ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON
----------
NGUYỄN THỊ HIỀN
Ứng dụng công nghệ thông tin trong
dạy học Thường thức mỹ thuật cho
học sinh lớp 4, 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài: ........................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu: ..................................................................................................2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu: .................................................................................................2
4. Đối tượng nghiên cứu: .................................................................................................2
5. Phạm vi nghiên cứu: ....................................................................................................3
6. Phương pháp nghiên cứu: ............................................................................................3
7. Giả thuyết khoa học: ....................................................................................................3
8. Cấu trúc đề tài: .............................................................................................................3
PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................................4
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG
NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC THƯỜNG THỨC MỸ THUẬT CHO
HỌC SINH LỚP 4, 5 .....................................................................................................4
1.1. Cơ sở lý luận:............................................................................................................4
1.1.1. Khái niệm mỹ thuật: ..............................................................................................4
1.1.2. Khái niệm Thường thức mỹ thuật: .........................................................................5
1.1.3. Khái niệm công nghệ thông tin ..............................................................................5
1.1.4. Đặc điểm của môn mỹ thuật và phân môn Thường thức mỹ thuật: ......................7
1.1.4.1. Đặc điểm môn Mỹ thuật: ....................................................................................7
1.1.4.2. Đặc điểm phân môn Thường thức mỹ thuật: ......................................................8
1.1.5. Vai trò của dạy học Thường thức mỹ thuật trong nhà trường Tiểu học. ..............8
1.1.6. Chức năng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học thường thức
mỹ thuật. ........................................................................................................................11
1.1.7. Đặc điểm tri giác, chú ý và ngôn ngữ tạo hình của học sinh Tiểu học ...............16
1.1.7.1. Tri giác .............................................................................................................16
1.1.7.2. Chú ý .................................................................................................................17
1.1.7.3. Ngơn ngữ tạo hình ............................................................................................17
1
1.1.8. Mối quan hệ giữa sử dụng phương tiện dạy học (CNTT) và khả năng nhận thức
của học sinh lớp 4,5. ......................................................................................................18
2
1.2. Cơ sở thực tiễn:.......................................................................................................19
1.2.1. Khảo sát chương trình sách mỹ thuật lớp 4, 5 ....................................................19
1.2.1.1 Cấu trúc chương trình Mỹ thuật lớp 4, 5 ..........................................................19
1.2.1.2. Nội dung chương trình phân môn Thường thức mỹ thuật trong sách Mỹ thuật
lớp 4,5. ...........................................................................................................................20
1.2.3. Tìm hiểu việc ứng dụng cơng nghệ thơng tin trong dạy học thường thức mỹ thuật
lớp 4,5. ...........................................................................................................................22
1.2.3.1. Về phía nhà trường ...........................................................................................22
1.2.3.2. Về phía giáo viên ..............................................................................................23
1.2.3.3. Về phía học sinh ...............................................................................................24
CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG CƠNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY
THƯỜNG THỨC MỸ THUẬT CHO HỌC SINH LỚP 4,5. ..................................26
2.1. Khả năng của máy vi tính trong dạy Thường thức mỹ thuật cho học sinh 4,5. .....26
2.2. Nguyên tắc, phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy Thường thức
mỹ thuật. ........................................................................................................................27
2.2.1. Nguyên tắc, yêu cầu khi sử dụng. ........................................................................27
2.2.2. Phương pháp, cách thức sử dụng. .......................................................................29
2.3. Một số hạn chế cần khắc phục trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy
Thường thức mỹ thuật. ..................................................................................................31
2.4. Các hướng sử dụng máy vi tính trong dạy học Thường thức mỹ thuật..................31
2.4.1. Sử dụng máy vi tính trong khai thác, trình bày kiến thức. ..................................31
2.4.2. Sử dụng máy vi tính trong giới thiệu hình ảnh minh họa, tư liệu bổ sung. ........31
2.4.3. Sử dụng máy vi tính trong kiểm tra, đánh giá, cũng cố kiến thức. ......................32
2.4. Một số phần mềm có thể khai thác trong dạy học Thường thức mỹ thuật. ............33
2.4.1. Phần mềm soạn thảo Microsoft Word. ................................................................33
2.4.2. Phần mềm hệ thống Window ...............................................................................33
2.4.3.Powerpoint............................................................................................................33
2.4.4. Phần mềm Violet ..................................................................................................46
2.4.5. photoshop.............................................................................................................47
2.5. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy Thường thức mỹ thuật lớp 4,5: ............48
2.5.1. Chuẩn bị cho bài giảng điện tử có ứng dụng công nghệ thông tin trong phân
môn Thường thức mỹ thuật. ...........................................................................................48
2.5.2. Ứng dụng công nghệ thông tin vào từng bài cụ thể: ...........................................49
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ..............................................................50
3.1. Mục đích và yêu cầu thực nghiệm:.........................................................................50
3.1.1. Mục đích thực nghiệm: ........................................................................................50
3.1.2. Yêu cầu thực nghiệm: ..........................................................................................50
3.2. Tổ chức thực nghiệm: .............................................................................................50
3.2.1. Trường thực nghiệm: ...........................................................................................50
3.2.2. Chuẩn bị thực nghiệm: ........................................................................................51
3.2.2.1. Đối tượng thực nghiệm: ...................................................................................51
3.2.2.2. Nội dung thực nghiệm: ....................................................................................52
3.2.3. Tiến hành thực nghiệm: .......................................................................................52
3.3. Tiêu chí đánh giá: ...................................................................................................75
3.4. Kết quả thực nghiệm: .............................................................................................75
3.5. Tổng kết thực nghiệm: ............................................................................................78
KẾT LUẬN ..................................................................................................................81
1. Kết luận chung: ..........................................................................................................81
2. Một số ý kiến đề xuất: ...............................................................................................82
3. Hạn chế của đề tài: ....................................................................................................83
4. Một số hướng nghiên cứu sau đề tài: ........................................................................84
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Môn Mỹ thuật nói chung và phân mơn Thường thức mỹ thuật nói riêng đưa vào
chương trình tiểu học nhằm cung cấp kiến thức về Mỹ thuật, góp phần vào việc giáo
dục học sinh, hướng học sinh vươn tới cái đẹp và đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của học
sinh.
