tất cả những tập thơ đã xuất bản của Lưu
Quang Vũ.
6
+ Hương cây – bếp lửa (In chung với Bằng Việt, 1968)
+ Mây trắng của đời tôi (1989)
+ Bầy ong trong đêm sâu (1993)
+ Lưu Quang Vũ – Di cảo (2008)
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp được sử dụng trong khóa luận này là phương pháp miêu tả cùng
với các thủ pháp nghiên cứu: Phân loại – hệ thống hóa, phân tích nét nghĩa,...
7
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lí thuyết về ẩn dụ
1.1.1 Ẩn dụ dưới góc nhìn của Từ vựng học
Từ vựng học xem ẩn dụ là một phương thức chuyển nghĩa của từ. Ẩn dụ là
nét độc đáo của ngôn ngữ tự nhiên. Ẩn dụ được nghiên cứu trong rất nhiều lĩnh
vực theo những góc độ và những cách thức khác nhau.
Trên thế giới, người đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về ẩn dụ là
Aristotle trong cuốn Thi học. Trong tác phẩm này, Aristotle đã nói rằng ẩn dụ là
sự áp dụng cho một sự vật nào đó một cái tên mà cái tên này vốn thuộc về một
sự vật khác hoặc là từ loại cho đến chủng hoặc từ chủng cho đến loại, từ loại nhỏ
sang loại nhỏ khác dựa vào sự đồng dạng. Aristotle đã phát biểu lý thuyết về
phép so sánh rút gọn, lý thuyết về bản chất so sánh rút gọn của ẩn dụ. Theo đó,
ẩn dụ được xem như một phần so sánh được rút gọn bằng cách loại bỏ từ so sánh
“như là”, “là” v.v...Chẳng hạn, theo Aristotle, ẩn dụ người là chó sói là một phép
rút gọn từ một phép so sánh người giống như là một con chó sói [17, tr.35] (so
sánh trong tiếng Việt: mặt hoa là rút gọn từ phép so sánh: Mặt (người) tươi như
hoa).
Trong các sách nghiên cứu ẩn dụ trong và ngoài nước, cho đến nay, ẩn dụ
thường được coi là cách thức chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so sánh ngầm giữa
hai sự vật có sự tương đồng hay giống nhau.
Các nhà ngơn ngữ học trong nước cũng có quan điểm tương tự. Đỗ Hữu
Châu cũng quan niệm: “Ẩn dụ là cách gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên gọi
của một sự vật hiện tượng khác, giữa chúng có mối quan hệ tương đồng” [4,
tr.54]. Sau này, trong cơng trình Từ vựng -ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu
8
giải thíchmột cách cụ thể hơn: “Cho A là một hình thức ngữ âm, X và Y là
những ý nghĩa biểu vật. A vốn là tên gọi của X (tức X là ý nghĩa biểu vật chính
của A). Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của X để gọi tên Y (để
biểu thị Y), nếu như X và Y có nét nào đó giống nhau” [5, tr.145].
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự
giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau” [7, tr.162].
Đào Thản đã giải thích khá rõ ràng, cụ thể khái niệm ẩn dụ trong mối quan
hệ với sự so sánh: “Ẩn dụ cũng là một lối so sánh dựa trên sự giống nhau về hình
dáng, màu sắc, tính chất, phẩm chất, hoặc chức năng của hai đối tượng. Nhưng
khác với so sánh dùng lối song song hai phần đối tượng và phần so sánh bên
cạnh nhau, ẩn dụ chỉ giữ lại phần để so sánh” [18, tr. 143].
Theo quan điểm của Nguyễn Đức Tồn thì bản chất của ẩn dụ là: “phép
thay thế tên gọi hoặc chuyển đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng này
sang sự vật, hiện tượng khác loại dựa trêncơ sở sự liên tưởng đồng nhất hóa
chúng. theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng”[19, tr. 8].
Lần đầu tiên, trong sự phân tích ẩn dụ trong quan hệ với so sánh, Nguyễn
Đức Tồn đã chỉ ra một cách cụ thể, rõ ràng cái mà lâu nay người ta vẫn nói ẩn dụ
là so sánh ngầm. Và thực chất về lôgic, chỉ có sự đồng nhất hoặc tương đồng
hồn tồn giữa các sự vật thì mới cho phép có thể dùng cái này để thay thế cái
kia được (cũng giống như nguyên tắc thay thế phụ tùng, máy móc trong khoa
học kỹ thuật).
