Tải bản đầy đủ (.pdf) (12 trang)

BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ HỌC PHẦN MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (217.76 KB, 12 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
HỌC PHẦN: MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN
(Học kỳ I, Năm học 2021-2022)

GVHD

:

Lớp

:

Họ và tên sinh viên : Lường Thị Thu Hạnh
Mã số sinh viên

: 2057010150

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 02 năm 2022
PHẦN I: VẤN ĐỀ SUY THOÁI ĐA DẠNG SINH HỌC TOÀN CẦU


1. Khái niệm suy thoái đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học được hiểu cơ bản là sự phong phú, đa dạng về nguồn gen, giống,
loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên. Đa dạng sinh học là yếu tố quyết định tính ổn
định và là cơ sở sinh tồn của sự sống cho trái đất và của các hệ sinh thái tự nhiên. Bởi vì nó
làm cân bằng số lượng cá thể giữa các loài và đảm bảo cho khống chế sinh học cho các loài
với cá thể được tiếp nhận trong hệ sinh thái. Có thể khẳng định rằng, đa dạng sinh học có ý
nghĩa rất quan trọng đối với đời sống của con người và sinh vật khác. Tuy nhiên, song song


với quá trình khai thác và thay đổi thời tiết thì tình hình suy giảm đa dạng sinh học trên thế
giới ngày càng trầm trọng
Suy thoái đa dạng sinh học là sự suy giảm, biến mất hoặc tuyệt chủng hoàn toàn của
một loài ở một địa điểm, mơi trường sống, quốc gia hoặc tồn cầu.
2. Nguyên nhân gây suy thoái đa dạng sinh học
Trong những thập kỷ qua, bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ về văn hóa và kinh tế thì
sự suy thối đa dạng sinh học cũng xảy ra với một tốc độ nhanh chóng trên thế giới mà mọi
quốc gia đều phải đối mặt (Q. H. Vuong, 2020; Q. H. Vuong, 2021). Hiện nay có hơn 1 triệu
lồi động, thực vật trên khoảng tám triệu loài trên Trái Đất đang ở mức độ nguy cấp. Có vơ
số những ngun nhân dẫn đến việc suy thoái đa dạng sinh học trên thế giới, bao gồm cả
những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp, nhưng hầu hết các nguyên nhân đều xuất phát từ
hoạt động của con người.
2.1. Sự suy giảm và mất đi nơi sinh cư
Nơi sinh cư dần trở nên thiếu hụt và suy giảm do những hoạt động của con người
chính là nguyên nhân mất đi sự đa dạng của động thực vật và gây nên những yếu tố tự nhiên.
Trong đó các hoạt động của con người có thể kể đến như chuyển đối đất sử dụng, đốt rừng
làm rẫy hay khai thác thủy hải sản quá mức với xu hướng ngày càng gia tăng, từ đó cũng
bùng phát dịch bệnh hay động đất và cả cháy rừng tự nhiên.
2.2. Sự khai thác quá mức
Mặc dù hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sở hữu nguồn đa dạng sinh học ở mức
cao nhưng những hoạt động khai thác quá mức đã gây nên sự cạn kiện nguồn sinh vật, đặc
biệt là đối với những tài nguyên thủy hải sản ven bờ. Bên cạnh đó cịn tồn tại một số phương


pháp khai thác và tận thu mang tính hủy diệt, gây ảnh hưởng đến giống nịi của các lồi sinh
vật như nổ mìn hay sử dụng hóa chất, đặc biệt là ở Việt Nam.
2.3. Ơ nhiễm mơi trường
Ngun nhân này vẫn đang hàng ngày hàng giờ diễn ra và có chiều hướng gia tăng
theo thời gian. Nhiều nơi bị ô nhiễm và ảnh hưởng trực tiếp bởi khí thải cơng nghiệp, điều
này vơ hình làm ảnh hưởng đến mơi trường sống của những sinh vật xung quanh, đặc biệt là

với những chất thải đô thị.
Điểm đáng chú ý hơn cả chính là ơ nhiễm dầu lại xảy ra tập trung chủ yếu ở các vùng
nước cửa sông ven bờ hay những hoạt động tàu thuyền lớn. Từ đó cũng là ngun nhân
chính dẫn đến ơ nhiễm sinh học ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn gen bản địa và nơi sinh sống
của các loài sinh vật bao gồm thực vật và động vật.