Trong nền giáo dục ở nước ta việc đổi mới phương pháp dạy học là phát huy
tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên là
người tổ chức các hoạt động cho học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức của bài học. Sự
phát triển của khoa học công nghệ đã mở ra những khả năng và điều kiện thuận lợi cho
việc sử dụng công nghệ thơng tin (CNTT) vào q trình dạy học. Với lượng kiến thức
phong phú và nhu cầu lĩnh hội tri thức ngày càng cao thì người giáo viên ngồi việc sử
dụng các phương pháp dạy truyền thống cần phải có những phương pháp dạy học mới
sao cho phù hợp. Với sự xuất hiện của máy vi tính trong nhà trường không những làm
thay đổi phương pháp dạy học truyền thống mà cịn mở rộng khả năng lĩnh hội tri
thức, kích thích hứng thú học tập cho học sinh. Việc sử dụng có tính sư phạm những
thành quả của khoa học công nghệ sẽ làm thay đổi hiệu quả của quá trình dạy học,
hiệu quả của việc sử dụng các phương pháp dạy học. Thơng qua đó học sinh có thể
lĩnh hội kiến thức một cách tích cực, trọn vẹn và đầy đủ hơn.
Với đặc trưng phân môn Thường thức mỹ thuật là học sinh quan sát, cảm nhận
cái đẹp về hình thể và màu sắc thơng qua con mắt của mình. Qua đó, cần cung cấp cho
học sinh những tranh ảnh, hình ảnh, những đoạn băng hình, tư liệu…. liên quan đến
nội dung bài học giúp cho việc dạy học phân môn thường thường thức mỹ thuật đạt
hiệu quả, học sinh tích cực hứng thú học tập.
Hiện nay việc ứng dụng CNTT vào công tác dạy học chỉ mới ở giai đoạn đầu,
còn chưa phổ biến ở các trường tiểu học và đặc biệt là môn Mỹ thuật. Dù cho việc ứng
dụng CNTT vào dạy học Thường thức mỹ thuật vẫn được một số bộ phận rất nhỏ giáo
viên quan tâm, thực hiện thì cũng chỉ là những bài giảng sơ sài và chưa khoa học.
1
Nguyên nhân là do các giáo viên không nắm được quy trình, nguyên tắc và phương
pháp ứng dụng CNTT dẫn đến những bài giảng đó chưa đạt được hiệu quả trong giảng
dạy. Hiệu quả của nó cịn phụ thuộc vào trang thiết bị và trình độ tin học của giáo viên.
Vì vậy, đề tài mong muốn góp phần nhỏ trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy
phân môn thường thức mỹ thuật thơng qua việc ứng dụng CNTT.
Từ những lí do trên cùng với việc mong muốn tìm hiểu, hỗ trợ cho việc dạy học
Thường thức mỹ thuật cho giáo viên và học sinh lớp 4, 5 ngày càng tốt hơn chúng tôi
mạnh dạn chọn đề tài: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Thường thức
mỹ thuật cho học sinh lớp 4, 5”
2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu khả năng ứng dụng máy vi tính và các phần mềm hỗ trợ trong q
trình dạy học phân mơn Thường thức mỹ thuật và thử nghiệm xây dựng các bài giáo
án điện tử ở các bài cụ thể trong phân môn Thường thức mỹ thuật lớp 4, 5.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu, sử dụng và khai thác các phần mềm như Microsoft Word,
Powerpoint, Violet, Photoshop. …nhằm mục đích thiết kế bài giảng Thường thức mỹ
thuật.
- Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng dạy học phân môn thường thức mỹ thuật ở
tiểu học.
- Khảo sát nội dung chương trình Mỹ thuật lớp 4, 5.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm.
4. Đối tượng nghiên cứu:
- Nội dung chương trình phân mơn Thường thức mỹ thuật lớp 4, 5.
- Khả năng sử dụng CNTT trong dạy học Thường thức mỹ thuật.
- Giáo viên và học sinh trường Tiểu học Hải Vân, Nguyễn Văn Trỗi, Trần Cao
Vân, Huỳnh Ngọc Huệ Thành Phố Đà Nẵng.
2
5. Phạm vi nghiên cứu:
- Ứng dụng CNTT trong soạn giảng phân môn Thường thức mỹ thuật lớp 4, 5.
6. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập tài liệu.
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp trò chuyện
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp điều tra, tổng kết kinh nghiệm.
7. Giả thuyết khoa học:
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Thường thức mỹ thuật sẽ
giúp học sinh thưởng thức và cảm nhận vẻ đẹp của tác phẩm mỹ thuật hiệu quả hơn.
Đồng thời nâng cao chất lượng dạy học mơn Mỹ thuật nói chung và phân mơn Thường
thức mỹ thuật nói riêng.
8. Cấu trúc đề tài:
Ngồi phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục, phần nội dung bao gồm:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ứng dụng công nghệ thông tin
trong dạy học Thường thức mỹ thuật lớp 4,5.
- Chương 2: ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Thường thức mỹ thuật
lớp 4,5.
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
3
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC THƯỜNG THỨC MỸ
THUẬT CHO HỌC SINH LỚP 4, 5
1.1. Cơ sở lý luận:
1.1.1. Khái niệm mỹ thuật:
Nói đến Mỹ thuật là nói đến cái đẹp, đó là sự hài hịa và hồn thiện trong quan
hệ, hoạt động trong sáng tạo Mỹ thuật. Nghệ thuật luôn hướng tới cái đẹp, tạo ra cái
đẹp để phục vụ cho đời sống tinh thần của con người. Cái đẹp nghệ thuật là một hình
thức cao của cái đẹp thuộc tính sáng tạo thực tiễn. Trong đó, tác phẩm nghệ thuật và
hình thức nghệ thuật đạt tới sự hài hịa thẩm mỹ và hồn thiện thiện thẩm mỹ.
Mỹ thuật là cách tạo ra cái đẹp. Cái đẹp mang lại khối cảm thẩm mỹ. Đó là
một thuộc tính trong nhận thức con người. Vì thế, con người khơng ngừng tạo ra cái
đẹp theo ý thích để phục vụ cho cuộc sống bằng năng lực tư duy, cảm thụ tinh tế và
khả năng sáng tạo của mình. Từ chỗ nhận ra cái đẹp để thưởng thức dẫn đến hệ quả là
con người tạo ra nên đều được chú ý làm đẹp và có nhiều cách để tạo ra cái đẹp.