1.1.2 Ẩn dụ dưới góc nhìn của Phong cách học
Phong cách học xem ẩn dụ là một biện pháp tu từ nhằm tạo nên những
biểu tượng trong nhận thức của con người. Là đối tượng nghiên cứu của Phong
9
cách học, với tư cách là biện pháp tu từ (ẩn dụ tu từ), ẩn dụ được khảo sát trong
các ngữ cảnh cụ thể, gắn liền với văn bản. Khi tách rời khỏi văn bản, ẩn dụ cũng
sẽ mất giá trị ngữ nghĩa.
Trong cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (1983), Cù Đình
Tú đã nhấn mạnh vào mối quan hệ liên tưởng về những nét tương đồng của ẩn
dụ đã định nghĩa như sau: “Ẩn dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu
thị đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên mối quan hệ liên tưởng
về nét tương đồng giữa hai đối tượng.” [20, tr. 279]
Trong cuốn Phong cách học tiếng Việt (1993), các tác giả Đinh Trọng Lạc
và Nguyễn Thái Hòa lại nhấn mạnh bản chất so sánh và cho rằng: “Ẩn dụ là so
sánh ngầm, trong đó vế so sánh được giảm lược đi, chỉ còn vế được so sánh dựa
trên cơ sở của phép chuyển nghĩa khi hai đối tượng có một nét nghĩa tương
đồng”[21, tr. 194].
Các tác giả đều thống nhất cho rằng ẩn dụ là một phương tiện tu từ chuyển
nghĩa, lấy tên gọi biểu thị đối tượng này để biểu thị đối tượng kia, dựa trên cơ sở
nét tương đồng giữa hai đối tượng.
1.2 Ẩn dụ bổ sung từ cách lí giải của phong cách học
1.2.1 Khái niệm ẩn dụ bổ sung
Có thể nói: Ẩn dụ bổ sung là một phương tiện tu từ chuyển nghĩa thuộc
nhóm ẩn dụ.
Ẩn dụ bổ sung là một hiện tượng ngôn ngữ được các nhà ngôn ngữ học đặt
vấn đề nghiên cứu từ rất sớm. Cách đây hơn 50 năm tác giả Đinh Trọng Lạc,
trong giáo trình Việt ngữ tập 3 (Tu từ học, 1964) đã định nghĩa: “Ẩn dụ bổ sung
(Métaphore complétive) còn gọi là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác (Synesthésie) đó
10
là sự kết hợp của hai hay nhiều từ, ngữ chỉ các cảm giác sinh ra từ các trung tâm
khu cảm giác khác nhau.”
Năm 1982, trong cuốn Phong cách học tiếng Việt, tác giả Lê Anh Hiền định
nghĩa: “Ẩn dụ bổ sung hay còn gọi là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác là loại ẩn dụ
dựa trên cơ sở thay đổi cảm giác.” [8, tr. 53]
Năm 1994, trong cuốn Phong cách học tiếng Việt, tác giả Nguyễn Thái Hòa
định nghĩa như sau: “Ẩn dụ bổ sung hay còn gọi là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác,
tức là sự thay thế một cảm giác này bằng một cảm giác khác trong nhận thức
cũng như trong diễn đạt ngôn ngữ.” [21, tr. 217]
1.2.2 Cơ chế và nguồn gốc các ẩn dụ bổ sung
- Là một kiểu nhỏ bổ sung vào nhóm ẩn dụ, ẩn dụ bổ sung là một phương
tiện tu từ ngữ nghĩa dựa trên cơ chế của sự so sánh, bắt nguồn từ mối quan hệ
tương đồng giữa những đối tượng. Vì vậy nó mang nhiều đặc điểm tương đồng
của nhóm ẩn dụ, có tác dụng xây dựng những hình tượng văn học, đem lại hiệu
quả tu từ to lớn, giúp nhà thơ nhà văn miêu tả hiện thực sâu sắc, sinh động, bộc
lộ cảm xúc tinh tế. Đinh Trọng Lạc trong Giáo trình Việt ngữ 3 (Tu từ học,
1964) đã lý giải cơ chế ẩn dụ bổ sung như sau:
(1) Ẩn dụ bổ sung có cơ sở tâm lý học là sự tác động lẫn nhau giữa các giác
quan, là sự hợp nhất của chúng.