Hình 1. Nguyên nhân làm giảm đa dạng sinh học
Nguồn: Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học, Tổng cục Môi trường
/>fbclid=IwAR258mRa8eUp9sRZ8TgEtzU9yIbaZNca6qMUfERfU26piEuTrB-HOvthV34
2.4. Sự suy giảm đa dạng di truyền
Được xem là một trong những nguyên nhân quan trọng cho việc suy giảm đa dạng
sinh học trên thế giới. Theo thống kế trên toàn thế giới hiện nay có khoảng 492 quần thể
khác biệt và lồi cây di truyền, sự suy giảm về đa dạng sinh truyền này trên thế giới có thể


đẩy nơng nghiệp vào tình trạng nguy hiểm, trong đó ở một số nước từ sự mất suy giảm đa
dạng di truyền này cũng là nguyên nhân gây nên sâu bệnh ở một số loại cây nông nghiệp và
việc bùng nổ bệnh dịch thực vật có thể xảy ra bất kì lúc nào với những lồi thực vật có ích
cho nơng nghiệp.
2.5. Cuộc chiến giữa các lồi bản địa và nhập nội
Việc phổ cập toàn Châu Âu các giống vật nuôi hay cây trồng đã khiến cho các dịch
bệnh gia tăng, đồng thời làm suy giảm số lượng thực động vật. Bên cạnh đó, việc người
Châu Âu đặt chân đến các hịn đảo đã vơ hình làm ảnh hưởng đến tính nhạy cảm của các lồi
động thực vật. Minh chứng là các lồi chim hay bị sát đã biến mất và sự hủy diệt của những
loài chim hồng tước biết bay.
2.6. Sự tuyệt chủng của hàng loạt giống nòi trong quá khứ
Sự suy giảm đa dạng sinh vật bao gồm thực vật và động vật cũng bao gồm nguyên
nhân chủ yếu từ nguồn cơn trong quá khứ với tốc độ tuyệt chủng nhanh chóng và hàng loạt
theo chu kì lịch sử sự sống trên trái đất.
Ngoài ra, sử dụng động vật hoang dã để phục vụ nhu cầu sống của cộng đồng dân cư

sống dựa vào rừng đã khiến nhiều loài động vật đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, đơn cử
chẳng hạn như các lồi linh trưởng. Bên cạnh đó là nhiều nguyên nhân khác như loài ngoại
lai xâm hại, sự ơ nhiễm mơi trường (hố thạch: dầu, khí, than,...), khai thác quá mức nguồn
tài nguyên thiên nhiên, chuyển đổi đất khi chưa có đủ luận cứ khoa học, phát triển cơ sở hạ
tầng, phát triển nông nghiệp đáp ứng tốc độ tăng dân số nhanh, giảm diện tích rừng và ô
nhiễm môi trường. (Isbell, n.d.)
3. Hậu quả của hiện tượng suy thối đa dạng sinh học tồn cầu
Tình trạng suy thối của hệ sinh thái, đa dạng lồi và đa dạng di truyền cho thấy số
lượng các loài sinh vật đang đi trên con đường suy thoái và thậm chí là tuyệt chủng. Các
giống mới hay các động, thực vật ngoại lai du nhập ngày càng nhiều, các giống bản địa đang
bị

mất

dần.