Mỹ thuật là loại hình ra đời sớm trong lịch sử loài người. Hiểu theo cách diễn tả
thì Mỹ thuật là nghệ thuật tạo nên các tác phẩm trên mặt phẳng gọi là tranh (bằng
đường nét, hình mảng, sáng tối, đậm nhạt…). Hiểu theo cấu trúc, nội dung thì Mỹ
thuật bao gồm nhiều nghành mỹ thuật, thể loại mỹ thuật như: hội họa, điêu khắc, kiến
trúc, mỹ thuật ứng dụng…Hiểu theo chức năng, đặc điểm thì mỹ thuật là nghệ thuật
của thị giác. Ngoài ra mỹ thuật cịn được hiểu theo cách giải thích ngữ nghĩa: “Mỹ
thuật là cách tạo ra cái đẹp” (Đây là cách nói của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh).
Từ những cách hiểu khác nhau ta có thể đi đến khái niệm đầy đủ về mỹ thuật
như sau:
“Mỹ thuật là nghệ thuật tạo ra cái đẹp, là nghệ thuật của thị giác,được biểu hiện
trên mặt phẳng và khơng gian bằng ngơn ngữ hình khối, màu sắc, đậm nhạt, sáng tối
với các chất liệu phong phú và đa dạng mà chúng ta có thể dùng để diển tả được”.
4
1.1.2. Khái niệm Thường thức mỹ thuật:
Thường thức mỹ thuật là môn phân môn trong bộ môn Mỹ thuật được dạy
chính thức trong nhà trường Tiểu học. Tên gọi này đã được bàn bạc và đi đến thống
nhất trong chương trình tiểu học năm 2000 do Ban xây dựng chương trình Tiểu học
năm 2000 Bộ Giáo dục và Đào tạo ấn định (1997) đã được các Sở, Phòng Giáo dục –
Đào tạo các trường chuyên nghiệp và trường Tiểu học góp ý và nhận thấy tên “Thường
thức mỹ thuật” là phù hợp vì mục đích của phân mơn này là làm cho học sinh làm
quen, tiếp xúc với vẻ đẹp của tác phẩm mỹ thuật thơng qua hình ảnh, đường nét, màu
sắc, hình khối, bố cục…Từ đó giúp các em có được những kiến thức ban đầu, sơ đẳng
về thưởng thức cái đẹp trong mỹ thuật, bước đầu hình thành cho các em tình cảm, thị
hiếu, năng lực cảm thụ cái đẹp.
Từ những vai trị quan trọng của phân mơn Thường thức mỹ thuật nói trên ta có
thể đưa ra một định nghĩa về Thường thức mỹ thuật như sau: “ Thường thức mỹ thuật
là giới thiệu các tác phẩm mỹ thuật để học sinh tiếp xúc, làm quen và thưởng thức vẻ
đẹp của chúng, thông qua các tác phẩm mỹ thuật giúp học sinh hiểu biết hơn về cuộc
sống, bồi dưỡng cho các em tình cảm yêu quê hương đất nước, u cộng đồng, góp
phần giáo dục tình cảm, giáo dục thẩm mỹ cho các em”. Những bài Thường thức mỹ
thuật còn giúp học sinh học tốt hơn các phân môn Mỹ thuật và các môn học khác trong
chương trình tiểu học.
1.1.3. Khái niệm cơng nghệ thơng tin
Ở Việt Nam thì khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết
49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển CNTT của chính phủ Việt Nam, như sau:
"Cơng nghệ thơng tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công
cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thơng - nhằm tổ chức khai
thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm
năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội."
Thuật ngữ “công nghệ thông tin” (Information Technology) được hiểu là các
ứng dụng liên quan đến máy vi tính và được phân loại dựa trên phương thức chúng
5
được sử dụng trong lớp học chứ không dựa trên nguyên lý hoạt động của chúng.
(Means et al, 1993).
Trong hệ thống giáo dục Tây phương, CNTT đã được chính thức tích hợp vào
chương trình học phổ thơng. Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng nội dung về CNTT
đã có ích cho tất cả các môn học khác. Với sự ra đời của Internet tới tất cả các trường
học, áp dụng của kiến thức, kỹ năng và hiểu biết về CNTT trong các môn học đã trở
thành hiện thực. Việc sử dụng máy vi tính, phương tiện truyền thơng và internet…
trong giáo dục hiên nay đã phát triển nhanh chóng góp phần tạo ra nhiều hình thức dạy
học hết sức đa dạng và phong phú. CNTT là một công nghệ tạo khả năng (enabling
technology), nghĩa là giúp con người có thêm khả năng trong hoạt động trí tuệ chứ
khơng phải thay thế con người trong hoạt động đó. Có thêm nhiều phương tiện hỗ trợ
trong việc dạy học nghĩa là giúp cho giáo viên có thêm thời gian và điều kiện để chăm
lo những cơng việc địi hỏi chất lượng trí tuệ cao hơn hoạt động dạy học theo phương
pháp truyền thống.
Trong nền giáo dục mới, người học không chỉ địi hỏi biết thêm nhiều tri thức,
mà phải có năng lực tìm kiếm tri thức và tạo tri thức. Vì vậy, người giáo viên phải làm
tốt vai trò người hướng dẫn quá trình tìm kiếm tri thức, gợi mở những con đường phát
hiện tri thức. Qua đó trau dồi khả độc lập và tư duy sáng tạo cho học sinh. Để ứng
dụng chất lượng và hiệu quả cao công nghệ thông tin vào dạy học trong điều kiện của
xã hội tri thức, khi mà khối lượng tri thức tăng lên nhanh chóng, những tri thức mà học
sinh cần đến và sử dụng trong cuộc sống của mình trong tương lại có thể là những tri
thức mà hiện tại nằm ngồi hiểu biết của giáo viên. Thì vốn quý của giáo viên là
truyền lại cho học sinh những phương pháp suy nghĩ, độc lập tìm kiếm và phát hiện tri
thức chứ không nhất thiết là tri thức và kỹ năng cụ thể của mình.