(2) Ẩn dụ bổ sung khác ẩn dụng tượng trưng ở chỗ ẩn dụ bổ sung là kết hợp
giữa hai khái niệm về cảm giác dựa trên cơ sở là tính đồng loại giữa chúng.
- Trước khi là một phương tiện nghệ thuật, ẩn dụ bổ sung đã được dùng
trong nhiều lời nói giao tiếp. Trong nói năng hằng ngày của người Việt, sự giao
11
thoa cảm giác hầu như xuất hiện thường trực. Chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp
các câu nói:
Tơi nghe mùi thơm ở quanh đây!
Giọng cô ấy sao nghe chua thế!
Cách nói phổ biến này các nhà tu từ học gọi là Synesthésie cổ điển, chính là
dựa vào tri giác trên cơ sở tương đồng nào đó giữa hai loại cảm giác khác nhau.
Chẳng hạn như dựa vào sự tương đồng giữa thị giác và xúc giác, thính giác và
xúc giác, thị giác và thính giác...Màu sắc (xanh, đỏ, vàng,...) là đối tượng cảm
nhận đúng của giác quan thị giác nhưng lại được cảm nhận bằng các giác quan
khác như vị giác (ngọt ngào), xúc giác (ấm, mát). Sự lệch chuẩn trong diễn đạt
này thường gặp trong khẩu ngữ, tạo nên cách diễn đạt hình tượng, làm phong
phú thêm các phương tiện ngôn ngữ trong kho tàng tiếng Việt.
Trên cơ sở đó, trong văn chương, nhất là trong thơ trữ tình các nhà thơ đã
khai thác nhiều hình ảnh tân kỳ, mới lạ. Xây dựng hình tượng nghệ thuật bằng ẩn
dụ bổ sung. Ẩn dụ bổ sung cũng đã xuất hiện từ trong ca dao, tục ngữ và cả một
vài tác phẩm thơ ca cổ điển Việt Nam một cách sáng tạo:
Bà già đeo bị hạt tiêu
Sống bao nhiêu tuổi nhiều điều đắng cay.
(Ca dao)
Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như nước suối mới sa nửa vời...
(Nguyễn Du – Truyện Kiều)
Thơ ca Việt Nam hiện đại từ sau 1930 cũng đã sử dụng ẩn dụ bổ sung một
cách rộng rãi, tinh tế và phức tạp hơn.
12
Màu thời gian khơng xanh
Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian khơng nồng
Hương thời gian thanh thanh
(Đồn Phú Tứ, Màu thời gian)
1.3 Giới thiệu về cuộc đời, tác phẩm và phong cách ngôn ngữ thơ Lưu
Quang Vũ
1.3.1 Cuộc đời Lưu Quang Vũ
Lưu Quang Vũ (17 tháng 4 năm 1948 - 29 tháng 8 năm 1988) là nhà soạn
kịch, nhà thơ và nhà văn hiện đại của Việt Nam.
Ông sinh tại xã Thiệu Cơ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ nhưng quê gốc lại
ở phường Hải Châu, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, là con trai nhà viết
kịch Lưu Quang Thuận và bà Vũ Thị Khánh, và tuổi thơ sống tại Phú Thọ cùng
cha mẹ. Khi hồ bình lập lại (1954) gia đình ơng chuyển về sống tại Hà Nội.
Thiên hướng và năng khiếu nghệ thuật của ông đã sớm bộc lộ từ nhỏ và vùng
quê trung du Bắc Bộ đó đã in dấu trong các sáng tác của ơng sau này. Bản thân
Lưu Quang Vũ sinh ra và lớn lên trong gia đình có truyền thống về sân khấu.
Thân sinh ông là nhà thơ Lưu Quang Thuận cũng là một nhà hoạt động sân khấu
tâm huyết. Được thừa hưởng truyền thống của gia đình như vậy nên tài năng của
Vũ có điều kiện phát triển.
Từ 1965 đến 1970 ơng nhập ngũ, phục vụ trong qn chủng Phịng khơngKhơng qn. Đây là thời kỳ thơ Lưu Quang Vũ bắt đầu nở rộ.
13
Từ 1970 đến 1978: xuất ngũ và làm đủ mọi nghề để mưu sinh, làm ở
Xưởng Cao su Đường sắt do Tạ Đình Đề làm Giám đốc, làm hợp đồng cho nhà
xuất bản Giải phóng, chấm cơng trong một đội cầu đường, vẽ pa-nơ, áp-phích,...