Suy thoái đa dạng sinh học dẫn đến mất cân bằng hệ sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến
môi trường sống của con người, đe dọa sự phát triển bền vững của trái đất. Mặt khác sinh vật
và hệ sinh thái là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm, công cụ, nhiên liệu… Do vậy khi
hệ sinh thái bị suy thoái sẽ ảnh hưởng đến lượng lương thực làm cho con người phải đối mặt


với nguy cơ đói nghèo, suy giảm nguồn gen và đặc biệt là biến đổi khí hậu dẫn đến hàng loạt
các thảm họa thiên nhiên đe dọa cuộc sống của con người.
Từ đó có thể thấy việc giảm tính đa dạng ở động, thực vật không những gây ra những
hiểm họa nghiêm trọng như mất cân bằng sinh thái mà cịn ảnh hưởng trực tiếp đến mơi
trường sống của con người, đe dọa sự phát triển bền vững của trái đất, ảnh hưởng đến an
ninh lương thực khiến con người phải đối mặt với rủi ro và đói nghèo. Vì vậy, chúng ta cần
nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của con người (Khuc, 2022; Van Khuc et al., 2021;
Q. Vuong, 2020; Q. H. Vuong, 2021) đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học.

PHẦN II: NHỮNG TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG TỪ CÁC HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
1. Những tác động của hoạt động du lịch tới môi trường
1.1. Ảnh hưởng tích cực của hoạt động du lịch lên mơi trường
Sự phát triển nhanh chóng của du lịch thời gian qua đã góp phần tích cực vào phát
triển kinh tế – xã hội của đất nước nói chung và nhiều địa phương nói riêng. Hoạt động du
lịch đã có những tác động tích cực tới mơi trường tự nhiên, góp phần làm tăng tính đa dạng
sinh học, bảo tồn cảnh quan, đồng thời thúc đẩy các hoạt động bảo vệ di tích lịch sử, di sản
văn hóa, hoạt động của các làng nghề truyền thống…
1.1.1. Đối với môi trường tự nhiên
Tăng hiệu quả sử dụng đất. Ví dụ: nhờ sử dụng quỹ đất còn trống hoặc những khu đất
sử dụng không hiệu quả, các công ty du lịch đã góp phần làm giảm tình trạng hoang phí đất
đai và sử dụng đất kém hiệu quả.
Tăng thêm mức độ đa dạng sinh học tại những điểm du lịch. Ví dụ: nhờ những dự án
có các cơng viên cảnh quan, khu nuôi chim thú… hoặc bảo tồn đa dạng sinh học mà các loài
động, thực vật được bảo tồn và ngày càng đa dạng.
Bổ sung vẻ đẹp cảnh quan cho khu vực phát triển du lịch. Ví dụ: các dự án thường có
u cầu tạo thêm các vườn cây, cơng viên cảnh quan, hồ nước, thác nước nhân tạo… từ đó,
cảnh quan của khu vực phát triển du lịch được cải thiện.
Hạn chế các lan truyền ô nhiễm cục bộ trong khu dân cư. Ví dụ: khi các giải pháp hạ
tầng kỹ thuật đồng bộ được áp dụng, như đối với các làng chài ven biển trong khu vực được
xác định phát triển thành khu du lịch biển, các dự án du lịch sẽ bao gồm cả những chiến lược


làm sạch môi trường biển để phát triển thành khu du lịch, từ đó hạn chế được tình trạng ơ
nhiễm từ các hoạt động du lịch.
1.1.2. Đối với môi trường nhân văn xã hội
Góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo thêm việc làm mới. Ví dụ: khi một khu vực xuất
hiện thêm một địa điểm du lịch, sẽ tạo điều kiện cho những cơ sở kinh doanh lận cận phát
triển, cùng với đó là những việc làm mới, làm tăng thu nhập cho một bộ phận cộng đồng dân
cư địa phương.