Vì vậy, để chuẩn bị cho thể hệ trẻ hiện nay thích nghi với một “xã hội học tập”
trong thế kỷ 21, giáo dục phải hướng người học vào việc học, cách học như thế nào và
như thế nào để kết hợp được những hiểu biết mới với những tri thức đã có.
6
1.1.4. Đặc điểm của môn mỹ thuật và phân môn Thường thức mỹ thuật:
1.1.4.1. Đặc điểm môn Mỹ thuật:
Mỹ thuật là mơn học nghệ thuật. Do vậy nó có nhiều đặc điểm khác môn học
khác. Việc nắm vững và phân tích một cách khoa học những đặc điểm mơn học là cơ
sở cho việc xây dựng và lựa chọn các phương pháp dạy - học thích hợp trong q
trình dạy học.
Tính cụ thể và trừu tượng của mơn học: Mỹ thuật là mơn học mà kiến thức của
nó vừa cụ thể, rõ ràng (chẳng hạn như vẽ theo mẫu), vừa chung chung trừu tượng
(chẳng hạn như vẽ tranh), đôi khi khó thấy, khó nhìn dù rằng là loại kiến thức ở xung
quanh ta… Điều đó địi hỏi người giáo viên phải nắm vững kiến thức cơ bản của bộ
môn, kiến thức của các bộ môn liên quan, đồng thời phải liên hệ với thực tiễn xung
quanh khi bài dạy học cần đến.
Mỹ thuật là mơn học địi hỏi sự sáng tạo, ln ln sáng tạo: Từ cái thực, có
thật tạo nên bài vẽ, bức tranh đẹp, phản ánh cái thực mà vẫn không “nệ” thực, không
giống một trăm phần trăm như nguyên mẫu. Muốn được như vậy, giáo viên phải tạo
cho học sinh cách suy nghĩ độc lập và dám nghĩ để sáng tạo ra cái mới, cái của mình.
Mỹ thuật là mơn học tạo ra cái đẹp: Muốn có cái đẹp phải có kiến thức, phải
biết nghĩ, phải thích thú vì khơng gị ép được. Vì vậy, dạy Mỹ thuật cần phải làm cho
học sinh phấn khởi, hồ hởi, mong muốn vẽ đẹp chứ không đơn thuần là truyền đạt kiến
thức.
Mỹ thuật là môn học trực quan : Muốn sáng tạo được thì người học phải có
trực quan sinh động, phong phú. Do vậy dạy Mỹ thuật ở Tiểu học thường dạy trên đồ
dùng ( Mẫu vẽ, hình vẽ, tranh, ảnh…)
Mỹ thuật là môn học rèn luyện, bồi dưỡng và phát triển khả năng cảm thụ của
con mắt - Thẩm mỹ thị giác: Nên phải dạy cho học sinh cách nhìn để nhận biết, cảm
thụ cái đẹp. Muốn vậy, khi tiếp xúc với bài học, học sinh phải biết cách quan sát, so
sánh, đối chiếu, phân tích và tổng hợp.
7
Mỹ thuật là môn học thực hành, lấy thực hành làm hoạt động chủ yếu: Học
sinh phải lặp đi lặp lại nhiều lần, mỗi lần thử nghiệm là một lần tìm được cái mới, cái
khác, là một lần nhận thức, rồi nhận thức thêm. Vì thế, những lúc học sinh làm bài,
giáo viên cần có mặt để theo dõi, giúp đỡ, gợi ý, điều chỉnh theo cách cản nhận của
từng em. Học Mỹ thuật, học sinh có thể quan sát bài vẽ của bạn, có thể hỏi hay bàn
luận để tham khảo,… sau đó suy nghĩ, tìm tịi thêm và thể hiện thành bài vẽ của mình.
1.1.4.2. Đặc điểm phân môn Thường thức mỹ thuật:
- Phân môn Thường thức mỹ thuật là phân mơn mang tổng hịa kiến thức của
các phân môn khác trong môn Mỹ thuật.
- Phân môn Thường thức mỹ thuật là phân môn duy nhất học sinh không phải
làm bài tập thực hành mà đây là phân mơn học sinh được tìm hiểu, nhận xét và thưởng
thức vẻ đẹp của các tác phẩm mỹ thuật của thiếu nhi, của họa sĩ và của dân tộc.
- Đòi hỏi học sinh biết nhận xét, cảm nhận cái đẹp của tác phẩm nghệ thuật
thơng qua đường nét, màu sắc, hình ảnh, hình khối, phong cách thể hiện...
- Cần phải có những tác phẩm nghệ thuật để học sinh có thể quan sát.
1.1.5. Vai trò của dạy học Thường thức mỹ thuật trong nhà trường Tiểu học.
Mơn Mỹ thuật đóng vai trị rất lớn trong những giai đoạn đầu hình thành nên
tâm hồn của trẻ, nó bồi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ cho các em, hình thành cho các em
những hình ảnh ban đầu về tư duy Mỹ thuật. Nó giúp các em làm quen với phương
tiện và ngôn ngữ Mỹ thuật: đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục…để các em vận
dụng vào quan sát, tập nặn, tạo dáng, tập trang trí, vẽ tranh…từ đó các em biết vận
dụng vào trong cuộc sống hằng ngày (ăn mặc gọn gàng, sắp xếp đồ đạc ngăn nắp) và
trong học tập (trình bày sách vở đẹp, chữ đẹp). Thông qua Mỹ thuật tạo điều kiện cho
các em tiếp xúc, làm quen với cái đẹp của thiên nhiên, con người. Các em biết quan
tâm đến cái đẹp, tìm ra cái hay, cái đặc sắc trong cuộc sống, từ đó tập sáng tạo và sáng
tạo theo quy luật của cuộc sống, của cái đẹp để làm cho cuộc sống tươi đẹp hơn, phong
phú hơn. Môn Mỹ thuật không đơn thuần được đưa vào cho các em học mà nó tạo tiền
đề cho các em xác dịnh bản thân mình. Những gì các em yêu quý, mong muốn đều
8
được thể hiện qua tranh vẽ. Các em nhận thức được sự hứng thú trong tranh vẽ, nó
mang lại cho các em sự bao dung rõ nét hơn trong tranh vẽ của mình.