Từ 1978 đến 1988: Lưu Quang Vũ làm biên tập viên Tạp chí Sân khấu,
bắt đầu sáng tác kịch nói với vở kịch đầu tay ”Sống mãi tuổi 17” viết lại theo
kịch bản của Vũ Duy Kỳ.
Giữa lúc tài năng đang vào độ chín, Lưu Quang Vũ qua đời trong một tai
nạn ô tô trên quốc lộ số 5 tại Hải Dương, cùng với người bạn đời là nhà
thơ Xuân Quỳnh và con trai Lưu Quỳnh Thơ.
Theo lời kể của họa sĩ Doãn Châu, người đã đi cùng ơng trên chuyến xe
cuối cùng, thì vụ tai nạn được tóm tắt như sau:
“Chiều 29/8, chiếc xe chở hai gia đình về Hà Nội. Dọc đường đến cầu Lai
Vu, xe đỗ, mấy phụ nữ xuống mua một rổ ổi. Lúc đó Mí và Vinh ngồi đánh cờ
phía băng ghế bên phải. Ông Châu và Lưu Quang Vũ kẻ nằm người ngồi dưới
sàn xe còn Xuân Quỳnh và bà Bích Thu ngồi phía băng ghế đối diện. Xe qua cầu
Phú Lương, đi trên đường vừa hẹp vừa xuống dốc. Trước mặt có chiếc xe Kamaz
đang đi chầm chậm. Đường dốc nên xe nào qua đây cũng phải thận trọng.
Bất chợt, có hai phụ nữ đội nón đèo nhau trên xe đạp, lao từ đê xuống
đường, cắt qua mặt xe Kamaz, chiếc xe này phanh khựng lại. Người lái chiếc xe
com-măng-ca đang bám sau định đánh tay lái vượt lên. Và chỉ trong tích tắc ấy,
một chiếc xe ben phía sau đã mất phanh đâm sầm vào đuôi chiếc com-măng-ca,
đẩy xe này vào gầm xe Kamaz phía trước.
14
Cả gia đình Lưu Quang Vũ ngồi phía bên phải bị văng xuống đường. Ơng
Châu xác nhận đó là khoảng 14h40 phút ngày 29/8/1988 (trước đây nhiều nguồn
tin nói là 15h30 phút).
Sau khi ơng mất, đã có nhiều dư luận xung quanh vụ tai nạn này. Có tin
cho rằng ơng bị ám sát bằng cách gây tai nạn ô tô. Tuy nhiên với những diễn
biến trước khi vụ tai nạn xảy ra, ơng Châu kết luận: Nếu có một bàn tay nào đó
sắp đặt thì đó chỉ có thể là “Bàn tay của số mệnh”. Vụ án sau đó được xử tại toà
án Hải Dương. Lái xe gây tai nạn bị xét xử tù giam 10 năm.
Lưu Quang Vũ kết hôn 2 lần, lần thứ nhất với diễn viên điện ảnh Tố Uyên
năm 1969. Hai người li hôn năm 1972. Ông kết hôn lần thứ hai với nữ thi sĩ
Xuân Quỳnh năm 1973.
Con trai ông (với Tố Uyên), Lưu Minh Vũ, hiện đang là một trong những
người dẫn chương trình của Đài Truyền hình Việt Nam. Em gái Lưu Quang Vũ,
PGS.TS. Lưu Khánh Thơ hiện đang cơng tác tại tịa soạn Tạp chí Nghiên cứu
Văn học của Viện Văn học. Em trai của ông là GS.TS Lưu Quang Hiệp Hiệu
trưởng Đại học TDTT Bắc Ninh.
Cuộc đời Lưu Quang Vũ trải qua nhiều thăng trầm, sống dưới thời đại xã
hội có nhiều biến động từ thời chiến đến thời bình và đã phải trải qua nhiều đổ
vỡ trong tình cảm. Mỗi người con gái đến và đi trong cuộc đời ông đều có những
vị trí nhất định, được ơng ghi nhớ trong tim rồi cả trong thơ. Tất cả những nhân
tố về cuộc đời Lưu Quang Vũ đều có ảnh hưởng và tác động rất lớn đến con
người và tài năng của ông.