Góp phần cải thiện điều kiện về hạ tầng và dịch vụ xã hội cho địa phương. Ví dụ: các
hoạt động du lịch sẽ kèm theo các hoạt động phát triển du lịch như y tế, thông tin, vui chơi
giải trí…
Bảo tồn, nâng cao giá trị và khơi phục các di sản kiến trúc, nghệ thuật, vật thể và phi
vật thể, văn hóa, thủ cơng mỹ nghệ, trang phục, phong tục truyền thống… Ví dụ: bằng các
nguồn kinh phí thu trực tiếp hay gián tiếp từ hoạt động du lịch, các địa phương sẽ có kinh
phí để đầu tư vào các dự án khôi phục, bảo tồn và phát triển những giá trị vật chất và tinh
thần ở địa phương.
Phát triển du lịch tạo tiền đề cho việc khôi phục các sinh hoạt văn hóa truyền thống
của cộng đồng vốn đã bị mai một, đặc biệt là các lễ hội. Ví dụ: nhiều lễ hội truyền thống của
một địa phương riêng lẻ đã được bảo tồn và nâng cấp thành các lễ hội du lịch, thu hút số
lượng lớn khách từ các vùng miền khác cùng tham gia.
Du lịch phát triển kéo theo đó là gây ra tiếng ồn từ các phương tiện giao thơng và du
khách có thể gây phiền hà cho cư dân địa phương và các du khách khác kể cả động vật
hoang dã.
Việc phát triển hoạt động du lịch thiếu kiểm sốt có thể tác động làm xói mịn đất,
làm biến động các nơi cư trú, đe dọa các loài động thực vật hoang dã (tiếng ồn, săn bắt, cung
ứng thịt thú rừng, thú nhồi bông, côn trùng...).
1.2. Ảnh hưởng tiêu cực từ hoạt động du lịch lên mơi trường
Bên cạnh những tác động tích cực, hoạt động du lịch đã có những tác động tiêu cực
nhất định đến môi trường do tốc độ phát triển quá nhanh trong điều kiện còn thiếu phương
tiện xử lý môi trường, nhận thức và công cụ quản lý Nhà nước về mơi trường cịn hạn chế…,
từ đó dẫn đến sự gia tăng áp lực đến môi trường. Tại nhiều khu vực, do tốc độ phát triển quá


nhanh của hoạt động du lịch vượt ngoài khả năng và nhận thức về quản lý nên đã tạo sức ép
lớn đến khả năng đáp ứng của tài nguyên và môi trường, gây ô nhiễm cục bộ và nguy cơ suy
thối lâu dài.
1.2.1. Đối với mơi trường tự nhiên
– Hoạt động du lịch làm tăng áp lực về chất thải sinh hoạt, đặc biệt ở các trung tâm du