Nói chung, bộ mơn Mỹ thuật sẽ gắn kết các em trong cuộc sống. Mỹ thuật là tất
cả những gì các em thấy trong cuộc sống hằng ngày. Mỹ thuật là nghệ thuật, nghệ
thuật của cái đẹp, cái hay trong cuộc sống.
Trong các phân môn của Mỹ thuật thì Thường thức mỹ thuật có vị trí, vai trị
quan trọng trong giáo dục thẩm mỹ, giáo dục toàn diện cho học sinh Tiểu học. Cụ thể
như sau:
- Thường thức mỹ thuật giúp nâng cao năng lực cảm thụ cái đẹp.
Có thể nói khơng chỉ người lớn mà các em học sinh tiểu học cũng có nhu cầu
thẩm mỹ rất lớn. Đây là nhu cầu không thể thiếu và được quy định bởi các đặc điểm
tâm sinh lý của các em. Các tác phẩm, các loại hình nghệ thuật đưa vào chương trình
Thường thức mỹ thuật với mục đích là thơng qua các tác phẩm đó giúp các em hình
thành, nâng cao năng lực cảm thụ cái đẹp. Học sinh sẽ cảm thụ được cái đẹp về bố cục,
hình ảnh, màu sắc, hình khối một cách sâu sắc, tinh tế thông qua hệ thống câu hỏi gợi
mở của giáo viên. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các em phát triển các năng lực
khác như sáng tạo cái đẹp. Nói tóm lại phân mơn Thường thức mỹ thuật được đưa vào
dạy với mục tiêu quan trọng nhất là hoàn thiện, nâng cao năng lực cảm thụ cái đẹp của
các tác phẩm mỹ thuật cho học sinh tiểu học.
- Thường thức mỹ thuật giúp bồi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ
Cảm xúc thẩm mỹ là trạng thái rung cảm của con người trước các hình tượng
thẩm mỹ mà con người nhận được khi quan sát các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống,
trong nghệ thuật.
Mỹ thuật nói chung và Thường thức mỹ thuật nói riêng đều cho kết quả cuối
cùng là cảm xúc cái đẹp. Muốn tạo ra cái đẹp cho học sinh phải có cảm xúc và cảm
xúc xuất phát từ sự rung động của học sinh trước vẽ đẹp của sự vật, hiện tượng trong
thế giới khách quan. Vẽ đẹp của các tác phẩm trong phân môn Thường thức mỹ thuật
sẽ đem lại cho các em sự thích thú, tích cực trong học tập. Từ đó, tạo nên sự rung cảm,
cảm xúc, phản ứng tình cảm, ngọn nguồn của sáng tạo. Tuy vậy để bồi dưỡng cảm xúc
9
cho các em thì giáo viên cần phải phát huy năng lực cảm thụ, thưởng thức và sáng tạo
cái đẹp từ cuộc sống hàng ngày, từ thiên nhiên để áp dụng và thưởng thức các tác
phẩm nghệ thuật. Mặt khác xuất phát từ cảm xúc thẩm mỹ sẽ hướng các em cảm thụ,
thưởng thức và sáng tạo cái đẹp một cách có ý thức.Cảm xúc trong dạy học Thường
thức mỹ thuật chính là thước đo mức độ thưởng thức, cảm thụ cái đẹp trong mỗi tác
phẩm mỹ thuật mà học sinh được xem.
Như nhà mỹ học trước Marx, Bielinski đã nói: “Nếu thiếu đi cảm xúc ấy thì sẽ
khơng có thiên tài, sẽ khơng có tính thơng minh mà chỉ có thứ đầu óc tỉnh táo một cách
ti tiện…”.
- Thường thức mỹ thuật giúp nâng cao năng lực sáng tạo mỹ thuật, sáng tạo cái
đẹp.
Cuộc sống của chúng ta biết bao cái đẹp. Cái đẹp trong tự nhiên, trong các mối
quan hệ xã hội và đặc biệt là trong nghệ thuật. Chính cái đẹp mang chức năng thẩm
mỹ đã làm cho cuộc sống của con người trở nên thân thiện, thăng hoa hơn. Những cảm
nhận của các em về màu sắc, bố cục, ánh sáng, hình khối… của các tác phẩm mỹ thuật
trong các tiết Thường thức mỹ thuật sẽ là cơ sở bước đầu giúp học sinh hình thành và
nâng cao sáng tạo cái đẹp. Dựa trên những gì được thưởng thức, quan sát học sinh sẽ
nảy sinh những ý tưởng mới lạ trong bài vẽ của mình. Đồng thời các em có thể điều
chỉnh lại màu sắc, ánh sáng, bố cục của bài vẽ sao cho phù hợp.
Tóm lại Thường thức mỹ thuật giúp học sinh cảm thụ cái đẹp, cái hay của các
tác phẩm mỹ thuật về nội dung lẫn hình thức. Chính cảm nhận đó là sợi chỉ đỏ soi sáng
giúp học sinh nâng cao sáng tạo cái đẹp. Nếu các em có năng lực sáng tạo tốt thì chắc
chắn trí tưởng tượng và khả năng sáng tạo cũng được hình thành và được hồn thiện
hơn qua các bài vẽ.
- Thường thức mỹ thuật có tác dụng giáo dục ý thức thẩm mỹ
Mục tiêu cơ bản, trọng tâm của phân môn Thường thức mỹ thuật là giúp học
sinh cảm thụ được cái đẹp. Qua đó nó góp phần giáo dục, hình thành, nâng cao trình
độ nhận thức, bồi dưỡng nhân cách cho các em. Muốn làm được điều này thì cần phải
có thời gian cũng như năng lực của giáo viên. Người giáo viên phải biết tận dụng thế
10
mạnh đó để lồng ghép giáo dục ý thức bảo vệ cái đẹp, bảo vệ thế giới xung quanh.
Đồng thời từ cái cảm thụ cái đẹp của các tác phẩm mỹ thuật giúp các em biết yêu, biết
trân trọng, giữ gìn cái đẹp và tận dụng vào đời sống sinh hoạt, học tập hằng ngày như
sắp xếp góc học tập, giữ gìn sách vở sạch đẹp, bảo vệ cây xanh trong vườn trường…
Bên cạnh đó, với nhiệm vụ là một phân môn phát huy tối đa khả năng, năng lực
cảm thụ các tác phẩm mỹ thuật của các em sẽ giúp cho giáo viên hiểu được phần nào
khả năng cũng như ý thức, tình cảm của các em đối với các sự vật hiện tượng cũng
như bức tranh mà các em được thưởng thức.