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác của Lưu Quang Vũ
15
Nhắc đến Lưu Quang Vũ là nhắc đến một nhà biên soạn kịch xuất sắc của
Việt Nam với những thành cơng vang dội trong thể loại kịch.
Điều đó được minh chứng qua việc vở kịch đầu tay “Sống mãi tuổi 17”
được trao tặng Huy chương vàng Hội diễn sân khấu. Lưu Quang Vũ được truy
tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 2 (năm 2000) về nghệ thuật sân khấu. Trong
Hội diễn Sân khấu tồn quốc 1980, Lưu Quang Vũ cịn là tác giả trẻ và mới,
nhưng đến năm 1985 “hiện tượng Lưu Quang Vũ” là một phát hiện hiếm thấy.
Tám vở kịch của anh tham gia hội diễn thì 6 vở được tặng thưởng Huy chương
vàng, 2 vở Huy chương bạc. Đây là con số kỷ lục.
Sự xuất hiện rực rỡ của một tài năng mới đã gây được sự chú ý đặc biệt
trong dư luận. Cho đến lúc ra đi vào cõi vĩnh hằng, Lưu Quang Vũ đã viết trên
50 vở kịch, hầu hết đều đã được dàn dựng. Đây cũng lại là con số kỷ lục của một
tác giả, khi tuổi đời vừa tròn 40.
Cùng với một tâm hồn thi sĩ, được sống và làm việc, thử thách nhiều năm
trong lĩnh vực sân khấu, trực giác thiên bẩm của thi sĩ đã mách bảo Lưu Quang
Vũ tìm đến với thể loại kịch, để trở thành một nhà viết kịch thật sự đổi mới, thấu
hiểu những vấn đề đặt ra trong đời sống xã hội Việt hiện đại và từ đó thiết lập
được cuộc đối thoại với cơng chúng đương thời. Dùng phương thức kịch, Lưu
Quang Vũ thấy mình đầy ưu thế, khi kịch bản văn chương được chính mình tổ
chức xung đột, giữa cái mới và cái cũ, cái bảo thủ trì trệ và cái tích cực tiến bộ,
như: Tôi và chúng ta. Lời thề thứ 9, Trái tim trong trắng, Ơng khơng phải là bố
tơi, Mùa hạ cuối cùng, Ai là thủ phạm, Khoảnh khắc và vô tận. Và xung đột giữa
cái ác, cái thiện, cái đẹp, cái xấu, cái nhân tính và phi nhân tính, trong các kịch
bản: Bông cúc xanh trên đầm lầy, Người trong cõi nhớ, Người tốt nhà số 5,
16
Nguồn sáng trong đời, Tin ở hoa hồng, Vụ án 2000 ngày và Hồn Trương Ba, da
hàng thịt... Thời ấy, trong hơn 100 nhà hát và đơn vị sân khấu tồn quốc, hầu
như khơng nơi nào lại khơng mong muốn được dựng kịch Lưu Quang Vũ. Kịch
Lưu Quang Vũ, bởi thế, rất quyến rũ người xem hiện đại, buộc họ phải nảy sinh
tự nhiên nhu cầu xem kịch, ngay cả khi Lưu Quang Vũ đã thành người trong cõi
nhớ, như tên của chương trình kịch Lưu Quang Vũ năm nay, được tổ chức sau
ngày mất Lưu Quang Vũ đã 27 năm…
Có thể nói, việc dàn dựng mới những kịch bản của Lưu Quang Vũ và kịch
Lưu Quang Vũ vẫn giữ nguyên giá trị về tính hiện đại cho đến thế kỷ 21 này, cho
thấy công chúng Việt vẫn rất yêu sân khấu, vẫn rất thích cách viết kịch của Lưu
Quang Vũ. Bởi vì, kịch của Vũ ln ln nồng đượm hơi thở của đời sống hiện
đại, với những vấn đề ln nóng hổi tính thời sự được phát hiện từ con mắt và
tấm lịng tràn đầy u thương của ơng với cuộc đời. Ngoài vấn đề triết học-nhân
sinh được ráo riết đặt ra trong kịch bản Hồn Trương Ba, da hàng thịt, các kịch
bản khác của Lưu Quang Vũ luôn hàm chứa những vấn đề thời sự của đời sống
đô thị Việt, khiến người xem hiện đại được soi mình trong đó, được đối thoại,
được gợi mở cách giải quyết, được thức tỉnh tinh thần đến mức có thể thay đổi
hành vi, nhận thức và lối sống.