lịch, từ đó làm tăng nguy cơ ơ nhiễm mơi trường đất, nước. Lượng chất thải trung bình từ
sinh hoạt của khách du lịch khoảng 0,67 kg chất thải rắn và 100 lít chất thải
lỏng/khách/ngày. Ví dụ như ở chùa Hương vào mùa lễ hội, ước tính trung bình lượng rác
thải từ 4 đến 5 tấn/ngày, chưa tính đến nước thải và ô nhiễm về tiếng ồn, khói bụi… nhưng
khối lượng thu gom mới chỉ đạt khoảng 80%.
– Khách du lịch, đặc biệt khách từ các nước phát triển thường sử dụng nhiều nước và
những tài nguyên khác, đồng thời lượng chất thải tính theo đầu người thường lớn hơn đối
với người dân địa phương. Khách du lịch nội địa trung bình sử dụng khoảng 100 – 150 lít
/ngày, khách quốc tếlà 200 – 250 lít /ngày). Điều này sẽ làm tăng mức độ suy thối và ơ
nhiễm các nguồn nước ngầm hiện đang khai thác, đặc biệt ở vùng ven biển do khả năng xâm
nhập mặn cao khi áp lực các bể chứa giảm mạnh vì bị khai thác quá mức cho phép.
– Tăng thêm sức ép lên quỹ đất. Ví dụ: tại các vùng ven biển, miền núi trung du vốn
đất thường rất hạn chế do bị khai thác sử dụng cho mục đích xây dựng các bến bãi, hải cảng,
nuôi trồng thủy sản và phát triển đô thị. Việc phát triển các hoạt động du lịch thường cần
một diện tích đất lớn và phân bố khơng đồng đều, từ đó sẽ tạo áp lực lên quỹ đất ở những
khu vực nhất định.
– Ảnh hưởng đến hệ sinh thái. Các hệ sinh thái và môi trường thường rất nhạy cảm và
dễ bị tổn thương do sức ép của phát triển du lịch. Tài nguyên thiên nhiên như: các rạn san
hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn; nghề cá và các nghề sinh sống khác trên các đảo có thể bị
biến đổi theo chiều hướng xấu đi do phát triển du lịch không hợp lý. Nhiều cảnh quan đặc
sắc, hệ sinh thái nhạy cảm, đặc biệt ở vùng ven biển, hải đảo và ở các khu bảo tồn thiên
nhiên, vườn quốc gia bị thay đổi hoặc suy giảm cùng với việc phát triển các khu du lịch mới.
Các khu vực có tính đa dạng sinh học cao như: các khu rừng nhiệt đới, thác nước, hang
động, cảnh quan… thường rất hấp dẫn đối với du khách, nhưng cũng dễ bị tổn thương do
phát triển du lịch, đặc biệt khi phát triển du lịch đến mức quá tải, đa dạng sinh học bị đe dọa


do nhiều lồi sinh vật, trong đó có cả những lồi sinh vật hoang dã q hiếm như: san hơ,
đồi mồi… bị săn bắt trái phép phục vụ nhu cầu ẩm thực, đồ lưu niệm, buôn bán mẫu vật…
của khách du lịch.

Ngoài ra, cuộc sống và tập quán quần cư của các động vật hoang dã có thể bị ảnh
hưởng do lượng lớn khách du lịch đến vào các thời điểm trong chu trình sống (di trú, kiếm
ăn, sinh sản, làm tổ…) của động vật hoang dã ở các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia.
1.2.2. Đối với môi trường xã hội – nhân văn
Hoạt động du lịch cũng gây những tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa – xã hội ở
một số khu vực, đó là:
– Các giá trị văn hóa truyền thống của nhiều cộng đồng dân cư trên các vùng núi cao
thường khá đặc sắc nhưng rất dễ bị biến đổi do tiếp xúc với các nền văn hóa xa lạ, do xu hướng thị trường hóa các hoạt động văn hóa, do mâu thuẫn nảy sinh khi phát triển du lịch hoặc
do tương phản về lối sống. Ví dụ như tình trạng trẻ em lang thang bán hàng rong ngoài thị
trấn Sa Pa (Lào Cai) như hiện nay đang đe dọa phá vỡ sự gắn kết chặt chẽ vốn có giữa trẻ
em với các thành viên trong gia đình và dịng tộc, làm tổn thương đến các giá trị truyền
thống đã được thiết lập trong cộng đồng dân tộc.
– Các di sản văn hóa, lịch sử, khảo cổ thường được xây dựng bằng các vật liệu dễ bị
hủy hoại. Ví dụ như di tích Mỹ Sơn (Quảng Nam) do tác động của khí hậu nhiệt đới gió mùa
ở Việt Nam. Các di sản này thường phân bố trên diện tích hẹp, dễ bị xuống cấp khi chịu tác
động thêm của khách du lịch tới thăm nếu khơng có các biện pháp bảo vệ.
Do tính chất mùa vụ của hoạt động du lịch, các nhu cầu tại thời kỳ cao điểm có thể
vượt quá khả năng đáp ứng về dịch vụ công cộng và cơ sở hạ tầng của địa phương. Ví dụ
tiêu biểu là ách tắc giao thông, các nhu cầu về cung cấp nước, năng lượng của hệ thống xử lý
nước thải, xử lý chất thải rắn vượt quá khả năng của địa phương. Điển hình của tình trạng
này là vào các dịp nghỉ lễ dài ngày như tại Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cát Bà (Hải Phịng) vừa
qua.
– Các hoạt động du lịch chuyên đề như khảo cổ học có thể nảy sinh mâu thuẫn với
các hoạt động tín ngưỡng truyền thống ở địa phương. Bên cạnh đó là mâu thuẫn nảy sinh
giữa những người làm du lịch với dân cư địa phương do việc phân bố lợi ích và chi phí của
du lịch trong nhiều trường hợp chưa được công bằng.