Nói chung, bộ mơn Mỹ thuật sẽ gắn kết với các em trong cuộc sống. Mỹ thuật
là tất cả những gì các em thấy trong cuộc sống hằng ngày. Mỹ thuật là nghệ thuật,
nghệ thuật của cái đẹp, cái hay của cuộc sống xã hội.
1.1.6. Chức năng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học thường thức
mỹ thuật.
Như chúng ta đã biết, ở bất kì mơn học nào thì việc cung cấp kiến thức cho học
sinh cũng được đặt lên hàng đầu. Phân môn thường thức mỹ thuật cũng vậy, sự truyền
tải kiến thức về những cơng trình nghệ thuật hay những tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng
đến học sinh của người giáo viên đóng vai trị rất quan trọng, Nhưng giáo viên chỉ tập
trung thuyết trình mà khơng biết kết hợp những phương tiện dạy học thì bài dạy sẽ trợ
nên khơ khan, thiếu sức thuyết phục và không gây hứng thú học tập cho học sinh. Cho
nên việc kết hợp lời dẫn của giáo viên với những phương tiện dạy học, những hình ảnh
thực tế sống động, những đoạn phim, đoạn tư liệu ngắn với sự hỗ trợ của CNTT sẽ
làm cho tiết học gây nhiều hứng thú hơn cho học sinh, bài giảng sẽ trở nên sinh động,
logic và có khoa học hơn.
Ở bất kì tiết dạy nào của mơn Mỹ thuật nếu khơng sử dụng tranh ảnh, kênh hình
thì coi như tiết dạy đó chưa đảm bảo được nội dung đầy đủ về mặt kiến thức. Trong
phân môn Thường thức mỹ thuật thì điều này càng trở nên cần thiết. Ngồi những hình
ảnh có trong sách giáo khoa thì giáo viên có thể cung cấp cho học sinh những hệ thống
hình ảnh, kênh hình, những đoạn tư liệu ngắn. Điều này được thực hiện dễ dàng và
trình bày có khoa học hơn với sự tham gia của CNTT.
11
Ví dụ: Trong chương trình Mỹ thuật lớp 5. Bài 9: giới thiệu về điêu khắc cổ
Việt Nam. Giáo viên có thể sử dụng những hình ảnh ngồi những hình ảnh có trong
sách giáo khoa để giới thiệu về điêu khắc cổ Việt Nam. Ví dụ như: Tượng Phật Tuyết
Sơn và các vị La Hán ( Chùa Tây Phương – Hà Tây), hình ảnh Tháp Chàm (Thánh Địa
Mỹ Sơn – Quảng Nam), Đình Cam Đà (Hà Tây), Đình Phổ Tang (Vĩnh Phúc), các
đoạn phim, tư liệu ngắn về tưlợng Phật A-di-đà (chùa Phật Tích – Bắc Ninh). Để từ đó
học sinh sẽ hiểu rõ hơn về điêu khắc cổ Việt Nam, cảm nhận được vẻ đẹp toàn diện và
hoàn mỹ của các tác phẩm điêu khắc. Qua đó biết tự hào, u q và giữ gìn những di
sản q báu của dân tộc.
Vườn tượng La Hán
12
Chuốc rượu (Phù điêu)
“
Đồng thời việc ứng dụng CNTT vào trong dạy học Thường thức mỹ thuật giúp
cho giáo viên có thể kết hợp việc sử dụng tranh ảnh, kênh hình với CNTT bằng cách
sử dụng máy chiếu. Đây cũng là một điều kiện tốt để giáo viên nâng cao kĩ năng sử
dung CNTT vào trong giảng dạy các môn học khác.
Sử dụng các tranh ảnh, kênh hình, đoạn tư liệu ngắn sẽ giúp cho giáo viên tiết
kiệm được thời gian của tiết học, hạn chế thuyết trình nhiều, giúp cho tiết học không
khô khan, gây hứng thú cho học sinh trong việc quan sát. Đặc biệt giúp cho giáo viên
tổ chức q trình thảo luận nhóm của học sinh sôi nổi, cuốn hút hơn.
Thông qua việc sử dụng CNTT trong tiết dạy học, giáo viên có thể trình diễn
những tác phẩm nghệ thuật bằng nhiều cách thức phong phú và đa dạng trong tiết
Thường thức mỹ thuật. Từ đó giáo dục cho các em tình cảm, đạo đức, biết yêu cái đẹp
trong thiên nhiên, con người.
Ví dụ: Trong bài 5 – Thường thức mỹ thuật “Xem tranh phong cảnh” sách giáo
khoa mỹ thuật 4. Với sự hỗ trợ của CNTT giáo viên có thể cung cấp cho học sinh
những hình ảnh về phong cảnh của đất nước Việt Nam để học sinh có thể thấy được
phong cảnh được họa sĩ thể hiện ở trong tranh có gì giống và khác so với những ảnh
chụp về phong cảnh. Đồng thời, giảng dạy có ứng dụng CNTT giáo viên có thể tổ
13
chức những cho học sinh thư giản bằng những trò chơi giải trí đơn giản, mới lạ, sinh
động mà bổ ích, liên quan đến bài học. Tạo cho học sinh hứng thú, tiếp thu bài nhanh
và dễ nhớ hơn.
Cầu Thê Húc
Tranh màu bột của Tạ Kim Chi (Hs Tiểu học)
Cầu Thê Húc (ảnh chụp)
14
Chùa Thầy ở Sài Sơn
(ảnh chụp)
Phong cảnh Sài Sơn
(Tranh khắc gỗ của họa sĩ Nguyễn Tiến Chung)
15
1.1.7. Đặc điểm tri giác, chú ý và ngôn ngữ tạo hình của học sinh Tiểu học
1.1.7.1. Tri giác
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính
khơng ổn định, do đó các em phân biệt các đối tượng cịn chưa chính xác, dễ mắc sai
lầm, có khi cịn lẫn lộn. Khi tri giác sự phân tích một cách có tổ chức và sâu sắc của
học sinh ở các lớp đầu tiểu học cịn yếu. Học sinh thường “thâu tóm” sự vật về toàn
bộ, về đại thể để tri giác.
Ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động, với hoạt động thức tiễn,
trẻ chỉ cảm nhận được những thứ nó cầm nắm. Những gì phù hợp với nhu cầu hoạt
động của các em, những gì giáo viên chỉ dẫn các em mới tri giác được.
Tính xúc cảm thể hiện rõ trong tri giác. Những giấu hiệu, những đặc điểm nào
của sự vật gây cho các em các cảm xúc thì được các em tri giác tốt hơn, dễ gây ấn
tượng tốt hơn. Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động
mới, mang màu sắc, tính chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích
trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác. Chính vì vậy việc kết hợp sử dụng công
nghệ thông tin vào trong dạy học Thường thức mỹ thuật đóng một vai trị quan trọng.
Thông qua những đồ dùng dạy học, những bài giảng được trình chiếu trên máy tính
với hình ảnh sinh động, các đoạn phim, video liên quan đến bài học sẽ gây ấn tượng
tốt đối với các em.
Tri giác không tự bản thân nó phát triển được. Trong q trình học tập, khi tri
giác trở thành hoạt động có mục đích đặc biệt, trở nên phức tạp và sâu sắc, trở thành
hoạt động có phân tích, có phân hóa hơn thì tri giác sẽ mang tính quan sát có tổ chức.
Trong sự phát triển của tri giác, vai trò của giáo viên tiểu học là rất lớn. Giáo viên
không chỉ dạy cho các em nhìn, nghe mà cịn phải tổ chức các hoạt động học tập cho
học sinh một cách tích cực để giúp cho học sinh tri giác tốt một đối tượng nào đó, dạy
cho các em biết phát hiện những dấu hiệu, những thuộc tính của sự vật hiện tượng.
Nắm được những đặc điểm tri giác của học sinh là cơ sở để giáo viên có thể sử
dụng phương tiện dạy học một cách hợp lí, tránh lạm dụng và khơng đảm bảo tính
thẩm mỹ, ảnh hưởng đến chất lượng dạy học.
16
1.1.7.2. Chú ý
Chú ý có chủ định của học sinh tiểu học còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý
một cách có ý chí chưa mạnh Những gì mang tính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác
thường dễ dàng lôi cuốn sự chú ý của các em. Sự chú ý càng trở nên mạnh mẽ khi giáo
viên sử dụng các đồ dùng dạy học đẹp, mới lạ, ít gặp, gợi cho các em cảm xuc tích
cực. Vì vậy việc sử dụng đồ dùng dạy học như tranh ảnh, hình vẽ, biểu đồ, mơ
hình…là điều kiện quan trọng để tổ chức sự chú ý. Tuy vậy cần nhớ rằng học sinh tiểu
học rất mẫn cảm. Những ấn tượng trực quan quá mạnh có thể tạo ra một trung khu
hưng phấn ở vỏ não, kết quả là sẽ kìm hãm khả năng phân tích và khái qt tài liệu học
tập. Vì vậy, q trình thiết kế bài giảng có ứng dụng CNTT giáo viên cần chú ý không
nên lạm dụng quá nhiều hình ảnh động, màu sắc sặc sở để tránh phân tán sự chú ý của
các em.
Học sinh ở các lớp cuối tiểu học khả năng chú ý của trẻ có chủ định hơn. Bản
thân qúa trình học tập địi hỏi các em phải rèn luyện thường xuyên, có chủ định. Chú ý
có chủ định được phat triển cùng với sự phát triển động cơ học tập mang tính xã hội
cao,với sự trưởng thành về ý thức trách nhiệm đối với kết quả học tập.
Nắm được những đặc điểm về khả năng chú ý của học sinh sẽ là cơ sở cho giáo
viên thiết kế tốt bài giảng có ứng dụng CNTT. Góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả
giờ dạy Thường thức mỹ thuật.
1.1.7.3. Ngơn ngữ tạo hình
Học sinh Tiểu học đã có sự phát triển về mọi mặt so với lứa tuổi mẫu giáo, điều
này tạo điều kiện thuận lợi cho các em học Mĩ thuật, thể hiện ở: cầm bút vẽ đúng, dễ
dàng hơn, hoạt động của các khớp linh hoạt, thần kinh tương đối vững vàng giúp cho
việc điều khiển nét vẽ, hình vẽ theo ý muốn. Học sinh quan sát đã có chủ định, tập
trung, đã có ý thức học tập hơn. Tuy nhiên các em vẫn chưa nhận thức được tỉ lệ, chưa
chú ý xa gần nhưng rất chú ý đến từng chi tiết và đặc điểm riêng lẻ mà trẻ tri giác
được. Màu sắc trong các bức tranh của học sinh Tiểu học rất tươi sáng. Thông thường,
các em ở nơi nào thường hay vẽ cảnh vật ở nơi đó. Các em ở nơng thơn hay vẽ cảnh
đồng ruộng, xóm làng, cày bừa, chăn trâu, cắt cỏ…Các em ở thành thị hay vẽ cảnh vui
17
chơi, cắm trại, đá bóng, đá cầu, cảnh phố phường đơng vui, nhộn nhịp, xe cộ…Cịn
các em ở miền núi thường vẽ cảnh nhà sàn bên con suối, núi rừng, hội hè, ném còn,
thổi khèn…
Điều đáng chú ý là hầu hết các chủ đề về cuộc sống hiện đại như: lao động, xây
dựng đất nước, luyện tập chiến đấu…cũng được các em thể hiện trong các “sáng tác”
của mình. Khơng những thế, học sinh Tiểu học cịn thích vẽ những gì các em trơng
thấy hàng ngày như: Con khủng long chiếu trên ti vi, các nhân vật hoạt hình, nhân vật
trong truyện tranh hoặc những vật các em tự tưởng tượng ra (chuột Mickey, người
ngoài hành tinh, các loại máy móc…)
Cách lựa chọn chủ đề, xây dựng hình tượng, sắp xếp bố cục, cách nhìn nhận,
suy nghĩ, diễn đạt cảm xúc trong mỗi bức tranh của các em cũng mang nhiều vẻ khác
nhau. Các em thường vẽ theo cảm xúc tự nhiên “ vốn có” khơng lệ thuộc về khung
cảnh, về màu sắc.