Bên cạnh sự nghiệp kịch đồ sộ, người ta vẫn không lãng quên một thi sĩ
Lưu Quang Vũ. Chính Lưu Quang Vũ cũng ln nói với bạn bè rằng anh thích
được làm thơ hơn cả viết kịch lẫn viết truyện , rằng thành công của thơ thường
mang cho anh niềm vui lâu hơn dù nhuận bút tiêu có chóng hết hơn. Vũ Quần
Phương khi nói về Lưu Quang Vũ cũng đã nhận định: “Cố nhiên với Lưu Quang
Vũ hay với chúng ta, khơng có sự khinh trọng giữa các loại hình nghệ thuật. Ở
17
đây chỉ muốn nói tới cái tạng của anh. Tơi thấy trước sau cốt cách thi sĩ vẫn là
nét trội nhất trong tâm hồn anh. Tôi cũng trộm nghĩ, về lâu dài, sự đóng góp của
Lưu Quang Vũ về thơ còn lớn hơn về kịch.” [13, tr. 33].
Bên cạnh những tập thơ được xuất bản lúc Lưu Quang Vũ còn sống, được
chính nhà thơ đặt tên thì cịn rất nhiều bài thơ vẫn chưa được công bố. Sau khi
Lưu Quang Vũ qua đời, em gái ông là Lưu Khánh Thơ đã cố công tập hợp tất cả
những bài thơ ấy thành các tập thơ, đó là những bài thơ có thể viết ở những thời
điểm cách xa nhau, không nhất quán, rời rạc. Nhưng mỗi bài thơ chính là một
mảnh tâm hồn của Lưu Quang Vũ.
Có thể điểm qua các tập thơ của Lưu Quang Vũ theo thời gian như sau:
Hương cây (1968 - in cùng Bằng Việt trong tập Hương cây - Bếp lửa).
Mây trắng của đời tôi (1989).
Bầy ong trong đêm sâu (1993)
Lưu Quang Vũ – Di cảo (2008)
Các bài thơ được sáng tác vào nhiều thời điểm khác nhau gắn liền với
nhiều giai đoạn cuộc đời của Lưu Quang Vũ và phản ánh một tâm hồn thi sĩ giàu
cảm xúc, đầy tài năng. Những bài thơ của Lưu Quang Vũ thường để lại ấn tượng
mạnh trong lòng bạn đọc bởi những suy tư trăn trở, những nghiền ngẫm chiêm
nghiệm đầy thâm trầm sâu sắc. Thơ của Lưu Quang Vũ vẫn còn là một vùng đất
đầy màu mỡ cho những người yêu văn chương dày công nghiên cứu. Thơ chính
là thứ tạo tiền đề cho những vở kịch xuất sắc, hơi thở hiện thực và các giá trị
nhân sinh sâu sắc xuất hiện trong thơ cũng chính là những điều mà sau này được
nhắc đến vẹn toàn và thấm đẫm hơn trong kịch.
18
Chính Lưu Quang Vũ cũng đã nói: “Trong quan niệm của tơi, thơ và kịch
rất gần nhau. Có lẽ thơ với kịch còn gần nhau hơn là thơ với văn xi. Đều là hai
thể loại lớn và khó của văn học, thơ và kịch đều là sự sống và thế giới bên trong
của con người ở dạng tinh chất, cô đọng và mãnh liệt nhất. Đối với tôi, kịch cũng
là một thứ thơ được trình bày trong khơng gian và thời gian kỳ diệu của sân
khấu, thông qua diễn xuất của diễn viên.” Sự gặp gỡ giữa thơ và kịch, ở Lưu
Quang Vũ, vì vậy, đánh dấu “những ngày đẹp nhất”, khi “người trai phiêu bạt”
“mắc nợ những chuyến đi, những giấc mơ điên rồ, những ngọn lửa khơng có
thật” nguyện trở về để viết tặng “vở kịch lớn, bài thơ hay nhất”.