Thực tế cho thấy phát triển du lịch thường đi kèm với những tác động tiêu cực đến
môi trường. Nếu trong quá trình phát triển, các tác động tiêu cực đến môi trường không được

liệt kê thông qua những biện pháp bảo vệ mơi trường quản lý hữu hiệu thì hậu quả sẽ dẫn tới
suy thối mơi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển du lịch bền vững. Do vậy, trong quá
trình phát triển du lịch phải lồng ghép các yêu cầu và giải pháp về bảo vệ môi trường, ngay
từ khâu lập quy hoạch, xây dựng các chiến lược phát triển đến triển khai các dự án, thiết kế
các sản phẩm du lịch cụ thể.
3. Các giải pháp giúp hạn chế những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch lên môi
trường
Hoạt động du lịch hiện nay đang có vơ số những ảnh hưởng tiêu cực đến mơi trường
tự nhiên, nó khơng ngừng bào mịn và phá hủy mơi trường sinh sống của hàng triệu lồi với
tốc độ chóng mặt. Vì vậy, những giải pháp cần được đưa ra và có sự chung tay góp sức của
cả cộng đồng, bao gồm cả Nhà nước, ngành Du lịch và từng cá nhân.
3.1. Về phía Nhà nước
Cần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường du lịch cũng như nâng cao
nhận thức về môi trường cho đội ngũ cán bộ hoạt động trong ngành du lịch.
Xây dựng, quy hoạch tổng thể phát triển du lịch trên cơ sở có sự gắn kết giữa các
trung tâm du lịch lớn trong nước trong khu vực và thế giới. Đồng thời, xây dựng các tuyến
giao thông theo quy hoạch tổng thể về du lịch, xây dựng kết cấu hạ tầng đạt tiêu chuẩn chất
lượng quốc tế ở các khu sân bay, bến cảng, bến tầu và những khu du lịch trọng điểm sao cho
gắn kết phát triển du lịch với bảo vệ môi trường.
Ưu tiên đầu tư cho các dự án du lịch đã có các giải pháp cụ thể để giải quyết ô nhiễm
môi trường và mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường trực tiếp cho cộng đồng xã hội ở
cả hiện tại và tương lai; đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học công nghệ mới về bảo vệ
môi trường trong phát triển du lịch.
3.2. Về phía ngành Du lịch
Cần phối hợp với các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu tiến hành nghiên cứu có tính
hệ thống về tài ngun và mơi trường du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch bền vững.
Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh du lịch làm tốt công tác bảo vệ
môi trường.