Đặc điểm ngơn ngữ tạo hình cuả học sinh ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cảm
thụ các tác phẩm mỹ thuật. Những tác phẩm nào có màu sắc sặc sỡ các em đều cho là
đẹp. Các em chưa cảm nhận được các tác phẩm thông qua nội dung, bố cục, hình ảnh
chính phụ và sự hài hịa màu sắc về độ đậm nhạt. Chính vì vậy trong q trình thiết kế
bài giảng ngồi việc cung cấp cho học sinh những hình ảnh bảo đảm tính khoa học và
thẩm mỹ, giáo viên cần định hướng cho học sinh cách tìm hiểu nội dung vẻ đẹp của
các tác phẩm đó thơng qua hệ thống câu hỏi gợi ý.
1.1.8. Mối quan hệ giữa sử dụng phương tiện dạy học (CNTT) và khả năng nhận
thức của học sinh lớp 4,5.
Hoạt động nhận thức của con người tuân theo quy luật “ Từ trực quan sinh động
đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”. Trong thực tế, con
đường nhận thức của con người luôn gắn liền với những công cụ, phương tiện dạy học.
Phương tiện dạy học giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là
khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ra những kết luận có
độ tin cậy...), giúp học sinh hình thành cảm giác thẩm mỹ, được hấp dẫn bởi cái đẹp,
cái đơn giản, tính chính xác của thơng tin chứa trong phương tiện.
18
Phương tiện dạy học có tác dụng tốt với việc phát huy tính tích cực và tương tác
của học sinh bởi vì khác với lời nói (thơng tin đến với học sinh chậm, chủ yếu theo con
đường thính giác một cách từ từ theo trình tự và ý nghĩa của từng từ, câu nói), mỗi
phương tiện dạy học thường huy động đồng thời nhiều giác quan của học sinh tạo nên
một hình ảnh tương đối trọn vẹn về một đối tượng nhận thức. Nhất là với sự trợ giúp
của máy tính và các phương tiện nghe nhìn khác, cho phép học sinh có thể quan sát
được, tương tác được với nhiều đối tượng mà trong thực tế không thể quan sát hay
tương tác trực tiếp được (với những đối tượng quá to, quá bé, quá xa, điều kiện nguy
hiểm, những q trình diễn ra q nhanh, q chậm, khơng thể quan sát được trong
điều kiện thực của nó...).
Các phương tiện nghe nhìn đa phương tiện, máy tính điện tử... được sử dụng kết
hợp sẽ cho phép rút ngắn thời gian trình bày, có độ chính xác cao mà vẫn làm cho bài
giảng sinh động, trực quan, hấp dẫn đối với học sinh. Một số phần mềm chuyên dụng
dùng trong dạy học được sử dụng có hiệu quả. Tuy nhiên, khi sử dụng các dụng cụ,
thiết bị dạy học cần gán những kết quả thu được đó cho đối tượng thật để kiến thức
khơng mang tính phiến diện, sách vở.
1.2. Cơ sở thực tiễn:
1.2.1. Khảo sát chương trình sách mỹ thuật lớp 4, 5
1.2.1.1 Cấu trúc chương trình Mỹ thuật lớp 4, 5
Từ lâu, môn Mỹ thuật đã là một môn học chính thức trong chương trình giảng
dạy ở nhà trường Tiểu học. Nó gắn bó chặt chẽ với các mơn học khác để tạo ra chất
lượng đào tạo. Do đặc điểm mơn học nên chương trình Mỹ thuật ở Tiểu học được cấu
tạo theo hướng đồng tâm (hay còn gọi là cấu tạo theo hình xoắn ốc), có nghĩa là những
vấn đề đề cập ở lớp dưới sẽ được củng cố và phát triển ở các lớp trên. Nhưng ở mỗi
lớp có những mức độ và yêu cầu khác nhau. Những lớp sau yêu cầu bao giờ cũng cao
hơn lớp trước.
Chương trình Mỹ thuật ở Tiểu học có 5 phần (5 phân mơn) sau: Vẽ theo mẫu;
vẽ trang trí; vẽ tranh đề tài, vẽ tự do (gọi tắt là vẽ tranh); xem tranh (Thường thức Mỹ
thuật); nặn và tạo dáng tự do.
19
Cũng giống như chương trình Mỹ thuật lớp 1, 2, 3. Chương trình Mĩ thuật lớp
4, 5 cũng bao gồm 35 tiết tương ứng với 35 tuần trong năm học của học sinh (trong đó
có 34 tiết học và 1 tiết trưng bày sản phẩm) có 9 bài vẽ tranh, 9 bài vẽ theo mẫu, 8 bài
vẽ trang trí, 4 bài thường thức Mỹ thuật, 4 bài nặn và tạo dáng tự do. 34 bài trong 5
phân môn được sắp xếp xen kẽ nhau xuyên suốt chương trình học, vừa có tác dụng bổ
trợ đồng thời kiến thức, kĩ năng, thái độ cho các em trong quá trình học Mỹ thuật.
1.2.1.2. Nội dung chương trình phân mơn Thường thức mỹ thuật trong sách Mỹ thuật
lớp 4,5.
Ở Tiểu học, môn Mỹ thuật được dạy từ lớp 1 đến lớp 5. Môn Mỹ thuật bao gồm
5 phân môn: Vẽ theo mẫu, Vẽ trang trí, Vẽ tranh, Tập nặn tạo dáng, Thường thức mỹ
thuật. Trong đó phân mơn Thường thức mỹ thuật ở hai khối lớp 4, 5 mỗi lớp gồm 4
tiết trong một năm học. Cụ thể như sau:
Lớp
Bài số
Mục tiêu cần đạt
Tên bài
Học sinh thấy được sự phong phú của ttranh phong
4
cảnh
5
Xem tranh
Học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của tranh phong cảnh
phong cảnh
thơng qua bố cục, hình ảnh và màu sắc.
Học sinh u thích tranh phong cảnh, có ý thức bảo vệ
và giữ gìn mơi trường thiên nhiên
Học sinh bước đầu hiểu được nội dung của các bức
tranh giới thiệu thơng qua bố cục, hình ảnh, màu sắc.
11
Xem tranh
của học sĩ
Học sinh làm quen với chất liệu và kĩ thuật làm tranh.
Học sinh yêu thích vẻ đẹp của các bức tranh.
20