1.3.3 Đặc điểm phong cách ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ
Với một trái tim thi sĩ nồng nàn, một tâm hồn nhạy cảm với đời, thơ Lưu
Quang Vũ có một điệu hồn riêng, ơng viết thơ là viết cho mình, là tâm sự với
mình. “Ấy là một nhà thơ thuộc loại bẩm sinh, dễ dàng bày mọi vui buồn của
mình trên trang giấy” (Vũ Quần Phương). Thơ Lưu Quang Vũ khơng có sự nhất
qn trong phong cách ngơn ngữ, tùy ở những thời đoạn cuộc đời và những biến
cố khác nhau mà thơ cũng có những sự thay đổi màu sắc khác nhau. Tuy nhiên,
điều duy nhất không bao giờ thay đổi trong thơ Lưu Quang Vũ đó chính là cái tơi
đắm đuối, được bộc lộ qua giọng thơ đắm đuối. Đó chính là đặc điểm thơ suốt
đời của Lưu Quang Vũ, dù vui hay buồn, dù hạnh phúc hay khổ đau cũng tràn
đầy đắm đuối.
Năm hai mươi tuổi, Lưu Quang Vũ đã cùng Bằng Việt xuất bản tập thơ đầu
tay “Hương cây – Bếp lửa”, trong đó có những bài thơ được viết khi ơng chưa
trịn độ tuổi hai mươi, khi vẫn còn là một cậu thiếu niên. Rồi sau đó lại tiếp tục
sáng tác tập thơ “Cỏ tóc tiên” (chưa in), một số bài sau này đã được đưa vào tập
19
“Mây trắng của đời tôi”. Đây là giai đoạn mà những sáng tác của Lưu Quang
Vũ chứa đựng cái nhìn đầy hồn hậu, tươi tắn và lạc quan về cuộc đời. “Hương
cây” trong thời điểm đó đã đưa tên tuổi Lưu Quang Vũ tỏa sáng, tập thơ trở
thành vật gối đầu giường của nhiều người đọc và ảnh hưởng đến nhiều người trẻ
khác.
Vương Trí Nhàn khi nói về “Hương cây” cũng như sức ảnh hưởng của tập
thơ đã dùng những câu văn bộc lộ sự ngưỡng mộ và tơn kính sâu sắc: “Dù có
chóng qn đến đâu, thì những ai đã sống qua thời đó ở Hà Nội đều biết rằng đại
khái đó là thời mà mọi sinh hoạt cịn rất đạm bạc [..] Không thể tưởng tượng nổi
là một tập thơ lúc ấy lại gây chấn động đến như thế nào. Bọn tôi, một số anh em
mới viết, muốn ướm thử đời mình vào nghề văn, chúng tơi nghĩ rằng một tập
sách, nó là cái danh thiếp tốt nhất, để người ta tự giới thiệu với chung quanh, để
khẳng định mình, để có bạn. Với việc có một tập sách, chính là Vũ, cùng với
Bằng Việt – trong Hương cây - Bếp lửa; cùng với Đỗ Chu – trong tập truyện
ngắn Phù sa, – là những bạn đầu tiên trong chúng tôi thành người. Thành nhà
văn nhà thơ. Thành tác giả. Thành tất cả những gì, mà chúng tơi hằng ao ước.
Làm sao mà không cảm động cho được!” [13, tr. 63]
Những cảm xúc của một cậu thanh niên khi vừa rời ghế nhà trường đã lên
đường nhập ngũ lúc nào cũng đầy tươi tắn, tràn đầy yêu tin. Mỗi con đường hành
quân đi qua, mỗi làng mạc, mỗi con người, mỗi cuộc gặp gỡ đều được tái hiện
bởi một giọng điệu trong trẻo, mang dấu vết của sách vở nhà trường.
Một thôn Chu Hưng hiện lên đầy lãng mạn, đẹp đẽ, như một bức tranh trữ
tình:
Thơn Chu Hưng trăng sao rơi đầy giếng
20
Nằm giữa bốn bề rừng rậm nứa lao xao
Đường ven suối quả vả vàng chín rụng
Cọ xanh rờn lấp lống nước sông Thao
Hay một sông Thương với những tiếng cười dồn giã, những cơng trình đang
vươn mình lớn lên:
Những đường xe đỏ bụi bay
Những tiếng cười khúc khích sau vườn cây
Nước vỗ mạn thuyền dào dạt
Buồm trắng nắng căng phồng gió mát
...
Hay ánh đèn điện sáng
Lấp lánh cơng trình phân đạm
Trong những năm tháng thời chiến, những buồn vui riêng của mỗi con
người đều gắn liền với hơi thở của đất nước, Lưu Quang Vũ cũng như nhiều
người trẻ khác, vẫn cịn chưa có nhiều chiêm nghiệm cá nhân, ln nhìn cuộc đời
bằng ánh mắt lạc quan, tin tưởng và đầy nỗ lực.