Nâng cao hiệu lực quản lý về môi trường du lịch, kiên quyết yêu cầu các cơ sở du
lịch, dịch vụ nhà hàng, khách sạn phải tuân thủ Luật Bảo vệ môi trường và xây dựng hệ
thống thu gom xử lý nước thải, rác thải đảm bảo đạt tiêu chuẩn quy định. Xây dựng quy chế
về xử phạt đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường; tuyên truyền giáo dục cộng đồng giữ
gìn vệ sinh mơi trường sinh thái trong sạch để làm tăng thêm giá trị của cảnh quan môi
trường. Giữ vững an ninh và trật tự xã hội ở những khu du lịch đảm bảo tốt môi trường xã
hội cho du khách đến du lịch.
Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế từ
hoạt động du lịch. Một số cơng nghệ cụ thể có thể áp dụng đó là: đầu tư công nghệ phát triển
các nguồn năng lượng thân thiện với mơi trường như: điện mặt trời, điện gió ở nhiều quy mô
như nhà máy lớn cấp điện cho diện tích lớn hoặc quy mơ một khu du lịch, khu nghỉ dưỡng;
sử dụng công nghệ tắt – bật thông minh và hệ thống sensor nhiệt trong các khu nghỉ dưỡng,
phòng khách sạn để tiết kiệm điện; đầu tư hệ thống xử lý nước thải tại các khu, điểm du lịch
để tái sử dụng lại nguồn nước; đặc biệt việc áp dụng mơ hình 3R, phân loại rác thải phải
được triển khai rộng rãi tại các điểm du lịch.
Xây dựng chiến lược về bảo vệ môi trường ở các khu du lịch có kế hoạch cụ thể cho
việc trồng và bảo vệ cây xanh ở những khu du lịch; quản lý tốt cơ sở hạ tầng và môi trường
ở những khu du lịch; khuyến khích,  hướng dẫn người dân và các cơ sở dịch vụ du lịch thực
hiện thu gom rác một cách khoa học, hợp lý; nâng cao trình độ văn hóa của những người làm
trong ngành Du lịch, gắn giáo dục mơi trường với các chương trình đào tạo cho mọi đối
tượng tham gia vào hoạt động du lịch; có kế hoạch bảo tồn, tơn tạo các di tích lịch sử, văn
hóa trong vùng gắn với bảo tồn và khai thác vẻ đẹp cảnh quan thiên nhiên, tăng cường hợp
tác liên ngành và quốc tế bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch.
3.3. Về phía mỗi cá nhân
Bảo vệ môi trường khi đi du lịch là trách nhiệm của tất cả du khách để duy trì hệ sinh
thái tự nhiên bền vững. Cách duy nhất để mỗi cá nhân góp phần vào việc giảm thiểu những
tác động tiêu cực của hoạt động du lịch lên môi trường là nâng cao ý thức giữ gìn mơi
trường sinh thái bằng những hành động nhỏ nhất.
 Hạn chế sử dụng những sản phẩm làm từ nhựa dùng một lần; thay vào đó, nên duy
trì thói quen sử dụng các sản phẩm tái chế thân thiện với môi trường.



 Lựa chọn những công ty cung cấp các dịch vụ hướng đến hoạt động bảo vệ môi
trường khi đi du lịch. Đồng thời, cần tiết kiệm năng lượng và hạn chế đến mức tối thiểu
lượng rác thải.

Khuc, Q. Van. (2022). Về khả năng ứng dụng của hệ xử lý thông tin 3D và nguyên lý
bán dẫn giá trị trong tìm kiếm giải pháp cho vấn đề ơ nhiễm mơi trường và biến đổi khí hậu
ở Việt Nam. Tạp Chí Kinh Tế và Dự Báo, 1, 1–5. />Vuong, Q. (2020). From children’s literature to sustainability science, and young
scientists for a more sustainable Earth From children’s literature to sustainability science ,
and young scientists for a more sustainable Earth. Journal of Sustainability Education,
24(December), 2019–2021.
Vuong, Q. H. (2021). The semiconducting principle of monetary and environmental
values

exchange.

Economics

and

Business

Letters,

10(3),

284–290.

/>Isbell, F. (n. d.). Causes and Consequences of Biodiversity Declines. The Nature

Education

Knowledge.

/>
consequences-of-biodiversity-declines-16132475/
Van Khuc, Q., Pham, L., Tran, M., Nguyen, T., Tran, B. Q., Hoang, T., Ngo, T., &
Tran, T. D. (2021). Understanding vietnamese farmers’ perception toward forest importance
and perceived willingness-to-participate in redd+ program: A case study in nghe an
province. Forests, 12(5), 1–14. />



×