Tựa đề “Hương cây” hay “Cỏ tóc tiên” cũng đã đủ khái qt tồn bộ
phong cách ngơn ngữ thơ trong giai đoạn này, đó là một phong cách thơ đầy tươi
vui, nhiều màu sắc và thể hiện sự hòa hợp với thiên nhiên. Các từ ngữ tả thiên
nhiên cỏ cây tràn ngập và xuất hiện với mật độ dày đặc. Những hình ảnh thiên
nhiên hay con người, cảnh vật khơng chỉ trịn đầy ở màu sắc mà cịn nồng nàn
hương thơm, thể hiện sự tổng hòa nhạy bén của nhiều giác quan.
Trong “Gửi tới các anh”, sự chuyển động của nhịp thời gian và không gian
được miêu tả bằng nhiều giác quan:
21
Tháng bảy mưa nhiều
Tháng tám sen tàn bưởi chín
Chim ngói bay về bịn rịn
Tháng chín lúa trổ địng địng
Trời thu hương cốm mát trong
Những màu sắc, âm thanh, mùi hương của cây cối, vạn vật và con người
được khơi gợi với tần suất dày đặc:
Chiến hào nắng chói
Bỗng thơm mùi bưởi, mùi chanh
Hay:
Từng viên đạn lắp vào nòng pháo
Bồi hồi nghe hương bưởi lá chanh
(Lá bưởi lá chanh)
Sau “Hương cây”, sau những năm tháng bộ đội, cuộc đời Lưu Quang Vũ
đã bắt đầu có những sóng gió. Sau khi xuất ngũ, Lưu Quang Vũ khơng tìm được
việc làm, hạnh phúc gia đình tan vỡ, con cái cịn nhỏ, chiến tranh chống Mỹ bắt
đầu ác liệt, những tiêu cực xã hội cũng bắt đầu phát sinh. Mọi thứ như chống lại
tất cả những hy vọng, những nỗ lực và tin tưởng của Lưu Quang Vũ, khiến ông
rơi vào trạng thái vô định, khơng thể tìm được hướng đi cho mình. Những va
chạm với đời, những chiêm nghiệm cá nhân đã sâu sắc hơn bội phần. Phong cách
thơ đã bắt đầu thay đổi, chất chứa nhiều dằn vặt, chiêm nghiệm. Chính vì thế mà
so với giọng điệu thơ chung lúc bấy giờ, thơ Lưu Quang Vũ trở nên lạc điệu. Tất
cả thể hiện rõ nét trong hơn hai mươi bài thơ in trong tập “Cuốn sách xếp lầm
trang”.
22
Những hiện thực của chiến tranh, nghiệt ngã cay đắng của cuộc đời đã xóa
nhịa tất cả những mùi hương hoa cỏ trong “Hương cây” ngày trước. Tất cả các
hiện thực ấy, người đọc sẽ một lần nữa được bắt gặp trong kịch Lưu Quang Vũ
mười mấy năm sau.
Các vần thơ đề cập đến con người với những mặt ẩn khuất tiêu cực. Những
con người bị tha hóa, bị dày vò và rơi vào tăm tối của cuộc sống. Những vần thơ
ấy bế tắc, bi quan, chán chường và đầy trách móc:
Những tuổi thơ khơng có tuổi thơ
Những đơi mắt tráo trơ mà tội nghiệp
Chúng ăn cắp, đánh nhau, chửi tục
Lang thang hè đường, tàu điện, quán bia
Những bông hoa chưa nở đã tàn đi
Những cành cây chưa xanh đã già cỗi
( Những tuổi thơ, 1971)
CHƯƠNG II. THỐNG KÊ, PHÂN LOẠI VÀ MIÊU TẢ CÁC ẨN
DỤ BỔ SUNG TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ
2.1
Các tiêu chí và kết quả thống kê phân loại
2.1.1 Tiêu chí thống kê phân loại
Để có cái nhìn bao quát về ẩn dụ bổ sung trong thơ Lưu Quang Vũ, chúng
tôi đã tiến hành khảo sát thống kê và phân loại các kiểu ẩn dụ bổ sung theo tiêu
chí cấu trúc – ngữ nghĩa trong các tập thơ sau:
+ Hương cây – bếp lửa (In chung với Bằng Việt, 1968)